Tài liệu gồm 19 câu hỏi và câu trả lời dành cho đề mở môn Lịch sử Đảng (LSĐ). Tài liệu này cần thêm giáo trình để bổ sung thông tin.
Trang 1Tài liệu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Câu 1: Thống nhất về mặt Nhà nước 1976 Câu 11: Đường lối cách mạng (9/1960)
Câu 2: Cương lĩnh 1991 Câu 12: Sau hòa bình (7/1954) và đường lối CM Câu 3: “ngàn cân treo sợi tóc” Câu 13: Đường lối CM (2/1951)
Câu 4: ba chương trình Câu 14: Nghị quyết 15 (1/1959)
Câu 5: Kháng chiến chống Pháp Câu 15: ĐCSVN là nhân tố cơ bản
Câu 6: Kháng chiến chống Mỹ Câu 16: Độc lập dân tộc và CNXH
Câu 7: Luận cương chính trị (10/1930) Câu 17: CM của ND, do ND, vì ND
Câu 8: Chiến lược biển Câu 18: Khối đại đoàn kết toàn dân
Câu 9: Xây dựng và bảo vệ miền Bắc 1954-1975 Câu 19: Sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Câu 10: kinh tế thị trường
❶ Trình bày những chủ trương của Đảng trong việc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước năm 1976 Ý nghĩa?
a) Những chủ trương của Đảng: (trang 102 giáo trình)
- Thống nhất đất nước về mặt nhà nước, đưa cả nước đi lên CNXH là nhiệm vụ chính trị của giai đoạn cách mạng mới, là ý chí và nguyện vọng của toàn dân tộc Việt Nam Nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ này, từ cuối năm 1975, Đảng và Nhà nước ta đã khẩn trương thực hiện các công việc cần thiết để hoàn thành thông nhất nước nhà về mặt nhà nước
- Từ sau ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, điều kiện quan trọng nhất để thống nhất đất nước đã đạt được, nhưng thực tế vẫn tồn tại hai chính quyền ở hai miền: …
//Chép tiếp trong giáo trình
…đã long trọng tuyên bố thống nhất nước nhà và quyết định đặt tên nước là nước CHXNCHVN Tiếp đó, theo chủ trương của TW Đảng, các tổ chức quần chúng cũng họp hội nghị hợp nhất, thống nhất cơ quan lãnh đạo trong toàn quốc
Ngày 5-6-1976, thống nhất Đoàn Thanh niên trong cả nước lấy lên là “Đoàn TNCS HCM” Ngày 8-6-1976, thông nhất tổ chức công đoàn lấy tên là ‘Tổng Công đoàn Việt Nam” Ngày 12-6-1976, thống nhất hai tổ chức phụ nữ trong toàn quốc, lấy tên là “Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam” Ngày 4-1-1977, Đại hội Mặt trận thông nhất đã thống nhất hai tổ chức mặt trận lấy tên là “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”
//Ý nghĩa sách Hỏi - Đáp: Thành công của việc thông nhất nước nhà về mặt nhà nưỏc đã phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dán cả nước vê một nước Việt Nam độc lập, thông nhất và đi lên chủ nghĩa
xã hội Nó là thành quả vĩ đại của cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, của cuộc đâu tranh kiên cường, bất khuất và vô cùng oanh liệt của nhân dân ta ngót nửa thế kỷ
b) Ý nghĩa: (trong giáo trình cũng có)
Trên mạng: - Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước là yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển CMVN Với thắng lợi đạt được đã thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc, ý chí thống nhất Tổ quốc, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập và thống nhất của toàn thể nhân dân ta; -Tạo điều kiện cho việc tiếp tục hoàn thành thống nhất các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng XHCN trên phạm vị cả nước
- Tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy sức mạnh toàn diện đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước đi lên xây dựng CNXH, tạo ra khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới
❷ Cho biết những phương hướng lớn xây dựng CNXH được xác định tại “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH” được ĐCSVN thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ 7 năm 1991.
