Ngày 3/2/1930 ĐCSVN ra đời, Đảng là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.. Ở Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược, c
Trang 16) VÌ SAO NÓI
ĐCSVN RA ĐỜI LÀ
MỘT TẤT YẾU
LỊCH SỬ, ĐÁP ỨNG
NGUYỆN VỌNG
THA THIẾT CỦA
DÂN TỘC VIỆT
NAM ?
Ngày 3/2/1930
ĐCSVN ra đời, Đảng
là sản phẩm của sự
kết hợp của chủ
nghĩa Mác-Lenin với
phong trào công nhân
và phong trào yêu
nước Việt Nam
Sự ra đời của đảng
cộng sản Việt Nam là
kết quả của sự chuẩn
bị công phu của lãnh
tụ NAQ, đồng thời
cũng là kết qủa của
một qúa trình vận
động CM trong hoàn
cảnh lịch sử của đất
nước ta, là bước phát
triển tất yếu của lịch
sử Việt Nam, phù
hợp với xu hướng
phát triển của thời
đại mới sau CM
tháng mười
Lịch sử Việt Nam
từ khi thực dân pháp
xâm lược đã ghi nhận
rằng : nguyện vọng
tha thiết của dân tộc
là được độc lập Mặt
khác, ở nước ta nông
dân chiếm hơn 90%
dân số, mơ ước ngàn
đời của nông dân là
có ruộng cày Giai
cấp nào đáp ứng
được nguyện vọng
trên sẽ tập hợp được
dân tộc dưới ngọn cờ
cứu nước và trở thành
giai cấp lãnh đạo
Cách Mạng tháng mười nga thắng lợi đã khẳng định rằng : trong thời đại ngày ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp nắm ngọn cờ dân tộc
Ở Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược, còn có một thực tế là : giai cấp tư sản không đủ sức nắm vững ngọn cờ dân tộc và cũng không một tổ chức nào của các giai cấp khác có khả năng giải quyết được thực chất của CM ở các nước thuộc địa là vấn đề nông dân
Mặt dù đã có nhiễu nhân sĩ ra đi tìm đường cứu nước, nhưng không ai đáp ứng được nhu cầu bức thiết của dân tộc
Mãi đến năm 1920 NAQ mới đáp ứng được nhu cầu đó, tìm
ra con đường cứa nước đúng đắn, truyền bá chủ nghĩa Mác-lenin vào Việt Nam, rèn luyện những người yêu nước Việt Nam theo lập trường vô sản, thành lập đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ĐCSVN ra đời với đường lối đúng đắn đã thu hút tất cả những người yêu nước chân chính đứng dưới ngọn cờ cứu nước của giai cấp công nhân, tiến hành giải phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng
bức thiết của toàn dân Việt Nam
2 Đảng CSVN ra đời là một tất yếu lịch sử :
* Là bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử CM Việt Nam : vì đảng ra đời mọi thắng lợi CM Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của đảng
Đảng ra đời là móc đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam Đảng ra đời đã trở thành hạt nhân đoàn kết các yếu tố dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế và cũng kể từ đây nhân dân Việt Nam vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng loài người một cách tự giác và có tổ chức
+ Chứng tỏ giai cấp CNVN đã trưởng thành : Giai cấp CN
VN đã trưởng thành
vì Đảng ra đời thì giai cấp CNVN đã trưởng thành giai cấp hoàn toàn tự giác và khả năng lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam đã trở thành hiện thực
* ĐCSVN ra đời là sự kết hợp giữa 3 yếu tố CN Mac - Le nin + phong trào Công nhân + phong trào yêu nước, đây chính là quy luật vận động thành lập Đảng của giai cấp CN VN
Quy luật này vừa thể hiện tính chất chung của phong trào
CS Quốc Tế và vừa mang đặc thù của CMVN
Tính chất chung : CNMax-Le-nin + Phong trào công nhân
= Đảng
vì : Đảng đánh dấu giai cấp có khả năng lãnh đạo, khi đảng ra đời thì giai cấp công nhân mới được coi là giai cấp tự giác) -Nguồn gốc sinh ra chung đó chính là CNTB
-Khác tiền đề : CN Max-Le-nin nằm ngoài gc CÔNG NHÂN > đủ khả năng tổng kết lý luận của lịch sử ->
CNMax-Le-nin là lý luận nhằm giải phóng nông dân và gc CN
Giai cấp Công nhân không thể viết ra hệ thống lý luận, do áp bức bóc lột của giai cấp TS > phong trào CNra đời
CN Max-Le-nin phải được truyền bá vào phong trào CN không được CN Max-Le-nin soi đường thì là phong trào tự phát
=> Quy luật thành lập phong trào CS Quốc tế phải gồm 2 yếu tố CN Max-Le-nin và phong trào CN
Đảng CSVN ra đời
