1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái

204 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 7,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- TRẦN LONG GIANG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TỪ 6 ĐẾN 17 TUỔI, NGƯỜI DÂN TỘC KINH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN LONG GIANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TỪ 6 ĐẾN 17 TUỔI, NGƯỜI DÂN TỘC KINH, H’MÔNG, DAO Ở TỈNH YÊN BÁI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN LONG GIANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TỪ 6 ĐẾN 17 TUỔI, NGƯỜI DÂN TỘC KINH, H’MÔNG, DAO Ở TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành : Sinh lý học người và động vật

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện nghiêm túc Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Long Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Mai Văn Hưng, Giám đốc Trung tâm Nhân trắc và Phát triển trí tuệ, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

- GS.TS NGND Đỗ Công Huỳnh, Phó Chủ tịch Hội Sinh lý Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Sinh lý học – Học viện Quân y Việt Nam, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sinh lý học Việt Nam

Những người Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh học, Chủ nhiệm Bộ môn Sinh lý học người và động vật, các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của Bộ môn Sinh lý học người và động vật và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất trong quá trình hoàn thành luận án

- Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các Trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên thuộc tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ về nhiều mặt của Phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã hỗ trợ, khích lệ và động viên tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

Một lần tôi nữa xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu trên!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Trần Long Giang

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

AQ: Chỉ số vượt khó (Adversity Quotient) BMI: Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index) CAH: Sức khỏe, tính tích cực, tâm trạng

(Самочувство, Активностъ, Настроение) CCĐ: Chiều cao đứng

Cs: Cộng sự EQ: Chỉ số cảm xúc (Emotional Quotient) FEV1: Thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (Forced expiratory

volume in one second) FVC: Dung tích sống thở mạnh (Forced vital capacity) GTSH: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 -

thế kỷ XX HSSH: Hằng số sinh học người Việt Nam IQ: Chỉ số thông minh (Intelligence Quotient) KNCY: Khả năng chú ý

NCHS: Trung tâm Quốc gia về thống kê y tế (The National Center for

Health Statistics) Nxb: Nhà xuất bản TGPX: Thời gian phản xạ TN: Trí nhớ

VC: Dung tích sống (Vital capacity) VNTB: Vòng ngực trung bình

WHO: Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM 9

1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM 10

1.2.1 Các đặc điểm hình thái – thể lực 10

1.2.2 Các nghiên cứu về hình thái – thể lực ở Việt Nam 12

1.3 CÁC ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỆ THỐNG CƠ QUAN 16

1.3.1 Các thông số thông khí phổi 16

1.3.2 Tần số tim, huyết áp động mạch 19

1.3.3 Điện tâm đồ 21

1.3.4 Phản xạ cảm giác – vận động 24

1.4 ĐẶC ĐIỂM TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM 27

1.4.1 Trí tuệ 27

1.4.2 Trí nhớ 29

1.4.3 Chú ý 31

1.4.4 Cảm xúc 33

1.4.5 Khả năng vượt khó 36

1.5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 38

1.5.1 Người Kinh 38

1.5.2 Người Dao 41

1.5.3 Người H’mông 42

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Đối tượng nghiên cứu 44

2.2 Các thông số và chỉ số nghiên cứu 44

2.3 Phương pháp nghiên cứu 45

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 45

2.3.2 Phương pháp tính tuổi 45

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 45

2.3.4 Mô hình nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm 47

Trang 7

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh học 48

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm về năng lực trí tuệ 53

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 58

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 59

3.1 Các đặc điểm hình thái, chức năng một số hệ cơ quan của học sinh 59

3.1.1 Chiều cao đứng 59

3.1.2 Cân nặng 64

3.1.3 Vòng ngực trung bình 69

3.1.4 Chỉ số BMI 73

3.1.5 Tình trạng dinh dưỡng 77

3.1.6 Chỉ số Pignet 80

3.1.7 Một số đặc điểm chức năng tuần hoàn 83

3.1.8 Một số thông số và chỉ số chức năng hô hấp 98

3.1.9 Thời gian phản xạ cảm giác - vận động đơn giản 108

3.2 Năng lực trí tuệ của học sinh 111

3.2.1 Điểm trí tuệ theo test Raven 111

3.2.2 Chỉ số IQ và sự phân bố IQ 114

3.2.3 Cảm xúc 118

3.2.4 Khả năng vượt khó 121

3.2.5 Trí nhớ ngắn hạn 123

3.2.6 Khả năng chú ý 124

3.3 Mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu 126

3.3.1 Mối liên quan giữa các thông số hô hấp với chiều cao đứng và tuổi 126

3.3.2 Mối liên quan giữa IQ với trí nhớ ngắn hạn 130

3.3.3 Mối liên quan giữa IQ với khả năng chú ý 133

3.3.4.Mối liên quan giữa IQ với AQ 133

3.3.5.Mối liên quan giữa IQ với EQ 134

KẾT LUẬN 136

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Phân loại theo chỉ số Pignet 55

Bảng 2.2 Chuẩn suy dinh dưỡng người 5 ÷ 19 tuổi của WHO 51

Bảng 2.3 Phân bố mức trí tuệ theo D Wechsler 55

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn đánh giá về cảm xúc 56

Bảng 2.5 Phân loại các chỉ số thành phần của AQ 56

Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 60

Bảng 3.2 Cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 65

Bảng 3.3 VNTB (cm) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 71

Bảng 3.4 Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 75

Bảng 3.5 Phân bố (%) học sinh nam theo tình trạng dinh dưỡng, tuổi và dân tộc 78

Bảng 3.6 Phân bố (%) học sinh nữ theo tình trạng dinh dưỡng, tuổi và dân tộc 79

Bảng 3.7 Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 79

Bảng 3.8 Tần số tim (nhịp/phút) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 84

Bảng 3.9 Huyết áp tâm thu (mmHg) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 86

Bảng 3.10 Huyết áp tâm trương (mmHg) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 87

Bảng 3.11 Trục điện tim của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 89

Bảng 3.12 Thời gian PQ (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 90

Bảng 3.13 Thời gian QRS (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 91

Bảng 3.14 Thời gian QT (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 93

Bảng 3.15 Biên độ sóng P (10-1mm) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 94

Bảng 3.16 Thời gian sóng P (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 95

Bảng 3.17 Tần số hô hấp (nhịp/phút) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 99

Bảng 3.18 VC (lít) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 101

Bảng 3.19 FVC (lít) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 103

Bảng 3.20 FEV1 (lít) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 105

Bảng 3.21 Chỉ số Tiffeneau (%) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 107

Bảng 3.22 Thời gian phản xạ thị giác - vận động của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 109

Trang 9

Bảng 3.23 Thời gian phản xạ thính giác - vận động của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 110

Bảng 3.24 Tổng điểm trắc nghiệm của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 112

Bảng 3.25 Chỉ số IQ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 115

Bảng 3.26 Phân bố học sinh nam theo các mức trí tuệ 116

Bảng 3.27 Phân bố học sinh nữ theo các mức trí tuệ 117

Bảng 3.28 Điểm cảm xúc chung của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 119

Bảng 3.29 Điểm AQ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 122

Bảng 3.30 Khả năng chú ý của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 125

Bảng 3.31 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa chiều cao với VC và tuổi của học sinh nam dân tộc Kinh 127

Bảng 3.32 Phương trình hồi quy của các thông số chức năng phổi 128

Bảng 3.33 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa IQ và trí nhớ ngắn hạn của học sinh 131 Bảng 3.34 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa IQ và khả năng chú ý của học sinh 133 Bảng 3.35 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa IQ và AQ của học sinh 133

Bảng 3.36 Phương trình hồi quy tuyến tính giữa IQ và EQ của học sinh 134

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 47 Hình 2.2 Phân loại chỉ số BMI của trẻ em từ 5 đến 19 tuổi 49 Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn CCĐ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 61 Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 66 Hình 3.3.Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 72 Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 76Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 82 Hình 3.6.Tần số tim trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính 85 Hình 3.7.Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa VC và chiều cao đứng của học sinh 129 Hình 3.8 Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và TN ngắn hạn thị giác của học sinh 132 Hình 3.9 Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ của học sinh 135

Trang 11

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Thế kỷ XXI – thế kỷ của hội nhập và phát triển đất nước, nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại (theo [65]) Vì vậy, nâng cao chất lượng con người Việt Nam, bao gồm việc cải tạo các chỉ tiêu sinh học và nâng cao năng lực trí tuệ là rất quan trọng, nhằm đào tạo ra những con người có năng lực đáp ứng nhu cầu xây dựng xã hội mới

Với tiêu chí giáo dục toàn diện cho học sinh ở mọi lứa tuổi, ngành Giáo dục

và Đào tạo đang trên con đường đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bằng cách không ngừng nâng cao cơ sở vật chất, đổi mới nội dung chương trình, trang thiết bị dạy học, phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá - tuyển sinh, Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả khi áp dụng đúng với từng đối tượng học sinh, phù hợp với năng lực nhận thức ở từng lứa tuổi Do đó, nghiên cứu về các đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh là rất cần thiết Các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ có thể coi là hai mặt cùng phát triển trong quá trình đào tạo con người mới, phục vụ cho nền kinh tế tri thức hiện nay

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ trên các đối tượng học sinh, sinh viên [1, 2, 5, 8, 10, 12, 14, 20, 21, 41, 55, 61,

65, 87] Đặc biệt là nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu thể lực và trí tuệ ở học sinh”

do Tạ Thúy Lan làm chủ nhiệm đề tài [47, 50] và nhóm đề tài “Đặc điểm sinh thể, tình trạng dinh dưỡng và biện pháp nâng cao chất lượng sức khỏe” do Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [78-80] Một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu các chỉ số sinh học trên đối tượng là người dân tộc thiểu số ở nước ta Trong đó có Nguyễn Đình Khoa [45], Đào Huy Khuê [46], Trần Văn Dần và cs [10-11], Nguyễn Văn Lực [60], Nguyễn Yên [92], Nguyễn Đình Học [30], Đỗ Hồng Cường [8], Hoàng Quý Tỉnh [76], Tuy nhiên những nghiên cứu này còn ít, chưa phản ánh đầy đủ về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học đa dân tộc ở nước ta hoặc là đã được tiến hành khá lâu