Các phương hướng lớn là trong giáo trình (trang 117)
Trang 27 phương hướng cơ bản:
Một là, xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh GCCN với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do ĐCS lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Bốn là, tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH.
Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của GCCN, đoàn kết với các nước XHCN, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Sáu là, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của CMVN Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm
vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.
Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.
❸ Tình bày tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” của nước ta sau CMT8 năm 1945? Đảng đã có những chủ trương, (biện pháp) gì để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời?
a) Tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”: (đây tóm tắt, cần kết hợp trang 54 - giáo trình)
- Hậu quả của chế độ cũ để lại như nạn đói, dốt rất nặng nề, ngân quỹ quốc gia trống rỗng
- Kinh nghiệm quản lý đất nước của cán bộ các cấp còn non yếu
- Nền độc lập của đất nước chưa được quốc gia nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao
- Về Quân sự: Cùng lúc chúng ta phải đối đầu với nhiều kẻ thù
+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc: 20 vạn quân Tưởng đằng sau chúng có Mỹ giật dây cùng với bọn Việt Quốc, Việt Cách theo chân về nước
+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam: quân Anh theo sau chúng là quân Pháp
+ Trên đất nước ta lúc này cũn khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ tước vũ khí, chúng sẵn sàng làm theo lệnh quân Anh, nổ súng vào lực lượng cách mạng Việt Nam mở đường cho quân Pháp quay lại xâm lược
* Kết luận: Một đất nước mới giành được độc lập, chưa có điều kiện đề củng cố chính quyền, khôi phục kinh tế, lực lượng cách mạng còn non trẻ cùng lúc đó “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” đe dọa Có thể nói chưa bao giờ đất nước ta lại đứng trước nhiều khó khăn thử thách như thế, tổ quốc bị lâm nguy, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”
b) Chủ trương: (tóm tắt)
Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhằm thực hiện 3 nhiệm vụ: diệt giặc đói, giặc dốt va giặc ngoại xâm, ngày 25/11/1945 BCHTW Đảng ra chỉ thị ''Kháng chiến, kiến quốc'' Nội dung của bản chỉ thị như sau: // Chép giáo trình [ ]
Trang 3Những chủ trương nêu trên của Đảng đã giải quyết kịp thời nhiều vấn đề quan trọng về chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng trong tình thế mới vô cùng phức tạp và khó khăn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa mới khai sinh
c) Biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên: (bonus)
- Về kinh tế: Tổ chức cứu đói và đề phòng nạn đói cho dân Trong phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời đã bàn về biện pháp chống đói Nhiều biện pháp như tổ chức lạc quyên, lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm” để góp gạo cứu đói: không dùng gạo, ngô, khoai sắn nấu rượu Biện pháp cơ bản lâu dài là tăng gia sản xuất Và các phong trào đua tranh tăng gia sản xuất dấy lên khắp ở các địa phương Chính phủ cách mạng ra Sắc lệnh số 11, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ cũ, ra thông tư giảm tô 25%
=> Kết quả: Đã đẩy lùi được nạn đói ĐSND, đặc biệt là đời sống nông dân được cải thiện một bước
- Về tài chính: Chính phủ ra sắc lệnh về “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân để “giữ vững nền độc lập của Tổ quốc” Và sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam để thay thế giấy bạc Đông Dương Khó khăn về tài chính dần được khắc phục
- Về văn hoá, giáo dục: Chủ tịch HCM ký Sắc lệnh thành lập cơ quan bình dân học vụ, phát động phong trào xoá mù chữ Kết quả các trường tiểu học, trung học phát triển mạnh, bước đầu có đổi mới theo tinh thần độc lập dân chủ Xây dựng đạo đức mới với nội dung “cần-kiệm-liêm-chính”, bài trừ các tệ nạn xã hội
cũ như: cờ bạc, rượu chè, hủ tục ra khỏi đời sống xã hội