do có CNTB, có CN Mac - Le-nin và
phong trào công nhân
>Đảng ra đời cũng
đi theo quy luật chung cuả phong trào quốc tế CSản
Ở Việt Nam còn có đặc thù : phong trào
CN song song với phong trào yêu nước (Đảng chỉ là đội tiên phong của giai cấp Công nhân chứ không phải tập hợp của giai cấp CÔNG NHÂN)
* Ngay từ khi ra đời Đảng CSVN trở thành Đảng kiểu mới của giai cấp VS, Đảng tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy đấu tranh phê và tự phê bình làm quy luật cũng cố và phát triển Đảng, Đảng luôn luôn quang hệ mật thiết với quần chúng và là người đại diện duy nhất cho quyền lợi dân tộc và giai cấp
7) PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN
CƯƠNG CHÍNH
10/1930 ? (4)
Tháng 10/1930 ban chấp hành trung ương đảng họp hội nghị lần thứ nhất, thông qua bản luận cương chính trị của đảng do đồng chí Trần Phú dự thảo, Luận cương có
Trang 2những nội dung cơ
bản sau:
Về đường lối chiến
lược : vận dụng lý
luận của chủ nghĩa
Mác-Lenin Luận
cương xác định tính
chất của CM Việt
Nam là CM tư sản
dân quyền do giai
cấp công nhân lãnh
đạo, tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội bỏ
qua giai đoạn phát
triển TBCN Như vậy
là CM Việt Nam phải
trải qua hai giai đoạn:
CM tư sản dân quyền
có hai nhiệm vụ cơ
bản là chống đế quốc
giành độc lập và
chống phong kiến,
bởi vì sự cấu kết giữa
đế quốc và phong
kiến, thực hiện người
cày có ruộng, Hai
nhiệm vụ này có mối
liên hệ khăng khít,
bởi vì sự cấu kết giữa
đế quốc và phong
kiến là đặc điểm nổi
bậc ở nước ta mà các
nhà yêu nước trước
đây không thấy hết
và cũng không giải
quyết được
Sau khi hoàng
thành thắng lợi CM
tư sản dân quyền thì
tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội Cách
mạng tư sản dân
quyền là thời kỳ dự
bị dể tiến lên
CMXHXN
Luận cương xác
định như vậy chứng
tỏ ngay từ đầu đảng
đã tiếp thu đầy đủ
tưởng CM không ngừng của V- Lênin Về động lực, lực lượng CM : luận cương chỉ rõ “Trong Cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, những vô sản giai cấp có cầm quyễn lãnh đạo thì CM mới thắng lợi được”
Khẳng định điều đó, Đảng ta nhấn mạnh tính triệt để của CM vô sản và quán triệt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-lenin về liên minh công nông trong cách mạng vô sản
Về xây dựng đảng : luận cương chính trị khẳng định rằng sự lãnh đạo của đảng là nhân tố quyết định thắng lợi CM nhưng phải quán triệt những nguyên tắc về xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác-Lenin : Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắng; lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm
cơ sở xây dựng tổ chức có kỷ luật tập trung, đoàn kết, gắn bó mật thiết với quần chúng; Đảng phải được vũ trang bằng lý luận Mác-Lenin thông qua cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng trưởng thành, kiên quyết đấu tranh lại những
tư tưởng phi vô sản
Về phương pháp
CM : luận cương xác định bạo lực CM là hình thái biểu hiện của quy luật CM ở Việt Nam, nhưng đòi hỏi đảng phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đảng phải căng cứ vào tình hình cụ thể để đề ra những khẩu hiệu thích hợp nhằm tập dượt, tổ chức và xây dựng lực lượng cách mạng, dùng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng để giàng chính quyền Tuy nhiên đảng phải coi trọng tổ chức lực lượng chính trị quầng chúng
Về đoàn kết Quốc Tế : thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, luận cương xác định CM Việt Nam là một bộ phận của CM Vô Sản thế giới, bởi lẽ trong thời đại mới CM và phản CM đã được phân tuyến rõ ràng trên phạm vi thế giới
Những nội dung cơ bản mà luận cương khẳng định là cơ sở để đảng tập hợp lực lượng CM, giải quyết những yêu cầu bức thiết của toàn dân tộc, khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân trước dân tộc
8) VÌ SAO CAO TRÀO CM
1930-1931 LÀ CUỘC
TỔNG DIỄN TẬP ĐẦU TIÊN CHUẨN
BỊ CHO THẮNG LỢI CỦA CM THÁNG
8 ?
