1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương ôn tập lịch sử đảng

17 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng ra đời đã trở thành hạt nhân đoàn kết các yếu tố dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế và cũng kể từ đây nhân dân Việt Nam vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phón

Trang 1

2 Đảng CSVN ra đời là một tất yếu lịch sử :

* Là bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử CM Việt Nam : vì đảng ra đời mọi thắng lợi CM Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của đảng Đảng ra đời là móc đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam Đảng ra đời đã trở thành hạt nhân đoàn kết các yếu tố dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế và cũng kể từ đây nhân dân Việt Nam vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng loài người một cách tự giác và có tổ chức

+ Chứng tỏ giai cấp CNVN đã trưởng thành : Giai cấp CN VN đã trưởng thành vì Đảng ra đời thì giai cấp CNVN đã trưởng thành giai cấp hoàn toàn tự giác và khả năng lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam đã trở thành hiện thực

* ĐCSVN ra đời là sự kết hợp giữa 3 yếu tố CN Mac - Le nin + phong trào Công nhân + phong trào yêu nước, đây chính là quy luật vận động thành lập Đảng của giai cấp CN VN

Quy luật này vừa thể hiện tính chất chung của phong trào CS Quốc Tế và vừa mang đặc thù của CMVN

Tính chất chung : CNMax-Le-nin + Phong trào công nhân = Đảng

vì : Đảng đánh dấu giai cấp có khả năng lãnh đạo, khi đảng ra đời thì giai cấp công nhân mới được coi là giai cấp tự giác)

-Nguồn gốc sinh ra chung đó chính là CNTB

-Khác tiền đề : CN Max-Le-nin nằm ngoài gc CÔNG NHÂN > đủ khả năng tổng kết lý luận của lịch sử -> CNMax-Le-nin là lý luận nhằm giải phóng nông dân và gc CN

Giai cấp Công nhân không thể viết ra hệ thống lý luận, do áp bức bóc lột của giai cấp TS > phong trào CNra đời

CN Max-Le-nin phải được truyền bá vào phong trào CN không được CN Max-Le-nin soi đường thì là phong trào tự phát

=> Quy luật thành lập phong trào CS Quốc tế phải gồm 2 yếu tố CN Max-Le-nin và phong trào CN

Đảng CSVN ra đời do có CNTB, có CN Mac - Le-nin và phong trào công nhân

>Đảng ra đời cũng đi theo quy luật chung cuả phong trào quốc tế CSản

Ở Việt Nam còn có đặc thù : phong trào CN song song với phong trào yêu nước (Đảng chỉ là đội tiên phong của giai cấp Công nhân chứ không phải tập hợp của giai cấp CÔNG NHÂN)

* Ngay từ khi ra đời Đảng CSVN trở thành Đảng kiểu mới của giai cấp VS, Đảng tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy đấu tranh phê và tự phê bình làm quy luật cũng cố và phát triển Đảng, Đảng luôn luôn quang hệ mật thiết với quần chúng và là người đại diện duy nhất cho quyền lợi dân tộc và giai cấp

1) GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM RA ĐỜI THẾ NÀO, MANG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NÀ0 ?

Vị trí Xã hội Việt Nam trước khi bị thực dân pháp xâm lược là một xã hội phong kiến thuần túy có hai giai cấp: địa chủ phong kiến và nông dân Từ khi thực dân pháp xâm lược và đặc ách thống trị, xả hội Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa nữa phong kiến, một số giai cấp mới xuất hiện trong đó có giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897) của thực dân pháp ở Việt Nam Số lượng công nhân ngày càng tăng lên cùng với việc thực dân pháp thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai

Trang 2

Đặc Điểm : Mặc dù ra đời muộn hơn, số lượng ít hơn so với giai cấp công nhân thế giới, nhưng giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp công nhân hiện đại, có đầy đủ những đặc điểm và phẩm chất của giai cấp công nhân quốc tế Mặc khác vì ra đời ở nước thuộc địa nữa phong kiến nên giai cấp cong nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng của mình ra đời và trưởng thành trước giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp cong nhân chịu 3 tầng áp bức bóc lột chủ nghĩa đế quốc, tư sản dân tộc và địa chủ phong kiến Giai cấp công nhân nhờ mối liên hệ chặc chẽ với nông dân tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và củng cố mối liên minh công nông kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng và bất khuất của dân tộc vì ra đời muộn nên Giai cấp công nhân Việt Nam không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương trong nội bộ Giai cấp công nhân không có công nhân qúy tộc, đặc điểm này đã làm tăng sức mạnh của giai cấp công nhân để hoàn thành sứ mệnh lịch sử mình trước dân tộc Điều thuận lợi khác là khi trưởng thành, giai cấp công nhân đã tiếp thu ngay lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin và Cách Mạng Tháng Mười Nga, nên càng có điều kiện nâng cao trước dân tộc