- Về chính trị-quân sự: Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh về cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Ngày 6-1-1946, Tổng quyển cử bầu cử Quốc hội: 89% cử tri cả nước hăng hái đi bỏ phiếu bầu Quốc hội 333 đại biểu được bầu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Ngày 2-3-1946, Quốc hội khoá I họp phiên đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ngày 9-11-1946 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức công bố Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng được chú trọng khắp nơi trên đất nước
- Bài trừ nội phản: Đối với tổ chức phản cách mạng dùng khẩu hiệu “Đoàn kết chống thực dân Pháp xâm lược, phản đối chia rẽ để vạch mặt phá hoại của chúng”
- Đấu tranh chống ngoại xâm: Thực hiện nguyên tắc ngoại giao “Bình đẳng tương trợ, thêm bạn, bớt thù” Đối với quân đội Tưởng thực hiện “Hoa-Việt thân thiện”
Trước ngày 6-3-1946, Đảng ta đã có sách lược hoà hoãn với Tưởng và tay sai ở miền Bắc để tập trung lực lượng đánh đuổi Pháp ở miền Nam Đối với Tưởng, ta chủ trương tránh xung đột vũ trang, nhân nhượng chúng một số yêu sách về kinh tế và chính trị: Nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm Đối với quân Pháp ở miền Nam: Kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp; cả nước ủng hộ Nam Bộ kháng chiến với các phong trào “Nam Tiến”, “ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”
Ngày 28-2-1946, Pháp và Tưởng ký hiệp ước Hoa-Pháp, Pháp sẽ thay thế quân Tưởng giải giáp quân Nhật ở miền Bắc nên đã đặt nhân dân ta vào hai con đường: một là cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp; hai là hoà hoãn nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng đối phó với nhiều kẻ thù một lúc, đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng cách mạng
Chiều 6-3-946, ta đã ký Hiệp định sơ bộ với Pháp Qua đó, việc ký Hiệp định sơ bộ là một trủ chương sách lược đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh Ta đã loại trừ được một kẻ thù nguy hiểm là quân Tưởng và tay sai của chúng ra khỏi nước ta Tranh thủ thời gian hoà bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng , chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau
❹ Đánh giá chủ trương Đại hội VI (1986): “Cần tập trung lực lượng, trước hết là vốn và vật tư, thực hiện cho bằng được ba chương trình quan trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu”.
(câu này nằm trong trang 110 và là mục tiêu được đề ra trong Đại hội VI trang 114)
Trang 4Tham khảo trên mạng:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp từ ngày đến ngày 15-18/12/1986 Nhằm mục tiêu dảm bảo nhu cầu lương thực, hàng thiết yếu của xã hội, tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, Đảng ta đã đề ra ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, nhằm đạt mục tiêu dưới đây khi kết thúc chặng đường đầu tiên:
- Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm đủ tái sản xuất sức lao động
- Đáp ứng được nhu cầu của nhân dân về những hàng tiêu dùng thiết yếu
- Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hoá cần thiết
Ba cương trình mục tiêu là nội dung chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải được tập trung cao độ sức người, sức của để thực hiện Phải kết hợp việc xây dựng các ngành kinh tế - kỹ thuật với việc phát huy thế mạnh của từng vùng, từng tỉnh, thành phố theo hướng mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá, chú trọng xây dựng kinh tế trên địa bàn huyện; sử dụng đúng đắn và liên kết các thành phần kinh tế, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh
Các chương trình này phải được cân đối giữa mục tiêu, phương tiện và biện pháp; giải quyết đồng bộ cả
về tổ chức sản xuất, khoa học - kỹ thuật và chính sách kinh tế
Ba chương trình này định hướng cho việc sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trước hết
là bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư nhằm khai thác có hiệu quả khả năng lao động, đất đai và cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có
❺ Thành tựu và hạn chế lãnh đạo xây dựng, bảo vệ miền Bắc của Đảng thời kỳ 1954-1975.