Vừa mới ra đời, Đảng ta đã tổ chức và phát động được một phong trào CM sôi nổi của công nông trên quy mô của cả nước : Đây là phong trào quần chúng tự giác và rộng lớn chưa từng có ở Đông Dương Sở dĩ được thành qủa đó là vì đảng đã đưa ra nguyện vọng đúng nguyện vọng cơ bản của nhân dân Cao trào 30-31 khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo nà năng lực tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân Đảng đã xây dựng được khối liên minh công nông
vì đảng có được đường lối giai cấp rõ rệt lần đầu tiên trong lịch sử CM nước ta, hai giai cấp công nông đã thể hiện sự phối hợp, ủng hộ lẫn nhau đẩy lên một cao trào CM rộng lớn sôi sục trong cả nước Qua cao trào CM 30-31, Đảng ta đã rèn luyện được đội ngũ đảng viên, quần chúng và đem lại cho quần chúng niềm tin vững chắc vào sức mạnh và năng lực sáng tạo của chính mình Chính nhờ
niềm tin đó, đảng đã tạo ra sức mạnh tổng hợp hướng dẫn cho nhân dân đấu tranh cho những mục tiêu cụ thể, thích hợp để giành thắng lợi Cao trào 30-31 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về mọi mặt của đảng ta và nhân dân
ta, tạo điều kiện để đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới
to lớn hơn
10) PHÂN TÍCH
CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC SÁCH LƯỢC
TRONG THỜI KỲ
1939 - 1945 ( QUA
BA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LẦN 6, 7, 8) : (7)
Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, cuộc chiếnh tranh này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình ở Đông dương Đứng trước những biến động đó, Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để phù hợp với tình hình
Từ hội nghị trung ương lần thứ 6 (11/1939), đến hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (11/1940) và đặc biệt là hội nghị Trung ương đảng lần thứ 8
Trang 3(5/1941) do đồng chí
Nguyễn Ái Quốc chủ
trì đã đánh dấu sự
chuyển hướng về chỉ
đạo chiến lược, sách
lược cách mạng,
đồng thời đánh dấu
sự bổ xung và đánh
dấu hoàn chỉnh
đường lối cách mạng
giải phóng dân tộc
của đảng ta
Nội dung chủ yếu
của sự chuyển hướng
đó biểu hiện trên
mấy vấn đề cơ bản
như sau :
Đảng ta đã khẳng
định rằng hai nhiệm
vụ chiến lược của
cách mạng dân tộc,
dân chủ mà luận
cương tháng 10/1930
đã nêu cho đến nay
vẫn đúng Nhưng
trước tình hình mới
Đảng chủ trương phải
tập trung giải quyết
nhiệm vụ hàng đầu
là đánh đổ đế quốc
và tay sai, giành độc
lập dân tộc
Về mối quan hệ
giữa hai chiến lược,
Đảng ta xác định
rằng : hai nhiệm vụ
chống đế quốc và
chống phong kiến có
quan hệ chặc chẽ,
mật thiết với nhau,
nhưng không tiến
hành nhất loạt song
song nhất loạt ngang
nhau Nhiệm vụ
chống phong kiến
phải phục tùng nhiệm
vụ chống đế quốc
Trong khi tập trung
giải quyết vấn đề độc
lập dân tộc Đảng tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề
ra những khẩu hiệu hợp lý để nhằm tập trung lực lượng để đánh đổ kẻ thù nguy hiểm nhất là đế quốc xâm lược
Trên cơ sở nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, Đảng ta chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng bước
ở Đông Dương Sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia dân tộc là tùy ý Ở Việt Nam, Hội nghị BCH Trung Ương lần thứ 8 chủ trương sau khi đánh đuổi Pháp-Nhật đã thành lập một chính phủ nhân dân, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng làm cánh làm lá cờ toàn quốc
Đảng chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất để liên hiệp được tất cả sức mạnh của toàn dân tộc, tại hội nghị Trung Ương lần thứ 8 (5/1941), theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định ở Việt Nam một mặt trận riêng lấy tên là mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắc là Việt Minh
