Giai cấp tư sản Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng vì họ ra đời muộn hơn tư sản thế giớihơn 3 thế kỷ, ở trong hoàn cảnh thuộc địa,bị thực dân Pháp chèn ép nên họ yếu đuối về kinh t
Trang 1LỊCH SỬ ĐẢNG
Câu 1: Vị trí, vai trò và thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa
I Giai cấp địa chủ phong kiến:
Trong lịch sử Việt Nam giai cấp phong kiến đã từng giữ vai trò tiến bộ nhất định
và đó là giai cấp đã từng lãnh đạo đất nước xây dựng nền phong kiến tự chủ Nhưng
từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp thì giai cấp phong kiến Việt Nam không còn giữ vai trò lãnh đạo dân tộc nữa
Tuy vậy thực dân Pháp không xoá bỏ giai cấp phong kiến mà chủ trương duy trì giai cấp này để làm cơ sở xã hội cho chế độ thuộc địa Trong hoàn cảnh đó giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam bị phân hoá mạnh mẽ với thái độ chính trị khác nhau:
- Một số chạy theo lợi ích ích kỷ trở thành tay sai cho thực dân Pháp
- Một số chống Pháp nhằm khôi phục triều đình phong kiến
- Một số cùng nhân dân chiến đấu chống thực dân Pháp và cả triều đình phong kiến
- Một số nhỏ chuyển sang kinh doanh
Do sự phân hoá mạnh mẽ của giai cấp địa chủ phong kiến tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam thu hút và tập hợp những người yêu nước trong hàng ngũ này
II Giai cấp nông dân Việt Nam:
Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp đông đảo chiếm khoảng 90% dân số Trong chế độ thuộc địa giai cấp nông dân bị bần cùng hoá, không lối thoát do đó
họ có tinh thần chống đế quốc và chống phong kiến mạnh mẽ Họ vừa có yêu cầu về độc lập vừa có yêu cầu về ruộng đất song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất
Tuy giai cấp nông dân không thể lãnh đạo cách mạng nhưng họ là lực lượng không thể thiếu của mọi cuộc cách mạng Nói thế là vì giai cấp nông dân không độc lập về hệ tư tưởng, họ có mặt ở mọi phương thức sản xuất nhưng không thể đại diện và không thể vạch ra kế hoạch cho tương lai
Ngoài ra họ là lực lượng không thể thiếu là vì họ chiều nhiều áp bức bóc lột nhất nên sẽ tham gia vào cách mạng và là lực lượng đông đảo nhất của quần chúng nhân dân Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng chủ lực của cách mạng Việt Nam
III Giai cấp tư sản Việt Nam:
Giai cấo tư sản Việt Nam ra đời vào lúc Pháp tổ chức khai thác thuộc địa lần thứ
2 (1918 – 1945) và trong quá trình phát triển giai cấp tư sản phân hoá thành hai bộ phận:
- Tư sản mại bản: có quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp, phong kiến Họ không ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc
- Tư sản dân tộc (vừa và nhỏ):về chính trị có 2 mặt:
Trang 2 Mặt tích cực: tư sản dân tộc có tinh thần ”phản đế, phản phong“ nên
họ có thể là đồng minh có điều kiện của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Họ có tinh thần ”phản đế“ vì họ ra đời muộn, trong hoàn cảnh thuộc địa nên họ bị thực dân Pháp chèn ép còn tinh thần ”phản phong” vì giai cấp tư sản sử dụng công nhân làm lực lượng lao động nếu phong kiến tồn tại thì công nhân không tồn tại nên trong bản chất cần chống phong kiến để bảo vệ lợi ích giai cấp của mình
Mặt hạn chế: giai cấp tư sản nói chung tồn tại bằng cách bóc lột giá trị thặng dư của người sản xuất nên họ không triệt để cách mạng Giai cấp tư sản Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng vì họ ra đời muộn hơn tư sản thế giới(hơn 3 thế kỷ), ở trong hoàn cảnh thuộc địa,bị thực dân Pháp chèn ép nên họ yếu đuối về kinh tế, bạt nhược về chính trị Nói chung giai cấp tư sản Việt Nam chỉ có thể đóng góp lớn nhất khi đi cùng với dân tộc Việt Nam trong cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
IV Tầng lớp trí thức, tiểu tư sản(tầng lớp trung gian):
Tầng lớp trí thức, tiểu tư sản được hình thành trong cuộc khai thác thuộc địa lần
2, thành phần bao gồm sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ,… nên tầng lớp này có điều kiện tiếp xúc, có trình độ tri thức nhất định, họ rất nhạy cảm với chính trị và dễ dàng được chân lý thuyết phục Đời sống bấp bênh, chịu nhiều áp bức nên họ cảm nhận sâu sắc nỗi đau của một dân tộc mất nước, nền văn hoá bị chà đạp, nền dân trí bị giam hãm
Trừ một số ít người làm tay sai còn phần lớn tầng lớp này rất yêu nước và ủng hộ cách mạng
Tầng lớp này cũng giữ một vai trò rất quan trọng trong cách mạng Việt Nam vì trong thời gian đầu thì tầng lớp này giúp Đảng và Bác truyền bá tư tưởng, đường lối chính trị thông qua các tài liệu Bác gởi về từ nước ngoài