2) VÌ SAO Ở VIỆT NAM CHỈ CÓ GIAI CẤP CÔNG NHÂN LÃNH ĐẠO ĐƯỢC CÁCH MẠNG ? ĐIỀÀU KIỆN ĐỂ GIAI CẤP ĐÓ LÃNH ĐẠO ĐƯỢC CÁCH MẠNG ?

Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân pháp và lớn dần về số lượng cùng với hai cuộc khai thác thuộc thuộc địa của thực dân pháp Theo số liệu củu thực dân pháp đến năm 1929 số công nhân chuyên nghiệp đã có

33 vạn người, chiếm 1,2% dân số Việt Nam lúc đó Tuy số lượng nhỏ bé nhưng giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân thế giới, một giai cấp đại biểu cho giai cấp cho lực lượng sản xuất tiến bộ có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần triệt để cách mạng, v, v Ngoài ra giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng, do đó tạo uy tín chính trị và cũng cố vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trước dân tộc

Giai cấp công nhân Việt Nam giành được quyền lãnh đạo tuyệt đối của cách mạng Việt Nam, là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo tập hợp lực lượng yêu nước vì sớm tiếp thu lý luận Cách Mạng Chủ Nghĩa Mac-Lenin và ánh sáng CM tháng mười Nga, sớm có đội tiên phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam với cương lĩnh cách mạng đúng đắn từ khi mới ra đời Ngoài ra giai cấp Công nhân Việt Nam có mối liên hệ chặc chẽ với nông dân, tạo điệu kiện cho việt xây dựng khối liên minh công nông vững chắc làm tăng thêm sức mạnh của cả hai giai cấp cũng cố vững chắc vai trò của giai cấp công nhân với Cách Mạng

Khi đánh giá vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam Chủ Tịch HỒ CHÍ MINH đã khẳng định : chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, Cách Mạng nhất luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quấc thực dân Với lý luận Cách Mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất, tin cậy nhất của nông dân Việt Nam (HCM tuyển tập Trang2, NXB Sự Thật - Hà Nội 1980, Trang 153)

3) ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC ĐÃ KHẮC PHỤC CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ ĐƯỜNG LỐI CƯÚ NƯỚC Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 20 NHƯ THẾ NÀO ?

Từ khi thực dân pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy chống xâm lược, nhưng tất cả các phong trào cứu nưidc sôi nổi đó đều bị thất bại đất nước đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cưú nước mà thực chất là cuộc khủng hoảng về vai trò lãnh đạo Cách mạng của một giai cấp tiên tiến Đứng trước cơn bế tắc đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (tức đồng chí Nguyễn Aùi Quốc quyết định ra đi tìm đường cứu nước

Trang 3

Giai đoạn 1911-1917, sau khi nghiên cưú cuộc Cách Mạng nổ ra trên thế giới : Cách Mạng Mỹ(1776), Cách Mạng pháp(1789) Người đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng, nhưng Người cũng kết luận rằng đây là những cuộc Cách Mạng không đến nơi Thắng lợi vang dội của cách mạng tháng mười đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của người Sau khi nghiên cứu cuộc Cách Mạng này, đồng chí Nguyễn Aùi Quốc đã tin theo chủ nghĩa Mac-Lenin Lập trường dứt khoát của Người được biểu hiện bằng việc bỏ phiếu tán thành quốc tế cộng sản, tán thành lập ra Đảng Cộng Sản Pháp tại đại hội đảng xã hội Pháp ở thành phố Tua, tháng 12/1920 Từ đó đồng chí Nguyễn Aùi Quốc trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

4) TRÌNH BÀY SỰ CHUẨN BỊ CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO SỰ RA ĐỜI CỦA ĐCS VIỆT NAM ? (1)

Tháng 12/1920, sau khi trở thành người cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam

Bằng những hoạt động tích cực trong hội liên hiệp thuộc địa pháp (1921), ban nguyên cứa thuộc địa của đảng cộng sản pháp (1922), bằng báo chí và các tác phẩm của mình (mà nổi tiến nhất là bản án chế độ thực dân Pháp được xuất bản ở Pari năm 1925), đồng chí Nguyễn Aùi Quốc đã lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, chuẩn bị tư tưởng cho những người bị áp bức đấu tranh giành độc lập