hướng hình thức đấu tranh từ công khai hợp pháp, nữu hợp pháp sang đấu tranh chính trị, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
Hội nghị Trung Ương lần thứ 7 đã đưa vấn đề khởi nghĩa vũ trang vào vào chương trình nghị sự, đến hội nghị Trung Ương Đảng nhấn mạnh : chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng
Trung Ương Đảng đã dự kiến con đường khởi nghĩa vũ trang giàng chính quyền là : đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa trong cả nước
Để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền tại các hội nghị Trung Ương (6-7-8) Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp về công tác xây dựng Đảng
Sự chuyển hướng chỉ đạo đúng đắn đó, đánh dấu một bước trưởng thành của đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắnglợi của cách mạng tháng 8 năm 1945
11) PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG VÀ TÍNH CÁCH MẠNG SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG QUA CHỈ THỊ “NHẬT-PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA” NGÀY 12/3/1945 CỦA BAN
ĐẢNG
Từ ngày 9 đến ngày
thường vụ Trung Ương đảng đã họp và
ra bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Bảng chỉ thị có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của cao trào kháng Nhật của nước và cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945
Những nội dung cơ bản của chỉ thị đã thể hiện tính cách mạng và nghệ thuật chiến lược cách mạng của đảng ta, biểu hiện trên những mặt : Bản chỉ thị ra đời đúng lúc và kịp thời, xác định kẻ thù chính của cách mạng hết sức đúng đắn: từ tháng 9/1940, sau khi Phát -xít vào Đông dương Đảng ta chỉ ra kẻ thù của cách mạng Việt Nam là Pháp và Nhật, nhưng Nhật ngày càng lấn át Pháp, khi Nhật hất
cẳng Pháp (9-3-1945) Đảng xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là Phát-xít Nhật và đề ra mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành chính quyền từ tay Phát-xít Nhật
Việc xác định đúng kẻ thù của cách mạng là một vấn đề hết sức quang trọng để từ đó Đảng tập trung lực lượng đánh đổ chúng giành chính quyền về tay nhân dân Xác định kẻ thù chính của cách mạng là Phát-xít Nhật, Đảng ta dã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa và sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi đã có đủ điều kiện
Đảng còn đề xuất một chủ trương sáng tạo là “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, kịp thời đáp ứng nguyện vọng của quần chúng, thu hút hàng triệu người lên trận tuyến đấu tranh trực diện với kẻ thù bằng các hình thức đấu tranh : tuyên truyền xung phong, vũ trang tuyên truyền xung phong, vũ trang tuyên truyền, biểu tình, để tập dượt cho quần chúng bước vào trận chiến đấu quyết định
Trang 4Về thời cơ khởi
nghĩa giàng chính
quyền, Đảng chỉ thị
đã dự kiến những
khả năng cụ thể như
sau :
Một là “Cách mạng
Nhật bùng nổ”, hai là
“giặc Nhật mất nước
như Pháp naÊm 1940
và quân đội viễn
chinh của Nhật mất
tinh thần”; ba là
“quân đồng minh đổ
bộ vào Đông Dương
đã tiến sâu và bám
chắc trên đất ta, quân
Nhật phải kéo ra
ngăn cản quân Đồng
minh để phía sau sơ
hở” Đó là những
điều kiện để phát
động tổng khởi nghĩa
toàn thắng
11 NỘI DUNG CỦA
KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP:
Đường lối kháng
chiến có cơ sở lý luận
và thực tiễn được
trình bày trong 3 văn
kiện :
- Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của
HCM (19/12/46)
- Chỉ thị toàn dân
kháng chiến của
TW d
(22/12/46).-Tác phẩm "Kháng
chiến nhất định
thắng lợi của
T9/47
Nội dung bao gồm :
Nêu rõ mục đích tính
chất và nhiệm vụ của
cuộc kc
+ Mục đích: Cuộc kc
nhằm vào kẻ thù
chích là bọn thực dân
phản động Pháp
giành độc lập, tự do
và thống nhất thật sự,
hoànb thành nhiệm
vụ giải phóng dân
tộc, phát triển chế độ
