Tại Đại hội VI của Đảng 12-1986 đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa ở nước ta, với việc đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy
Trang 1Họ tên Học viên: LÊ THỊ TUYẾT MAI
Đơn vị: Trung tâm Trợ giúp pháp lý - Sở Tư pháp TP.HCM Lớp: TC137
Số thứ tự Học viên: 28
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT THẢO LUẬN
Môn: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Bài 1 Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Câu 1 Nêu một số đặc điểm đặc sắc về đường lối đổi mới đất nước của Đảng ta thời kỳ từ năm 1986 đến nay?
I Hoàn cảnh lịch sử
1.1 Bối cảnh quốc tế
Từ những năm của thập kỷ 80 thế kỷ trước, thế giới chứng kiến những quá trình mới diễn ra đang làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị và xã hội nhân loại Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thời đại Mỗi quốc gia nếu muốn phát triển bắt buộc phải mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Cùng với toàn cầu hoá kinh tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoa học công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao, như công nghệ truyền thông và tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…
Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới Chẳng những các lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh tế thế giới có nhiều thay đổi theo hướng dựa vào tri thức và khoa học công nghệ, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới có hàm lượng R&D và giá trị gia tăng cao, ngành dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng
và tỷ trọng lớn dần trong cơ cấu kinh tế quốc dân
Mặt khác, nó làm thay đổi các quan hệ kinh tế và quản lý kinh tế thế giới theo hướng:
Trong các nước tư bản phát triển phát triển, sau các cuộc khủng khoảng cơ cấu và dầu lửa, từ đầu những năm 80, đã tiến hành chính sách điều chỉnh kinh tế Nội dung cơ bản là điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào các ngành
có hàm lượng KHCN cao, thực hiện điều tiết nền kinh tế chủ yếu thông qua các công cụ vĩ mô, thực hiện tư nhân hoá khu vực kinh tế nhà nước, tăng cường vai trò của kinh tế tư nhân
Các nước đang phát triển như Đông Á và Đông Nam Á cũng thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới Các cải cách bao gồm cải cách cơ cấu và xác định đúng chiến lược kinh tế để nâng cao sức cạnh
Trang 2tranh và phát triển, mở cửa hội nhập và liên kết kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài - coi đây là động lực phát triển kinh tế
Các nước xã hội chủ nghĩa cũ trước các khó khăn chồng chất đã tiến hành cải cách kinh tế nhằm khắc phục cơ chế kế hoạch hoá hành chính chỉ huy, chuyển đổi sang kinh tế thị trường Cải cách kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đã đạt được những thành tựu to lớn và là tấm gương cho Việt Nam tham khảo
Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùng với quá trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam
1.2 Bối cảnh trong nước
Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976 – 1980 và 1981 – 1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế – xã hội, do “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải tiến hành công cuộc đổi mới
Những thay đổi của tình hình thế giới và quan hệ giữa các nước do tác động của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật trở thành xu thế thế giới, đặt ra yêu cầu phải đổi mới
Cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong khi các nước này đang tiến hành công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới, sửa chữa sai lầm, khuyết điiểm Tình hình đó cũng đòi hỏi Đảng và Nhà Việt Nam phải tiến hành đổi mới
Như vậy, đổi mới là yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại Tại Đại hội VI của Đảng (12-1986) đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa ở nước ta, với việc đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ và phong cách lãnh đạo; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Trong đánh giá tình hình, Đại hội đưa ra phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, từ đó, không chỉ khẳng định những thành tựu đạt được mà còn thắng thắn vạch ra sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, trong phân phối lưu thông, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và cả trong cơ chế quản
lý nền kinh tế Đại hội đã kết luận rằng “những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” Và: “Những sai lầm đó bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân ”
Tiếp tục tư tưởng về phân kỳ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội VI xác định chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, xem ổn định mọi mặt
Trang 3tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo là nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát những năm còn lại của chặng đường đầu tiên này Sau Đại hội VI, Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị tiếp tục bổ sung, phát triển, cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng, làm cho Nghị quyết Đại hội VI
đi dần vào cuộc sống.Nét nổi bật nhất của tình hình là từ cuối năm 1988, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ngày càng chao đảo, việc thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đã dẫn đến sự phủ nhận sạch trơn quá khứ cách mạng, chĩa mũi nhọn công kích vào Đảng Cộng sản và chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo rắc những tư tưởng hoài nghi, bi quan, dao động với chủ nghĩa xã hội
Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), cùng với việc tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, đã nêu ra sáu nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới chứ không
“đổi mầu” là nguyên tắc đầu tiên
II Nội dung đường lối đổi mới
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời kỳ quá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từng phần, lắng nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địa phương và
cơ sở, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986)
đã hoạch định đường lối đổi mới
2.1 Quan điểm đổi mới của Đảng ta;
- Không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà làm cho mục tiêu
ấy được thực hiện có hiệu quả với hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp
- Đổi mới toàn diện và đồng bộ, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hoá
- Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới về chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm
2.2 Mục tiêu đổi mới
Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “xây lại dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”
2.3 Nội dung đường lối đổi mới
* Về kinh tế
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với một cơ cấu hợp lí, một nền kinh tế phát triển theo những quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời chịu sự chi phối bởi bản chất và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp, quyền bình đẳng của các thành phần kinh tế; khuyến khích mọi thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 4Cải tạo quan hệ sản xuất, cải tạo đi đôi với sử dụng, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Đây là nhiệm vụ thường xuyên trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước Quản lí nền kinh tế không phải bằng những mệnh lệnh hành chính, mà bằng những biện pháp kinh tế, khuyến khích lợi ích vật chất
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, chủ yếu là phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
Thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,
mở rộng sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tích cực khai thác nguồn vốn, công nghệ và thị trường
* Về chính trị
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân
và vì dân; lấy liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới
Thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân
Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, vì hoà bình, hữu nghị và hợp tác Chủ động hội nhập quốc tế Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới
* Về nhận thức, tư duy lý luận và lãnh đạo
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời kỳ quá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từng phần, lắng nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địa phương và
cơ sở, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986)
đã hoạch định đường lối đổi mới Trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, nhiều Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị
và đặc biệt Đại hội VII (6-1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII (6-1996) và Đại hội IX (4-2001) đã không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở Việt Nam
Có thể thấy rõ những nội dung đổi mới quan trọng và chủ yếu cả về nhận thức, tư duy lý luận và cả về lãnh đạo
- Trước hết, đó là đổi mới tư duy lý luận mà thực chất là nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí
Trang 5- Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng quyết định đổi mới
cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
- Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng quản lý điều hành của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị
- Thứ tư, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tăng cường và đổi mới công tác vận động quần chúng nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Thứ năm, đổi mới chính sách đối ngoại, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hoá, Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới trên cơ
sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Xây dựng chiến lược bảo
vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới
2.4 6 nguyên tắc của công cuộc Đổi mới
- Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta.Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà
là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội,những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp
- Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
- Tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn
- Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới
Trang 6Đổi Mới là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980 Chính sách Đổi Mới được chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986
a) Thời kỳ từ năm 1986 đến 1996
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986):
Đại hội đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước và bầu ông Nguyễn Văn Linh là Tổng Bí thư Đảng
Đại hội nhận định, 5 năm qua cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi nhưng có nhiều khó khăn phức tạp Nhân dân ta khắc phục khó khăn đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt
Nguyên nhân chủ quan của tình hình khủng hoảng là do những sai lầm, khuyết điểm về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh
tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã tổng kết bốn bài học kinh nghiệm là: Một là, trong mọi hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” Hai là, Đảng luôn phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Ba là, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới Bốn là, chăm lo công tác xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mới
Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo
Đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc
Phương hướng nhiệm vụ cụ thể: Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực và có hiệu quả các chính sách xã hội Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước; tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
Trang 7dân lao động, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành bộ máy của Đảng và Nhà nước
Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược Tiến hành trong toàn Đảng và toàn xã hội cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
và thực hiện công bằng xã hội
Đại hội VI là "Đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên của Đảng ”, mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ của cách mạng nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về lý luận và thực tiễn của Đảng
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991):
Đại hội họp trong bối cảnh công cuộc cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu rơi vào khủng hoảng và sụp đổ, tác động mạnh mẽ đối với cách mạng Việt Nam
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), Chiến lược, ổn định và phát triển kinh tế
xã hội đến năm 2000; phương hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm (1991 -1995), bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và bầu ông Đỗ Mười là Tổng Bí thư
+ Nội dung cơ bản Cương lĩnh năm 1991:
Tổng kết cách mạng Việt Nam và chỉ ra 5 bài học của kinh nghiệm: Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là xã hội gồm 6 đặc trưng cơ bản:
Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm
no tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
Bảy phương hướng cơ bản xây dựng đất nước:
(1) Xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (2) Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện; (3) Phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao; (4) Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá; (5) Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân
Trang 8tộc thống nhất; (6) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; (7) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
về chính trị, tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
+ Chiến lược, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 xác định: Mục tiêu tổng quát là đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nghèo và kém phát triển
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, áp dụng
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu, Đổi mới hệ thống chính trị, không chấp nhận
đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tập trung, kỷ cương và kỷ luật Đổi mới và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng thật sự vững mạnh
về chính trị, tư tưởng và tổ chức
Đại hội VII là Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết, đánh dấu bước trưởng thành về nhận thức và tư duy sáng tạo của Đảng.
- Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (1/1994):
Sau khi Liên Xô sụp đổ (12/1991), các loại kẻ thù quyết liệt chống phá, âm mưu làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Lần đầu tiên Đảng ta tổ chức Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Điểm mới của Hội nghị là chỉ rõ cơ hội lớn
và thách thức lớn cùa cách mạng nước ta
Những cơ hội lớn là Đảng ta có đường lối đúng đắn, đoàn kết nhất trí, nhân dân ta cần cù và thông minh, giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh và ý chí cách mạng kiên cường, tin tưởng vào Đảng, lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với cách mạng, những thành tựu của công cuộc đổi mới đang tạo ra thế và lực mới, sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật, xu thế mở rộng quan hệ hợp tác phát triển trên thế giới và trong khu vực
Những thách thức lớn là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong quá trình thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch Các nguy cơ đó liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau Quyết tâm của Đảng là nắm vững thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới
b)Thời kỳ từ 1996 đến nay
- Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996):
Đại hội đã thông qua đường lối phát triển kinh tế xã hội 5 năm 1996 -2000; đường lối xây dựng Đảng, sửa đổi Điều lệ Đảng và tiếp tục bầu Đỗ Mười là Tổng Bí thư Đảng Đại hội khẳng định:
Sau 10 năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng một số mặt còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của
Trang 9thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Căn cứ vào Cương lĩnh của Đảng, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1996 - 2000, nêu nhiệm vụ tổng quát, những tư tưởng chỉ đạo, các chương trình và lĩnh vực phát triển
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là "quốc sách hàng đầu" Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đả bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Tăng tưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo
Mở rộng đoàn kết toàn dân tộc dù sống trong nước hay đang định cư ở nước ngoài, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đại đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau
Tăng cường quốc phòng và an ninh; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng
Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, khắc phục các biểu hiện tiêu cực và yếu kém Xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới là một vấn đề có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng trên con đường đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đánh dấu bước ngoặt của Đảng "Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh’’
Tháng 12/1997, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khoá VIII bầu ông Lê Khả Phiêu là Tổng Bí thư Đảng
Trang 10- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001):
Đại hội họp trong bối cảnh đất nước qua 15 năm đổi mới Nhân loại bước vào năm đầu của thế kỷ XXI, cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và
xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ
Đại hội thông đã tổng kết thế kỷ XX, thông qua Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội đến năm 2010 đường lối phát triển kinh tế - xã hội 2001-2005; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, bầu ông Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư Đảng
Báo cáo chính trị của Đại hội đã tổng kêt Việt Nam trong thế kỷ XX và triển vọng trong thế kỷ XXI; đánh giá tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới; làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội; phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nên văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tăng cường quốc phòng và an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh cải cách
tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
+ Nội dung cơ bản Báo cáo chính trị tại Đại hội:
Tổng kết thế kỷ XX ghi đậm trong lịch sử loài người những dấu ấn sâu sắc: khoa học và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy; kinh tế phát triển mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản; diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu cùng hàng trăm cuộc xung đột vũ trang; là thế kỷ chứng kiến phong trào cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới, dù vào thập niên cuối, chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào
Đổi với nước ta, thế kỷ XX có những biến đổi to lớn với những thắng lợi có
ý nghĩa lịch sử và thời đại Từ một nước thuộc địa nửa phong kiên, nước ta đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ
xã hội Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tuy nhiên, cách mạng nước ta đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn Từ thực tiễn lịch sử cách mạng, Đại hội nêu ra bốn bài học chủ yếu: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo
Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyểt định thành công của sự nghiệp đổi mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quà của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Đó là tư tường về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giài phóng con