Trang 12

không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay Do đó cần

có những nghiên cứu tiếp trên các đối tượng thuộc các dân tộc ít người đang sinh sống tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa trên cả nước

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa có diện tích tự nhiên 6888

km2, dân số hơn 75 vạn người với 30 dân tộc anh em Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 54%, dân tộc Tày chiếm 17%, dân tộc Dao chiếm 9,1%, dân tộc H’mông chiếm 8,1%, dân tộc Thái chiếm 6,1%, còn lại 5,7% là các dân tộc khác [120] Những nghiên cứu về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học của các đối tượng học sinh trên địa bàn này là rất cần thiết Qua đó chúng ta có được các dữ liệu khoa học phục vụ cho việc đề xuất các giải pháp đúng đắn và hữu hiệu trong hoạch định chiến lược hoặc cải tiến phương pháp giáo dục, rèn luyện thể chất, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng con người Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số vùng cao nói riêng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh

học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi, người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái”

Mục tiêu của đề tài

- Xác định một số đặc điểm hình thái và chức năng (tuần hoàn, hô hấp, phản xạ) của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay;

- Đánh giá một số đặc điểm về năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc theo lứa tuổi và giới tính;

- Xác định mối liên quan giữa chiều cao đứng với các thông số hô hấp, giữa

IQ với trí nhớ ngắn hạn, độ tập trung chú ý, phản xạ cảm giác - vận động, cảm xúc

và với khả năng vượt khó của học sinh

Những điểm mới của đề tài

Đã xác định được:

- Thực trạng và sự phát triển một số đặc điểm hình thái - thể lực, chức năng tuần hoàn, hô hấp, thần kinh và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc Kinh,

Trang 13

H’mông, Dao lứa tuổi từ 6 đến 17 tại tỉnh Yên Bái Những số liệu này chưa có trong bất cứ nghiên cứu nào từ 20 năm trở lại đây

- Tốc độ tăng trưởnghình thái không đồng đều qua các lớp tuổi của học sinh trong quá trình tăng trưởng, từ đó có thể đề xuất các giải pháp phù hợp cho mỗi giai đoạn tăng trưởng khác nhau nhằm nâng cao chất lượng hình thái người các dân tộc khác nhau tại Việt Nam

- Sự phân bố theo mức trí tuệ của học sinh giữa các dân tộc cho thấy tỷ lệ học sinh đạt mức IQ trên trung bình và xuất sắc ở học sinh H’mông có giá trị lớn hơn so với ở học sinh Kinh và Dao Đây là những dữ liệu rất có ý nghĩa cho các nhà quản lý giáo dục trong việc tạo môi trường học tập thuận lợi cho con em các dân tộc được phát huy tiềm năng trí tuệ của mình để góp phần xóa bỏ khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa học sinh vùng thấp và học sinh dân tộc thiểu số ở vùng cao

- Một số chỉ số trí tuệ có mối tương quan với nhau, trên cơ sở các kết quả này giúp cho giáo viên ứng dụng vào thực tiễn dạy học theo phương pháp phân hóa

và phát triển năng lực, năng khiếu bẩm sinh của cá nhân học sinh

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM

Giai đoạn trẻ em là giai đoạn cơ thể đang sinh trưởng và phát triển

Quá trình sinh trưởng chỉ sự tăng về kích thước, khối lượng của toàn bộ hoặc từng bộ phận của cơ thể do tăng số lượng hoặc kích thước tế bào

Quá trình phát triển bao gồm sự biệt hóa về hình thái và biến đổi chức năng của từng bộ phận hoặc các mô của cơ thể, được hình thành chủ yếu trong mối tương tác với môi trường, cũng như chịu sự chi phối của tính di truyền Sinh trưởng là tiền

đề cho phát triển Ở giai đoạn trẻ em, quá trình sinh trưởng và phát triển diễn ra không đều theo lứa tuổi, có giai đoạn sinh trưởng nhanh xen kẽ với các giai đoạn sinh trưởng chậm, mỗi giai đoạn có những đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý khác nhau

Sự tăng trưởng ở trẻ em từ 6 tuổi cho đến trước tuổi dậy thì

Ở giai đoạn này quá trình sinh trưởng diễn ra tương đối đồng đều, trung bình mỗi năm chiều cao tăng khoảng 4 – 5 cm và cân nặng tăng thêm 2 – 3 kg Các cơ bắp ở tay và chân phát triển mạnh, nên động tác phát triển mạnh mẽ Nhưng ở đầu của giai đoạn này, các cơ nhỏ chưa hoàn thiện nên các động tác của các em chưa khéo léo, còn vụng về Sau 8 tuổi, các động tác trở nên chính xác hơn Cuối thời kỳ này có sự phân biệt về tăng trưởng theo giới tính, bắt đầu tăng trưởng mạnh về chiều cao ở cả 2 giới, nhưng tốc độ tăng trưởng ở nữ cao hơn so với ở nam Đến 10 tuổi, nữ vượt nam về chiều cao, cân nặng, tạo thành điểm giao chéo thứ nhất của đường cong tăng trưởng (theo [55])

Sự tăng trưởng của trẻ em ở giai đoạn dậy thì

Ở giai đoạn này, ngoài tác động của các yếu tố dinh dưỡng và môi trường như giai đoạn đầu, sự tăng trưởng còn chịu ảnh hưởng của sự trưởng thành tính dục

Trang 15

Bước vào tuổi dậy thì, tuyến yên tiết ra lượng lớn hormon FSH (Follicle stimulating hormone) và hormon LH (Luteinazing hormone) có tác dụng kích thích chức năng của buồng trứng (nếu là nữ), tinh hoàn (nếu là nam) Sau đó, buồng trứng tăng cường sản xuất estrogen và progesteron, còn tinh hoàn sẽ sản xuất testosterone Những hormon này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài: biến đổi mạnh về vóc dáng cơ thể, phát triển cơ quan sinh dục Các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rõ rệt, các em gái bắt đầu có kinh nguyệt, các em trai có hiện tượng xuất tinh [40]

Sự tăng đột biến về chiều cao là do sự phát triển nhanh của các xương dài ở chân, tay Sự tăng đột biến về chiều cao có khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy ra ở độ tuổi khác nhau, thường gặp sớm hơn ở các em gái Ở giai đoạn này, giữa các phần của cơ thể như thân mình, chân, tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn Ở các em gái bắt đầu có sự tăng lượng mỡ ở ngực, chậu hông và sau vai Ở các em trai

có sự phát triển và tăng lượng mỡ ở các khối cơ [41]

Sự tăng đột biến về chiều cao thường xuất hiện sau 2 năm khi có các biểu hiện sinh dục phụ và khoảng 1 năm trước khi có biểu hiện dậy thì hoàn toàn [41]

Sau giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt, đặc biệt sau khi dậy thì hoàn toàn Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tục cho đến khi cơ thể trưởng thành Quá trình tăng trưởng ở các em trai diễn ra trong thời gian dài hơn so với ở các em gái vài năm [41]

1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM

1.2.1 Các đặc điểm hình thái – thể lực

Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sự tăng trưởng và phát triển cơ thể con người đã trở thành môn khoa học được các nhà nhân học và y học rất quan tâm Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm tìm biện pháp nâng cao sức khỏe, thể lực cho con người ở những vùng sinh thái khác nhau, đáp ứng việc phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là thời đại ngày nay

Trang 16

Các thông số về hình thái (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, ) và thể lực là những đặc điểm sinh học quan trọng, phản ánh một phần thực trạng của cơ thể và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến sức khỏe, khả năng lao động, học tập và thẩm

mỹ của con người Sự phát triển thể lực là quá trình thay đổi đặc điểm hình thái, chức năng của cơ thể con người trong đời sống cá thể, đặc trưng theo lứa tuổi, giới tính và chủng tộc Các công trình nghiên cứu về thể lực con người được bắt đầu từ rất sớm và đến nay vẫn là vấn đề thời sự khoa học, lúc đầu người ta chú ý nghiên cứu các chỉ tiêu riêng rẽ, sau đó nghiên cứu đánh giá thể lực theo các chỉ số kết hợp nhiều chỉ tiêu Ngày nay, các thông số thể lực thường được nghiên cứu gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực và các chỉ số như BMI, Pignet,…

Công trình nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về tăng trưởng ở trẻ em là luận

án của tiến sĩ C.F Jumpert Đây là công trình nghiên cứu cắt ngang, trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao và các đại lượng khác của trẻ trai và gái từ 1 đến

25 tuổi (theo [55])

Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao được thực hiện bởi Philibert Guerneau

de Montbeilard ở con trai của mình từ 1759 đến 1777 Đây là một trong những nghiên cứu tốt nhất đã được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỷ XIX, sau này được D.A Thompson thể hiện trên đồ thị trong tác phẩm

“On growth and form” của ông (theo [55])

Đến năm 1977, Hiệp hội Quốc tế các nhà nghiên cứu về tăng trưởng người được thành lập, và từ đó hội nghị về tăng trưởng được tiến hành 3 năm một lần Năm 2007, WHO công bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành, đánh dấu mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng của các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [118]

Các đặc điểm hình thái - thể lực của trẻ ở các lứa tuổi được tiếp tục nghiên cứu bởi nhiều tác giả ở các nước khác nhau Từ các kết quả thu được, các tác giả nhận định rằng sự tăng trưởng các thông số và chỉ số nghiên cứu diễn ra không đồng đều qua các giai đoạn, có giai đoạn tốc độ tăng trưởng chậm, có giai đoạn tốc độ