Sau thời gian học tập nghiên cứu ổ Liên Xô, cuối năm 1924 về đến Quảng Châu (Trung Quốc) tiếp xúc với những nhà Cách Mạng vô sản, đồng chí đã tổ chức một nhóm cách mạng đầu tiên gồm 9 người, làm nòng cốt cho tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sau này

Tháng 6/1925, người thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, mở các lớp huấn luyện để tạo cán bộ cách mạng Việt Nam Những bài giảng trong các lớp huấn luyện ở Quảng Châu của đồng chí Nguyễn Aùi Quốc được tập hợp thành tác phẩm đường cách mạng Tác phẩm này đã góp phần chuẩn bị cho chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của ĐCS Việt Nam

Được chuẩn bị chính trị về tư tưởng ở Quảng Châu, những người yêu nước chân chính của Việt Nam trở về nước tập hợp lực lượng, hướng dẫn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đi vào quỹ đạo Cách Mạng Vô Sản

Phong trào CM trong nước những năm 1928-1929 phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Do nhận thức không đồng đều trong nội bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, đã dẫn đến việc xuất hiện ra tổ chức CS Việt Nam trong thời gian từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930

Để chấm dức tình trạng chia rẽ trong nội bộ những người cộng sản ở Việt Nam, nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo CM, được ủy quyền của quốc tế cộng sản, Đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị thống nhất các tổ chức CS, thành lập một Đảng CS duy nhất ở đông dương vào ngày 3/2/1930

5) PHÂN TÍCH CÔNG LAO CỦA VIỆT NAM THANH NIÊN CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI ?

VÌ SAO CÓ SỰ XUẤT HIỆN BA TỔ CHỨC CS Ở VIỆT NAM TỪ 1929 ĐẾN ĐẦU NĂM

1930 ?

Để chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của chính đảng, của giai cấp cong nhân Việt Nam, Tháng 6/1925 Đồng chí NAQ sáng lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội Tuy tồn tại

Trang 4

trong thời giang ngắn, nhưng tổ chức này đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng nhất là việt truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam được sự dìu dắt giáo dục của đồng chí NAQ, Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội phát triển khá mạnh mẽ các hội viên của thanh niên CM đồng chí hội sau khi dự lớp bồi dưỡng ở Quảng Châu về nước, đem những tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác-lenin đến với công nhân và nhân dân lao động trong nước, hướng dẫn phong trào đấu tranh của quần chúng đi theo lập trường của giai cấp công nhân, biến phong trào đấu tranh của quần chúng đi theo lập trường của giai cấp công nhân biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trở thành phong trào có tính độc lập thật sự, chịu ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-lenin

Thanh niên cách mạng đồng chí hội đã đề ra nhiễu chủ trương để rèn luyện các hội viên của mình, tác động tích cực đối với phong trào công nhân, nhất là chủ trương “Vô sản hóa” năm 1928 chủ trương vô sản hóa không chỉ để bồi dưỡng giáo dục tư tưởng mà còn làm cho các hội viên tự rèn luyện theo lập trường vô sản, củng cố lòng tin cho lớp Đảng viên đầu tiên của đảng để đấu tranh thắng lợi chống các quan điểm phi vô sản

Hoạt động của thanh niên cách mạng đồng chí hội đã đẩy nhanh sự giác ngộ của phong trào công nhân, đưa phong trào đấu tranh phát triển nhảy vọt, khi phong trào CM trong nước tăng cao, đòi hỏi phải có đản của giai cấp công nhân lãnh đạo Thanh niên cách mạng đồng chí hội không đủ khả năng để lãnh đạo phong trào

Trước tình hình đó, những người tiêu biểu trong thanh niên cách mạng đồng chí hội nhận thức được và tiến hành giải thể tổ chức Cuộc đại hội thanh niên toàn quốc tháng 5/1929 là dấu hiệu thể hiện sự phân hóa tích cực trong tổ chức thanh niên cách mạng đồng chí hội, dẫn tới sự hình thành những tổ chức cộng sản ở Việt Nam Đông dương cộng sản đảng (6/1929), An nam cộng sản đảng (10/1929) và Đông dương cộng sản liên Đoàn (1/1930)