dân chủ nhân dân
+ Tính chất: Cuộc kc
chống Pháp là tiết tục
sự nghiệp CMT8 nên
có tính chất dân tộc
giải phóng, dân chủ
tự do; là cuộc kc
chính nghĩa, tiến bộ,
chiến tranh nhân dân,
chiến tranh CM …
+ Nhiệm vụ: Nhiệm
vụ giải phóng dân
tộ6c là yêu cầu nóng bỏng cấp bách nhất nhưng trong quá trình
kc phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ mà thực chất là từng bước thực hiện người cày có ruộng
* Xác định đường lối
kc là đường lối quân sự, chiến tranh nhân dân của Đ, là đường lối kc toàn dân, toàn diện và lâu dài dựa vào sức mình là chính
+ Kc toàn dân là chiến lược, là quy luật cơ bản của cuộc
kc Nó xuất phát từ
so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý : Cách Mạng là sự nghiệp của quần chúng , kháng chiến toàn dân là toàn dân đánh giặc , là thực hiện chién tranh toàn dân theo khẩu hiệu "
mỗi người dân là một chiến sỉ , mỗi làng xã là một pháo đài "
đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay , đánh giặc ở mọi lúc mọi nơi
+ Toàn diện kc là chiến lược là qui luật của cuộc kc Toàn diện kc thể hiện trên tất cả lãnh vực quân sự , ktế, vhóa , chính trị , ngoại giao ( đáu tranh quân sự là hình thức chủ yếu ) nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù và còn tạo ra tiền đề đễ tiến lên
CM sau + Kháng chién lâu dài là chiến lược , là qui luật khách quan của cuộc kháng chiến, là bí quyết của sự thắng lợi Qui luật này xuất phát từ sở trường đánh giặc của
ta , từ sự so sánh lực lượng của địch và ta , và sự chuyển hóa về tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho
ta , bất lợi cho địch
Đánh lâu dài nhưng 0 phải là kéo dài vô định mà là trên cơ sở đánh lâu dài phải nỗ lực , tích cực tiến công dánh thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi hoàn toàn
+ Dựa vào sức mình là chính là chiến luợc là qui luật phát triển tất yếu của cuộc kc , của tất cả các cuộc
CM Qui luật này xuất phát từ nguyên lý coi CM là sự nghiệp của quần chúng Chiến tranh
CM cũng phải là sự nghiệp của quần chúng cũng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của nuớc ta trong cuộc kc Dựa vào sức mình là chính trước hết phải độc lập về đường lối chính trị , tích cực chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kc , đồng thời coi trọng sự viện trợ quốc tế Nói cách khác dựa vào
sức mình là chính : phải nhận thức và giải quyết đúng mối quan hệà giữa nhân tố chủ quan và khách quan , bên trong và bên ngoài, dân tộc và quốc tế … Trong cuộc chiến tranh chính nghỉa của ta
13.Trình bày đường lối chông Mỹ cứu nước:
TW đề ra quyết tâm chiến lược đánh và thắng Mỹ, TW nhấn mạnh: dù mỹ đưa thêm mấy chục vạn lính Mỹ và lôi kéo thêm quân đội các nước chư hầu vào war tội ác này thì quân và dân ta cũng quyết tâm đánh thắng chúng
Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người dân VN yêu nước
Tư tưởng chủ đạo chiến lược của cuộc kháng chiến là giữ vững và phát triển thế tiến công kiên quyết , tiến công và liên tục tiến công
Phương châm chiến lược chung của cuộc war là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính,cành đánh càng mạnh,cần phải cố gắng đến mức tối cao,tập trung lực lượng của cả 2 miền để mở những cuộc tiến công lớn,tranh thủ thời cơ giành thắnh lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam
Phương pháp đấu tranh: liên tục kết
hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị ,trệt để thực hiện ở mũi giáp công.Đv miền Bắc,Đ chủ trương: phải đánh bại war phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc,chuyển hướng kinh tế từ thời bình sang thời bình sang thời chiến, thực hiện phương châm vừa sản xuất vừa chiến đấu ,động viên sức người sức của ở mức cao nhất để chi viện cho chiến trường miền Nam