a) Thành tựu:
- Đảng đã luôn luôn trung thành và vận dụng đúng đắn những nguyên lý về xây dựng CHXN của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tế Tùy theo từng giai đoạn, Đảng đã có các chủ trương và sự chỉ đạo năng động, sát đúng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của miền Bắc, đưa công cuộc xây dựng CHXN từng bước vượt qua khó khăn đi lên giành những thắng lợi quan trọng
- Đảng đã động viên, đoàn kết, tổ chức nhân dân miền Bắc kiên trì phấn đấu hoàn thành các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, thu được nhiều thành tựu đáng tự hào Miền Bắc đã căn bản xóa bỏ được chế độ người bóc lột người; hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, thúc đẩy sản xuất phát triển; cơ sở vật chất của CHXN được xây dựng bước đầu; văn hóa, xã hội lành mạnh, ưu việt; hệ thống chính trị được củng cố vững mạnh; không có nạn đói, dịch bệnh dù chiến tranh ác liệt, kéo dài; quan hệ quốc tế mở rộng, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của thế giới, Những thành tựu đó tuy còn nhỏ bé, còn xa với những mục tiêu của CHXN, nhưng đặt vào hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thì có giá trị thật lớn lao
- Với tiềm lực kinh tế và quốc phòng được xây dựng, cùng với việc tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế, miền Bắc chẳng những đứng vững trong chiến tranh, mà còn đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng kỹ thuật và phát triển hiện đại nhất của đế quốc Mỹ Qua hai lần chống chiến tranh phá hoại, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 4.181 máy bay trong đó có nhiều B.52, bắn cháy 271 tàu chiến, bắt hàng trăm giặc lái Mỹ
- Song song với những thành tựu đó, miền Bắc còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia
b) Hạn chế:
- Việc tổ chức thực hiện đường lối cách mạng XHCN do Đảng đề ra có nhiều vấn đề chưa kịp thời cụ thể hóa và vận dụng tốt vào các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa , chưa nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng quan hệ sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất
Trang 5- Chủ quan, duy ý chí, giáo điều trong chỉ đạo cải cách ruộng đất, cải tạo XHCN, tiến hành CNH
- Trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, chưa chú ý phát triển đúng mức kinh tế địa phương
- Bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện kém năng lực, pháp chế XHCN còn lỏng lẻo
- Trong lĩnh vực lưu thông, phân phối, tài chính, ngân hàng, giá cả, tiền lương có những nhận thức và thực hiện không đúng, làm cản trở việc đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân
❻ Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
a) Ý nghĩa lịch sử đối với Việt Nam:
- Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam đã kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược (tính từ năm 1954), 30 năm chiến tranh cách mạng (tính từ năm 1945), 117 năm chống đế quốc (tính từ năm 1858), quét sạch quân xâm lược, đưa lại độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước
- Đã kết thúc thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, cùng chung một nhiệm vụ chiến lược,
đi lên chủ nghĩa xã hội
- Đã tăng thêm sức mạnh vật chất tinh thần, thế và lực cho cách mạng và dân tộc Việt Nam, nâng cao uy tín của Đảng và dân tộc ta trên trường quốc tế
- Để lại niềm tự hào sâu sắc và những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài về sau
b) Ý nghĩa lịch sử về mặt quốc tế:
- Đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc vào chủ nghĩa xã hội và cách mạng thế giới, bảo vệ được tiền đồn phía Đông Nam Á của chủ nghĩa xã hội, mở rộng địa bàn cho chủ nghĩa xã hội
- Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, gây tổn thất to lớn và tác động sâu sắc đến nội tình nước Mỹ trước mắt và lâu dài
- Làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của chúng ở khu vực Đông Nam Á, mở ra sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới
c) Nguyên nhân thắng lợi:
- Là do có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người đại biểu trung thành cho những lợi ích sống còn của cả dân tộc Việt Nam, một Đảng có đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo
- Là kết quả của cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của đặc biệt, chiến sĩ và hàng chục triệu đồng bào yêu nước ở miền Nam ngày đêm đối mặt với quân thù, xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”
- Là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn, hết lòng hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
- Là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và kết quả của sự ủng
hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em Sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới cũng như nhân dân tiến bộ Mỹ
d) Kinh nghiệm:
Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH nhằm huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ
Trang 6Hai là, tìm ra phương pháp đấu tranh đúng đắn, sáng tạo, thực hiện khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân, sử dụng phương pháp cách mạng tổng hợp
Ba là, trên cơ sở sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn của Trung ương Đảng phải có công tác tổ chức chiến đấu giỏi của các cấp bộ Đảng và các cấp chi ủy quân đội, thực hiện giành thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn, là “trên cơ sở phương hướng chiến lược đúng, hãy làm đi, rồi thực tiên sẽ cho phép ta hiểu rõ
sự vật hơn nữa”
Bốn là, hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng ở miền Nam và tổ chức xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về
sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” Thắng lợi đó đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên đất nước Việt Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
❼ Phân tích nội dung cơ bản của Luận cương chính trị (10/1930).
a) Hoàn cảnh lịch sử:
ĐCSVN vừa mới ra đời với đường lối cách mạng đúng đắn, đã lãnh đạo quần chúng dấy lên phong trào cách mạng rộng lớn chưa từng có trước đó Đang lúc phong trào cách mạng phát triển đến đỉnh cao, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng-Trung Quốc (từ ngày
14 đến ngày 31-10-1930) Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thông qua Điều lệ Đảng và Điều lệ các tổ chức quần chúng Hội nghị đổi tên ĐCSVN thành ĐCS Đông Dương Hội nghị cử ra Ban thường vụ Trung ương và cử đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư Hội nghị thảo luận và thông qua bản Luận cương chính trị của Đảng
b) Nội dung cơ bản:
Bản luận cương chính trị gồm 13 mục, trong đó tập trung vào những vấn đề lớn:
- Về mâu thuẫn giai cấp: Luận cương xác định , ở Việt Nam, Lào, Campuchia, mâu thuẫn diễn ra ngày càng gay gắt giữa một bên là là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên là địa chủ phong kiến ,
tư bản và đế quốc chủ nghĩa
- Về tính chất cách mạng Đông Dương: “Trong lúc đầu , cuộc cách mạng Đông Dương sẽ làm một cuộc cách mạng tư sản dân quyền nhờ vô sản giai cấp chuyên chách các nước giúp sức mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản mà đấu tranh thẳng lên con đường CNXH”
- Về nhiệm vụ cách mạng: “Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải đấu tranh để đánh đổ các di tích phong kiến , đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bản và thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, một mặt nữa là đấu tranh để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi: mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”
- Về lực lượng cách mạng: “Vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được” Tư bản thương mại , tư bản công nghệ ,khi phong trào quần chúng nổi lên cao thì bọn này sẽ theo đế quốc Tiểu tư sản có nhiều hạng: thủ công nghiệp đối với phong trào CMVS, hạng này cũng có ác cảm rất do dự Bọn thương gia không tán thành cách mạng Trí thức-tiểu tư sản, học sinh đại biểu quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bản bản xứ
- Về phương pháp cách mạng: Khẳng định để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ
đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con
Trang 7đường "võ trang bạo động" Vì vậy, lúc thường thì phải tuỳ theo tình hình mà đặt khẩu hiệu "phần ít",
