ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- MÔNG THỊ XUYẾN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
MÔNG THỊ XUYẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2009
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
MÔNG THỊ XUYẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 60.62.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ HIỀN LƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông
tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phạm Thị Hiền Lương, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Khoa Chăn nuôi Thú y, đã giúp đỡ hoàn thiện đề tài và có những đóng góp
ý kiến để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Mông Thị Xuyến
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn 4
1.1.2 Tập tính của lợn 6
1.1.3 Đặc điểm về sự thích nghi của lợn 8
1.1.4 Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn 8
1.1.5 Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 9
1.1.6 Đặc điểm sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái 16
1.1.7 Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học ở lợn 27
1.2 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 29
1.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới 29
1.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn trong nước 32
1.3 Vài nét về đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng 37
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 39
2.3 Nội dung nghiên cứu 39
2.5.5 Phương pháp xác định thành phần hoá học của thịt nạc 45
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 46
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Tình hình phát triển và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc 47
3.1.1 Biến động về số lượng và phân bố đàn lợn qua 3 năm (2006 - 2008) của huyện Bảo Lạc 47
3.1.2 Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã điều tra của huyện Bảo Lạc 49
3.1.3 Hiện trạng và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc 51
3.2 Một số đặc điểm sinh học của lợn Bảo Lạc 55
3.2.1 Đặc điểm ngoại hình các nhóm lợn theo màu sắc lông 55
3.2.2 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc 58
3.3 Khả năng sản xuất của lợn nái Bảo lạc 60
3.4 Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của lợn Bảo Lạc 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu giống của đàn lợn huyện Bảo Lạc qua 3 năm (2006-2008) 47
Bảng 3.2 Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện Bảo Lạc năm 2008 49
Bảng 3.3 Phân loại lợn Bảo Lạc theo màu sắc lông tại 3 xã của huyện Bảo Lạc 55
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc 58
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái 60
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về sức sản xuất của lợn nái Bảo Lạc 64
Bảng 3.7 Khối lượng lợn con từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi (kg/con) 68
Bảng 3.8 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn con giai đoạn ss - 8 tuần tuổi 70
Bảng 3.9 Khối lượng lợn nuôi thịt Bảo Lạc qua các tháng tuổi (kg/con) 72
Bảng 3.10 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc 74
Bảng 3.11 Khối lượng lợn cái hậu bị qua các tháng tuổi (kg/con) 76
Bảng 3.12 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn nái hậu bị Bảo Lạc 77
Bảng 3.13 Khối lượng và một số chiều đo chính của lợn nái sinh sản Bảo Lạc 79
Bảng 3.14 Kết quả mổ khảo sát sức sản xuất thịt của lợn Bảo Lạc ở 12 tháng tuổi (n = 4) 80
Bảng 3.15 Thành phần hoá học của thịt lợn Bảo Lạc (%) 82
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ Đồ thị 3.1: Sinh trưởng tích luỹ của lợn con 69
từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi 69
Biểu đồ 3.1: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 70
Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tương đối của lợn con 71
Đồ thị 3.3: Sinh trưởng tích luỹ của lợn nuôi thịt 73
Biểu đồ 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc 75
Đồ thị 3.4: Sinh trưởng tương đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc 75
Đồ thị 3.5: Sinh trưởng tích luỹ của lợn cái hậu bị Bảo Lạc 77
Biểu đồ 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn cái hậu bị 78
Đồ thị 3.6: Sinh trưởng tương đối của lợn cái hậu bị 78
Trang 5NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chăn nuôi lợn trên thế giới cũng như ở Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng, được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới Sở dĩ lợn có thể phát triển một cách dễ dàng là do nó có nhiều đặc tính ưu việt: ăn tạp, chi phí/1kg tăng khối lượng thấp, sức chịu đựng tốt với các điều kiện vệ sinh chăm sóc khác nhau, chu kỳ sinh sản ngắn và tốc độ tăng trưởng nhanh, nên khả năng cho sản phẩm rất lớn Mỗi năm, 1 nái có thể đẻ từ 2 đến 2,4 lứa và lượng thịt lợn được sản xuất từ một lợn nái cũng rất cao, có thể đạt tới 2 tấn/năm Mặt khác, thịt lợn giàu dinh dưỡng, phẩm chất tốt, dễ chế biến, phù hợp với khẩu vị của đa số người tiêu dùng, nên mức tiêu thụ rất cao Lượng thịt lợn tiêu thụ trên thế giới tương đương với thịt bò, ở mức khoảng 40% tổng lượng thịt (FAO) Ở Việt Nam, thịt lợn là nguồn thực phẩm chính Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng, thì chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, khí biogas phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, thuộc da…
Trước sức ép của thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế, cũng như các ngành khác, ngành chăn nuôi lợn cũng có sự cạnh tranh xuất khẩu rất khắt khe, đòi hỏi về số lượng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao Từ thực tế đó, Nhà nước đã và đang có những chính sách phát triển ngành chăn nuôi lợn, áp dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo hướng phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp, thực hiện nhập khẩu một số giống lợn ngoại cao sản trên thế giới như Landrace, Yorkshire, Doroc, Pietrain…, cải tiến giống lợn nội và nâng cao năng suất, tăng nhanh số lượng thịt lợn, đồng thời nâng cao chất lượng thịt, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Các nhà
Trang 6khoa học đã nghiên cứu lai tạo thành công giống lợn ngoại với một số lợn nội
tạo ra tập đoàn các giống lợn ngoại và lợn lai tại Việt Nam đáp ứng với tình hình
phát triển chăn nuôi lợn đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái của nước ta
Bên cạnh việc quan tâm phát triển các giống lợn ngoại, lợn cao sản, thì
con lợn nội ít được đầu tư, chưa có những chính sách, định hướng cụ thể để
phát triển Lợn nội chỉ được phát triển trong kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ, mang
tính tự cung tự cấp, không có sự đầu tư thoả đáng để có thể phát triển thành
hàng hoá Chúng được nuôi phổ biến ở nông thôn, vùng miền núi và thực sự
đã trở thành loài vật nuôi lâu đời nhất, gần gũi đối với người dân Việt Nam
Nước ta có tới hơn 60 giống lợn nội, chúng phân bố rộng khắp ở các vùng
sinh thái Tại mỗi vùng đều có những giống lợn địa phương đặc trưng cho
vùng và thị hiếu riêng của cộng đồng vùng đó Các giống lợn này đều có
chung đặc điểm là thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ
tốt, thành thục sớm Hiện nay, một số giống lợn nội đang có nguy cơ bị tuyệt
chủng như: lợn Ỉ, số lượng lợn nội ngày càng giảm, trong khi đó, nhu cầu về
thịt lợn nội ngày càng tăng Lợn Bảo Lạc là một nhóm giống địa phương, có
vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất của người dân khu vực miền núi
vùng cao Mặc dù còn một số hạn chế về tầm vóc và khả năng sinh sản,
nhưng nhóm giống lợn này có nhiều ưu việt như khả năng thích nghi với điều
kiện tự nhiên, tập quán và trình độ sản xuất của người dân, chất lượng thịt
thơm ngon, được người dân ưa chuộng
Trong xu thế hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được
nâng cao, nhu cầu ăn không chỉ dừng lại ở no và đủ, mà hướng tới chất lượng,
an toàn Thịt lợn Bảo Lạc cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đó Trải
qua quá trình lịch sử lâu đời, con lợn bản địa vẫn tồn tại và phát triển cùng với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc cho đến ngày nay Tuy
nhiên, lợn Bảo Lạc còn bị hạn chế bởi tầm vóc nhỏ, khả năng sinh trưởng
chậm, đó là hậu quả của phương thức chăn nuôi lạc hậu Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của chúng còn ít và thiếu hệ thống
Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh
học và khả năng sản xuất của lợn Bảo Lạc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tập quán chăn nuôi lợn của người dân địa phương
- Xác định được một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn Bảo Lạc
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn Bảo Lạc, để từ đó làm tiền đề cho việc hoạch định những định hướng, chính sách phát triển chăn nuôi lợn bản địa tại địa phương, đồng thời góp phần làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen lợn Bảo Lạc
Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu
và giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng và Viện nghiên cứu Định hướng cho người dân chăn nuôi lợn nội chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn
Đặc điểm về di truyền của lợn
Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất
lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel
Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng… là những tính trạng chất lượng do
một đôi gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ Còn các tính trạng: Số
con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt… là
những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của
ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Văn Thiện và CS, 1998) [49]
Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữakiểu di
truyền và môi trường Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động
của từng gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là
sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá
thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hoà toàn bộ đời sống của
con vật Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài thông qua sự
chọn lọc tự nhiên Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể, hình thành biểu
hiện gắn với kiểu di truyền, nhưng có thể quan sát, phân tích được và chịu ảnh
hưởng thay đổi của các yếu tố môi trường, (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn
Thiện và CS, 1995) [36]
Cũng theo tác giả trên cho biết: Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu
hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và
môi trường Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một cá
thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non - genetic) Các giá
trị có liên hệ với kiểu di truyền và môi trường là giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường Kiểu di truyền quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch từ giá trị này theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ này được biểu thị bằng công thức:
P = G + E
P là giá trị kiểu hình của 1 tính trạng (Phenotype); G là giá trị kiểu gen (Genotype) và E là giá trị ngoại cảnh hay gọi là sai lệch môi trường (Environment) Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen) Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và
át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G = A + D + I Trong đó: G : Giá trị kiểu gen
A : Giá trị cộng gộp
D : Giá trị sai lệch trội
I : Giá trị sai lệch tương tác
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm
Theo J F Lasley, 1974 (dẫn theo Trần Văn Tường và Nguyễn Quang Tuyên, 2000) [57], những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng
có hệ số di truyền trung bình
Trang 8Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng
có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao
Ngày nay, người ta thu được những bằng chứng cho thấy tác động bổ
sung một mình của gen không liên quan chặt chẽ với sự di truyền các tính
trạng số lượng, mà các kiểu tác động khác của gen như siêu trội, trội và át gen
cũng rất quan trọng, hơn nữa điều kiện ngoại cảnh là một nguyên nhân quan
trọng của sự biến thiên ở hầu hết các tính trạng Việc xác định ảnh hưởng của
các nhân tố ngoại cảnh tới các tính trạng kinh tế ở gia súc sẽ rất có ích trong
việc đưa ra những biện pháp lai giống và chọn lọc có hiệu quả nhất (J.F
Lasley, 1974) [20]
Trong chăn nuôi lợn, tính trạng số lượng quyết định đến các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác
là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Yếu tố
di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống
như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn Hai cá thể giống nhau về kiểu gen nhưng
có thể khác nhau về kiểu hình nếu được nuôi trong hai môi trường khác nhau
Một cá thể có năng lực di truyền yếu nếu được nuôi trong môi trường thuận
lợi hơn dễ được xếp hạng cao hơn cá thể khác có năng lực di truyền cao
nhưng được nuôi trong môi trường kém (Nguyễn Thiện và CS, 2005) [47] Vì
thế, trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng
cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất
chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm
sóc đối với con vật
1.1.2 Tập tính của lợn
Theo Vũ Đình Tôn và CS, 2005 [52], lợn có tập tính sống theo bầy đàn
trong tự nhiên Tuy nhiên, con đực có thể tách đàn đi riêng một mình, nó đủ
sức tự vệ, không cần sự che chở của con khác
Tập tính phòng vệ và đấu tranh sinh tồn của lợn: Lợn đực nhà nuôi riêng, khi hai con gặp nhau, lông gáy dựng đứng, hai hàm răng va vào nhau phát ra tiếng kêu kịch, kịch đe doạ lẫn nhau, bọt mép sùi ra hai bên mũi, lợn đực xông lên nhằm đe doạ nhau; trong giao phối tự nhiên vào mùa sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh dành lợn cái giữa các con đực Lợn có tính tò mò cao và rất hiếu động; lợn nhà được tập luyện cho ăn với hiệu lệnh, đúng giờ ăn, ỉa, đái, nằm ngủ đúng chỗ quy định Khi sợ hãi, lợn thường kêu rít, cơ bắp run, chụm vào nhau ở một góc chuồng, lợn thích ngủ nơi tối
Lợn có một số tập tính hoạt động thông thường như đi lại, đứng và ngủ trong thời gian nằm
* Một số tập tính đặc thù của lợn:
- Hoạt động bú sữa của lợn: Khi cho con bú, con mẹ nằm nghiêng, thẳng, hai hàng vú lộ rõ Đàn con bú mỗi con một vú, tranh thủ mút liên tục mỗi con 9 - 10 giây, con mẹ phát tiếng kêu “Ịt, ịt…” liên tục đều đặn trong khi tiết sữa cho con bú Lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay được và có thể
tự tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ vừa đẻ vừa cho con bú Trong chăn nuôi lợn nái xem xét hoạt động này để đánh giá một phần khả năng tiết sữa của lợn mẹ, sức khoẻ và chất lượng đàn con Nếu thời gian thúc vú nhiều mà mút sữa ít, chứng tỏ khả năng sản xuất sữa của lợn mẹ hạn chế
- Hoạt động phối giống của lợn đực: Con đực còn có hoạt động nhảy cái, có bản năng phát hiện được con cái động dục, nó tìm cách tiếp cận, nếu con cái tiếp nhận, thì lợn đực sẽ tiến hành giao phối
- Hoạt động của lợn nái đẻ: Lợn nái chuẩn bị đẻ có biểu hiện tìm ổ, cào phá Biết được hoạt động của lợn nái đẻ người chăn nuôi lợn có thể quan sát
Trang 9theo dõi lợn sinh sản tốt hơn, phát hiện tình trạng bệnh lý trong quá trình đẻ
của lợn để có can thiệp kịp thời (Vũ Đình Tôn và CS, 2005) [52]
Tập tính của lợn thể hiện ra hàng ngày, trong quá trình chăn nuôi chúng
ta theo dõi và phát hiện ra tập tính của lợn, để có phương pháp chăm sóc cũng
như quy trình chăn nuôi hợp lý, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm
cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên
phong phú hơn, lợn có thể phát huy hết tiềm năng của nó
1.1.3 Đặc điểm về sự thích nghi của lợn
Khả năng thích nghi của lợn là khả năng thích ứng với sự thay đổi môi
trường sống, từ môi trường cũ sang môi trường sống mới con lợn vẫn sinh tồn
phát triển, giữ vững được các tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm này
cho đời sau
Lợn có khả năng thích nghi cao với các điều kiện khí hậu khác nhau, do
đó địa bàn phân bố của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới
Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các
đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc
điểm tốt này cho đời sau Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và
ngược lại, lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống
Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn
có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: tập cho lợn có phản xạ bài tiết phân,
nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện
đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo (Trần Văn
Phùng và CS, 2004) [38]
1.1.4 Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn
Theo Trần Đình Miên và CS (1975) [35], thông qua việc đánh giá ngoại
hình và thể chất của gia súc, có thể chọn làm con giống, cũng như để nuôi thịt và
xác định giá trị của con vật Hơn nữa, có những tính trạng không thể tiến hành
cân đo hoặc phân tích bằng phương pháp hoá lý sinh, cho nên, càng phải đánh giá qua ngoại hình, thể chất
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ, hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của gia súc và là hình dạng đặc trưng của một phẩm giống Thể chất liên quan chặt chẽ với sức khoẻ, con vật có thể chất tốt thì suốt đời khoẻ mạnh, nhanh,
có sức sản xuất cao, dù điều kiện ngoại cảnh có thay đổi khá nhiều Thể chất
có biểu hiện qua ngoại hình là sức khoẻ đầy đủ, sức sống, sức đề kháng, sức sinh sản, tính thích nghi của gia súc, ở cơ thể chắc chắn, ở bộ phận có liên quan trực tiếp đến sức sản xuất như mông, vai, phát triển ở thịt lợn sẽ cho nhiều thịt Đặc trưng của một phẩm giống trước tiên bao giờ cũng nhìn qua ngoại hình, nhất là đối với màu sắc lông, da hoặc là các bộ phận thuộc giới tính và thông qua ngoại hình giúp ta biết được hướng sản xuất của con vật Ngoại hình, là một đặc điểm, mà khả năng di truyền ít chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoại cảnh Mầu sắc lông da là đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống Trong một đàn lợn giống thuần, nếu màu sắc không thuần nhất là có hiện tượng biến dị xấu (Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi, 1985) [7]
Dựa vào đặc điểm ngoại hình giúp chúng ta có thể khảo sát, phân biệt
giữa các nhóm lợn đặc thù của từng vùng sinh thái khác nhau
1.1.5 Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn
1.1.5.1 Sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng
Sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu cho các khái niệm cũng phần nào khác nhau