V Giai cấp công nhân Việt Nam:
Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đôn trại và thành phố phục vụ cho cuộc xâm lược
và binh định nước ta
Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn người và trình độ còn thấp Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924-1929), số lượng công nhân chuyên nghiệp đã có 22 vạn người, chiếm 1,2% số dân Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước nǎm 1930 có đến hàng triệu người
Giai cấp này giữ một vị trí rất quan trọng trong “mạch máu kinh tế” nối liền thuộc địa và chính quốc
Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế như:
- Là đại diện của một phương thức sản xuất tiến bộ nhất: phương thức sản cuất
xã hội chủ nghĩa
- Có ý thức tổ chức kỉ luật cao
- Cá năng lực cách mạng, tinh thần cách mạng triệt để
Trang 3- Có tinh thần quốc tế vô sản cao cả
Giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm:
- Xuất thân từ nông dân, thuận lợi cho việc thiết lập liện minh công nông
- Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân
và các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nông dân Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng
- Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, không có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa công đoàn và chủ nghĩa cải lương thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong, do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam) tuy còn trẻ, số lượng ít, trình độ văn hoá, kỹ thuật còn thấp, nhưng ở nước ta đó là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất, sống tập trung, có ý thức kỷ luật, có năng lực cách mạng triệt để và có tinh thần quốc tế vô sản
- Là con đẻ của một dân tộc anh hùng, lớn lên trong thời đại mới, khi mà giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Bônsêvích đã giành được chính quyền, Quốc tế cộng sản đã thành lập, lại được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc giác ngộ, giai cấp công nhân Việt Nam đã từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, nhanh chóng phát triển từ tự phát đến tự giác
Câu 2: Nội dung cơ bản của chính cương sách lược vắn tắt, ý nghĩa
I Nội dung cơ bản:
Từ ngày 3/2/1930 đến 7/2/1930 hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long-Hương Cảng-Trung Quốc Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Các văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-Cương lĩnh Hồ Chí
Minh Nội dung cơ bản như sau:
- Xác định “phương hướng chiến luợc” của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
- Theo tư tưởng của đồng chí Nguyễn ái Quốc thì cuộc cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản bao gồm hai cuộc vận động là cuộc vận động giải phóng dân tộc và cuộc vận động xây dựng đất nước độc lập tự
do hạnh phúc, phần lớn coi giai đoạn cách mạng là giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội
- Hai cuộc vận động này liên quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau, cuộc vận động trước thành công tạo điều kiện cho cuộc vận động sau giành thắng lợi, Vì vậy, giữa hai giai đoạn cách mạng này: giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội không có bức tường ngăn cách, không phải tiến hành một cuộc cách mạng chính trị lân thứ hai để giải quyết vấn đê chính quyền như cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc
- Xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng:
Trang 4 Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế: tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ công nông binh: tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm tám giờ
Về văn hoá xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hoá
Những nhiệm vụ trên đây bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống
đế quốc, chống phong kiến, song nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc
Về lực lượng cách mạng: Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông,… đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào
đã ra mặt phản cách mạng(như Đảng Lập hiến) thì phải đánh đổ
Chủ trương tập hợp lực lượng trên đây phản ánh tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của
Hồ Chí Minh
Về nguyên tắc liên minh, Sách lược vắn tắt đã viết: "Trong khi liên lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp" Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng Sản ”Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”