"phải lấy những sự chủ yếu hàng ngày làm bước đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng" Đến lúc có tình thế cách mạng "Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh đổ chánh phủ của địch nhân và giành lấy chánh quyền cho công nông" Võ trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, "phải tuân theo khuôn phép nhà binh"
- Về Đảng: Sự lãnh đạo của ĐCS là điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương, là cần phải có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành, “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp lấy CN Mác-Lênin làm gốc”
- Về quan hệ quốc tế: Luận cương chính trị chỉ rõ: “Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp để làm mặt trận vô sản “mẫu quốc” và thuộc địa cho sức tranh đấu cách mạng được mạnh lên”
c) Ý nghĩa:
Cùng với Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Luận cương chính trị tháng 10-1930 của Đảng đã vận dụng những nguyên lý của CN Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Đông Dương, vạch ra con đường cách mạng chống đế quốc và chống phong kiến, đáp ứng những đòi hỏi của phong trào công nhân
và phong trào yêu nước Việt Nam
Luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng ở nước ta như mục đích, tính chất của cách mạng trong giai đoạn đầu là làm cách mạng tư sản dân quyền (tức cách mạng dân tộc dân chủ ) với hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến , nhằm thực hiện độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân Cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ lập ra nhà nước công nông sau đó sẽ chuyển thẳng sang làm cách mạng XHCN; GCCN và giai cấp nông dân là hai động lực chính của cách mạng , trong đó GCCN là lực lượng lãnh đạo CMVN liên kết mật thiết với GCVS các nước và các dân tộc thuộc địa Luận cương còn xác định thêm con đường đúng đắn tiến lên giành chính quyền phải là con đường cách mạng bạo lực của quần chúng
d) Hạn chế:
Chưa xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không nêu được vấn đề dân tộc lên hàng đâù mà nặng về đấu tranh giai cấp, về vấn đề cách mạng ruộng đất Đánh giá không đúng khả năng cách mạng, mặt tích cực , tinh thần yêu nước của các giai cấp, tầng lớp khác ngoài công nông trong CMGPDT Chưa thấy được sự phân hoá trong giai cấp địa chủ phong kiến, nên không đề ra được vấn đề lôi kéo một bộ phận giai cấp đia chủ trong CMGPDT
Những hạn chế trên được Đảng khắc phục dần trong quá trình lãnh đạo cách mạng
e) Nhận xét (Ý nghĩa + Hạn chế):
Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã vạch ra nhiều vấn đề cơ bản thuộc về chiến lược cách mạng Tuy nhiên, do nhận thức giáo điều và máy móc về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng thuộc địa, lại hiểu biết không đầy đủ về tình hình đặc điểm của xã hội, giai cấp và dân tộc ở Đông Dương, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của khuynh hướng "tả" của Quốc tế Cộng sản và một số ĐCS trong thời gian đó, nên BCHTW đã không vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam bị nô dịch với đế quốc TD Pháp xâm lược và tay sai của chúng, do đó không nhấn mạnh nhiệm vụ GPDT, mà nặng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng ruộng đất, không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai Luận cương chưa đánh giá đúng mức vai trò cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc, cường điệu mặt hạn chế của họ, chưa thấy được khả năng phân hoá và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng GPDT Từ nhận thức hạn chế như vậy, BCHTW đã phê phán gay gắt quan điểm đúng đắn trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hội nghị hợp nhất thông qua Đó là một quyết định không đúng Sau này trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là đến Hội nghị lần thứ VIII của BCHTW (5-1941), Đảng đã khắc phục được những hạn chế đó và đưa cách mạng đến thành công
Trang 8❽ Trình bày các quan điểm chỉ đạo của ĐCSVN về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, khóa XII (10/2018) Nêu một số giải pháp để Việt Nam trở thành một quốc gia “mạnh về biển, giàu từ biển”.