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, Johansson L (1972) [21] đã có khái niệm như sau: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không
Trang 10phải là tăng trưởng Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số
lượng và các chiều của các tế bào mô cơ Ông còn cho biết cường độ phát
triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ
tiêu phát triển của con vật
Theo Trần Đình Miên và Vũ Kính Trực (1975) [35], sinh trưởng là một
quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều
dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật
trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai
đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng
có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh
vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành, quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm, nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định
Để xác định sinh trưởng thường dùng phương pháp cân định kỳ khối
lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể Ở lợn thường đo ở 4 chiều: Dài
thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống và thường cân đo ở các tháng tuổi: sơ
sinh, 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36
Đối với lợn sinh sản, ngoài việc cân, đo còn phải chú ý tới các thời kỳ
thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già, có như vậy ta mới biết được
nên phối giống cho lợn vào thời kỳ nào là tốt nhất, để không những cơ thể lợn
mẹ phát triển tốt, mà chất lượng đàn con cũng cao, biết được thời kỳ nào ta
nên loại thải lợn nái, để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
1.1.5.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là trong thai và ngoài thai
+ Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày
Trong thực tế sản xuất người ta chia ra: lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II Theo Trương Lăng và Nguyễn Văn Thiện (1995) [27], bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh, dù nuôi dưỡng tốt, vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng
+ Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay, một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy nhiên, muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn, ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ, những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con
Trang 11đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa
sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1998) [49]
Theo D.A.Kislowsky, 1930 (dẫn theo Nguyễn Ân và CS, 1983) [2] đã
cho biết: Thời gian của các giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn, số lượng giai
đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác
nhau Sự sinh trưởng phát dục không đồng đều được biểu hiện ở sự thay đổi
rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trọng của cơ thể con vật ở từng
lứa tuổi, sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận, cơ quan (mô,
xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác
lại phát triển chậm
Trên cơ sở nắm được quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, sẽ giúp
cho con người xác định các điều kiện ngoại cảnh, xây dựng các khẩu phần thức
ăn thích hợp, để điều khiển sự sinh trưởng phát dục của vật nuôi, theo hướng có
lợi nhất Để con lợn phát triển tốt, thì ở một mức độ nhất định nào đó, phải chú ý
nhiều hơn ngay lúc con mẹ có thai và trong giai đoạn con vật còn non sẽ dễ dàng
thích nghi với điều kiện sống ngoài cơ thể mẹ, nâng cao sức sản xuất và phẩm
chất giống sau này
1.1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng cho
thịt của lợn
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và
phẩm chất thịt
* Giống: Theo Nguyễn Thiện và cộng sự, (2005) [47]: Giống là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt
Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống
ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60
kg Trong khi đó, lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể
đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi Lợn nội mức tiêu tốn thức ăn thường rất cao
từ 4,5 - 5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng, lợn ngoại nhập (Landrace, Yorkshire) chỉ cần từ 3,2 - 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng Các giống khác nhau cũng có phẩm chất thịt xẻ và phẩm chất thịt khác nhau, lợn Móng Cái có
tỷ lệ nạc 37%, trong khi đó lợn Yorkshire có tỷ lệ nạc từ 52 - 53%
Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng khối lượng khác nhau, phụ thuộc vào các gen quy định tính trạng này Cùng một khối lượng như nhau, cùng kiểu gen, nhưng khi trưởng thành, những con có khối lượng lớn hơn, có khả năng tăng khối lượng nhanh hơn lại có ít mỡ hơn những con có khối lượng nhỏ hơn.Theo Nguyễn Văn Đức (1997), (dẫn theo Giang Hồng Tuyến, 2009) [56]
* Thức ăn: Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng của yếu tố ngoại cảnh chi
phối đến sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn Trần Văn Phùng và CS, (2004) [38] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể Khẩu phần
có mức năng lượng cao và mức protein thấp thì lợn sẽ tích luỹ mỡ nhiều hơn
so với những khẩu phần có mức năng lượng thấp và hàm lượng protein cao Khẩu phần có mức protein cao, thì gia súc nói chung và lợn nói riêng, sẽ có tỷ
lệ nạc cao hơn Trong thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ, nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia súc mẹ nhiều con và gia súc con khoẻ mạnh
Lượng thức ăn cho ăn cũng như thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trọng của lợn, theo Robinson, 1930 (dẫn theo Vũ Đình Tôn
và CS, 2005) [52]: Hàm lượng xơ thô tăng từ 2,4% lên 11% thì tăng trọng mỗi
Trang 12ngày của lợn giảm từ 566g xuống 408g và thức ăn cần cho một kg tăng trọng
tăng lên 62%
* Môi trường: (Trần Văn Phùng và CS, 2004) [38] cho biết: Môi trường
xung quanh gồm nhiệt độ và ẩm độ, mật độ, ánh sáng Nhiệt độ và ẩm độ ảnh
hưởng chủ yếu đến năng suất và phẩm chất thịt, khi lợn được nuôi ở điều kiện
nhiệt độ và ẩm độ không thích hợp Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15
- 180C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 120C Nhiệt độ chuồng nuôi có
liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở
vào khoảng 70% Tác giả Nguyễn Thiện và CS, (2005) [47] cho biết: Ở điều
kiện nhiệt độ và ẩm độ cao lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua
quá trình hô hấp (vì lợn có rất ít tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân
nhiệt Ngoài ra khi nhiệt độ cao sẽ làm cho khả năng thu nhận thức ăn của lợn
hàng ngày giảm Do đó, tăng trọng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa
thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm
Các tác giả trên đều cho rằng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của lợn Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không
đủ ánh sáng, thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 1,5%, so với lợn con
được vận động dưới ánh sáng mặt trời Ánh sáng mặt trời có tác dụng tăng
cường hoạt động sống và quá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi Dưới ánh sáng
mặt trời cơ thể phát sinh những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng
cường sinh trưởng phát dục, hồi phục cơ thể Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt
cũng làm mỡ của những vật nuôi béo bị oxy hoá mạnh Do vậy, khi trời nóng
bức không nên để vật nuôi làm việc nặng dưới trời nắng lâu
Mật độ lợn trong chuồng nuôi có ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất
Khi ta nhốt lợn ở mật độ cao, hay số con/ô chuồng quá lớn sẽ ảnh hưởng đến
tăng trọng hàng ngày của lợn và phần nào ảnh hưởng đến sự chuyển hoá thức
ăn Do vậy, khi nhốt ở mật độ cao sẽ tăng tính không ổn định trong đàn Sự không ổn định này là do tăng sự tấn công lẫn nhau, giảm bớt thời gian ăn và nghỉ của lợn Nghiên cứu của Mỹ (Bord) cho thấy: Khi nuôi lợn với mật độ thấp, sẽ làm tăng được tốc độ tăng trọng cũng như giảm mức tiêu tốn thức ăn Chăm sóc ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất, chuồng vệ sinh kém dễ gây bệnh, chuồng nuôi ồn ào, không yên tĩnh đều làm năng suất giảm Sức khoẻ trong giai đoạn bú sữa kém như thiếu máu, còi cọc thì đến giai đoạn nuôi thịt tăng trọng kém (Theo Vũ Đình Tôn, 2005) [52]
Phương thức nuôi dưỡng như cho ăn tự do sẽ làm tăng tốc độ tăng trọng của cả lợn đực thiến và lợn cái so với ăn hạn chế, những giống lợn hướng mỡ nên cho ăn hạn chế ngay từ đầu, với những giống lợn hướng nạc cho ăn tự do sẽ có được năng suất và chất lượng tốt nhất
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia súc gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản… đều là tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng
ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ, hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Tính trạng số lượng còn gọi
là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào
sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo… (Trần Đình Miên và CS, 1975) [35]
Ảnh hưởng của năm: năm thí nghiệm gây ảnh hưởng lớn đến tính trạng
tỷ lệ nạc của lợn Theo Nguyễn Văn Đức (1997), (dẫn theo Giang Hồng Tuyến, 2009) [56] cho biết: Ở lợn Móng Cái, yếu tố năm gây ảnh hưởng đến tính trạng tỷ lệ nạc Điều này có thể giải thích rằng điều kiện ngoại cảnh mỗi năm có những thay đổi nhất định
Ngoài ra, quá trình trao đổi chất trong cơ thể cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormoe Hormone thuỳ trước tuyến yên
Trang 13STH là loại rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo Hoàng Toàn Thắng
và Cao Văn (2006) [44]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh
trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn
liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài)
Để chăn nuôi lợn đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm thịt
cung cấp cho con người, thì việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh
trưởng và năng suất, chất lượng thịt lợn là rất quan trọng Qua đó định hướng
cho các biện pháp kỹ thuật tác động về giống, thức ăn và dinh dưỡng… Phù
hợp với nhu cầu của từng loại lợn, sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng đạt mức
tối đa, tạo ra lợi ích kinh tế cao nhất trong quá trình chăn nuôi lợn
1.1.6 Đặc điểm sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái
Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinh vật
sống Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền
từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến
các giai đoạn khác nhau của quá trình đó
Khi gia súc sinh trưởng phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có sự
thay đổi, biểu hiện đầu tiên của sinh sản đó là sự thành thục về tính Hoàng Toàn
Thắng và Cao Văn, (2006) [44] cho biết: Thành thục về tính là tuổi con vật bắt
đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Bộ máy sinh dục đã phát triển
tương đối hoàn chỉnh, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng, con đực có khả
năng sinh ra tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
Lợn là gia súc đa thai, sinh đẻ dễ dàng, khả năng thành thục về tính
sớm Nguyễn Văn Thiện và CS (1998) [49] cho biết: Lợn cái nội 3 đến 4
tháng tuổi đã có hiện tượng rụng trứng, lợn đã động dục
1.1.6.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
* Chu kỳ động dục của lợn cái
Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, cứ sau
một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi
đặc biệt, kèm theo sự rụng trứng và động dục, hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần gọi là chu kỳ động dục, chu kỳ động dục của lợn cái trung bình 21 ngày (18 - 21 ngày)
* Tuổi động dục đầu tiên
Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tuỳ theo giống Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội thuần Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [9] cho biết: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm 4 - 5 tháng tuổi khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Ở lợn lai F1 (có 1/2 máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là động dục lúc 6 -7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68
kg, không cho lợn phối giống ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy
đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái sinh sản bền lâu, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Hiện tượng lợn cái không động dục có thể do nhiều nguyên nhân như: Phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng, động dục thầm lặng,
ốm đau, thiếu protein hoặc năng lượng (Dwane R.Zimmerman và CS, 1996) [12]
* Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa phối giống, vì
ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số trứng rụng còn ít Người ta thường cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc ba Tuổi phối giống lần đầu của lợn thường được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời
Trang 14gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống
lần đầu Thường phối giống vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50
kg, đối với lợn ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối
giống từ lần động dục đầu tiên Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với
khối lượng không dưới 65 - 70 kg và lợn ngoại phối giống vào lúc 9 tháng
tuổi với khối lượng không dưới 80kg
Theo Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanam (2006) [30] Lợn nái có số
lứa đẻ thấp nhất là 1 lứa và cao nhất 11 lứa Tuổi phối giống đậu thai lần đầu
được tính từ tuổi đẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình 115 ngày,
năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và mang thai lần
đầu vào lúc 38 tuần tuổi và mức độ lớn hơn trung bình đàn là 5,76% Nếu lợn
mang thai lần đầu ở độ tuổi trước 34 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình
là 8,27% và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung
bình là 1,25% Đặc biệt nếu phối giống đậu thai lần đầu lúc 30 tuần tuổi thì
mức độ thiệt hại trong suốt đời sống sản xuất của một lợn nái là 17,02%
Vậy, tuổi phối giống lần đầu tiên của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần
được quan tâm và phối giống cho đúng thời điểm, khi lợn đã thành thục về
tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh sản
của lợn nái và nâng cao được phẩm chất đời sau Thực tế đã chứng minh rằng,
nếu phối giống quá muộn sẽ gây lãng phí kinh tế, ảnh hưởng đến sinh trưởng
phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó (Nguyễn Khánh Quắc và
CS, 1995) [39]
* Tuổi đẻ lứa đầu
Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Sau khi phối giống, lợn có chửa 114
ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa
đầu Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [9]: Lợn nái nội trong sản xuất,
tuổi đẻ lứa đầu thường 11- 12 tháng, lứa đầu cho phối lúc 7 tháng tuổi, khối
lượng cần đạt từ 45 - 50 kg nếu cho phối với đực ngoại để có đàn con lai kinh
tế Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lần đầu lúc 12 tháng tuổi nhưng không quá 14 tháng tuổi, vậy phải phối giống lứa đầu ở lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng lớn không dưới 65 - 70 kg, đối với lợn ngoại cho phối giống lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80 - 90 kg Theo Trần Quang Hân, (2004) [15]: Lợn nái trắng Phú Khánh có tuổi đẻ lứa đầu tương đối muộn (436,05 ngày), nhưng năng suất sinh sản đạt khá cao với số con còn sống, số con cai sữa/lứa tương ứng là 9,11 và 8,00 con; khối lượng trung bình một lợn con sơ sinh, 21 và 60 ngày tuổi tương ứng là 1,05; 4,29 và 10,55kg,
số lứa đẻ /nái/năm là 1,78
* Lợn nái động dục trở lại sau đẻ
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [9] cho biết: Sau cai sữa (lúc 50 –
55 ngày) khoảng 3 đến 5 ngày thì lợn nái động dục trở lại Thời gian này cho phối giống lợn dễ thụ thai và trứng chín nhiều, dễ có số con đông Sau khi đẻ
và nuôi con cơ thể lợn mẹ thường bị hao mòn từ 10- 20% so với trước khi đẻ, cần có biện pháp tránh sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ, không ép phối, nếu lợn nái sau khi cai sữa con, mà cơ thể hao mòn gầy sút Cần bỏ qua một chu kỳ để lợn nái lại sức và nuôi được bền lâu hơn
Theo John R Diehl và cộng sự, (1996) [22]: Trong chăn nuôi công nghiệp,
có thể gây động dục đồng loạt bằng cách cai sữa đồng thời ở một nhóm lợn
mẹ Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao Đối với lợn sau cai sữa từ 3 - 7 ngày thường động dục trở lại (Hội Chăn nuôi Việt Nam, (2006) [19]
* Đặc điểm động dục của lợn cái
Sự lớn nhanh và phát triển mạnh của cơ quan sinh dục của lợn cái, đặc biệt là buồng trứng và tử cung, xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5
Trang 15tháng với lợn nội Cùng với sự phát triển của cơ quan sinh dục, quá trình rụng
trứng cũng được tăng dần theo độ tuổi, số lượng trứng rụng qua mỗi giai đoạn
khác nhau Ở lợn cái, khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên,
khi ở giai đoạn hậu bị trung bình rụng từ 8 - 14 trứng và số trứng rụng cao
nhất ở giai đoạn lợn cái cơ bản là 12 - 20 trứng Số lượng trứng rụng còn phụ
thuộc vào giống và tuổi
Biểu hiện động dục của lợn nái có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu): Lợn nái thay đổi tính tình:
Kêu rít nhỏ, kém ăn, nhảy lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi, sưng mọng, có
nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho đực nhảy, không nên cho lợn phối
vào lúc này, vì sự thụ thai chỉ thể hiện sau khi có các hiện tượng trên từ 35 -
40 giờ, đối với lợn nội thường sớm hơn từ 25 - 30 giờ
- Giai đoạn chịu đực (phối giống): Lợn kém ăn, đứng yên, mê ì, lấy tay
ấn trên lưng gần mông, lợn đứng im, đuôi vắt về một bên, đồng thời âm hộ
giảm độ sưng có nếp nhăn, màu sẫm hoặc mầu mận chín, có nước nhờn chảy
dính đục, con đực lại gần thì đứng im, chịu phối Thời gian này kéo dài
khoảng 2 ngày, nếu được phối giống thì lợn sẽ thụ thai Ở lợn nội thường
ngắn hơn, khoảng 28 - 30 giờ
- Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc): Các dấu hiệu động dục giảm dần,
lợn trở lại bình thường, ăn uống như cũ Âm hộ giảm bớt độ mở, se nhỏ,
thâm, niêm dịch chảy ra ít, trắng đục và rất dễ đứt Với lợn nái không được
thụ tinh, lại tiếp tục chu kỳ sinh dục mới Lợn nái đã được thụ tinh thì thể
vàng tồn tại và chu kỳ động dục sẽ mất đi
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần tiến hành phối
giống đúng lúc, vì thời gian trứng tồn tại và có hiệu quả thụ thai rất ngắn,
trong khi đó tinh trùng có thể sống trong tử cung khoảng 45 - 48 giờ Do vậy,
thời điểm phối giống thích hợp nhất là giữa giai đoạn chịu đực, đối với lợn nái
lai và ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, nếu tính từ lúc bắt đầu động dục hoặc sau khi có hiện tượng chịu đực, khoảng 6 - 8 tiếng cho phối giống, đối với lợn nái nội cần sớm hơn cho phối vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3
Thời gian động dục của lợn nái nội kéo dài 3 - 4 ngày, lợn nái lai, nái ngoại 4 - 5 ngày Do vậy, thời điểm phối giống tốt nhất là giai đoạn giữa chịu đực: Nái lai và nái ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, lợn nái nội cho phối vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3, nếu tính từ lúc bắt đầu động dục Trong sản xuất, thụ tinh nhân tạo khi lợn có triệu chứng chịu đực buổi sớm thì buổi chiều cho phối, nếu có triệu chứng vào buổi chiều thì sớm hôm sau phối, nhằm “chặn đầu khoá đuôi” của thời
kỳ rụng trứng (Phạm Hữu Doanh và CS, 2006) [9] Theo các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [45], trứng rụng vào lúc 36 - 42 giờ sau khi xuất hiện động dục Thời điểm phối giống thích hợp là 24 đến 39h kể từ khi xuất hiện động dục
1.1.6.2 Khả năng sinh sản của lợn nái
Lợn là loài đa thai có khả năng đẻ nhiều con mỗi lứa và nhiều lứa trong một năm, mỗi lứa có thể đẻ từ 6 - 14 con tuỳ theo từng giống Sở dĩ lợn đẻ được nhiều con mỗi lứa là do số trứng rụng nhiều mỗi lần động dục, trung bình từ 20 - 25 trứng Tuy nhiên, số con đẻ ra thường thấp hơn số trứng rụng Nhìn chung, ta có thể tăng được số con đẻ ra mỗi lứa nếu tăng tỷ lệ thụ thai và nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái hợp lý khi có chửa
Khả năng sinh sản của lợn nái được đánh giá theo những chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng đàn con
- Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ: Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
rất quan trọng, nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, kỹ
Trang 16thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái có chửa và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo của
dẫn tinh viên Trong vòng 24h sau khi đẻ, những lợn con được sinh ra nếu
không đạt trọng lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,
đầu to, mông bé… sẽ bị chết
- Tỷ lệ nuôi sống: Trong một số ổ lợn, số lượng lợn sinh ra nhiều,
nhưng để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của lợn con, người ta chỉ để
lại 1 số lợn con nhất định phù hợp với khả năng nuôi con của lợn mẹ để nuôi
Tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt
- Số lợn con cai sữa/nái/năm: Chỉ tiêu này là sự đánh giá tổng quan
nhất đối với nghề nuôi lợn nái Người nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là
nhờ số lượng lợn con cai sữa trên nái trên năm Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và
tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/nái/năm
sẽ cao Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn
con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn nuôi, kỹ thuật
chăn nuôi và trình độ chế biến thức ăn cho lợn con Ở các nước tiên tiến
người ta cho lợn con tách mẹ ở 21, 28 hoặc 35 ngày tuổi Mục đích của việc
tách con sớm là để cho số lứa đẻ của một nái trên năm tăng lên đồng thời hạn
chế được một số bệnh hay lây lan từ mẹ sang con
Ở Việt Nam số lượng lợn con cai sữa của đàn nái ngoại nuôi tại các cơ
sở giống lợn đạt khoảng 20 con/nái/năm Lúc cai sữa lợn con đạt 6,5 kg/con,
như vậy, khối lượng lợn giống đạt: 20 con x 6,5 kg = 130 kg/nái (Võ Trọng
Thành, 2007) [42]
Theo các số liệu công bố của Vũ Kính Trực (1994) [54]: Trước năm
1980, mặc dù lợn Móng Cái có số con đẻ rất cao 11 - 12 con/ổ, nhưng do kỹ
thuật chăn nuôi lợn con bú sữa thấp, nên số lợn con cai sữa chỉ đạt 7 - 7,5
con/lứa Ngày nay, số con cai sữa/lứa không ngừng tăng lên, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa có thể đạt 85 - 95%
Nguyễn Thiện và CS, (1996) [46] cho biết: Thời gian cai sữa lợn ở nước ta thường là 60 ngày, số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Các chỉ tiêu chất lượng đàn con bao gồm:
- Khối lượng sơ sinh toàn ổ: Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói
lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Văn Thiện và CS, 1998) [49]
Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7kg/con, lợn Ỉ 0,45kg/con Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5kg/con (Trần Văn Phùng
và CS (2004) [38]
Ngoài ra, khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế, trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian 20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng con sơ sinh cao, thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn
Trang 17- Khối lượng toàn ổ 21 ngày tuổi: Là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng
trọng của lợn con, và chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả
năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất ở ngày thứ 21, sau đó sẽ giảm dần
- Khối lượng toàn ổ cai sữa: Ngày nay kỹ thuật chế biến thức ăn cho
lợn con có bước phát triển lớn, tuỳ theo khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian
bắt đầu cai sữa: 24, 28 hay 35 ngày tuổi mà có loại thức ăn phù hợp Do vậy, có
thể tách lợn con khỏi lợn mẹ sớm, mà không cần đợi lợn con tới 56 ngày hoặc 60
ngày tuổi mới cai sữa Tuy nhiên, khối lượng cai sữa ở 21 hoặc 28 ngày tuổi chỉ
có tác dụng trong việc định mức dinh dưỡng cho chúng, còn thành tích sản xuất
của lợn nái thì phải cân khối lượng lợn con ở 56 ngày hoặc 60 ngày tuổi, thì mới
so sánh đánh giá được
Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa
rất quan trọng, vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản
và nâng cao năng suất chăn nuôi Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất
lớn tới khối lượng xuất chuồng
Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng
không giống nhau Lợn Móng Cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là
58,20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại bạch x Móng cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là
61,80 kg (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1998) [49]
Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu, sinh
trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất
đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn con còn
là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt để con vật
có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau
Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm
nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng Vì vậy, để có khối
lượng cai sữa/ổ cao, ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con
bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm tỷ
lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất
- Khoảng cách lứa đẻ: Là thời gian để hoàn thành một chu kỳ sinh sản
Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa Trong 3 yếu tố trên thì thời gian mang thai
là không thể thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối là có thể thay đổi, để rút ngắn khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ của nái/năm
- Khả năng tiết sữa: Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu phản ánh
khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái của cơ sở chăn nuôi
(Theo Nguyễn Khánh Quắc và CS, 1995) [39]: Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau: các vú trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém Trương Lăng (1996) [25] cho biết: Vú trước lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa, vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước nhiều hơn
Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, cần tách riêng những lợn con đẻ trước chờ đến khi mẹ
đẻ xong mới chọn lợn và cho cả đàn vào bú Nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau khi đẻ, để lợn con có đủ kháng thể cho 5 tuần đầu của cuộc sống, vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho
cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh
Một số tác giả đã có nhận định chung rằng: Khả năng tiết sữa của lợn
mẹ không chỉ nói lên sản lượng sữa, mà còn nói đến chất lượng sữa, đặc biệt
Trang 18là sữa đầu liên quan đến sức kháng của đàn con: Theo Trịnh Văn Thịnh
(1978) [50] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có
màu hơi vàng và đặc, tiết ra 2 -3 ngày đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu, thành
phần hóa học đều đậm đặc hơn sữa thường, lượng protein gấp 3 lần sữa
thường (17 -18% so với 5 - 6%) Theo Từ Quang Hiển và CS (2000) [17] thì
cần thiết phải cho lợn con bú sữa đầu, vì trong sữa đầu có hàm lượng albumin
và globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức
đề kháng Nên cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, bảo
đảm được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của me
Theo Nguyễn Thiện và CS (1996) [46] cho biết: Thời gian cai sữa
lợn ở nước ta thường là 60 ngày, số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất của nghề chăn
nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn
nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
1.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn nái
(Theo Nguyễn Thiện và CS, 2005) [47] : Trong các nhân tố ảnh hưởng
tới sức sản xuất của lợn nái có thể chia thành 2 loại: Nhân tố di truyền và
nhân tố ngoại cảnh Trong nhân tố ngoại cảnh có nhân tố tác động do thiên
nhiên, như thời tiết, khí hậu và nhân tố tác động do con người, như kỹ thuật chăn
nuôi, thụ tinh nhân tạo, cai sữa sớm, bố sung thức ăn cho lợn con…
Giống là yếu tố quyết định tới sức sản xuất của lợn nái Giống với đặc
tính sản xuất của nó gắn liền với năng suất, giống khác nhau cho năng suất
khác nhau Lợn Móng Cái đẻ 12 - 14 con/ lứa; Lợn Ỉ 8 - 10 con/lứa; Yorkshire
đẻ 10 - 13 con/lứa Phương pháp nhân giống: Phương pháp nhân giống khác
nhau sẽ cho năng suất khác nhau Cho nhân giống thuần chủng, thì năng suất
của chúng cũng chính là năng suất của giống đó Cho lai giống thì năng suất
sẽ cao hơn 2 giống gốc, các giống gốc càng thuần thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao Tuổi và khối lượng phối giống lứa đầu phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý Do đó, cần có kế hoạch chăn nuôi ngay từ khi còn là lợn nái hậu bị
Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượng con/ổ thấp, sau đó
từ lứa thứ 2 trở đi, số lợn con/ổ sẽ tăng dần lên cho đến lứa đẻ thứ 6, thứ 7 thì bắt đầu giảm dần Trong sản xuất, người ta thường chú ý giữ vững số lượng lợn con/ổ ở các lứa từ thứ 6 trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lý, chăm sóc sao cho lợn mẹ không tăng cân quá và cũng không gầy sút quá Giữ vững năng suất bằng cách kéo dài “thành tích” sinh sản của các lứa đẻ từ thứ 6 trở
đi cho đến lứa thứ 10, sẽ có lợi nhiều hơn là loại thải chúng sớm, để thay thế bằng đàn nái hậu bị Nếu tăng số lợn nái hậu bị đẻ lứa 1 vào đàn nái sinh sản
sẽ làm tăng giá thành của 1 kg trọng lượng lợn con cai sữa, làm giảm lợi nhuận của cơ sở chăn nuôi
Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng lợn con/lứa, chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/lứa Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn, thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ
sẽ giảm sút nhanh chóng Mặt khác, dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị có chửa
và lợn nái cơ bản có chửa là yếu tố quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới thành tích sản xuất của lợn nái Một khẩu phần ăn đã cân bằng, đủ chất dinh dưỡng
sẽ đạt kết quả sinh sản cao nhất
1.1.7 Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học ở lợn
Các chỉ tiêu sinh lý máu ở gia súc, gia cầm, nói chung khá ổn định, ít biến đổi và được di truyền như các tính trạng khác của con vật Việc nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý máu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, dự đoán hoặc có những kết luận chắc chắn hơn về các tính trạng sản xuất của gia súc
Trang 19- Hồng cầu: Hồng cầu gia súc có hình đĩa, lõm hai mặt, không có nhân,
khác với hồng cầu của gia cầm hình bầu dục, có nhân
Số lượng và kích thước của hồng cầu thay đổi theo giống, tuổi, tính
biệt, chế độ dinh dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lý… Hồng cầu có đường
kính từ 7 - 8 micromet, dày 2 - 3 micromet Tổng diện tích bề mặt là 27 -
32m2 trên 1 kg thể trọng Số lượng hồng cầu thay đổi theo tuổi và giống của
gia súc như: lợn lớn có số lượng là 5,0 triệu/mm3
máu, lợn con là 4,7 - 5,8 triệu/mm3
máu, lợn Móng Cái là 5 - 6 triệu/mm3 máu, lợn Lang hồng 5,2 - 5,8
triệu/mm3 máu (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [44]
- Bạch cầu: Bạch cầu là những tế bào có nhân và bào tương, có khả
năng di động Số lượng bạch cầu thường ít, khoảng 1000 lần so với hồng cầu,
được tính theo đơn vị nghìn/mm3
máu Số lượng bạch cầu là một trong những chỉ tiêu để xét đoán phản ứng đề kháng của cơ thể vật nuôi Các đáp ứng miễn
dịch chủ yếu được thực hiện là do hoạt động của các bạch cầu Các bạch cầu
này bao gồm các tế bào lympho B, T, lympho chứa hạt to trong tế bào chất,
các đại thực bào, các tế bào bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axít, các tế bào
phụ trợ, bạch cầu ưa kiềm, các tế bào mast, các tế bào dạng tấm và một số tế
bào của mô, (Đỗ Ngọc Liên, 1999) [28]
Theo Trịnh Bình và CS (2004) [4], bạch cầu có hạt gồm: Bạch cầu ưa
axit, bạch cầu ưa kiềm và bạch cầu trung tính; Bạch cầu không hạt gồm:
Lympho bào và bạch cầu đơn nhân lớn Mỗi loại bạch cầu sẽ tăng, giảm trong
trạng thái sinh lý và bệnh lý nhất định Lympho bào càng nhiều thì cơ thể có
sức đề kháng càng cao Bạch cầu trung tính tăng khi cơ thể bị nhiễm vi khuẩn,
do chức năng thực bào mạnh Bạch cầu đơn nhân lớn tăng khi nhiễm ký sinh
trùng, viêm nội tâm mạc cấp và lao Bạch cầu ưa axit tăng khi bị cảm nhiễm,
dị ứng Bạch cầu ái kiềm có tỷ lệ rất thấp, thực bào yếu, tham gia vào phản
ứng miễn dịch của cơ thể
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [44] cho biết: Số lượng bạch cầu thường ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lý của cơ thể Số lượng bạch cầu thường tăng sau khi ăn, khi đang vận động, khi con vật có thai, giảm khi tuổi tăng lên Số lượng bạch cầu của lợn lớn 20 nghìn/mm3
máu, lợn con 15 nghìn/mm3 máu Trong trường hợp bệnh lý, bạch cầu tăng mạnh khi bị viêm nhiễm có sự suy tuỷ, bị nhiễm phóng xạ, tiếp xúc hoá chất, bị nhiễm độc benzen Vì vậy, xác định số lượng bạch cầu có ý nghĩa rất lớn trong chẩn đoán
- Hemoglobin (Hb) (huyết sắc tố): Là thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 90% vật chất khô của hồng cầu và đảm nhận các chức năng của hồng cầu Hemoglobin là một hợp chất protein phức tạp dễ tan trong nước, trong thành phần cấu tạo có một phân tử globin (chiếm 96%) kết hợp với 4 phân tử Hem (chiếm 4%) Phân tử globin gồm 4 chuỗi polypeptid trong đó có 2 chuỗi
và 2 chuỗi cùng 4 phân tử (Hem) gắn trên lưng 4 chuỗi polypeptid đó Globin có tính đặc trưng cho từng loài Vì vậy, kiểu Hb mang đặc trưng di truyền của phẩm giống, trong chăn nuôi, có thể xác định giống qua kiểu Hb của từng cá thể Ở đây số lượng hồng cầu phản ánh phẩm chất con giống, số lượng hồng cầu càng nhiều, thì sức sống con vật càng tốt Hàm lượng huyết sắc tố đối với lợn lớn là 11,5 g%; lợn đực giống 12,2g%; lợn con 10,5g% Mỗi 1g Hb có khả năng bão hoà tối đa 1,34 ml O2 Từ đó có thể tính được lượng O2 mà máu động vật kết hợp trong quá trình hô hấp, khi biết được hàm lượng Hb trong máu
1.2 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới
Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm, cách đây một vạn năm, chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở Châu Âu và Châu Á Sau đó, khoảng thế kỷ XVI bắt đầu phát triển ở Châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở Châu Úc, đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều
Trang 20nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh,
Pháp, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Đức, Ý, Úc, Trung
Quốc, Singapo, Đài Loan….Nói chung, ở các nước tiên tiến, nghề chăn nuôi
lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hoá
cao Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đều ở các châu lục Có tới
70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác
Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có nghề chăn nuôi lợn
tiên tiến Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến
nay, chăn nuôi lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, Châu Á 30,4%,
Châu Úc 5,8%, Châu Phi 3,2%, Châu Mỹ 8,6% Nhìn chung, sản phẩm ngành
chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các nước
theo tín ngưỡng hồi giáo) Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực
phẩm tốt cho con người, không những thế, nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận
không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này (Nguyễn Quang Linh và CS, 2008) [29]
Một số kết quả đạt được ở một số nước trên thế giới:
* Hoa Kỳ
Tổng đàn lợn là 61,2 triệu con, tính đến tháng 12 năm 2005, tăng bình
quân 1,15% năm, trong đó có 6,01 triệu con là nái cơ bản, nái hậu bị và lợn
đực giống Số lợn cai sữa trung bình 9,03 con/lứa, năm 2005 so với 8,96 năm
2004, tăng 0,87% Số lợn cai sữa trung bình từ 7,50/lứa, ở các cơ sở chăn nuôi
có qui mô từ 1- 99 con lên 9,10 ở các trang trại với qui mô trên 5000 con
Khoảng 39% tổng đàn lợn được nuôi theo kiểu gia công, trong năm 2005
* Cộng đồng châu Âu với 25 thành viên
Về chí phí sản xuất cho một kg thịt lợn xẻ, Canada là nước có chi phí
thấp nhất (≈ 5,6 Đô la Mỹ), thứ hai là Hoa Kỳ (≈ 6,2 Đô la Mỹ) và cao nhất là
Liên hiệp Anh (≈ 7,8 Đô la Mỹ) Chi phí thức ăn cho một kg thịt xẻ thấp nhất
là Canada (≈ 3,15 Đô la Mỹ), thứ hai là Hà Lan (≈ 3,29 Đô la Mỹ) và cao nhất
cũng là là Liên hiệp Anh (≈ 4,27 Đô la Mỹ) Hà Lan có chi phí thức ăn công nghiệp/kg tăng trọng thấp nhất (2,6 kg), thứ hai là Liên hiệp Anh (2,65 kg) và cao nhất là Canada (3,29 kg)
* Hà Lan
Ứng dụng các thành tựu công nghệ về giống lợn, thức ăn, quản lý trang trại , Hà Lan đã thành công trong việc đưa tỉ lệ thịt xẻ trung bình của tất cả các loại lợn được giết mổ từ 53,2% năm 1990, lên 64,4 % năm 2004 Tỷ lệ thịt loại ngon và rất ngon tăng từ 83% năm 1989, lên trên 90% năm 2004 Năm 2005, Công ty Topigs của nước này thông báo tỉ lệ lợn con cai sữa trung bình/nái/năm tăng từ 24 con lên 25 con chỉ sau 5 năm; tỉ lệ lợn sơ sinh còn sống trung bình là 12,1con /lứa đẻ; tỉ lệ chết trước cai sữa trung bình là 11,8%; và số lứa đẻ trung bình là 2,36/nái/năm Các đàn lợn nái tốt nhất chiếm 10%, sinh trung bình 27,9 con/nái/năm, trong đó có 12,7 con còn sống/lứa, tỉ lệ lợn con chết trung bình là 9,8 %, đạt số lứa đẻ trung bình là 2,34 lứa/nái/năm
* Trung Quốc
Ở châu Á, Trung Quốc đứng thứ nhất về sản xuất thịt lợn và đứng thứ 4
về sản xuất thịt bò trên thế giới Nước này là một thị trường nhập khẩu lớn cả thịt lợn và thịt bò Tổng đàn lợn của Trung Quốc tăng từ 454 triệu con năm
2001, lên 519 vào tháng 1 năm 2006, tăng trưởng bình quân 3,58% năm Tỉ lệ lợn nái ở Trung Quốc chiếm 9,80% tổng đàn lợn năm 2005 Ở Trung Quốc, chăn nuôi qui mô nhỏ, với số lượng dưới 90 con/cơ sở, chiếm tới 70-80% Trung quốc sẽ trở thành nước nhập khẩu thịt lợn và các sản phẩm chăn nuôi khác lớn nhất trong những năm tới, để đáp ứng như cầu trong nước, do tăng dân số, thu nhập và tốc độ đô thị hoá cao Hiện nay, lợn hướng nạc chiếm khoảng 25-30% tổng đàn lợn đưa vào giết mổ Trung bình mỗi nái đẻ 1,7l lứa/năm với tỉ lệ sống chỉ có 70-85%, trong khi đó, ở Hoa Kỳ tỉ lệ trung bình
là 2,3 lứa/nái/năm và tỉ lệ sống là 95%
Trang 21* Thái Lan
Thái Lan cũng là một nước sản xuất thịt lợn chủ yếu của thế giới và
đang chuyển đổi từ các trang trại qui mô nhỏ, thành các xí nghiệp chăn nuôi
lớn Các công ty lớn quyết định tới sự tăng trưởng sản lượng thịt lợn tại Thái
Lan Bốn công ty lớn là CP, Betagro, Laemthong và Mittraparp đã liên kết với
nhau và chiếm tới 20% tổng sản lượng thịt lợn Tổng đàn lợn của Thái Lan
đạt 15,44 triệu con năm 1999, tăng lên 16,55 triệu con năm 2002 và năm 2003
là 16,76 triệu con Năm 2003, Thái Lan xuất chuồng khoảng 10,5 triệu
lợn/năm, với trọng lượng hơi trung bình đạt 100 kg Tổng đàn nái của nước
này khoảng 826.087, với số lợn con cai sữa trung bình đạt 17 con/nái/năm, tỉ
lệ nái thay thế là 33% (Theo Cục chăn nuôi, 2006) [5]
Sản xuất thịt lợn trên thế giới trong những năm gần đây
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Tăng 2008 so với 2007
Sản xuất thịt lợn 101.7 98.8 100.6 1.8
Nguồn: FAO World Food Outlook, 2008 [13]
1.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn trong nước
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời Theo một số tài liệu của khảo
cổ học, nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng
1 vạn năm Từ khi con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá, họ đã
săn bắn, hái lượm và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng Khi
đó, họ bắt đầu có ý thức trong việc tích trữ thực phẩm và lương thực cho
những ngày không săn bắn và hái lượm được và họ đã giữ lại những con vật
đã săn bắt được và thuần dưỡng chúng Cũng từ đó, nghề chăn nuôi lợn đã
được hình thành Trải qua thời kỳ Bắc thuộc và dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống của nhân dân ta rất khổ cực, ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng không phát triển được Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, khi có trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn được phát triển Dân cư phía Bắc đã nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông Bắc bộ Tuy nhiên, trong thời kỳ này, trình độ chăn nuôi lợn vẫn còn rất thấp Trong thời kỳ Pháp thuộc, khoảng
1925, Pháp bắt đầu cho nhập các giống lợn châu Âu vào nước ta như giống lợn Yorkshire, Berkshire và cho lai tạo với các giống lợn nội nước ta như lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ Cùng với việc tăng nhanh về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện Các phương pháp nhân giống thuần chủng và các phép lai được thực hiện Trong thời gian từ 1960, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản thông qua sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em Từ năm 1986 đến nay, nước ta chuyển đổi nền kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và nông nghiệp sản xuất hàng hóa, để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và
tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Chăn nuôi lợn trong cả nước đã có nhiều thành công đáng kể, như đàn lợn đã tăng tỷ lệ nạc từ 33,6% ở lợn nội, lên 40,6% ở lợn lai (miền Bắc) và 34,5% ở lợn nội, lên 42% tỷ lệ nạc ở lợn lai (miền Nam) Đối với lợn lai 3 máu ngoại (Landrace x Yorkshire) x Duroc
tỷ lệ nạc trong nghiên cứu đạt 58-61%, trong đại trà sản xuất đạt 52-56% Năm 2001, cả nước có 21.741 ngàn con lợn, sản xuất 1513 ngàn tấn thịt lợn hơi, xuất khẩu 27,3 ngàn tấn thịt xẻ, chiếm 2,6% số thịt lợn sản xuất ra (Theo Nguyễn Đăng Vang, 2002), (dẫn theo Nguyễn Quang Linh và CS, 2008) [29] Năm 2000, Việt Nam đã xuất khẩu được 12.200 tấn thịt lợn và năm
2001 là gần 30 ngàn tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 triệu USD Ba mặt hàng thịt lợn xuất khẩu là lợn sữa, lợn mảnh và lợn choai, trong đó sản
Trang 22phẩm lợn choai có tỷ lệ nạc cao 50 - 55% đã có nhiều thuận lợi hơn về thị
trường và giá cả xuất khẩu Ta thường xuất khẩu thịt lợn mảnh vào thị trường
Liên bang Nga, tuy nhiên, số lượng giảm dần, do khó khăn về giá cả và
phương thức thanh toán Thịt lợn sữa và thịt lợn choai ta xuất khẩu sang Hồng
Kông, Trung Quốc và Malayxia Việc xuất khẩu thịt lợn nhìn chung còn ít về
số lượng và bị cạnh tranh về giá cả rất gay gắt với thịt lợn của Braxin và
Trung Quốc Mặc dù ở gần một số thị trường tiêu thụ chính như Trung Quốc,
Nga, Hồng Kông, Nhật Bản nhưng sản xuất và xuất khẩu thịt lợn của Việt
Nam vẫn chưa có được sức cạnh tranh, Cục Chăn nuôi (2006)[5]
* Kết quả sản xuất chăn nuôi lợn năm 2008
Số liệu thống kê 1/4/2008, tổng đàn lợn cả nước có mặt 25,58 triệu con
giảm 3% so với cùng kỳ năm trước, đàn lợn nái 3,76 triệu con giảm 2,1%
Vùng có tỷ lệ giảm cao là ĐBSCL 9,7%, DHNTB 8,9%, BTB 5,6%, TN và
ĐBSH 4% Chăn nuôi lợn đã có dấu hiệu khôi phục nhanh, theo báo cáo của
các địa phương tổng đàn lợn cả nước năm 2008 có thể đạt 27 triệu con tăng
1,5% năm 2007, sản lượng thịt ước đạt 2,7 triệu tấn tăng 5,8%, Cục chăn nuôi (2008) [6]
Trải qua quá trình chọn lọc, các giống lợn ở nước ta đã thích nghi với
điều kiện kinh tế sinh thái của địa phương Chúng có các đặc điểm di truyền
quý giá, đó là khả năng sử dụng các loại thức ăn thô, nghèo dinh dưỡng, tính
chống chịu các bệnh nhiệt đới nhất là bệnh ký sinh trùng Một số giống đẻ
nhiều con và phẩm chất thịt ngon, một số giống thích nghi với các vùng núi
cao nhiệt độ tương đối thấp như lợn Mẹo, lợn Mường Khương, một số chịu
được với môi trường ẩm ướt như lợn Ỉ, Móng Cái Đây là đặc tính nguồn gen
rất quý của giống lợn nội nước ta, do đó nó được sử dụng là nguồn cung cấp
gen để lai tạo giống (Lê Viết Ly, 1994) [31]
Không ngừng nâng cao chất lượng, số lượng con giống và sản phẩm
trong chăn nuôi lợn, kịp thời đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng và xuất khẩu Các
nhà khoa học chuyên ngành, nhà chăn nuôi đã và đang tích cực tìm kiếm nhiều giải pháp trên nhiều phương diện về sinh học, hoá học, lý học… nghiên cứu về con lợn
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng và CS (2008) [14] đã cho biết khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn thương phẩm 3,4 và 5 giống ngoại nuôi tại trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương, lợn lai giữa 3 giống L, Y và Duroc có nguồn gốc từ Mỹ Các dòng lợn thương phẩm này đều được thị trường chấp nhận và ưa chuộng Kết quả đã cho thấy, tỷ lệ nạc của nhóm lợn lai 3 giống đạt 59,83 %, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) là 2,70; Độ dày mỡ lưng (mm) 11,27; Diện tích cơ thăn 46,24cm2; Tăng trọng bình quân/ngày (g) 756,16; tỷ lệ móc hàm 76,75% Nhóm lợn lai 3 máu này mang đầy đủ tiềm năng di truyền cao về khả năng tăng khối lượng, khả năng chuyển hoá thức ăn và tỷ lệ nạc
Với nguy cơ biến mất của các giống gia súc, gia cầm nội, năm 1989,
Bộ Khoa học và Công nghệ đã chính thức thực hiện: “Đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam” Từ đó đến nay, các bộ và các cơ quan tổ chức có liên quan đã làm được nhiều việc từ kiểm kê quỹ gen vật nuôi, phát hiện một
số giống mới, xây dựng hệ thống lưu giữ quỹ gen, xuất bản 4 đầu sách và tạp chí chuyên đề, đề xuất các chủ trương và biện pháp bảo vệ nguồn gen vật nuôi bản địa
Tác giả Lê Viết Ly (1999) [32] cho biết: Hiện nay đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam đã và đang triển khai tốt chương trình lưu giữ quỹ gen một số giống có nguy cơ biến mất là lợn Mẹo ở Nghệ An, lợn Sóc ở Buôn Mê Thuột và triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để bảo vệ, giữ gìn khai thác nguồn gen đã phát hiện được
Tại tỉnh Quảng Trị, ngoài những giống lợn cho năng suất cao còn có một giống lợn tồn tại và gắn bó từ lâu đời với người dân tộc Pa-cô, Vân Kiều Giống lợn này có khả năng dùng được những loại thức ăn thô xanh cao, chịu
Trang 23được khí hậu khắc nghiệt, phương thức chăn nuôi đơn giản, khả năng chống
đỡ bệnh tật tốt, thịt thơm ngon, có thể sánh ngang với thịt lợn rừng Đó chính
là giống lợn Vân Pa Năm 2004, giống lợn Vân Pa được chính thức có tên gọi
trong “Át Lát các giống vật nuôi ở Việt Nam”-Bộ NN&PTNT- với các thông
tin: “Giống lợn Vân Pa hay có tên gọi khác là lợn Mini Có nguồn gốc từ vật
nuôi của người dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, tỉnh Quảng Trị Phân bổ chủ yếu ở
các huyện Hướng Hóa, Đakrông, Gio Linh, Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị) Hình
thái có sắc lông da đen bạc, thỉnh thoảng có màu phớt vàng hung, lưng thẳng,
thân hình gọn, đầu và cổ to, mõm nhọn, tai nhỏ Thịt ngon, ít mỡ ”, theo
Trần Thị Hân (2008) [16]
Trước nhu cầu phát triển kinh tế cũng như để cung cấp 70% nhu cầu
thịt lợn cho người tiêu dùng, con lợn cổ truyền Việt Nam đang có nguy cơ bị
tuyệt chủng Theo một số tài liệu ghi chép, Việt Nam có khoảng 60 giống lợn,
nhưng hiện vẫn chưa có con số nào thống kê chính thức lợn giống của Việt
Nam còn bao nhiêu Bởi vì, trong thời gian qua, một số giống lợn địa phương
bị mai một Hiện chúng ta chỉ còn lợn Móng Cái Còn lợn Ỉ, lợn Mường
Khương đang có nguy cơ tuyệt chủng
Một số địa phương miền núi vẫn còn những giống lợn bản địa, như lợn
Cỏ Nghệ An, lợn Mán, lợn Sóc (Tây Nguyên), nhưng vẫn chưa có đợt khảo
sát để xác minh lợn ở các địa phương thuộc một giống hay nhiều giống Gần
đây, nước ta có nhập rất nhiều giống lợn ngoại, do vậy, người dân thường
nuôi lợn lai tạo, mà hiện cũng chỉ còn từ 5-6 giống Đặc điểm giống lợn
truyền thống Việt Nam rất nhiều mỡ và sinh trưởng chậm Do vậy, những
giống lợn truyền thống này không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế
Cũng chính vì thế, hiện nay, người dân Viêt Nam có xu hướng nuôi những
con lợn lai nhập ngoại Điều này đã khiến cho Việt Nam đang mất dần đi
những giống lợn bản địa Trước thực tiễn trên, trong hoàn cảnh nước ta hiện
nay, đúng vào năm Đinh Hợi, năm đầu tiên Việt Nam là thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO, các nhà khoa học đang có thêm một hướng nghiên cứu mới về con lợn Đó là nghiên cứu nuôi lợn sữa từ một số giống lợn cổ truyền của Việt Nam, như lợn Móng Cái để xuất khẩu sang các nước châu Á Một hướng khác là xuất khẩu lợn nuôi làm cảnh sang Mỹ và các nước Châu Âu Như vậy, con lợn nội địa Việt Nam hiện nay không những có giá trị ở trong nước, mà còn có ý nghĩa về mặt văn hoá ở ngoài nước Vì vậy, cần phải bảo tồn và phát huy những giá trị đích thực của con lợn nội địa Việt Nam.Theo tác giả Đặng Vũ Bình (2007)[3]
1.3 Vài nét về đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
Bảo lạc là một huyện vùng cao biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, nằm trong khoảng toạ độ địa lý từ 22034 phút đến 23008 phút vĩ độ Bắc,
205031 phút đến 105053 phút độ kinh đông Nằm về phía tây của tỉnh Cao Bằng, trung tâm Bảo Lạc cách thị xã Cao Bằng 128 km theo đường Quốc lộ
34 Địa hình huyện Bảo Lạc phổ biến là núi cao và núi trung bình Nhìn chung, địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, các khu vực bằng và thung lũng chiếm tỷ lệ nhỏ Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên khí hậu của Bảo Lạc là sự kết hợp khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa với tính chất khí hậu vùng cao cận nhiệt đới Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa cả năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, khí hậu mát và lạnh, độ ẩm thấp Nhiệt độ trung bình mùa mưa là
260C và mùa khô là 18,80C, độ ẩm không khí trung bình năm là 84% Do sự chênh lệch về độ cao giữa 2 vùng, nên hình thành tiểu vùng khí hậu á nhiệt đới ở một số xã vùng cao trong huyện
Bảo Lạc có truyền thống lịch sử lâu đời, vốn có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc trong đời sống văn hoá tinh thần cũng như văn hoá trong hoạt động sinh sống Toàn huyện có 5 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống Dân tộc Tày chiếm 28,15% dân số toàn huyện; dân tộc Nùng chiếm 23,07%, dân tộc Mông chiếm 15,52%, dân tộc Dao chiếm 14,36%, dân tộc Kinh chiếm 0,73%
Trang 24Phần lớn các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế chủ
yếu dựa vào chăn nuôi và trồng trọt tại gia đình, mức thu nhập thấp Bảo Lạc
là một huyện miền núi nghèo nằm trong 61 huyện nghèo của cả nước Chính
vì vậy, huyện đã được nhà nước quan tâm, một số chính sách lớn để phát triển
kinh tế nông thôn miền núi nghèo Với nhiều dự án như: Dự án giảm nghèo,
Dự án cải tạo và phát triển chăn nuôi… và một số dự án nước ngoài khác, làm
cho nền kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc phát triển khá ổn định, giao thông,
cơ sở vật chất hạ tầng có thuận lợi hơn Trong những năm gần đây, ngành
chăn nuôi huyện Bảo Lạc được xác định là chuyển dịch mạnh trong cơ cấu
sản xuất nông nghiệp, giá trị sản lượng tăng nhanh, dẫn tới giá trị nông nghiệp
cũng tăng nhanh, nâng cao thu nhập của người nông dân đã làm thay đổi diện
mạo ngành chăn nuôi của huyện Trong đó chăn nuôi lợn đã có những tiến bộ
đáng kể, nhân dân cũng đã có ý thức tích luỹ và nắm bắt được lợi thế của việc
phát triển đàn lợn bản địa của địa phương mình, nên giống lợn bản địa vẫn tồn
tại và phát triển tại các xã trong huyện cho đến tận bây giờ Số lượng đàn lợn
năm 2008 có 137.826 con, chủ yếu là giống lợn bản địa, phân bố khắp trong
địa bàn huyện, được các hộ nông dân nuôi dưỡng theo tập quán chăn nuôi của
địa phương, mùa khô thả rông và giao phối tự nhiên, mùa vụ nhốt chuồng
Thức ăn chủ yếu là rau rừng hỗn tạp và lượng thức ăn tinh rất ít, năng suất
chăn nuôi lợn rất thấp Vì vậy, cần có biện pháp nghiên cứu, khắc phục, góp
phần phát triển nông nghiệp nông thôn ở miền núi còn nhiều khó khăn (Uỷ
ban nhân dân huyện Bảo Lạc (2005) [58]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đàn lợn Bảo lạc nuôi tại một số xã của huyện Bảo Lạc
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại ba xã: Cô Ba, Bảo Toàn, Khánh Xuân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Tháng 11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình và tập quán chăn nuôi lợn Bảo Lạc
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của lợn Bảo Lạc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp điều tra
- Điều tra qua số liệu thống kê hàng năm về tình hình chăn nuôi lợn của Phòng thống kê huyện Bảo Lạc
- Điều tra, thống kê màu sắc lông của lợn, mô tả đặc điểm ngoại hình
và minh hoạ bằng hình ảnh
- Lập phiếu điều tra với các thông tin cần thiết về tập quán chăn nuôi lợn Bảo Lạc
2.4.2 Phương pháp theo dõi trực tiếp
Tại 3 xã, chọn mỗi xã 3 xóm, mỗi xóm 3 hộ có số đầu lợn trên 10 con trở lên, trong đó có ít nhất 1 nái sinh sản Lập phiếu theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản, kết hợp với các hộ gia đình để theo dõi
Trang 252.4.3 Phương pháp mổ khảo sát lợn thịt
Dựa theo phương pháp mổ khảo sát của Nguyễn Văn Thiện và CS
(1998) [49]
2.4.4 Phương pháp phân tích
- Phân tích thành phần hoá học của thịt nạc tại Viện Khoa học sự sống,
Đại học Thái Nguyên
- Phân tích các chỉ tiêu huyết học của lợn Thông qua máy xét nghiệm
huyết học tự động 18 thông số của Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Tình hình phát triển và tập quán chăn nuôi lợn Bảo Lạc
- Biến động đàn lợn qua các năm
- Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã điều tra
- Hiện trạng và tập quán chăn nuôi lợn Bảo Lạc
2.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn Bảo Lạc
- Đặc điểm ngoại hình màu sắc lông da của lợn Bảo Lạc Thống kê tính
tỷ lệ và minh hoạ bằng hình ảnh
- Chỉ tiêu về huyết học: Lấy máu lợn ở tĩnh mạch rìa tai bằng xy lanh
có tráng chất chông đông máu Xác định số lượng hồng cầu, bạch cầu và
công thức bạch cầu; Xác định hàm lượng huyết sắc tố (Hb) bằng máy xét
nghiệm huyết học tự động 18 thông số Moden Celltac của hãng Nihok
Kohden, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng
2.5.3.Chỉ tiêu sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái sinh sản Bảo Lạc
2.5.3.1.Chỉ tiêu sinh lý sinh dục:
+ Tuổi động dục lần đầu (ngày): Theo dõi và xác định khoảng thời gian
kể từ sơ sinh đến khi động dục lần đầu Kết hợp với hộ gia đình trực tiếp quan
sát và ghi chép vào biểu
+ Khối lượng động dục lần đầu (kg/con): Cân khối lượng của lợn cái
khi động dục lần đầu
+ Tuổi phối giống lần đầu (ngày): Theo dõi trực tiếp và xác định khoảng thời gian từ sơ sinh đến khi phối giống lần đầu tại những hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên để nghiên cứu
+ Khối lượng phối giống lần đầu (kg/con): Cân khối lượng lợn cái khi phối giống lần đầu
+ Thời gian động dục (ngày): Theo dõi trực tiếp và xác định khoảng thời gian khi lợn có biểu hiện bắt đầu động dục đến khi kết thúc biểu hiện động dục + Chu kỳ động dục (ngày): Là khoảng thời gian tính từ lần động dục này đến lần động dục kia Theo dõi trực tiếp và ghi chép
2.5.3.2.Chỉ tiêu về khả năng sản xuất của lợn nái sinh sản Bảo lạc
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (2008) [51 ]
+ Số con sơ sinh/ổ (con): Đếm số con đẻ ra còn sống, số con đẻ ra đã chết và số con thai gỗ
+ Số con sơ sinh sống đến 24 h/lứa đẻ: Đếm số con còn sống đến 24h
kể từ khi con mẹ đẻ xong con cuối cùng
+ Tỷ lệ nuôi sống của lợn con tới cai sữa (%):
Tỷ lệ nuôi sống tới cai sữa (%) =
Số con sống tới cai sữa (con)
100
Số con đẻ ra (con) + Khối lượng toàn ổ 30 ngày tuổi (kg): Cân tổng khối lượng của tất cả các lợn con do con nái đó nuôi đến 30 ngày tuổi
+ Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa (60 ngày tuổi), (kg): Cân khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi
+ Khả năng tiết sữa của lợn mẹ Tính gián tiếp thông qua việc cân khối lượng của đàn con tại các ổ lợn được theo dõi Theo Nguyễn Thiện, Phạm Sỹ Lăng và CS (2005) [48], tính khả năng tiết sữa của lợn mẹ bằng công thức: Khả năng tiết sữa M = M1 + M2
M1 = (W30 - Wss) x 3