Về quan hệ quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, “liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là quần chúng vô sản Pháp”
II Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh
Phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới
Đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử
Nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm đượm tinh thần dân tộc vì độc lập tự
do, tiến hành tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản là
tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh này
Câu 3: Phân tích quy quật thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu thời đại mới trong lịch sử nước ta, thời đại giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó đứng vị trí trung tâm, kết hợp mọi phong trào yêu nước và cách mạng, quyết định nội dung, phương hướng phát triển của xã hội Việt Nam Đây là thời đại nhân dân Việt Nam không chỉ làm nên lịch
Trang 5sử vẻ vang của mình, mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức là xoá bỏ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập, dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội
Nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Nguyễn ái Quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với phong trào cách mạng các nước, kết hợp nhân tố dân tộc với nhân tố giai cấp, dân tộc với quốc tế, dân tộc với thời đại, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc xâm lược và xây dựng đất nước giàu mạnh Quá trình chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản cho ta những kết luận về quy luật thành lập Đảng:
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phầm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Học thuyết Mác - Lênin khẳng định rằng:
Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân
- Quy luật chung này được đồng chí Nguyễn ái Quốc vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn ít về số lượng, nhưng người vô sản bị
áp bức, bóc lột thì đồng
- Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nông và phong trào yêu nước dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự phát triền cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đảng ta là con đẻ của phong trào cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động và trưởng thành thông qua đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến
Muốn củng cố và phát triển Đảng, đòi hỏi phải củng cố và phát triển phong trào cách mạng của quần chúng Đảng mật thiết liên hệ với quần chúng, hướng dẫn, lãnh đạo phong trào quần chúng, thông qua thực tiễn phong trào cách mạng mà củng cố và phát triển Đảng
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả thống nhất của phong trào cách mạng trong cả nước, là sự đồng tâm nhất trí của những chiến sĩ tiên phong Những người cộng sản Việt Nam dù ở trong Đông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng hay Đông Dương cộng sản liên đoàn, lúc bấy giờ tuy có những vấn đề bất đồng, nhưng đã biết đề cao trách nhiệm của đội tiên phong, đặt lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp lên trên hết nên đã sớm thống nhất vào một đảng duy nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam
- Đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tãt là phù hợp với yêu cầu của toàn Đảng và toàn dân
Cương lĩnh đầu tiên trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các lực lượng và lãnh đạo phong trào cách mạng từ khi Đảng được thành lập Thực tiễn cách mạng nước ta ngày càng khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của những tư tưởng chiến lược và sách lược trên đây của đồng chí Nguyễn ái Quốc Đại
Trang 6hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: "lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động" của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay
Câu 4: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương, biện pháp bảo vệ chính quyền non trẻ 1945-1946
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ NƯỚC TA SAU CMT8:
1 Thuận Lợi:
1.1 Trong Nước:
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch
sử dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên đất nước được độc lập, tự do; nhân dân lao động được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ trở thành người làm chủ đất nước
- Hệ thống chính quyền cách mạng được xây dựng từ Trung ương tới cơ sở trên
cả nước Từ họat động bí mật, Đảng ta trở thành Đảng lãnh đạo Mặt trận Việt Minh
và chủ tịch Hồ Chí Minh có uy tín lớn trong dân tộc, chính quyền cách mạng được toàn dân ủng hộ
- Phong trào cách mạng, tinh thần yêu nước của nhân dân dấy lên từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tiếp tục phát triển với những hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ, giữ vững thành quả cách mạng
1.2 Thế Giới:
- Các nước tư bản suy yếu Phong trào giải phóng dân tộc vì hòa bình, dân chủ phát triển mạnh, hệ thống các nước XHCN được hình thành và nhân rộng
Đây là những nhân tố quan trọng có tác dụng cổ vũ, động viên nhân dân
ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng
2 Khó Khăn:
1.1 Quốc Phòng An Ninh:
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đã cấu kết, báo vây, chống phá hòng thủ tiêu mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta, đặt lại ách thống tri của chúng, xoá bỏ nền độc lập mà dân tộc ta vừa giành được Tình hình cụ thể:
1.1.1 Ở phía Bắc:
- Gần 20 vạn quân của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) - Đồng minh của đế quốc Mỹ, kéo vào miền Bắc Dưới danh nghĩa quân đội Đồng minh vào tước vũ khí quân Nhật, nhưng âm mưu của Quốc dân đảng Trung Hoa là: "Tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng"
- Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1945, quân đội Tưởng do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy đã đóng quân tại Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16
- Ngày 11-9-1945, tướng Lư Hán tuyên bố thời gian quân Tưởng ở Việt Nam là không hạn định, tự cho mình quyền kiểm soát trật tự, an ninh trong thành phố Tiêu
Trang 7Văn, nhân vật được chính quyền Tưởng giao trách nhiệm xếp đặt chế độ chính trị ở Việt Nam, mà thực chất là thực hiện âm mưu lật đổ đã sớm có mặt ở Hà Nội
- Quân Tưởng kéo theo lực lượng phản động người Việt lưu vong ở Trung Quốc tập hợp trong tổ chức Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) của Vu Hồng Khanh và Việt Nam cách mạng đông chí hội (Việt Cách) của Nguyễn Hai Thần Được quân Tưởng khuyến khích, hỗ trợ, các lực lượng phản động này củng cố chỗ đứng và ngày càng tăng cường chống phá chính quyền cách mạng và chiếm giữ một số địa phương Tại Hà Nội, dựa vào thế quân Tưởng, bọn Việt Quốc, việt Cách công khai hoạt động tuyên truyền, gây rối chống phá cách mạng, đồng thời ra sức lừa bịp, lôi kéo quần chúng dưới cái vỏ "cách mạng" và "quốc gia, dân tộc" giả hiệu, chúng dựa vào quân Tưởng đã chiếm giữa mốt số nơi ở Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái Chúng quấy nhiễu, phá phách, cướp của, tống tiền, gây rối loạn trật tự trị an Chúng giải truyền đơn, ra báo công khai xuyên tạc chính sách của Đảng, của Việt Minh, đòi loại
bỏ các Bộ trưởng và Đảng viên Cộng sản ra khỏi Chính phủ
- Ngoài ra còn nhiều tổ chức phản cách mạng khác hoạt động như Đại Việt quốc dân đảng, Đại Việt quốc gia xã hội đảng v.v đã bị chính quyền cách mạng ra sắc lệnh giải tán nhưng vẫn tìm mọi cách hoạt động phá hoại
1.1.2 Ở phía Nam
- Từ vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng trở vào), cũng với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, quân đội Anh vào tước vũ khí quân Nhật, Nhưng trên thực tế, đế quốc Anh đã giúp cho thực dân Pháp trở lại chiếm Việt Nam và cả Đông Dương
- Anh và Pháp cấu kết đàn áp cách mạng Đông Dương vì "sợ rằng phong trào
ấy "làm gương" cho các thuộc địa của Anh" Mặt khác, cũng để ngăn chặn âm mưu của Mỹ muốn tranh giành quyền lợi với Anh, Pháp ở Đông Dương và Đông - Nam á
- Ngày 6-9-1945, quân đội Anh vào Sài Gòn, Gờ-ra-xây - tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương - đòi giải giáp quân đội Việt Nam
- Ngày 12-9-1945, quân Anh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, che chở cho lực lượng của Pháp biểu tình khiêu khích ở Sài Gòn Chúng tự ý duy trì trật tự trong thành phố, giao cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát, thả 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ trước đây và trang bị cho lực lượng này, đồng thời trắng trợn đòi lực lượng vũ trang Việt Nam nộp vũ khí
- Ngày 23-9-1945, được quân Anh và quân Nhật giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đâu cuộc xâm lược tân thứ hai của thực dân Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương
Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều kẻ thù xâm lược hung bạo và xảo quyệt như vậy Các thế lực xâm lược tuy có những ý đồ riêng và hành động cụ thể khác nhau Song, mục tiêu chung của chúng là tiêu diệt chính quyền nhà nước Việt Nam non trẻ Gần 30 vạn quân đội của các thế lực đế quốc, thực dân, phản động nước ngoài chiếm đóng trên đất nước ta, cách mạng nước ta không chỉ "bị hǎm trong vòng vây của đế quốc chủ nghĩa" mà còn bị phản kích quyết liệt
Sự chống phá cách mạng của các thế lực phản động ở trong nước cũng là một thách thức lớn Khi vàn nước ta, Chưa thời kỳ nào cách mạng nước ta phải đối đấu với nhiều thế lực, nhiều đảng phái phản động như trong những nǎm 1945-1946
1.2 Kinh tế:
Trang 8Nhân dân ta và chính quyền cách mạng còn phải vượt qua những khó khăn lớn
về kinh tế, đời sống xã hội
Nền kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn, lạc hậu lại bị thực dân Pháp và phátxít Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá nên lại càng nghèo hơn
- Nông nghiệp:
Nǎng suất lúa rất thất ( 12 tạ/ha)
Nông dân lao động chiếm hơn 95% số hộ nhưng chỉ được sử dụng không quá 40% ruộng đất
Hậu quả nạn đói cuối nǎm 1944 đầu nǎm 1945 chưa kịp khắc phục, thì nạn lụt lớn lại xảy ra, tàn phá 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
50% ruộng đất bỏ hoang
- Công nghiệp:
Công nghiệp chỉ có không quá 200 nhà máy nhỏ bé, trang bị cũ kỹ, đang lâm vào đình đốn
hàng hoá khan hiếm
1.3 Tài chính:
- Tài chính quốc gia gần như trống rỗng
- Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản nước ngoài
- Chính quyền cách mạng chỉ tiếp quản được kho bạc với 1.230.720 đồng, trong
đó có 586.000 đồng tiền rách
1.4 Văn hoá – xã hội:
- Hậu quả về mặt xã hội cũng rất nặng nề, trên 90% số dân không biết chữ Hầu hết số người được đi học chỉ ở bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một học sinh cao đẳng hoặc đại học và chủ yếu học ở ngành luật và ngành thuốc
- Suốt thời kỳ 1930-1945, số công chức có trình độ cao đẳng và đại học chỉ gồm vài trăm người Thực tế đó làm cho việc tổ chức, hoạt động của chính quyền mới gặp không ít khó khăn, lúng túng
1.5 Chính Trị:
- Chính quyền Cách Mạng còn non yếu
- Nhân dân lao động lần đầu tiên lên nắm chính quyền chưa có kinh nghiệm Những khó khăn, thử thách to lớn cả về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội trên đây, đặt chính quyền cách mạng và vận mệnh đất nước ta trong thế "ngàn cân treo sợi tóc" Tình hình trên đòi hỏi Đảng và chính quyền cách mạng có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, phát huy sức mạnh của toàn dân mới có thể bảo
vệ và phát triển thành quả cách mạng
II CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP ĐỂ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NĂM 1945-1946:
1 Chủ trương:
Trang 9- Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và hiện trạng đất nước, Trung ương Đảng, chính phủ lâm thơi và Hồ Chí Minh xác định 3 nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn này là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm
- Ngày 25/11/1945, BCH Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc xác định tính chất của “cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ Quốc trên hết” Chỉ thị nêu rõ “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” Vì vậy, phải “lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược”
- Chỉ thị vạch ra nhiệm vụ chủ yếu của toàn dân là “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”
Để thực hiện các nhiệm vụ này, chỉ thị cũng đề ra các công tác cụ thể:
- Về nội chính: Đảng nhấn mạnh việc củng cố sức mạnh về chính trị, tinh thần của chế độ mới Chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng, do vậy củng cố chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu Xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, thành lập chính phủ chính thức, lập Hiến pháp, củng cố chính quyền nhân dân
- Về quân sự: động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài
- Về ngoại giao: kiên trì nguyên tắc “bình đẳng tương trợ”, thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa-Việt thân thiện” đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và chủ trương “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp
- Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc đã giải quyết kịp thời và khôn khéo những vấn
đề quan trọng trong chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng trong tình thế vô cùng hiểm nguy của nước nhà
2 Biện Pháp:
- Thực hiện tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố chế độ mới
- Thực hiện sách lược lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù để phân hóa chúng, khôn khéo tránh tình thế phải đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc
2.1 Về Nội Chính:
- Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tổ chức sớm cuộc tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, lập chính phủ chính thức, chấn chỉnh các cơ quan chính phủ, soạn thảo Hiến pháp để khẳng định trên thực tế và về mặt pháp lý, một chính quyền thật sự do nhân dân xây dựng nên, một chính quyền của dân và vì dân Kết quả cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ngày 6-1-1946 biểu thị ý chí và sức mạnh của toàn dân xây dựng và bản vệ chính quyền
- Nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95% Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại
đa số các địa phương chỉ bầu một lần Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó,
có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số
- ở các địa phương nhân dân cũng bầu ra Hội đồng nhân dân các cấp và các hội đồng đó cử ra các uỷ ban nhân dân chính thức thay cho các uỷ ban nhân dân lâm thời thành lập trong những ngày tổng khởi nghĩa Việc kiện toàn chính quyền
Trang 10cách mạng từ trung ương tới cơ sở có ý nghĩa to lớn cả về đối nội và đối ngoại và là bước tiến quan trọng nhằm tăng cường sức mạnh về chính trị
- 25-2-1946, sau nhiều lần thương lượng, hội nghị liên tịch giữa Việt Minh, Dân chủ, Việt Quốc, Việt Cách đã thống nhất:Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức gồm 10 bộ: Bộ Quốc phòng và Nội vụ để người không đảng phái nắm; các Bộ Tài chính, Giao thông công chính, Giáo dục, Tư pháp do Việt Minh và Dân chủ nắm; các Bộ ngoại giao, Kinh tế, Xã hội, Canh nông do Việt Quốc, Việt Cách nắm Để
tỏ rõ tính chất thống nhất quốc gia của Chính phủ liên hiệp, hai Bộ giao thông công chính và Canh nông sẽ dành cho đồng bào Nam Bộ Trong khi đại biểu Nam bộ chưa tựu chức, Bộ Giao thông công chính sẽ do Việt Minh hay Dân chủ phụ trách; Bộ Canh nông sẽ do Việt Quốc hay Việt Cách phụ trách
- Đảng chủ trương mở rộng Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách (tay sai của Tưởng) tham gia Chính phủ Quốc hội khoá I, kỳ họp đầu tiên ngày 2-3-1946 thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng thêm 70 ghế trong Quốc hội cho bọn Việt Quốc, việt Cách và để họ nắm gần một nửa số Bộ trong Chính phủ liên hiệp chính thức nhằm thực hiện sách lược của ta đối với chính quyền Tưởng
- Để tăng cường sức mạnh về chính trị, cùng với việc củng cố chính quyền, Đảng chủ trương mở rộng khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc mới
- Thu hút vào Mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yêu nước và tiến bộ Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh Mặt trận Việt Minh, một mặt trận mới là Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Liên Việt được thành lập tháng
5-1946 nhằm đoàn kết tất cả các lực lượng và cá nhân chưa có điều kiện tham gia Mặt trận Việt Minh trước đây cùng phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường Khối đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt
là cơ sở chính trị, xã hội rộng lớn bảo đảm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, của chế độ mới trước những khó khăn thử thách nặng nề
- Một số đoàn thể quần chúng và đảng phái dân chủ lần lượt ra đời như: Mặt trận Liên Việt (28-5-1946), Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (27-5-1946), Đảng xã hội Việt Nam (22-7-1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10-1946), v.v Mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất quốc gia được tăng cường
- Ngày 9-11-1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước
ta, khẳng định tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt
- Sức mạnh chính trị được biểu hiện tập trung ở việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ở việc giữ nghiêm kỷ luật của Đảng và tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ đảng viên Trong tình hình chính trị có nhiều phức tạp, trước âm mưu chia rẽ, chống phá của giặc ngoài, thù trong, để bảo toàn lực lượng và có lợi cho sách lược đấu tranh, Đảng tạm thời rút vào hoạt động bí mật (ngày 11-11-1945): Nhưng Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng, xem đó chỉ là một giải pháp cần thiết, bắt buộc trước tình thế hiểm nghèo của cách mạng, Đảng phải "lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn"
2.2 Về quốc phòng an ninh:
- Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Bộ, Đảng chủ trương nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang, tăng cường sức manh quân sự, động