a) Quan điểm chỉ đạo của Đảng:
Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình,
ổn định cho phát triển Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,
là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và mọi người dân Việt Nam Trung ương đã xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và năm 2045, một số chủ trương lớn và khâu đột phá, các giải pháp để thực hiện Chiến lược biển tiếp tục phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong nhiều
b) Giải pháp:
- Nâng cao nhận thức, tăng cường tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng về biển đảo của Tổ quốc;
- Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về Chiến lược biển, tăng cường phối hợp chặt chẽ các cấp, ngành và liên kết các thành phần kinh tế trong thực hiện Chiến lược biển;
- Đẩy mạnh xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về biển đảo; Đổi mới đồng bộ, mạnh
mẽ thể chế, cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế biển;
- Áp dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 vào thực hiện các mục tiêu của Chiến lược biển quốc gia, nhất là chuyển từ kinh tế biển chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường sang kinh tế dựa trên nền tảng tri thức, KHCN, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển Việt Nam;
- Bảo đảm các nguồn lực, tập trung đầu tư để thực hiện Chiến lược biển
❾ Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
a) Ý nghĩa lịch sử:
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác nói: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và XHCN trên thế giới” Thật vậy, thắng lợi này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc và rộng lớn, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế, nó viết nên trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam
Thắng lợi của ta buộc Pháp phải rút quan khỏi Đông Dương, miền Bắc được giải phóng và đi lên CNXH, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ về sau thắng lợi Thắng lợi của nhân dân ta đã ghi lại hình ảnh vô cùng nhục nhã của quân đội viễn chinh Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ, nó mở đầu cho sự sụp
đổ của CN thực dân cũ, nó cỗ vũ phong trào GPDT, dân chủ, hòa bình, tiến bộ và CNXH trên thế giới Thắng lợi của ta khẳng định: một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng khi đã đoàn kết, một lòng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của ĐCS chân chính để dành độc lập tự do thì sẽ có đủ lực lượng và điều kiện để đánh thắng kẻ thù mạnh
b) Nguyên nhân thắng lợi:
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sự can thiệp của Mỹ là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó, nổi bật là:
+ Do Đảng đề ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt, sâu sát của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu;
Trang 9+ Do có khối đoàn kết toàn dân trong mặt trận thống nhất, mà nòng cốt là khối liên minh công nông do Đảng lãnh đạo;
+ Do có tinh thần chiến đấu anh hùng, bất khuất, kiên cường, dũng cảm và sáng tạo của nhân dân cả nước, đặc biệt là quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng;
+ Do có hậu phương, căn cứ địa vững chắc và không ngừng được mở rộng, đáp ứng yêu cầu vật chất và tinh thần, đảm bảo cho kháng chiến lâu dài và thắng lợi
+ Do có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được giữ vững, củng cố và lớn mạnh,làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng chiến, xây dựng chế độ mới
+ Do Pháp tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo, mắc nhiều sai lầm chiến lược
+ Do cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa nên đã nhận được sự cổ vũ và sự ủng hộ của các nước XHCN, Trung Quốc, Liên Xô, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp Đồng thời do có sự liên minh đoàn kết, chiến đấu keo sơn giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia
c) Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến, Đảng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quan trọng: Thứ nhất, xác định đúng kẻ thù, đề ra đường lối đúng đắn và quán triệt sâu rộng đường lối đó cho toàn Đảng, toàn dân thực hiện Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chế độ CNXH, trong đó nhiệm vụ tập trung hàng đầu là chống đế quốc, GPDT, bảo vệ chính quyền cách mạng
Thứ ba, thực hiện phương châm vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh để có tiềm lực mọi mặt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến
Thứ tư, quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài, đồng thời tích cực, chủ động đề
ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, đưa kháng chiến thắng lợi
Thứ năm, tăng cường công tác xây dựng của Đảng, nâng cao sức chiến đấu và hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh
d) Trách nhiệm bản thân:
Chăm chỉ, sáng tạo, học tập, lao động; có mục đích, động cơ học tập đúng đắn, học tập để mai sau xây dựng đất nước Quan tâm đến đời sống chính trị- xã hội của địa phương, đất nước, và thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng thời vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện; Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống trong sáng, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn
xã hội; Tích cực tham gia góp phần xây dựng quê hương bằng những việc làm thiết thực, phù hợp khả năng; Biết phê phán, đấu tranh với những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc
Luôn tự hào về con người, quê hương, đất nước, anh hùng hào kiệt, danh nhân văn hoá, về non sông gấm vóc, những sản vật phong phú Trung thành với Tổ quốc, với chế độ XHCN, Cảnh giác trước âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tổn hại đến
an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Tích cực tham gia các hoạt động
an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa… Hoàn thành tốt huấn luyện nghĩa vụ quân sự trong Đại học, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc
❿ Quan điểm cơ bản của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Kinh tế nhà nước cần làm gì để thực hiện vai trò chủ đạo của mình, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay?