Trang 17

tăng trưởng nhanh Trong quá trình phát triển của trẻ từ khi sinh cho đến khi trưởng thành có 2 giai đoạn phát triển “nhảy vọt” Đó là giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi và giai đoạn tiền dậy thì [55] Sự tăng trưởng các thông số và chỉ số hình thái - thể lực cũng khác nhau giữa trẻ nam và trẻ nữ, giữa các trẻ sống ở thành thị với nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi Cụ thể, trẻ sống ở thành phố có các thông số và chỉ số hình thái - thể lực tốt hơn so với trẻ sống ở vùng nông thôn và miền núi Từ 7 đến 10 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nữ nhanh hơn so với ở nam, nhưng từ 11 tuổi tốc độ tăng chiều cao của nam lại nhanh hơn so với ở nữ Ngoài ra, sự tăng trưởng các thông số và chỉ số hình thái - thể lực còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như di truyền, dinh dưỡng, nội tiết, bệnh tật, khuynh hướng thế tục,… [80, 96]

1.2.2 Các nghiên cứu về hình thái – thể lực ở Việt Nam

Hình thái học con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm

1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ 20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944)

đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương" của P Huard, A Bigot và

"Hình thái học Người và giải phẫu thẩm mỹ học" của P Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam (theo [80]) Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời

Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu Các hội nghị về lĩnh vực này đã được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” [1] xuất bản năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số và chỉ số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 18 đến 25 Đây mới là các thông số và chỉ số sinh học

Trang 18

của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Qua công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ Đa số các kích thước về tầm vóc - thể lực của nam lớn hơn của nữ Các kích thước này tăng dần theo tuổi, đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi 26 - 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đến 60 tuổi Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60 Đối với nữ, tầm vóc thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 -25 tuổi Từ 26 đến 40 tuổi các chỉ số thể lực ở nữ có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41 - 55 Từ

56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều so với ở nam giới

“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” [42] do Võ Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt Nam trên cả ba miền của đất nước Qua công trình này, các tác giả đã nêu lên được các qui luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt Nam

“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái - thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cộng sự [59] thực hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 - 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam) Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước các vòng (vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi) luôn cao hơn

so với ở nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác có liên quan đến dinh dưỡng, khối

mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại cao hơn so với của nam

Lê Nam Trà và cộng sự trong đề tài KX 07-07 [79] đã cho thấy trong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiên, mức

độ thay đổi không nhiều như ở những lớp tuổi trước đó Đến tuổi 25 ở cả hai giới đều có các chỉ số thể lực ở mức ổn định

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [69] nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số thông số và chỉ số sinh lý ở người đã cho thấy, khí hậu khắc nghiệt vùng Nghệ - Tĩnh làm phát sinh những biến đổi về cấu trúc hình thái Các thông số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu chỉ số Pignet, Broca,

Trang 19

Skelíe của cư dân Nghệ - Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các thông số và chỉ số này được nêu trong cuốn HSSH Tác giả cho rằng đây là điểm đặc trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm

Năm 1996, Trần Đình Long và cs nghiên cứu đặc điểm phát triển và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông tại một số trường ở

Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển của học sinh cả hai giới đều chậm lại rõ rệt từ 17 đến 18 tuổi [56]

Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về hình thái - thể lực của sinh viên và thanh niên Việt Nam đều cho thấy có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ nhiều năm trước Đặc biệt là từ sau 1975 đến nay khi tình hình kinh

tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi đã có ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con người Việt Nam Thanh niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn Để giải thích sự khác biệt này, có tác giả cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nhiều hơn nên thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi [41]

Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự (theo [39]) đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn so với ở nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện kinh tế

Năm 2001, trong luận án tiến sĩ nghiên cứu thể lực của người Êđê và người Kinh định cư ở Đăk-lăk, Đào Mai Luyến [58] đã cho thấy, hình thái - thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh định cư

Một trong những nghiên cứu tống thể trên diện rộng mới được diễn ra ở thập niên cuối của thế kỷ XX đã cho thấy phổ thông tin tương đối đa dạng về “Các giá trị

Trang 20

sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX” [2] có những thay đổi đáng kể so với “Hằng số sinh học người Việt Nam 1975” [1] Tuy nhiên các kết quả điều tra này chỉ cho thấy thực trạng các giá trị sinh học người Việt Nam chủ yếu phục vụ cho ngành y tế mà chưa chỉ ra các nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng người Việt Nam trong tương lai

Năm 2002, trong luận án tiến sĩ của mình, Trần Thị Loan [55] nhận định rằng

sự tăng trưởng các thông số và chỉ số nghiên cứu diễn ra không đồng đều qua các giai đoạn, có giai đoạn tốc độ tăng trưởng chậm, có giai đoạn tốc độ tăng trưởng nhanh Trong quá trình phát triển của trẻ từ khi sinh cho đến khi trưởng thành có 2 giai đoạn phát triển “nhảy vọt” Đó là giai đoạn 5 ÷ 7 tuổi và giai đoạn tiền dậy thì

Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 vùng sinh thái tại miền Bắc Việt Nam lên các giá trị sinh học cơ bản của sinh viên, Mai Văn Hưng đã khẳng định vai trò của các yếu tố đặc trưng cho vùng sinh thái như khí hậu, dinh dưỡng, lối sống, phong tục tập quán,… đã ảnh hưởng khá mạnh lên các đặc điểm sinh học của con người [39] Nghiên cứu của tác giả đối với sinh viên đại học tại Hàn Quốc năm 2006 cũng cho thấy kết quả tương tự Như vậy có thể khẳng định vai trò rất quan trong của các yếu

tố đặc trưng cho các vùng sinh thái lên hình thái con người (theo [101])

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [8] trong nghiên cứu hình thái của trẻ em các dân tộc ở Hòa Bình đã cho thấy, các chỉ số hình thái của trẻ em dân tộc Mường, Thái, Kinh cao hơn rõ so với ở trẻ em Tày, Dao

Cũng theo hướng nghiên cứu này, năm 2010 Hoàng Quý Tỉnh [76] trong luận án tiến sĩ của mình đã cho thấy các phong tục tập quán như dinh dưỡng, thói quen nuôi con theo phương pháp truyền thống, các hủ tục lạc hậu của một số dân tộc ít người có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển hình thái, thể lực của học sinh lứa tuổi mầm non tại địa phương này Đây được coi là sự mở ra một hướng tiếp cận mới nhằm tìm kiếm các nguyên nhân làm cho chất lượng con người Việt Nam chưa cao so với nhiều dân tộc trên thế giới, đồng thời cũng tạo tiền đề nhằm tìm kiếm phương án nhằm nâng cao chất lượng con người lứa tuổi học sinh hiện nay

Trang 21

Năm 2012, trong đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học tuổi dậy thì của học sinh học trung học cơ sở Hà Nội và những định hướng giáo dục giới tính trong nhà trường”, nhóm tác giả Mai Văn Hưng và các cộng sự [41] cho thấy, các chỉ số hình thái cơ bản của học sinh Trung học cơ sở Hà Nội thay đổi mạnh trong giai đoạn dậy thì ở cả nam và nữ, đồng thời sự thay đổi này diễn ra sớm hơn so với các nghiên cứu trước đó

Năm 2013, khi nghiên cứu hình thái - thể lực của học sinh từ 11 đến 17 tuổi các dân tộc ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Nguyễn Thị Bích Ngọc [65] cho rằng ba chỉ

số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh dân tộc Kinh đều lớn hơn so với của học sinh Mường và Sán Dìu

Tóm lại, nghiên cứu về tăng trưởng của con người là vấn đề phức tạp, luôn mang tính thời sự và là một bộ phận quan trọng trong nghiên cứu nhân học nói chung Nó không chỉ liên quan đến các ngành y học, sinh học mà liên quan cả đến ngành xã hội học

1.3 CÁC ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỆ THỐNG CƠ QUAN

1.3.1 Các thông số thông khí phổi

Dung tích sống là thể tích không khí mà một cơ thể có thể hít vào và thở ra Nhiều tác giả đã nghiên cứu về dung tích sống và các chức năng hô hấp Năm 1846, với sự ra đời của máy hô hấp kế (spirometer) do Hutchinson thiết kế, đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu chức năng phổi (theo [93]) Năm 1983, bộ “Tiêu chuẩn xét nghiệm chức năng phổi” do Cộng đồng than thép châu Âu đề xuất đã được Tổ chức Y tế thế giới ủng hộ, thực sự là một bước ngoặt lớn trong việc nghiên cứu về lĩnh vực này (theo [66])

Dung tích sống phụ thuộc vào dung tích phổi và thể tích khí cặn Dung tích phổi phụ thuộc vào dung tích lồng ngực Dung tích lồng ngực phụ thuộc vào sự phát triển của khung xương sườn trong độ tuổi phát triển, sau độ tuổi phát triển của trẻ dung tích lồng ngực không phát triển thêm nữa Thể tích khí cặn phụ thuộc vào khả năng co tối đa của các cơ thở ra Ở trẻ em, số lượng và kích thước phế quản tăng

Trang 22

dần theo độ tuổi Số lượng và thể tích phế nang cũng tăng dần theo tuổi và tăng mạnh ở độ tuổi dậy thì Đến đầu giai đoạn dậy thì, dung tích sống tăng gấp 10 lần và đến cuối giai đoạn này dung tích sống tăng gấp 20 lần so với lúc mới sinh [40]

Theo Đoàn Yên và cs [91], dung tích sống của trẻ em tăng mạnh vào giai đoạn dậy thì, tăng nhảy vọt ở nam lúc 12 ÷ 13 tuổi, còn ở nữ lúc 11 ÷ 12 tuổi Ở giai đoạn dậy thì có sự khác biệt về dung tích sống theo giới tính và chỉ số này ở nữ thấp hơn so với ở nam

Phần lớn các công trình nghiên cứu chức năng phổi của trẻ em Việt Nam tập trung vào các chỉ tiêu thông khí phổi như dung tích sống, khí lưu thông, khí bổ trợ, khí dự trữ và sự biến đổi các chỉ tiêu này theo lứa tuổi và theo giới tính [13, 17, 18,

43, 70, 71]

Trong quyển “Hẳng số sinh học người Việt Nam [1], các tác giả đã đưa ra 19 thông số và chỉ số liên quan đến đặc điểm sinh lý hô hấp, trong đó dung tích sống đã được các tác giả nghiên cứu theo giới tính, lứa tuổi và chiều cao Theo tài liệu này, dung tích sống của trẻ em biến đổi tỷ lệ thuận với lứa tuổi, phụ thuộc vào chiều cao của đối tượng và dung tích sống của trẻ nam luôn cao hơn so với trẻ nữ ở tất cả các nhóm tuổi

Năm 1982, Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền

và Lê Thành Uyên [16] cho rằng người Việt Nam có chỉ số phổi cao, đó là số mililit dung tích sống quy về 1 kilogam cân nặng

Năm 1983, Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn Đình Hường và cs (theo [8]) đã tiến hành nghiên cứu giá trị bình thường của 9 chỉ số thông số phổi của người Hà Nội từ 11 đến 80 tuổi Các tác giả đã chia các đối tượng theo 4 nhóm tuổi và xác định các chỉ

số dung tích sống thở mạnh, dung tích sống thở chậm, thể tích thở ra tối đa giây đầu, chỉ số Tiffeneau, và nhận thấy các thông số chức năng thông khí phổi này của người Việt Nam đều thấp hơn so với ở người châu Âu

Theo các công trình nghiên cứu của Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Văn Tường [18, 43, 84, 85] thì dung tích sống của trẻ em thay đổi mạnh

Trang 23

theo quá trình phát triển cá thể Các chỉ số khác liên quan đến chỉ số thông khí phổi của trẻ em Việt Nam cũng tăng dần theo tuổi và tăng nhanh nhất ở lứa tuổi dậy thì Các chỉ số này ở nam luôn lớn hơn ở nữ và đến cuối giai đoạn dậy thì chức năng phổi của các em nam, nữ đã gần như ở người lớn

Năm 1994, trong quyển “Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam”, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường và cs [78] đã đưa ra phương trình hồi quy để tính số chuẩn của người bình thường làm cơ sở cho việc ứng dụng vào lâm sàng Khi tiến hành nghiên cứu các giá trị bình thường của các thông số chức năng phổi ở các lứa tuổi từ 12 đến 82 tại Thanh Trì và Thượng Đình, Hà Nội, các tác giả đã tiến hành chia nhóm chi tiết với 7 nhóm tuổi, trong đó tách lứa tuổi dậy thì thành một nhóm riêng (12-15 tuổi) So sánh các thông số này giữa nam và nữ ở các nhóm tuổi đều cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Đoàn Yên và cộng sự [91] đã tiến hành nghiên cứu nhịp thở, dung tích sống, thể tích lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79 tuổi Các tác giả cho rằng các thông số thông khí phổi ở trẻ biến đổi không đều Dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi rồi ổn định ở cả nam và nữ, từ 30 tuổi thông số này bắt đầu giảm

So với người Âu - Mỹ, dung tích sống của người Việt Nam luôn có trị số nhỏ hơn

Nghiêm Xuân Thăng [69] tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên chức năng hô hấp của cư dân Nghệ An, Hà Tĩnh, nhận thấy tần số hô hấp cũng như dung tích sống đều chịu ảnh hưởng của khí hậu Dung tích sống đạt giá trị lớn nhất

ở nhiệt độ 30 - 32oC, độ ẩm không khí vào khoảng 70 - 80% Trong cùng điều kiện thì dung tích sống ở nam luôn cao hơn ở nữ

Trong cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” [2] với đề mục “Nghiên cứu một số chỉ số hô hấp người Việt Nam bình thường” do Nguyễn Văn Tường và cộng sự thực hiện đã tiến hành nghiên cứu 13 thông số chức năng phổi trên 239 trẻ nam và 213 trẻ nữ độ tuổi từ 7 đến 15 tuổi Trong đó đáng lưu ý các thông số dung tích sống, dung tích sống gắng sức, thể tích thở ra tối đa giây, thông khí phút tối đa, chỉ số Tiffeneau, chỉ số Gaensler của trẻ từ

Trang 24

11 đến 15 tuổi đều tăng mạnh ở cả nam và nữ Các chỉ số Tiffeneau và Gaensler ở nam và nữ là ngang nhau trong khi các chỉ còn lại ở nam luôn cao hơn ở nữ

Năm 2001, khi nghiên cứu trên đối tượng học sinh phổ thông tại thành phố

Hà Nội, Trần Thị Loan [55] cho rằng dung tích sống của học sinh nam tăng nhanh hơn so với ở học sinh nữ Thời điểm tăng nhanh dung tích sống của học sinh xảy ra cùng lúc với thời điểm tăng nhảy vọt về chiều cao của các em Từ 6 đến 9 tuổi, dung tích sống của nam và nữ không có sự khác biệt, còn từ 10 đến 17 tuổi dung tích sống của nam lớn hơn so với ở nữ ngày càng rõ rệt

Từ năm 2007 đến 2009, Đỗ Hồng Cường [7-8] khi nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở Hòa Bình cho thấy không có sự khác biệt theo các thông số hô hấp (VC, FVC, MVV, FEV1, PEF) giữa các học sinh dân tộc, song có sự khác biệt rõ theo các thông số này giữa học sinh nam, nữ cùng một dân tộc cũng như theo tuổi và chiều cao

Năm 2012, Nguyễn Thị Bích Ngọc [65] tiến hành nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của học sinh miền núi từ 11 ÷ 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ nhận thấy mối quan hệ giữa chiều cao và các thông số chức năng phổi là mối quan hệ tuyến tính Các thông số VC, FVC, MVV, FEV1, PEF có liên quan chặt chẽ với tuổi và chiều cao

1.3.2 Tần số tim, huyết áp động mạch

Hệ thống tuần hoàn gồm tim và các mạch máu, có chức năng đảm bảo cho máu lưu thông liên tục để thực hiện chức năng cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể, đồng thời mang khí cacbonic, các chất độc hại, cặn bã thải ra ngoài Hoạt động của hệ tuần hoàn được thể hiện qua các chỉ số như tần số tim và huyết áp động mạch [40]

Tần số tim thay đổi theo lứa tuổi và trạng thái cơ thể Vì vậy, việc nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch đã được nhiều tác giả thực hiện Các kết quả nghiên cứu cho thấy tần số tim của trẻ giảm dần theo tuổi Tần số tim trung bình của trẻ sơ sinh trong những ngày đầu tiên là 120÷140 lần/phút Ở lứa tuổi đang bú mẹ là

160 lần/phút, trước tuổi đến trường là 85÷100 lần/phút và ở tuổi học đường là

Trang 25

75÷82 lần/phút (theo [54]) Sự giảm tần số tim của trẻ em có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim [35]

Khi nghiên cứu trên trẻ em trước tuổi đến trường và trẻ em tuổi học đường, nhiều tác giả cho thấy huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi Huyết áp tối đa/tối thiểu của trẻ 4 tuổi là 85/60 mmHg, của trẻ 10 tuổi là 100/65 mmHg và của trẻ 15 tuổi là 115/72 mmHg Thời điểm huyết áp tăng nhảy vọt ở nữ là lúc 9 và 12 tuổi; ở nam là 9, 12 và 13 tuổi và có sự khác biệt về huyết áp theo giới tính (theo [55])

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tần số tim và huyết

áp của trẻ em Theo số liệu trong “HSSH” [1], thì huyết áp động mạch của trẻ em từ

3 đến 15 tuổi tăng dần Ở cùng một lứa tuổi huyết áp của bé trai cao hơn của bé gái Huyết áp đo khi đứng cao hơn khi nằm và ngồi

Nghiên cứu mối liên quan giữa hoạt động tim mạch và huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ở 2 nhóm tuổi 12 ÷ 15 và 18 ÷ 25, Nghiêm Xuân Thăng [69] nhận thấy tần số tim và huyết áp động mạch ở bất cứ độ tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi theo ngày, theo mùa và mức độ bức xạ Ngoài ra, tần số tim còn

bị chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động và trạng thái tâm lý

Năm 1996, Trần Đỗ Trinh và cs [82] khi nghiên cứu trị số huyết áp người Việt Nam đã đưa ra nhận xét, huyết áp tăng dần theo tuổi với mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15 ÷ 19 và huyết áp của nam giới cao hơn so với của nữ giới

Đoàn Yên và cộng sự [91] nghiên cứu tần số tim và huyết áp của người Việt Nam, nhận thấy từ sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến năm 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần, còn tần số tim giảm dần cho đến 25 tuổi, sau đó ổn định đến 69 tuổi Huyết áp động mạch trên người Việt Nam ở mọi lứa tuổi thấp hơn so với ở người châu Âu, châu Mỹ

Trần Thị Loan [54-55] nghiên cứu tần số tim và huyết áp của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại Hà Nội cũng cho kết quả tương tự Tần số tim của học sinh nam và

Trang 26

nữ giảm khi tuổi tăng Tần số tim của nam mỗi năm giảm trung bình 1,7 nhịp/phút, còn ở nữ mỗi năm giảm trung bình 1,3 nhịp/phút Từ 6 đến 11 tuổi, tần số tim của nam và nữ khác nhau không nhiều, còn từ 12 đến 17 tuổi tần số tim của nữ lớn hơn của nam 2 ÷ 4 nhịp/phút Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của học sinh nam, nữ tăng theo tuổi, mỗi năm tăng trung bình 2 mmHg Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của nữ cao hơn so với của nam ở mọi lứa tuổi

Một số tác giả khác như Đỗ Hồng Cường [6, 8] nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình; Nguyễn Thị Bích Ngọc [65] nghiên cứu trên đối tượng học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ cũng cho các kết quả tương tự

Năm 2008, Nguyễn Thị Hiên, Vương Thị Hòa [26], nghiên cứu trạng thái căng thẳng cảm xúc và các loại hình thần kinh ở một nhóm sinh viên năm thứ 3, Đại học Y Thái Bình cho thấy, sau buổi thi, các chỉ số thống kê toán học nhịp tim có biểu hiện căng thẳng chức năng tim – mạch như tần số tim tăng, tần số mạch và huyết áp tâm trương chung của cả nam và nữ tăng, riêng ở nữ huyết áp tâm thu cũng tăng có ý nghĩa thống kê so với ở trạng thái tĩnh

1.3.3 Điện tâm đồ

1.3.3.1 Một số đặc điểm về các thông số điện tâm đồ cơ bản ở trẻ em

Điện tâm đồ là một đường cong, đồ thị tuần hoàn, ghi lại các biến thiên của các điện lực do tim phát ra trong các hoạt động co bóp [83]

Điện tâm đồ bình thường của trẻ em có những đặc điểm khác với ở người lớn

là do những thay đổi về sinh lý và giải phẫu của hệ tim mạch theo các giai đoạn phát triển của trẻ [83]

Trục QRS

Vectơ tâm đồ QRS bình thường của trẻ sơ sinh khác của người lớn Trong mặt phẳng trán, vectơ QRS của trẻ sơ sinh hướng về bên phải và bên dưới và tim xoay theo chiều kim đồng hồ, phản ánh ưu thế tâm thất phải ở lứa tuổi này Ở trẻ

Trang 27

lớn hơn, vectơ QRS hướng sang trái và bên dưới trong khi vẫn xoay theo chiều kim đồng hồ, phản ánh sự tiến triển từ ưu thế tim phải sang ưu thế tim trái [83]

Trục QRS trung bình ở trẻ sơ sinh là +125o, lúc 1 tháng là +90o, lúc 3 tuổi là

60o [99] Khoảng giới hạn bình thường của trục QRS theo Dupuis và cs [100] lúc sinh là +60o ÷ +90o, từ 6 tháng đến 16 tuổi là +10o

÷ +130o Theo Okuni [108], giới hạn này là +80o ÷ +180o lúc sinh, từ 6 tháng trở đi là +30o ÷ +110o

Thời gian PQ

Thời gian PQ thay đổi theo tuổi, PQ giảm từ lúc sinh đến 1 tháng tuổi Từ 1 tháng trở đi tăng dần theo tuổi, do sự chậm dẫn truyền tại nút nhĩ thất và tăng kích thước tâm nhĩ (theo [28]) Thời gian PQ trung bình từ lúc sinh đến 3 tháng là 0,10s;

từ 4 đến 8 tháng là 0,11s; từ 9 đến 19 tháng là 0,12s; từ 2 đến 14 tuổi là 0,13s [117] Theo Okuni [108], giới hạn của thời gian PQ là 0,10 ÷ 0,16s đối với trẻ nhỏ và 0,12

÷ 0,20s đối với trẻ dậy thì

Thời gian PQ cũng thay đổi theo tần số tim Với mọi lứa tuổi, PQ trung bình dài hơn khi tần số tim chậm hơn PQ vào khoảng 0,13s khi tần số tim ≤ 80 lần/phút

và 0,10s khi tần số tim ≥ 150 lần/phút [115]

Thời gian QRS

Thời gian QRS tăng từ lúc sinh đến tuổi dậy thì do khối lượng cơ tim tăng [102] Theo Rinjbeek [114], thời gian QRS trung bình là 0,05s ở trẻ sơ sinh; 0,06s ở trẻ từ 1 ÷ 3 tuổi; 0,07s đối với trẻ trên 3 tuổi Theo Lipman [103] và Nadas [107], giới hạn trên là 0,10s Theo Okuni [108], giới hạn trên là 10s đối với trẻ dưới 10 tuổi; 0,12s đối với trẻ trên 10 tuổi

Trang 28

hoặc khi sóng U chồng lên sóng T [34, 83] Vì thế, Moss [106] có khuyến cáo nên

đo QT tại V2, V3 và tại các chuyển đạo có sóng T cao nhất

Nếu sóng T có 2 đỉnh thì có thể phân biệt với sóng U ở chỗ 2 đỉnh của sóng

T không cách xa nhau trên 40% khoảng cách giữa đỉnh thứ 2 và lúc bắt đầu QRS; nếu có sóng U lấy khoảng giữa 2 đỉnh làm nơi kết thúc sóng T

Sóng P

Tại các chuyển đạo mẫu, biên độ sóng P lớn nhất tại chuyển đạo D2, ít thay đổi theo tuổi [83, 116] Giới hạn trên thường là 2,5 mm [108, 114], nhưng cũng có thể đến 3mm đối với trẻ nhỏ [114] Tại các chuyển đạo trước ngực, biên độ sóng P lớn nhất tại V1, V2, thường dưới 1,5mm, giảm dần từ lúc sinh đến lúc 16 tuổi [107]

Tại các chuyển đạo mẫu, thời gian trung bình của sóng P là 0,06 ± 0,02s, tăng từ lúc sinh là 0,05s đến 0,08s lúc 16 tuổi [117] Theo Lipman [103] và Nadas [107], giới hạn trên là 0,08s; theo Park và cs [109] là 0,10s

Sóng Q

Sóng Q thường gặp tại các chuyển đạo D2, D3 và aVF, thường không xuất hiện tại các chuyển đạo D1, aVL [109] Sóng Q không xuất hiện tại chuyển đạo V1, trừ trường hợp hiếm gặp ở trẻ sơ sinh [108] Tuy nhiên, theo Garson [97], sóng Q có thể hiện diện bình thường tại bất kỳ chuyển đạo nào

Biên độ sóng Q cao nhất lúc trẻ 1 ÷ 3 tuổi, sau đó giảm dần; trong lứa tuổi 12

÷ 16, nam có biên độ sóng Q cao hơn nữ ở chuyển đạo V6 [108] Biên độ tối đa của sóng Q tại chuyển đạo D2, aVF, V5 và V6 thường <5mm, tại D3 có thể lên đến 8mm Thời gian trung bình của sóng Q là 0,02s; thường không quá 0,03s [99]

Sóng R

Biên độ sóng R thay đổi theo trục QRS Trong những tháng đầu ở trẻ em, sóng R có biên độ thấp tại D1, cao tại D2, D3 và aVF nhưng thường không quá 20mm Tuy nhiên, từ 8 ÷ 16 tuổi, biên độ sóng R có thể cao hơn [115] Biên độ sóng R tại chuyển đạo V1, V2 giảm dần theo tuổi, trong khi lại tăng dần ở chuyển

Trang 29

đạo V5, V6 Giới hạn của biên độ sóng R có thể lên đến 46mm đối với trẻ 8 ÷ 12 tuổi [114]

Sóng S

Biên độ sóng S tại D1, D2 giảm dần theo tuổi, ít thay đổi tại chuyển đạo D3 Tại các chuyển đạo trước ngực phải, biên độ sóng S giảm dần từ lúc sinh đến 1 tháng, sau đó tăng dần; tại các chuyển đạo trước ngực trái biên độ sóng S giảm dần [99]

1.3.3.2 Các nghiên cứu về điện tâm đồ của trẻ em ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về điện tâm đồ ở nước ta từ trước đến nay không nhiều, phần lớn tập trung trong lĩnh vực y học

“Hằng số sinh học người Việt Nam” [1] và “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX” [2] được coi là những công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về điện tim ở người bình thường từ trước đến nay Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu của một số tác giả khác trên đối tượng người bình thường như của Trần Đỗ Trinh [81], Đào Mai Luyến [58], Mai Văn Hưng [39], Phạm Hữu Hòa và cs [28], Nguyễn Xuân Cẩm Huyên và cs [33-35]

1.3.4 Phản xạ cảm giác – vận động

Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân kích thích tác động từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể Mọi hoạt động của hệ thần kinh đều thể hiện ở hoạt động phản xạ - phản xạ là đơn vị chức năng của hệ thần kinh [40]

Năm 1863, trong tác phẩm “Các phản xạ của não”, Sechenov đã vạch các con đường của nhận thức duy vật về các chức năng của não bộ và về tính thống nhất giữa hoạt động tinh thần với các quá trình sinh lý Ông đã chỉ ra rằng mọi biểu hiện của hoạt động tinh thần, kể cả những dạng phức tạp nhất, nếu xét về mặt bản chất đều là những phản xạ Khi phân tích tỉ mỉ về phản xạ của não người, Sechenov đã khẳng định rằng hoạt động tâm lý của con người không chỉ là một loại thể nghiệm chủ quan mà bao giờ nó cũng gắn liền với một hoạt động phản xạ, để đáp ứng lại sự tác động của môi trường xung quanh, do não điều khiển (theo [65])

Trang 30

Năm 1927, I.P Pavlov đã xây dựng học thuyết hoàn chỉnh về hoạt động phản

xạ Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm phản xạ có điều kiện Ông cho rằng, mọi hoạt động của cơ thể đều là những phản xạ và phản xạ có điều kiện là đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao có sự tham gia của vỏ não, có chức năng đảm bảo mối quan hệ giữa cơ thể với môi trường, giúp cơ thể thích nghi với những sự thay đổi của môi trường (theo [65])

Các công trình nghiên cứu sự phát triển hoạt động phản xạ trong quá trình phát triển cá thể của trẻ em cho thấy sự biến đổi của môi trường bên ngoài đã ảnh hưởng tới hoạt động phản xạ của trẻ em Sau khi sinh, nhiều phản xạ không điều kiện đã được hoàn thiện nhanh chóng Đồng thời có sự hình thành thêm các phản xạ mới Các phản xạ của tay và chân xuất hiện rất sớm Những phản xạ có điều kiện hình thành sớm nhất là những phản xạ có điều kiện dinh dưỡng và những phản xạ

có điều kiện tự vệ Còn những phản xạ với các thụ quan ngoài như phản xạ thị giác, phản xạ thính giác thì lại được hình thành muộn hơn Sự hình thành và phát triển của các phản xạ có điều kiện gắn liền với sự hoàn thiện hóa các cấu trúc của hệ thần kinh trung ương nhằm đảm bảo mối liên hệ giữa vỏ não với các vùng dưới vỏ Hoạt động phản xạ có điều kiện còn liên quan với sự phát triển và hoàn thiện của các quá trình ức chế, đặc biệt là các loại ức chế trong như ức chế trì hoãn, ức chế phân biệt, cũng như với tính cân bằng và tính linh hoạt của hệ thần kinh (theo [55])

Ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thời gian phản xạ cảm giác - vận động

Năm 1993, khi nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ tiêu sinh lý ở người và động vật, Nghiêm Xuân Thăng nhận thấy thời gian phản xạ thay đổi theo nhiệt độ và độ ẩm môi trường [69]

Năm 1997, Đỗ Công Huỳnh và cộng sự [36], nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác - vận động ở thanh thiếu niên tuổi từ 6 đến 18 ở Nam sân bay Biên Hòa, Bắc sân bay Biên Hòa và xã Vạn Phúc, Hà Đông Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian phản xạ cảm giác - vận động giảm dần theo tuổi, tuổi càng lớn thời gian

Trang 31

phản xạ càng ngắn Điều đó chứng tỏ quá trình xử lý thông tin và trả lời kích thích ở các em lứa tuổi lớn tốt hơn so với ở các em lứa tuổi nhỏ

Năm 2001, Trần Thị Loan [53] nghiên cứu về thời gian phản xạ cảm giác - vận động trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở Hà Nội nhận thấy thời gian phản xạ thị giác - vận động và thời gian phản xạ thính giác- vận động của học sinh nam và nữ

có sự biến động theo thời gian Ở lứa tuổi từ 6 đến 14, thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh giảm dần và đạt giá trị nhỏ nhất lúc 14 tuổi Ở lứa tuổi 15 đến 17, thời gian phản xạ cảm giác- vận động của học sinh tương đối ổn định

Năm 2002, khi nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác – vận động của học sinh và sinh viên từ 15 đến 21 tuổi, Tạ Thúy Lan, Mai Văn Hưng cho rằng thời gian phản xạ cảm giác - vận động tăng dần theo tuổi, có liên quan đến giới tính và mối tương quan giữa IQ và thời gian phản xạ cảm giác - vận động là tương quan nghịch [38, 50]

Năm 2010, Nguyễn Thị Bích Ngọc [63] nghiên cứu trên học sinh miền núi từ

11 đến 17 tuổi ở tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ nhận thấy thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh giảm dần từ 11 đến 14 tuổi và từ 15 đến 17 tuổi có xu hướng

ổn định Thời gian phản xạ thị giác - vận động của học sinh ngắn so với thời gian phản xạ thính giác - vận động Thời gian phản xạ cảm giác - vận động của học sinh người Kinh ngắn hơn so với học sinh người Mường và người Sán Dìu

Năm 2013, khi nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim – mạch, thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình, Nguyễn Thị Hiên cho rằng thời gian phản xạ thị giác - vận động đơn giản và phức tạp của sinh viên nam ngắn hơn so với ở sinh viên

nữ Sinh viên khối Y4 có thời gian phản xạ thị giác - vận động ngắn hơn so với các khối khác [27]

Trang 32

1.4 ĐẶC ĐIỂM TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM

1.4.1 Trí tuệ

1.4.1.1 Khái niệm về trí tuệ

Trong lịch sử nghiên cứu về trí tuệ, nhiều chuyên gia đã có những quan niệm khác nhau, các cách định nghĩa khác nhau về trí tuệ

Freeman F.S và Aiken L.R coi trí tuệ là năng lực học tập Trí tuệ và năng lực học tập có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất Học tập là điều kiện cần thiết để phát triển trí tuệ (theo [57])

Terman L coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng với chức năng sử dụng có hiệu quả các khái niệm và ký hiệu (theo [57])

Theo quan điểm hiện nay, coi trí tuệ là năng lực thích ứng Đây là kiểu định nghĩa phổ biến và được nhiều nhà khoa học tán thành nhất Trí tuệ là sự tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường xung quanh nhưng cần xem sự tác động qua lại đó là một sự thích ứng tích cực, có hiệu quả chứ không phải là sự thích nghi đơn giản

Nhiều nhà tâm lý học cho rằng năng lực trí tuệ và học tập có mối liên hệ chặt nhưng không đồng nhất Phần lớn học sinh có năng lực trí tuệ tốt (chỉ số IQ cao) thì kết quả học tập đạt được cũng cao, tuy nhiên cũng có học sinh có IQ cao nhưng kết quả học tập lại thấp và ngược lại [47, 57, 74]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu về trí tuệ như sau: Trí tuệ là năng lực của cá nhân được thể hiện trong các hoạt động giao tiếp, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn sự vật, hiện tượng khách quan nhằm thích ứng tích cực với môi trường xung quanh

1.4.1.2 Các nghiên cứu về trí tuệ của trẻ em ở Việt Nam

Những nghiên cứu về trí tuệ của học sinh Việt Nam chủ yếu được thực hiện

từ những năm cuối của thập kỷ 80 thế kỷ XX đến nay

Trang 33

Từ năm 1989 đến 2006, Trần Trọng Thủy đã có nhiều công trình nghiên cứu

về sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam [72-75] Ông đã tìm hiểu sự phát triển trí tuệ bằng test Raven và đã đề cập đến mối liên quan giữa trí tuệ và học lực của học sinh

Năm 1991, Ngô Công Hoàn [29] cho thấy có sự chênh lệch về mức độ phát triển trí tuệ của học sinh Huế và Hà Nội Tác giả nhận thấy có sự chênh lệch về mức

độ phát triển trí tuệ giữa học sinh lớp đại trà và học sinh chuyên toán

Năm 1993, Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng [68], nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội có độ tuổi từ 10 đến 14 Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hóa từ tuổi 11 trở đi, trong đó trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn so với của nữ

Năm 1994, Trịnh Văn Bảo và cs [5] đã nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố

di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh Tác giả cho rằng, yếu tố di truyền là

cơ sở cho sự phát triển trí tuệ của học sinh

Cũng trong năm 1994, Nguyễn Quang Uẩn cũng đề cập đến vai trò của sự tương tác gen, văn hóa và môi trường đối với sự phát triển trí tuệ con người [86]

Năm 1995, Võ Văn Toàn [77] nghiên cứu trí tuệ của học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở Quy Nhơn bằng test Raven và điện não đồ Kết quả nghiên cứu cho thấy, trí tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với của học sinh Hà Nội Khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh liên quan với quá trình hoàn chỉnh hóa điện não đồ thể hiện qua nhịp α tại thùy chẩm và nhịp β tại thùy trán

Năm 2002, Trần Thị Loan [55] sử dụng test Raven để nghiên cứu trí tuệ của học sinh Hà Nội và một số tỉnh khác Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh nông thôn thấp hơn so với của học sinh Hà Nội, không có

sự khác biệt rõ rệt về mức hoạt động trí tuệ giữa học sinh nam và học sinh nữ Sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ tuân theo quy luật phân bố chuẩn

Trang 34

Năm 1998, Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng (theo [65]) nghiên cứu trí tuệ của học sinh Thanh Hóa đã cho rằng, năng lực trí tuệ tăng dần theo tuổi và có mối tương quan thuận với học lực

Năm 2012, Nguyễn Thị Bích Ngọc và Tạ Thúy Lan [64] đã sử dụng test Raven để nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tại tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh Kinh tốt hơn so với của học sinh dân tộc Mường và Sán Dìu Năng lực trí tuệ tăng theo tuổi và không có sự khác biệt theo giới tính

Năm 2013, Nguyễn Thị Hiên nghiên cứu năng lực trí tuệ của sinh viên Đại học Y Thái Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy, IQ đạt mức trung bình và thông minh chiếm đa số Năng lực trí tuệ của sinh viên tính theo test Raven có mối tương quan thuận với học lực nhưng không chặt [27]

1.4.2 Trí nhớ

1.4.2.1 Khái niệm về trí nhớ

Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lý của con người và

là một thành phần quan trọng của trí tuệ Trí nhớ là sự tiếp nhận và tái hiện những

sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành động Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chúng Khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể thì chúng gây ra cảm giác Trên

cơ sở những cảm giác đơn lẻ, bộ não phân tích và tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não [48, 73]

Về cơ chế hình thành trí nhớ có 3 thuyết chính: thuyết phản xạ có điều kiện của I.P Pavlov, thuyết điều kiện hóa mà đại diện là B.F Skiner và thuyết phân tử của M.C Conell và Thomson (theo [55]) Các tác giả cho rằng, việc hình thành phản xạ có điều kiện đã tạo nên các “vết hằn” của trí nhớ Như vậy, phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của trí nhớ Trí nhớ được phát triển trong suốt thời kỳ thơ ấu,

Trang 35

khối lượng ghi nhớ tăng lên, các quá trình ghi nhớ và tái hiện biến đổi và hoàn thiện dần theo lứa tuổi (theo [65])

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm và các quan sát lâm sàng cho thấy có nhiều cấu trúc thần kinh trong não liên quan với trí nhớ, trong đó quan trọng nhất là

hệ limbic và vỏ não mới Các vùng trong hệ limbic đáng chú ý là hồi hải mã, hồi đai, phức hợp hạnh nhân và thể vú, còn các vùng vỏ não mới có liên quan với trí nhớ là vùng trán và vùng thái dương Mỗi vùng trên có chức năng khác nhau đối với việc ghi nhớ các thông tin nhận được Do trí nhớ liên quan với nhiều vùng khác nhau của não bộ, cho nên trong các thí nghiệm cắt bỏ nhiều vùng rộng lớn trong não vẫn không làm cho trí nhớ mất hoàn toàn [37]

1.4.2.2 Các nghiên cứu về trí nhớ của trẻ em ở Việt Nam

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [69] nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10 ÷ 20 tuổi trong những điều kiện khí hậu khác nhau đã cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và sự đối lưu không khí

Năm 1994, Trịnh Văn Bảo [5] nghiên cứu trí nhớ của học sinh 12 tuổi của trường năng khiếu Marie Curie và trường phổ thông cơ sở Tô Hoàng, thành phố Hà Nội Tác giả cho rằng, trí nhớ gần của học sinh năng khiếu tốt hơn so với ở nhóm học sinh bình thường và tồn tại mối liên quan giữa yếu tố di truyền với sự phát triển trí tuệ của học sinh

Năm 2002, khi nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở quận Cầu Giấy, Hà Nội, Trần Thị Loan [55] nhận thấy khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng tăng không đều qua các năm Từ 6 đến 11 tuổi, khả năng ghi nhớ của cả nam và nữ đều tăng nhanh, sau đó tốc độ tăng giảm dần ở giai đoạn 12 đến 17 tuổi Tác giả còn nhận thấy không có sự khác biệt về khả năng ghi nhớ giữa nam và nữ

Trang 36

Năm 2003, trong Tuyển tập Tâm lý học [23], bằng thực nghiệm Phạm Minh Hạc đã chứng minh được sự tham gia của cả hai thùy của não (thùy trái và thùy đỉnh) vào việc lưu trữ thông tin, trong đó thùy đỉnh có vai trò quan trọng hơn

Năm 2008, khi nghiên cứu trạng thái căng thẳng cảm xúc và các loại hình thần kinh ở sinh viên năm thứ 3 Đại học Y Thái Bình, Nguyễn Thị Hiên và cs đã cho rằng, sau buổi thi trí nhớ ngắn hạn của sinh viên tăng so với trạng thái tĩnh, trí nhớ ngắn hạn của sinh viên nam, nữ là tương đương và đạt mức chủ yếu là khá, giỏi [25]

Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc [65] nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tại tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Tác giả nhận thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh tăng dần theo tuổi Khả năng ghi nhớ thị giác tốt hơn khả năng ghi nhớ thính giác Học sinh Kinh có khả năng ghi nhớ tốt hơn so với học sinh Mường và Sán Dìu

1.4.3 Chú ý

1.4.3.1 Khái niệm về chú ý

Chú ý là trạng thái luôn đi kèm với với các quá trình tâm lý, có tác dụng hướng các quá trình này tập trung vào một hay một số đối tượng, tạo điều kiện cho đối tượng được phản ánh một cách tốt nhất Sự tập trung chú ý không thể thiếu được đối với mỗi người trong mọi hoàn cảnh như khi lao động chân tay, lao động trí óc hay vui chơi giải trí [23]

Muốn có được sự tập trung chú ý, não bộ phải làm việc theo nguyên tắc ưu thế, tức là tạo ra “trung tâm hưng phấn tối ưu” trên vỏ não Trung tâm hưng phấn tối

ưu có cường độ vừa phải nhưng lại bền vững nhất trong các điều kiện hoạt động hiện tại của cơ thể Theo quy luật cảm ứng qua lại, trung tâm này sẽ ức chế hoạt động của các nơron thuộc các vùng xung quanh (theo [65])

Để xác định khả năng chú ý của con người, người ta thường dựa vào độ tập trung chú ý Sự tập trung chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động Phạm vi các hoạt động chú ý càng hẹp thì

Trang 37

sức chú ý càng tập trung Sự tập trung chú ý phụ thuộc vào độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì sự tập trung chú ý càng kém (theo [65]) Ngoài ra, sự tập trung chú ý còn phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi cá nhân, sức hấp dẫn của đối tượng, loại hình thần kinh

Sự phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc chú ý đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định Sự di chuyển chú ý là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động Sự di chuyển chú ý thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của hoạt động thần kinh, nó mang tính tích cực, chủ động, giúp con người thích ứng với sự thay đổi của môi trường Người có khả năng di chuyển chú ý nhanh, nhạy bén thì thích ứng nhanh, có thể bước vào hoạt động mới một cách chủ động, kịp thời (theo [65])

1.4.3.2 Các nghiên cứu về chú ý của trẻ em ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng chú ý trên các đối tượng khác nhau

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [69] nghiên cứu sự chuyển tiếp chú ý của học sinh đã nhận thấy, khả năng chuyển tiếp chú ý của học sinh năng khiếu nhanh hơn so với của học sinh bình thường nhưng không có ý nghĩa thống kê

Năm 2002, khi nghiên cứu khả năng chú ý của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở quận Cầu Giấy, Hà Nội, Trần Thị Loan [55] cho rằng độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý của học sinh tăng dần theo tuổi và không có sự khác biệt theo giới tính

Năm 2003, Mai Văn Hưng [39] nghiên cứu khả năng chú ý của sinh viên một

số trường đại học phía Bắc đã cho thấy, độ tập trung chú ý tăng dần từ 18 ÷ 19 tuổi, sau đó giảm dần theo tuổi, tuy nhiên sự giảm khả năng chú ý theo tuổi không có ý nghĩa thống kê Khả năng tập trung chú ý của sinh viên nam cao hơn so với của sinh viên nữ ở cùng độ tuổi

Năm 2008, Lê Văn Hồng và cs [31] nghiên cứu về khả năng chú ý của học sinh THCS và THPT cho rằng, sự phát triển chú ý của học sinh diễn ra rất phức tạp, chú ý có chủ định dần dần được hình thành, khối lượng chú ý tăng rõ rệt

Trang 38

Năm 2011, Tạ Thúy Lan và cs [51] nghiên cứu khả năng chú ý của học sinh miền núi từ 11 đến 17 tuổi tại tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Tác giả nhận thấy, khả năng chú ý của học sinh tăng dần theo tuổi, khả năng chú ý của học sinh Kinh tốt hơn so với của học sinh Mường và Sán Dìu Tác giả còn nhận thấy có mối tương quan thuận tuyến tính chặt vừa giữa độ tập trung chú ý với chỉ số IQ của học sinh

Năm 2013, Nguyễn Thị Hiên [27] nghiên cứu khả năng chú ý của sinh viên trường Đại học Y Thái Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng chú ý của sinh viên nam, nữ là tương đương và đạt mức chủ yếu là khá, giỏi và có mối tương quan thuận không chặt giữa khả năng chú ý với chỉ số IQ

1.4.4 Cảm xúc

Theo từ điển tiếng Việt [90], cảm xúc là những rung động trong lòng khi tiếp xúc với sự vật, hiện tượng nào đó Cảm xúc là thái độ chủ quan của con người đối với các sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh [22] Cảm xúc là trạng thái không thể thiếu được trong hoạt động hành vi của con người và động vật Đối với mọi hoạt động của não bộ, cảm xúc giữ vai trò mang tính chất quyết định (theo [48]) Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cảm xúc Theo Pavlov, cảm xúc là mối liên quan giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu Trong đó nhu cầu là sự đòi hỏi, là phản

xạ không điều kiện Còn khả năng thoả mãn nhu cầu là khả năng có thể hiện thực hoá được nó Ông cho rằng, cơ sở của cảm xúc là sự hưng phấn các trung tâm dưới

vỏ não và các quá trình sinh lý do hệ thần kinh thực vật gây ra Pavlov đã liên hệ sự phát sinh tình cảm phức tạp với hoạt động của vỏ não Việc duy trì hay phá vỡ hệ thống những mối liên hệ này sẽ gây ra những thay đổi chủ quan đối với hiện thực (theo [49])

Cảm xúc là các phản ứng thuộc chủ thể đối với môi trường, có kèm theo các phản ứng hormone và thần kinh thực vật, thường có biểu hiện khoan khoái hay khó chịu và được coi là phản ứng thích nghi phản ánh cách suy nghĩ của chúng ta (theo [4]) Cảm xúc là điểm gặp nhau của sinh lý học và tâm lý học, bao gồm hai khía cạnh là thể xác và tâm thần Khía cạnh tâm thần bao gồm sự tiếp nhận cảm giác,

Trang 39

cảm nhận được cảm giác đó và sự đáp ứng lại được cảm giác đó Khía cạnh thể xác của cảm xúc bao gồm những thay đổi chức năng của cơ thể như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, toát mồ hôi khi cảm nhận được một cảm giác nào đó Cảm xúc được chia ra nhiều loại như cảm xúc hưng cảm, cảm xúc trầm cảm hay cảm xúc thấp, cảm xúc cao (theo [3])

Hodge cho rằng cảm xúc chỉ xuất hiện khi ta còn nghi ngờ và còn do dự về khả năng trả lời đúng đối với một hiện tượng nào đó Cảm xúc là sự tổng hợp không thành công của vỏ bán cầu đại não (theo [3])

Anôkhin cho rằng cảm xúc là các hệ thống chức năng thể hiện hoạt động hành vi (theo [49])

Theo Pribram, cảm xúc gồm hai yếu tố là nhu cầu và khả năng thỏa mãn nhu cầu Việc xác định trạng thái cảm xúc của một cá nhân chúng ta thu được chỉ số cảm xúc - EQ (theo [57])

P V Ximonov dựa vào học thuyết thông tin về cảm xúc của Pribram đã đưa

ra công thức biểu diễn mối liên quan giữa cảm xúc và khả năng thỏa mãn nhu cầu như sau:

Cx = f[P(In – Ik),…]

Trong đó: Cx là chỉ số cảm xúc (là hàm số của P), f là hàm số, P là cường độ

và tính chất cấp thiết của nhu cầu, In là thông tin về các phương tiện, tiên lượng cần thiết để thỏa mãn nhu cầu, Ik là các thông tin về các biện pháp thực tế cá thể có trong thời điểm hiện tại, (In – Ik) là mức độ tin cậy của khả năng đáp ứng nhu cầu trên cơ sở các kinh nghiệm bẩm sinh và tập nhiễm Chỉ số EQ đánh giá độ tin cậy

mà cá thể hoàn thành nhiệm vụ Khi có kích thích tác động vào cơ thể, não bộ tiếp nhận và so sánh yêu cầu In với khả năng thực tiễn Ik, đánh giá xem thực tiễn chúng

ta có thể giải quyết được vấn đề này không? Nếu vấn đề giải quyết quá dễ dàng thì không xuất hiện cảm xúc, còn nếu vấn đề khó khăn xuất hiện cảm xúc do sự hình thành điểm hưng phấn cực đại (hình thành điểm ưu thế) nhằm huy động các phần khác hỗ trợ cho việc thực thi nhiệm vụ (theo [57])

Trang 40

Khi xem xét vấn đề ở cấp độ thần kinh, Tomkins đã khẳng định rằng cảm xúc được tạo nên bởi số lượng các nơron bị kích thích trong cùng một đơn vị thời gian Những công trình đầu tiên của Darwin (1872, 1877) và những công trình hiện đại hơn (Ekman et al, 1972, Izard, 1971) đã chứng minh rằng, cảm xúc có nền tảng được đảm bảo bởi những chương trình thần kinh bẩm sinh (theo [9])

Theo Pavlov, thì sự thể hiện cảm xúc của con người là kết quả của quá trình phối hợp hoạt động giữa vỏ não và các trung khu dưới vỏ, trong đó vỏ não giữ vai trò chủ đạo Khi sự kiểm soát và ức chế của vỏ não với bộ phận dưới vỏ bị suy giảm thì con người dễ bị xúc động với bất cứ lý do nào và không thể kìm chế những xúc động (theo [48])

Hệ limbic có vai trò quan trọng trong việc hình thành và biểu thị cảm xúc Vì vậy, hệ limbic còn gọi là não cảm xúc Trong hệ limbic vùng dưới đồi được coi là cấu trúc cơ bản nhất, cấu trúc trung tâm Ngoài vùng dưới đồi còn có các cấu trúc khác nhau như hồi hải mã, nhân hạnh nhân, vỏ limbic, vách ngăn trong suốt, nhóm nhân trước và nhân giữa lưng của đồi thị Điểm chung nhất cho toàn bộ hệ thống này là vùng dưới đồi với các đường dẫn tới các trung tâm dinh dưỡng là đường ra chung cho cả hệ thống Bên cạnh hệ limbic, còn có hệ thống các chất truyền đạt thần kinh cũng tham gia vào việc hình thành cảm xúc Có nhiều loại chất truyền đạt thần kinh và mỗi loại trong số này đều có thể làm cho cơ thể có các cảm xúc khác nhau Như vậy, muốn có cảm xúc phải có cấu trúc thần kinh (hệ limbic) và một loạt các chất truyền đạt thần kinh tham gia vào phản ứng [48] Tóm lại nguyên nhân xuất hiện cảm xúc là do sự thay đổi các chức năng sinh lý nhằm đảm bảo cho cơ thể thích nghi một cách tốt nhất với điều kiện môi trường thay đổi

Nghiên cứu về cảm xúc đầu tiên đã được tiến hành cách đây hơn một trăm năm trước, đó là nghiên cứu của James - Lange (1884), sau này có nhiều công trình nghiên cứu khác nhưng diễn ra theo các hướng khác nhau Có hướng nghiên cứu về năng lực cảm xúc, có hướng nghiên cứu về trạng thái cảm xúc, có tác giả lại quan tâm đến bản chất và cách biểu hiện cảm xúc trên các đối tượng khác nhau Ở Việt

Ngày đăng: 11/05/2017, 05:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2003
4. Vũ Quỳnh Châu (2001), “Mối quan hệ giữa những hiểu biết của cảm xúc với sự mất cân đối chức năng hai bán cầu não”, Tạp chí tâm lý học (26), tr.49-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa những hiểu biết của cảm xúc với sự mất cân đối chức năng hai bán cầu não”, "Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Vũ Quỳnh Châu
Năm: 2001
5. Trịnh Văn Bảo (1994), Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX-07-07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Năm: 1994
6. Đỗ Hồng Cường (2007), “Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý tuần hoàn và nhóm máu của học sinh trung học cơ sở các dân tộc thuộc tỉnh Hòa Bình”, Tạp chí Khoa họcTrường Đại học Sư phạm Hà Nội (1), tr.71-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý tuần hoàn và nhóm máu của học sinh trung học cơ sở các dân tộc thuộc tỉnh Hòa Bình”," Tạp chí Khoa họcTrường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2007
7. Đỗ Hồng Cường (2007), “Nghiên cứu một số thông số chức năng phổi ở học sinh trung học cơ sở các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình”, Tạp chí Sinh lý học Việt Nam, T.11(1), tr.18-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số thông số chức năng phổi ở học sinh trung học cơ sở các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình”, "Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2007
8. Đỗ Hồng Cường (2009), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Trường Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2009
10. Trần Văn Dần, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Bá Cẩm (1993), “Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh Hà Nội ở lứa tuổi từ 6 đến 14 tuổi sau thập kỷ 80 (1981 - 1990)”, Tuyển tập NCKH giáo dục sức khỏe thể chất, Nxb Thể dục Thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh Hà Nội ở lứa tuổi từ 6 đến 14 tuổi sau thập kỷ 80 (1981 - 1990)”, "Tuyển tập NCKH giáo dục sức khỏe thể chất
Tác giả: Trần Văn Dần, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Bá Cẩm
Nhà XB: Nxb Thể dục Thể thao
Năm: 1993
11. Trần Văn Dần, Đào Ngọc Phong (1996), Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em lứa tuổi học sinh, Những kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em lứa tuổi học sinh, Những kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Dần, Đào Ngọc Phong
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
12. Trần Đăng Dong, Trịnh Bỉnh Dy (1986), “Lưu lượng thở ra tối đa của người Việt Nam”, Tạp chí Y học thực hành (2), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu lượng thở ra tối đa của người Việt Nam”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Trần Đăng Dong, Trịnh Bỉnh Dy
Năm: 1986
13. Trần Đăng Dong (2007), Các thể tích, dung tích và lưu lượng hô hấp, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể tích, dung tích và lưu lượng hô hấp
Tác giả: Trần Đăng Dong
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2007
14. Lê Thị Kim Dung (2003), Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc và chỉ số tỏa nhiệt của học sinh trung học cơ sở ở hai huyện miền núi phía bắc liên quan tới môi trường sống, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc và chỉ số tỏa nhiệt của học sinh trung học cơ sở ở hai huyện miền núi phía bắc liên quan tới môi trường sống
Tác giả: Lê Thị Kim Dung
Năm: 2003
15. Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà (1996), Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
16. Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên (1982), Về những thông số sinh lý học người Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những thông số sinh lý học người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1982
17. Trịnh Bỉnh Dy (1994), Tổng quan tài liệu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam,Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tài liệu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam,Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
18. Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Văn Tường (1996), Nghiên cứu chức năng phổi từ sau hội nghị hằng số 1972, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chức năng phổi từ sau hội nghị hằng số 1972, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy, Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Văn Tường
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
19. Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Y dƣợc, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp
Năm: 1992
21. Âu Xuân Đôn (1998), “Một số nhận xét về đặc điểm hình thái của học sinh dân tộc Khơ me ở An Giang (lứa tuổi 11 – 14)”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học thể chất sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb Thể dục Thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về đặc điểm hình thái của học sinh dân tộc Khơ me ở An Giang (lứa tuổi 11 – 14)”, "Tuyển tập nghiên cứu khoa học thể chất sức khỏe trong trường học các cấp
Tác giả: Âu Xuân Đôn
Nhà XB: Nxb Thể dục Thể thao
Năm: 1998
22. Phạm Thị Minh Đức, Lê Ngọc Hưng, Lê Thu Liên, Trịnh Hùng Cường, Bùi Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Khoan, Lê Bá Thúc (2009), Sinh lý học, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học
Tác giả: Phạm Thị Minh Đức, Lê Ngọc Hưng, Lê Thu Liên, Trịnh Hùng Cường, Bùi Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Khoan, Lê Bá Thúc
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2009
24. Lê Văn Hảo (1998), “Chỉ số cảm xúc (EQ)”, Tạp chí tâm lý học (4), tr.51-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số cảm xúc (EQ)”, "Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Lê Văn Hảo
Năm: 1998
25. Nguyễn Thị Hiên, Vương Thị Hòa (2008), “Nghiên cứu trạng thái căng thẳng cảm xúc và các loại hình thần kinh ở một nhóm sinh viên Y 3 , Đại học Y Thái Bình”, Tạp chí Y học Thực hành (629), tr.343-347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu trạng thái căng thẳng cảm xúc và các loại hình thần kinh ở một nhóm sinh viên Y3, Đại học Y Thái Bình”, "Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên, Vương Thị Hòa
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu (Trang 52)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn CCĐ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn CCĐ của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 66)
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 71)
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn VNTB của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 77)
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn chỉ số BMI của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 81)
Bảng 3.7. Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Bảng 3.7. Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 86)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 87)
Hình 3.6. Tần số tim trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.6. Tần số tim trung bình của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 90)
Bảng 3.17. Tần số hô hấp (nhịp/phút) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Bảng 3.17. Tần số hô hấp (nhịp/phút) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 104)
Bảng 3.22.  Thời gian phản xạ thị giác - vận động (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Bảng 3.22. Thời gian phản xạ thị giác - vận động (ms) của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 114)
Bảng 3.30. Khả năng chú ý của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Bảng 3.30. Khả năng chú ý của học sinh theo tuổi, dân tộc và giới tính (Trang 130)
Hình 3.7. Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa VC và chiều cao đứng của học sinh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.7. Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa VC và chiều cao đứng của học sinh (Trang 134)
Hình 3.9. Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ của học sinh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Hình 3.9. Đồ thị mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ của học sinh (Trang 140)
Bảng 34. Sự khác biệt về điểm cảm xúc H của học sinh nữ giữa các dân tộc theo tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái
Bảng 34. Sự khác biệt về điểm cảm xúc H của học sinh nữ giữa các dân tộc theo tuổi (Trang 194)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w