Sau khi tuyên bố thành lập, các tổ chức cộng sản đã nhanh chóng phát huy thanh thế của tổ chức mình như kết nạp đảng viên, xây dựng và phát triển cơ sở đảng và trực tiếp lãnh đạo càc cuộc đấu tranh để đưa phong trào CM phát triển Nhưng sự chia rẽ về mặt tổ chức của những người CS ở Đông dương làm hạn chế sức mạnh của CS Trước tình hình đó quốc tế cộng sản đã gởi thư cho những người cộng sản ở đông dương và quyết định chỉ nên lập một đảng cộng sản duy nhất ở Đông dương để lãnh đạo phong trào CM

6) VÌ SAO NÓI ĐCSVN RA ĐỜI LÀ MỘT TẤT YẾU LỊCH SỬ, ĐÁP ỨNG NGUYỆN VỌNG THA THIẾT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ?

Ngày 3/2/1930 ĐCSVN ra đời, Đảng là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam là kết quả của sự chuẩn bị công phu của lãnh tụ NAQ, đồng thời cũng là kết qủa của một qúa trình vận động CM trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, là bước phát triển tất yếu của lịch sử Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại mới sau CM tháng mười

Lịch sử Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược đã ghi nhận rằng : nguyện vọng tha thiết của dân tộc là được độc lập Mặt khác, ở nước ta nông dân chiếm hơn 90% dân số, mơ ước ngàn đời của nông dân là có ruộng cày Giai cấp nào đáp ứng được nguyện vọng trên sẽ tập hợp được dân tộc dưới ngọn cờ cứu nước và trở thành giai cấp lãnh đạo Cách Mạng tháng mười nga thắng lợi đã khẳng định rằng : trong thời đại ngày ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp nắm ngọn cờ dân tộc Ở Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược, còn có một thực tế là : giai cấp tư sản không đủ sức nắm vững ngọn cờ dân tộc và cũng không một tổ chức nào của các giai cấp khác có khả năng giải quyết được thực chất của CM ở các nước thuộc địa là vấn đề nông dân Mặt dù đã có

Trang 5

nhiễu nhân sĩ ra đi tìm đường cứu nước, nhưng không ai đáp ứng được nhu cầu bức thiết của dân tộc Mãi đến năm 1920 NAQ mới đáp ứng được nhu cầu đó, tìm ra con đường cứa nước đúng đắn, truyền bá chủ nghĩa Mác-lenin vào Việt Nam, rèn luyện những người yêu nước Việt Nam theo lập trường vô sản, thành lập đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ĐCSVN ra đời với đường lối đúng đắn đã thu hút tất cả những người yêu nước chân chính đứng dưới ngọn cờ cứu nước của giai cấp công nhân, tiến hành giải phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của toàn dân Việt Nam

7) PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ THÁNG 10/1930 ? (4)

Tháng 10/1930 ban chấp hành trung ương đảng họp hội nghị lần thứ nhất, thông qua bản luận cương chính trị của đảng do đồng chí Trần Phú dự thảo, Luận cương có những nội dung cơ bản sau:

Về đường lối chiến lược : vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin Luận cương xác định tính chất của CM Việt Nam là CM tư sản dân quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN Như vậy là CM Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: CM tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành độc lập và chống phong kiến, bởi vì sự cấu kết giữa đế quốc và phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, Hai nhiệm vụ này có mối liên hệ khăng khít, bởi vì sự cấu kết giữa đế quốc và phong kiến là đặc điểm nổi bậc ở nước ta mà các nhà yêu nước trước đây không thấy hết và cũng không giải quyết được

Sau khi hoàng thành thắng lợi CM tư sản dân quyền thì tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị dể tiến lên CMXHXN

Luận cương xác định như vậy chứng tỏ ngay từ đầu đảng đã tiếp thu đầy đủ tưởng CM không ngừng của V- Lênin

Về động lực, lực lượng CM : luận cương chỉ rõ “Trong Cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, những vô sản giai cấp có cầm quyễn lãnh đạo thì CM mới thắng lợi được” Khẳng định điều đó, Đảng ta nhấn mạnh tính triệt để của CM vô sản và quán triệt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-lenin về liên minh công nông trong cách mạng vô sản

Về xây dựng đảng : luận cương chính trị khẳng định rằng sự lãnh đạo của đảng là nhân tố quyết định thắng lợi CM nhưng phải quán triệt những nguyên tắc về xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác-Lenin : Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắng; lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm cơ sở xây dựng tổ chức có kỷ luật tập trung, đoàn kết, gắn bó mật thiết với quần chúng; Đảng phải được vũ trang bằng lý luận Mác-Lenin thông qua cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng trưởng thành, kiên quyết đấu tranh lại những tư tưởng phi vô sản

Về phương pháp CM : luận cương xác định bạo lực CM là hình thái biểu hiện của quy luật

CM ở Việt Nam, nhưng đòi hỏi đảng phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đảng phải căng cứ vào tình hình cụ thể để đề ra những khẩu hiệu thích hợp nhằm tập dượt, tổ chức và xây dựng lực lượng cách mạng, dùng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng để giàng chính quyền Tuy nhiên đảng phải coi trọng tổ chức lực lượng chính trị quầng chúng

Về đoàn kết Quốc Tế : thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, luận cương xác định

CM Việt Nam là một bộ phận của CM Vô Sản thế giới, bởi lẽ trong thời đại mới CM và phản CM đã được phân tuyến rõ ràng trên phạm vi thế giới

Trang 6

Những nội dung cơ bản mà luận cương khẳng định là cơ sở để đảng tập hợp lực lượng CM, giải quyết những yêu cầu bức thiết của toàn dân tộc, khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân trước dân tộc

8) VÌ SAO CAO TRÀO CM 1930-1931 LÀ CUỘC TỔNG DIỄN TẬP ĐẦU TIÊN CHUẨN BỊ CHO THẮNG LỢI CỦA CM THÁNG 8 ?

Vừa mới ra đời, Đảng ta đã tổ chức và phát động được một phong trào CM sôi nổi của công nông trên quy mô của cả nước : Đây là phong trào quần chúng tự giác và rộng lớn chưa từng có ở Đông Dương Sở dĩ được thành qủa đó là vì đảng đã đưa ra nguyện vọng đúng nguyện vọng cơ bản của nhân dân Cao trào 30-31 khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo nà năng lực tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân Đảng đã xây dựng được khối liên minh công nông vì đảng có được đường lối giai cấp rõ rệt lần đầu tiên trong lịch sử CM nước ta, hai giai cấp công nông đã thể hiện sự phối hợp, ủng hộ lẫn nhau đẩy lên một cao trào CM rộng lớn sôi sục trong cả nước Qua cao trào CM 30-31, Đảng ta đã rèn luyện được đội ngũ đảng viên, quần chúng và đem lại cho quần chúng niềm tin vững chắc vào sức mạnh và năng lực sáng tạo của chính mình Chính nhờ niềm tin đó, đảng đã tạo ra sức mạnh tổng hợp hướng dẫn cho nhân dân đấu tranh cho những mục tiêu cụ thể, thích hợp để giành thắng lợi Cao trào 30-31 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về mọi mặt của đảng ta và nhân dân ta, tạo điều kiện để đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn

9) CHỨNG MINH RẰNG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 39-39 LÀ CUỘC TỔNG DIỄN TẬP LẦN THỨ HAI CHUẨN BỊ CHO THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 ?

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tình hình thế giới có những diễn biến phức tap, đặc biệt là có sự xuất hiện của nền chuyên chính Phát xít ở một số nước Họa Phát xít và nguy cơ chiến tranh đe dọa loài người Trước tình hình đó quốc tế cộng sản đã ra những chủ trương mới để hướng đạo phong trào đấu tranh trên thế giới

Ở Đông Dương, đời sống của các tầng lớp nhân dân hết sức khổ cực Hoàn cảnh mới buộc Đảûng ta phải đề ra : đường lối, phương pháp đấu tranh sát dung, mục tiêu trước mắt phù hợp Đảng đã phát động phong trào đấu tranh chống bọn phản động chống bọn Phát-xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình

Do có mục tiêu phù hợp, nên phong trào đấu tranh của quần chúng trên thực tế đã trở thành cao trào cách mạng Tiếp theo cao trào 1930-1931, Cao trào 1936-1939 một lần nữa kiểm nghiệm đường lối CM của đảng Mục tiêu mà Đảng đề ra sát hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng, nên phong trào quần chúng đã phát triển rộng khắp cả nước

Bằng phong trào đấu tranh rộng lớn của quần chúng, Đảng đã xây dựng được mặt trận dân tộc thống nhất - một vấn đề chiến lược - một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của CM Mặt trận dân chủ tồn tại thực tế trong những năm 1936-1939 đã góp phần thành đạo quân chính trị to lớn của CM đấu tranh thực hiện mục tiêu dân sinh, dân chủ

Qua kinh nghiệm của cao trào CM 1930-1931, Ở thời kỳ 1936-1939, Đảng ta đã khéo léo kết hợp các hình thức đấu tranh, tập hợp dược quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị cho cách mạng Cao trào 1936-1939 để lại cho đảng nhiều kinh nghiệm về mối quan hệ sử dụng các hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh

Dưới sự lãnh đạo của đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng thời kỳ

1936-1939 diễn ra sôi nổi, đông đảo Thông qua phong trào đấu tranh, hàng triệu quần chúnh được giác

Trang 7

ngộ và trưởng thành về chính trị của Đảng ta, giúp Đảng hoàn thành những nhiệm vụ chính trị đã đề ra từ khi mới ra đời

10) PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC SÁCH LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ 1939 - 1945 ( QUA BA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LẦN 6, 7, 8) : (7)

Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, cuộc chiếnh tranh này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình ở Đông dương Đứng trước những biến động đó, Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để phù hợp với tình hình

Từ hội nghị trung ương lần thứ 6 (11/1939), đến hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (11/1940) và đặc biệt là hội nghị Trung ương đảng lần thứ 8 (5/1941) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã đánh dấu sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng, đồng thời đánh dấu sự bổ xung và đánh dấu hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của đảng ta

Nội dung chủ yếu của sự chuyển hướng đó biểu hiện trên mấy vấn đề cơ bản như sau :

Đảng ta đã khẳng định rằng hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc, dân chủ mà luận cương tháng 10/1930 đã nêu cho đến nay vẫn đúng Nhưng trước tình hình mới Đảng chủ trương phải tập trung giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc

Về mối quan hệ giữa hai chiến lược, Đảng ta xác định rằng : hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến có quan hệ chặc chẽ, mật thiết với nhau, nhưng không tiến hành nhất loạt song song nhất loạt ngang nhau Nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc Trong khi tập trung giải quyết vấn đề độc lập dân tộc Đảng tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra những khẩu hiệu hợp lý để nhằm tập trung lực lượng để đánh đổ kẻ thù nguy hiểm nhất là đế quốc xâm lược

Trên cơ sở nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, Đảng ta chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng bước ở Đông Dương Sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia dân tộc là tùy ý Ở Việt Nam, Hội nghị BCH Trung Ương lần thứ 8 chủ trương sau khi đánh đuổi Pháp-Nhật đã thành lập một chính phủ nhân dân, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng làm cánh làm lá cờ toàn quốc

Đảng chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất để liên hiệp được tất cả sức mạnh của toàn dân tộc, tại hội nghị Trung Ương lần thứ 8 (5/1941), theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định ở Việt Nam một mặt trận riêng lấy tên là mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắc là Việt Minh

Đảng chuyển hướng hình thức đấu tranh từ công khai hợp pháp, nữu hợp pháp sang đấu tranh chính trị, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Hội nghị Trung Ương lần thứ 7 đã đưa vấn đề khởi nghĩa vũ trang vào vào chương trình nghị sự, đến hội nghị Trung Ương Đảng nhấn mạnh : chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Trung Ương Đảng đã dự kiến con đường khởi nghĩa vũ trang giàng chính quyền là : đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa trong cả nước

Để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền tại các hội nghị Trung Ương (6-7-8) Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp về công tác xây dựng Đảng

Trang 8

Sự chuyển hướng chỉ đạo đúng đắn đó, đánh dấu một bước trưởng thành của đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắnglợi của cách mạng tháng 8 năm 1945

11) PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG VÀ TÍNH CÁCH MẠNG SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG QUA CHỈ THỊ “NHẬT-PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA” NGÀY 12/3/1945 CỦA BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Từ ngày 9 đến ngày 12/3/1945, Ban thường vụ Trung Ương đảng đã họp và ra bản chỉ thị

“Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Bảng chỉ thị có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của cao trào kháng Nhật của nước và cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 Những nội dung cơ bản của chỉ thị đã thể hiện tính cách mạng và nghệ thuật chiến lược cách mạng của đảng

ta, biểu hiện trên những mặt :

 Bản chỉ thị ra đời đúng lúc và kịp thời, xác định kẻ thù chính của cách mạng hết sức đúng đắn: từ tháng 9/1940, sau khi Phát -xít vào Đông dương Đảng ta chỉ ra kẻ thù của cách mạng Việt Nam là Pháp và Nhật, nhưng Nhật ngày càng lấn át Pháp, khi Nhật hất cẳng Pháp (9-3-1945) Đảng xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là Phát-xít Nhật và đề ra mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành chính quyền từ tay Phát-xít Nhật

 Việc xác định đúng kẻ thù của cách mạng là một vấn đề hết sức quang trọng để từ đó Đảng tập trung lực lượng đánh đổ chúng giành chính quyền về tay nhân dân Xác định kẻ thù chính của cách mạng là Phát-xít Nhật, Đảng ta dã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa và sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi đã có đủ điều kiện

 Đảng còn đề xuất một chủ trương sáng tạo là “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, kịp thời đáp ứng nguyện vọng của quần chúng, thu hút hàng triệu người lên trận tuyến đấu tranh trực diện với kẻ thù bằng các hình thức đấu tranh : tuyên truyền xung phong, vũ trang tuyên truyền xung phong, vũ trang tuyên truyền, biểu tình, để tập dượt cho quần chúng bước vào trận chiến đấu quyết định

Về thời cơ khởi nghĩa giàng chính quyền, Đảng chỉ thị đã dự kiến những khả năng cụ thể như sau :

Một là “Cách mạng Nhật bùng nổ”, hai là “giặc Nhật mất nước như Pháp naÊm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần”; ba là “quân đồng minh đổ bộ vào Đông Dương đã tiến sâu và bám chắc trên đất ta, quân Nhật phải kéo ra ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở” Đó là những điều kiện để phát động tổng khởi nghĩa toàn thắng

12) PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TA ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦA TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945

Tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 do Đảng ta phát động đã nổ ra và thắng lợi

Sự nhân nhượng có nguyên tắc : chính quyền cách mạng vẫn được giữ vững, mặt dù thực hiện chính phủ liên hợp nhưng vẫn giữ vững bản chất của cách mạng của chính quyền mới, chỉ liên hiệp ở cấp Trung Ương

Hòa với Pháp : sách lược của chúng ta trong khi thực hiện việc hòa hoãn với Pháp là “Hòa để tiến” Đây là việc hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc hiệp định sơ bộ ký ngày 6/3/1946 giữa chính phủ ta và Pháp đã chứng minh chủ trương : chủ trương tạm thời hòa hoãn của Đảng ta với Pháp là cứng rắn về nguyên tắc và mềm dẽo về sách lược Một trong những điều khoản của

Trang 9

hiệp định đã ghi : nước Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, có chính phủ, có nghị viện, quân đội và tài chính dàn xếp

ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch, giải phóng Điện Biên Phủ, đập ta kế hoạch Na-va, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta để kết thúc chiến tranh

16) VÌ SAO ĐẢNG TA CHỦ TRƯƠNG MỞ MẶT TRẬN ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO ?

TRÌNH BÀY NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH GƠ-NE-VƠ (1945)

Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự vơí đấu tranh ngoại giao thực tế đã diễn ra ngay từ ngày Nam Bộ kháng chiến Trong qúa trình kháng chiến, Đảng ta vẫn chủ trương thương lượng : với chính phủ Pháp, nhưng không đạt kết qủa vì chính phủ Pháp chỉ muốn thương luợng trên sức mạnh quân sự

Từ năm 1953, cùng với chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quyết định mở cuộc tiến công trên mặt trận ngoại giao Đề

ra chủ trương này, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đấu tranh trên ba mặt trận : quân sự, chính trị và ngoại giao nhằm đánh bại thực dân pháp xâm lược, kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của nhân dân ta

Mặc dù chủ trương thương lượng trên thế mạnh quân sự nhưng thất bại trên chiến trường trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 buộc chính phủ Pháp ta nhằm cứu vãn đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương khỏi bị tiêu diệt

Ngày 26-4 1954 giữu lúc quân, dân ta sắp bước vào đợt tiến công thứ 3 để quyết định số phận quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơ-Ne-vơ ở Đông dương khai mạc, chiến thắng Điện Biên Phủ, trận phối hợp đúng lúc với cuộc tiến công ngoại giao, thắng lợi trên chiến trường tạo thuận lợi cơ bản cho thắng lợi ngoại giao, thúc đẩy hội nghị Giơ-ne-vơ tiến triển Phái đoàn của chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu bàn hội nghị với tư thế của một dân tộc chiến thắng, đã nêu lên lập trường có nguyên tắc của chính phủ ta là đi tới một giải pháp hoàn chỉnh cho việc lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương Đi đôi với ngừng bắn là thực hiện giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương

Nhưng lập trường thiện chí của chính phủ Việt Nam đã không được đế quốc Mỹ và Pháp chấp nhận Mặc dù vậy, qua một thời gian đấu tranh gay go, phức tạp đến ngày 20-7-1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương đã được ký kết

Hiệp Định đã xác nhận : Chính phủ Pháp và các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia; Thực hiện Ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn Đông Dương; Pháp rút hết quân, vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời; sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước Việt Nam Ở Lào, thiết lập một khu tập kết cho lực lượng kháng chiến, gồm haitỉnh sầm nưa và Phong -xa-lỳ Ơû Camphuchia, lực lượng kháng chiến không có khu vực tập kết nào và quân đội phục viên tại chổ

Những điều khoảng của hiệp định đã đánh dấu một bước thắng lợi của các lực lượng cách mạng ở Đông Dương Mặc dù chưa giành được thắng lợi trọn vẹn nhưng nhân dân Đông Dương đã buộc thực dân Pháp và các nước tham dự hội nghị Gơ-ne-vơ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của mình và quyền tư quyết của nhân dân Việt Nam, làm thực dân Pháp phải chấp nhận ngừng bắn tên toàn Đông Dương và rút hết quân về nước Thắng lợi đó, tạo điều kiện cho bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam

Trang 10

17) HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ BCH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LẦN THỨ 15 (tháng 1/1959) (12)

Từ sau 7/1954, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới với những đặc điểm như sau :

 Đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền với 2 chế độ xã hội khác nhau, miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, miền Nam tiềp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước

 Hoàn cảnh quốc tế ở giai đoạn này cũng có những nét khác với trước đây - lực lượng cách mạng mạnh hơn so với trước, nhưng phong trào cộng sản quốc tế lại có sự bất đồng

do có sự xuất hiện của chủa nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại

 Kẻ thù mới của cách mạng Việt Nam là đế quốc Mỹ, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Những đặc điểm trên buọc Đảng ta phải giải quyết những vấn đề phức tạp, đồng thời giải quyết 2 nhiệm vụ chiến lược; đưa cách mạng XHCN ở miền Bắc phát triển nhưng phải tìm tòi hường đi đúng đắn của CM Việt Nam

Từ tháng7/1954, Đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm không thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, cồ tình phá hoại hiệp định, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới

Tôn trọng nghiêm chỉnh hiệp định Giơ-ne-vơ, Đảng ta đã thực hiện điều chỉnh khu vực ở miền Nam, thực hiện tập kết chuyển quân Vì vậy, từ sau khi thực hiện những chủ trương đó so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam có sự thay đổi lớn tạm thời chuyển sang thế giữ gìn lực lượng, tuy nhiên vì chiến lược vẫn kiên trì tư tưởng chiến lược tiến công

Thời lỳ tù tháng 7-1954 - 1958, Mỹ Diệm thực hiện chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” đã gây cho lực lượng cách mạng của ta ở miền Nam những tổn thất nặng nề ở một số địa phương Tuy nhiên, nhân dân miền Nam vẫn liên cường đấu tranh chống sự khủng bố đàn áp của Mỹ-Diệm dưới nhiều hình thức, báo hiệu thời cơ nổi dậy của CM để đập tan chế độ độc tài Mỹ-Diệm

Trong bối cảnh lịch sử đó, BCH Trung Ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15 (1959) ra nghị quyết về đường lối CM miền Nam, với những nội dung cơ bản như sau :

 Sau khi nhận định tính chất xã hội miền Nam là thuộc địa kiểu mới và căn cứ vào quân sự của Mỹ, Nghị quyết 15 đã vạch ra mậu thuẩn chủ yếu mà CM phải tập trung giải quyết là mâu thuẩn giữa dân tộc Việt Nam nhân dân Việt Nam với Đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm - tay sai của Đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân Lực lương

CM : nghị quyết 15 xác định là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và nhân

sĩ yêu nước Động lực CM là công nhân, nông dân, tiểu tư sản : lấy khối liên minh công nông là cơ sở và do giai cấp công nhân lãnh đạo Đối tượng CM cần đánh đổ : Đế quốc Mỹ và bọn tay sai thân Mỹ trong giai cấp địa chủ và tư sản mại bản

 Về phương pháp CM : nghị quyết 15 chỉ ra rằng để giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ của Mỹ-Diệm, nhân dân miền Nam phải dùng bạo lực CM của quần chúng để chống lại bạo lực CM của kẻ thù Đó là con đường duy nhất đúng, ngoài ra không còn có con đường nào khác

 Về hình thức đấu tranh : nghị quyết 15 xác định là hợp pháp, nữa hợp pháp, bí mật Hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu Để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng, phân hóa cao độ

Ngày đăng: 19/08/2016, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w