a) Quan điểm: (trang 136 giáo trình)
b) Biện pháp: (trên mạng)
Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Trang 10Thứ nhất, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ biểu hiện ở số lượng doanh nghiệp nhà nước,
tỷ trọng đóng góp giá trị sản lượng trong GDP, mà trước hết là ở trình độ quản lý, điều tiết năng lực cạnh tranh và hiệu quả phát triển, chất lượng sản phẩm Đầu tư vào những dự án lớn, đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm…
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước phải là trụ cột để đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng XHCN, tụt hậu xa hơn về kinh tế, đồng thời phải là cơ sở vững chắc để khắc phục những hạn chế, khuyết tật của cơ chế thị trường
Thứ ba, kinh tế nhà nước phải đi đầu trong việc kết hợp với quốc phòng, an ninh để bảo đảm hài hòa theo quan điểm phát triển và ổn định của Đảng trong mọi hoàn cảnh, điều kiện Đây là vai trò độc quyền, chủ đạo, kéo theo sự tham gia của các thành phần kinh tế khác
Thứ tư, kinh tế nhà nước là yếu tố bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững, cạnh tranh lành mạnh,
có trách nhiệm điều phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Đặc biệt trong các lĩnh vực chủ chốt, vĩ mô của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ công, tạo điều kiện kích thích các thành phần kinh tế khác cùng phát triển
⓫ Đánh giá nhận định: Đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại Đại hội III (9/1960) thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa có tiền lệ lịch sử.
(câu này nằm ở trang 83 – giáo trình; tham khảo thêm câu tiếp theo)
Tham khảo trên mạng: (cẩn thận có chống Pháp, câu này là của chống Mỹ)
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cứu nước, nhờ đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đưa ra đường lối đấu tranh đúng đắn, vừa tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế, nhưng không phụ thuộc vào sự chỉ đạo của họ, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, một lần nữa, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng được phát huy Mặc dù đất nước mới cơ bản hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Bắc, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Nhưng Đảng đã độc lập, sáng tạo trong việc đề ra đường lối đúng đắn, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Chính sự đúng đắn, sáng tạo đó đã giúp cho cách mạng Việt Nam phát triển đúng quĩ đạo, đi đến thắng lợi Miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhanh chóng đạt được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
⓬ Phân tích đặc điểm tình hình nước ta sau khi hoà bình lập lại (7-1954) và nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam do Đại hội lần thứ III của Đảng tháng 9 năm 1960 vạch ra?
a) Đặc điểm tình hình nước ta từ sau khi hoà bình lập lại (7-1954):
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ (1954) về Đông Dương, công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng
Ở Miền Nam, Mỹ đã hất cẳng Pháp hòng biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, lập phòng tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống Đông - Nam châu Á, đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của CNXH ở Đông - Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi CNXH ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác
Đất nước bị tạm thời chia cắt làm hai miền, có hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau Miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH Còn ở miền Nam: về cơ bản xã hội miền Nam là thuộc địa kiểu mới Đặc điểm
đó đòi hỏi Đảng ta phải đề ra được đường lối cách mạng phù hợp với đặc điểm tình hình mới để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên