Lịch sử
Trang 1CHỈ ĐẠO NỘI DUNG Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Ninh
Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Uỷ viên Thường trực
Trang 2BAN BIÊN SOẠN
NGUYỄN SỸ Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ
Trang 3LỜI NHÀ XUẤT BẢNBắc Ninh là một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng
- Quảng Ninh; phía bắc và đông bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, phía đông nam
và nam tiếp giáp với tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, phía tây và tây bắc tiếp giápvới thủ đô Hà Nội
Là vùng đất giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng, ngay từ năm 1926những thanh niên, học sinh và trí thức yêu nước của Bắc Ninh với tố chất thôngminh đã sớm tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào địa phương, tiêu biểunhư Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt… và đã trở thành những lãnh
tụ xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam
Trong những năm lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩagiành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược vàxây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ luôn nắm vững quan điểm cách mạng tiếncông, không ngừng xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trịvững mạnh, củng cố khối liên minh công, nông, binh vững chắc, hoàn thành mọinhiệm vụ được giao
Đặc biệt, sau gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhândân Bắc Ninh đã quán triệt và triển khai nghiêm túc, vận dụng sáng tạo vào điềukiện cụ thể của địa phương, kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ cấu đầu tưđược điều chỉnh, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phát triển theo hướng sản xuấthàng hoá Dấu mốc quan trọng được ghi nhận là từ khi tỉnh được tái lập (năm1997), Bắc Ninh đã vươn lên mạnh mẽ: kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, là tỉnh
có tốc độ tăng trưởng cao thứ hai trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; đời sống,vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; văn hoá, y tế tiếp tục pháttriển và là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về giáo dục - đào tạo; thế trậnquốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được giữ vững; quan hệ kinh tế đối ngoạiđược mở rộng và phát triển; công tác xây dựng Đảng được thực hiện thường xuyên,
hệ thống chính trị được củng cố, hoàn thiện… Những thành tựu và kinh nghiệmtích luỹ trong hơn 80 năm qua cùng với truyền thống đoàn kết, sáng tạo đã trởthành hành trang quý báu để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh vững bước trêncon đường đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đấtnước
Để lưu lại những trang sử vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh trong suốtchặng đường hơn 80 năm qua; đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục truyềnthống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức biên
soạn, xuất bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008).
Trang 4Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của 3 tập sách Lịch sử Đảng bộ tỉnhBắc Ninh (1926-2000), nội dung cuốn sách được trình bày một cách khái quát,nhưng có hệ thống về chặng đường hơn 80 năm đầy vinh quang và gian khổ củaĐảng bộ và nhân dân Bắc Ninh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mớitoàn diện, sâu sắc và triệt để do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo và đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh
Chắc chắn cuốn sách sẽ là nguồn tư liệu quý để tuyên truyền, giáo dục truyền thốngyêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần cách mạng cho các thế hệ người ViệtNam nói chung, người Bắc Ninh nói riêng, nhằm tiếp tục xây dựng một nước ViệtNam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Mặc dù đã có nhiều cốgắng trong quá trình sưu tầm và biên soạn, song cuốn sách khó tránh khỏi còn thiếusót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau đượchoàn thiện hơn
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 8 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 5Lời giới thiệuPhần mở đầuVÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG
I ĐỊA GIỚI BẮC NINH QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
Bắc Ninh là một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh BắcGiang, phía đông nam giáp tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, phía tây và tây bắc giápthủ đô Hà Nội Bắc Ninh là vùng đất ngàn năm văn hiến; có gần 700 người đỗtrạng, nghè, cống; có Cổ Loa, Luy Lâu, Long Biên đã từng là thủ đô của nước ViệtNam; thời Bắc thuộc có nền kinh tế và văn hóa phát triển, là một địa bàn quân sựtrọng yếu của đất nước Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân địaphương từ đời này đến đời khác đã đổ nhiều xương máu đánh đuổi kẻ thù xâm lược
để giữ vững chủ quyền độc lập của Tổ quốc, quê hương; lao động tích cực và sángtạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cuộc sống ngày càng phồn thịnh vàhạnh phúc
Địa giới tỉnh Bắc Ninh qua các thời kỳ lịch sử như sau:
Thời Hùng Vương - An Dương Vương, đây là đất bộ Vũ Ninh trong nhà nước VănLang - Âu Lạc Dưới thời Lý, địa phương có tên là Lộ Bắc Giang Đến thời Hồ lạitách ra thành Lộ Bắc Giang và Lộ Lạng Giang
Sang thời Lê: Sau một thời gian mang tên là Bắc Đạo, đến năm 1469, dưới triều LêThánh Tông, đổi thành trấn Kinh Bắc Trên 4 thế kỷ, trấn Kinh Bắc ổn định sốlượng 20 huyện nằm trong 4 phủ 1)
Dưới triều Nguyễn: Năm 1823, trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh Năm 1831,trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh Thời kỳ này, tỉnh Bắc Ninh có 21 huyện 2),diện tích khoảng 6.000 km2, với số dân khoảng 70 vạn người
Thời thuộc Pháp: Tháng 10-1895, thực dân Pháp chia Bắc Ninh thành 2 tỉnh BắcNinh và Bắc Giang, lấy sông Cầu làm địa giới Trong những năm cuối thế kỷ XIX
và đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiếp tục thay đổi địa giới để cuối cùng tỉnh BắcNinh còn 10 phủ, huyện là: phủ Từ Sơn, phủ Thuận Thành, phủ Gia Lâm và cáchuyện Văn Giang, Gia Bình, Lang Tài, Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du, YênPhong
Ngày 19-10-1938, chính quyền thuộc địa Pháp ở nước ta quyết định nâng cấp thị xãBắc Ninh lên thành phố loại III
Trang 6Thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Bắc Ninh đặt dưới sự quản lýcủa Ủy ban hành chính Bắc Bộ, rồi Ủy ban hành chính Liên khu I, Liên khu ViệtBắc Để thuận lợi cho việc chỉ đạo, quản lý, Quốc hội, Chính phủ đã quyết địnhđiều chỉnh địa giới các huyện, xã của tỉnh Bắc Ninh như sau: Tháng 8-1950, huyệnGia Lương ra đời trên cơ sở hợp nhất Gia Bình và Lang Tài; tháng 4-1961, huyệnGia Lâm cùng một số xã của các huyện Thuận Thành, Tiên Du, Từ Sơn thuộc tỉnhBắc Ninh được chuyển giao về Hà Nội Tháng 10-1962; huyện Quế Võ ra đời trên
cơ sở hợp nhất Quế Dương và Võ Giàng; tháng 3-1963, huyện Tiên Sơn ra đời, saukhi Tiên Du, Từ Sơn đã chuyển một số xã sang Gia Lâm và Đông Anh; xã ĐôngThọ, xã Văn Môn chuyển sang Yên Phong, nhận của Yên Phong hai xã TươngGiang và Phú Lâm và từ Quế Võ hai xã Khắc Niệm và Võ Cường
Ngày 27101962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, với 14 huyện, 2 thị xã Ngày 01-4-1963, đơn vị hànhchính mới chính thức đi vào làm việc
-Sau 1/3 thế kỷ hợp nhất, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, ngày 6-11-1996 đã raQuyết định phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 1-1-1997,tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới Thị xã Bắc Ninhtrở thành thị xã tỉnh lỵ Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên gần 822,7 km2 với 1 thị
xã, 5 huyện, có 123 xã, phường, thị trấn; dân số 925.997 người, là tỉnh có mật độdân số cao (1.163 người/km2)
Sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập, để thuận lợi cho việc chỉ đạo, Quốc hội, Chínhphủ đã quyết định điều chỉnh địa giới các huyện, xã của tỉnh Bắc Ninh như sau: TạiNghị định số 68/1999/NĐ-CP ngày 9-8-1999, Chính phủ quyết định chia táchhuyện Gia Lương thành hai huyện Lương Tài và Gia Bình; tách huyện Tiên Sơnthành huyện Từ Sơn và Tiên Du Tháng 4- 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hànhNghị định số 37/2002/NĐ-CP thành lập đơn vị hành chính phường Suối Hoa, thị xãBắc Ninh và thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình Tháng 1-2006, Thủ tướng Chínhphủ ban hành Nghị định số 15/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Bắc Ninh Ngày24-9-2008, thị xã Từ Sơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số củahuyện Từ Sơn và thành lập một số phường thuộc thị xã Từ Sơn
Thời gian và sự thay đổi địa giới hành chính tuy đã làm cho diện mạo của tỉnh BắcNinh có những thay đổi, nhưng mảnh đất ngàn năm văn hiến, địa linh nhân kiệt,giàu truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng vẫn trường tồn vàphát triển
II CHINH PHỤC THIÊN NHIÊN, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
-XÃ HỘI
Trang 7Vùng đất Bắc Ninh xa xưa gồm các khối đồi gò bên cạnh các ô ruộng trũng, đầmlầy và rừng rậm Từ thời Lý đến thời Hồ (thế kỷ XI đến thế kỷ XV), rừng Báng(Đình Bảng) vẫn đầy ắp lâm lộc, hoa nghị và gỗ quý, đặc biệt là loại củ mài nhỏ cócông hiệu chữa bệnh hơn cả sâm Trung Quốc 3) Vào thời nhà Hồ, rừng ở đây vẫnkhai thác được hàng vạn cây ô mễ (tức gỗ mun) dùng vào việc rào sông, ngăn cửabiển đề phòng giặc Minh xâm lược Ở Cổ Loa, rừng vẫn bạt ngàn, trong rừng cũng
có loại củ mài là thứ đầu vị trong các thứ cống hiến, nó thú vị hơn cả củ mài ở rừngBáng 4) Ngày nay, dấu tích của rừng còn để lại trong các tên gọi như huyện ĐôngNgàn (huyện rừng), Núi Lim (núi của rừng gỗ lim), rừng Sặt (Trang Liệt), rừng Cả(Tam Tảo), rừng Mành (Giới Tế), cùng với rừng (trám, sấu, thông) trải kín núi đồivùng Đông Sơn, Phật Tích
Do sự biến cải của thiên nhiên và bằng sức lao động sáng tạo của biết bao thế hệnhân dân Bắc Ninh, các thảm thực vật đã được vùi lấp, các ô trũng và các vùngsình lầy đã được tạo dựng thành đồng ruộng, vườn bãi, ao hồ để trồng lúa, trồngngô, cây ăn quả và nuôi thả tôm, cá Sông Cầu, bắt nguồn từ Bắc Kạn, chảy qua địaphận Bắc Ninh từ ngã ba Sà (Yên Phong) đến Phả Lại có độ nước sâu từ 2m-6mtạo ra một đường thủy rất thuận lợi Sông Cầu còn bồi đắp phù sa tạo thành hàngtrăm hécta soi bãi màu mỡ, tạo điều kiện cho nhân dân gieo trồng rau màu vànhững nương dâu xanh tốt Sông Đuống vốn là dòng Thiên Đức được đào từ thời
Lý để nối sông Hồng với sông Thái Bình Sông rộng và sâu, nước chảy xiết, lượngphù sa trong nước tới 1,028-1,4 kg/m3 Đất ngoài đê sông Đuống bồi tụ hàng nămlên tới hàng nghìn hécta thuộc các huyện Tiên Sơn, Thuận Thành, Gia Lương, Quế
Võ Đây là loại đất nguyên dạng phù sa sông Hồng, tỷ lệ mùn cao, dinh dưỡng khá,phù hợp với nhiều loại cây trồng cho năng suất cao Nước sông Đuống đậm đặcphù sa nên hệ thống thủy lợi, thủy nông lấy nước tưới cho lúa, màu rất tốt SôngThái Bình hợp lưu ba dòng Đức: Thiên Đức (Đuống), Nguyệt Đức (Cầu), Nhật Đức(Thương), bắt đầu từ Phả Lại đến cửa Vạn Úc, dài 93 km, trong đó có 10 km hữungạn chảy qua Gia Lương, lòng sông rộng 300m-400m, độ sâu trung bình mùa cạncũng đến 8-9m, rất thuận lợi cho giao thông đường thủy
Hệ thống sông nhỏ, sông nội đồng phân bố khá dày đặc Sông Ngũ Huyện Khê sông Thiếp, từ Đông Anh đổ xuống, chảy vào sông Cầu tưới tiêu cho một vùngđồng ruộng rộng lớn thuộc các huyện Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ Sông TiêuTương khởi đầu từ Phù Lưu (Tiên Sơn), sông Ngụ (Gia Lương), sông Dâu (ThuậnThành) đều rất hữu ích cho nền nông nghiệp lúa nước
-Toàn bộ địa phận Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bìnhhàng năm là 23,50C, lượng mưa đạt 1.100 mm-1.200 mm/năm, có năm lên 1.800mm/năm Độ ẩm trung bình là 82,5% Khí hậu Bắc Ninh thuận lợi cho việc sinhtrưởng của lúa, màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và luân canh tăng vụ
Trang 8Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trầm tích sa bồi, với loại đấtchủ yếu là phù sa Đồng đất và khí hậu tạo cho nhân dân trong tỉnh sản xuất ra loạithóc gạo ngon nhất, xứng đáng với lời ngợi ca: Đạm thực diệc giai Kinh Bắc (cơmKinh Bắc ăn nhạt cũng ngon).
Từ xa xưa, nhân dân Bắc Ninh đã sớm chú ý đến sản xuất vật phẩm tiêu dùng, tiểuthủ công nghiệp Hệ thống làng nghề xuất hiện sớm như gò đúc đồng (Đề Cầu, ĐạiBái, Quảng Bố, Trang Liệt), đồ hàng sắt (Đa Hội, Đông Xuất, Ân Phú, Việt Yên,Thị Cầu, Nga Hoàng), đồ gốm (Bát Tràng, Phù Lãng), dệt vải lụa (Nội Duệ, LũngGiang, Duệ Đông, Tiêu, Hồi Quan, Xuân Ổ, Tam Tảo, Tam Sơn, Yên Phụ, PhùNinh, Thống Thiện, Thượng Mão, Lãng Ngâm, Bà Dương, Tuyên Bá, Lĩnh Mai,Ngọc Trì), nung gạch ngói (Xuân Ổ, Vĩnh Kiều, Tấn Bào, Tiêu Sơn, Lũng Giang),chạm đồ gỗ (Hương Mạc, Kim Thiều, Phù Khê), đồ sơn mài (Đình Bảng, Nội Trì,Lam Cầu, Phù Dực, Định Cương), cày bừa (Đông Xuất), giấy dó (Xuân Ổ, PhongKhê), tranh (Đông Hồ), thợ mộc, thợ xẻ (Thiết Úng, Kim Bảng, Phù Khê, Đồng
Kỵ, Đại Vi, Đỗ Xá, Tư Thế, Chi Nê ), thợ ngõa, thợ nề (Vĩnh Kiều, Tiêu Sơn, LễXuyên, Nội Duệ, Chi Nê, Ngăm Điền, Đặng Xá )
Hoạt động buôn bán ở Bắc Ninh cũng khá sôi nổi, ở các chợ kẻ bán người mua tấpnập, nhộn nhịp đông vui Chợ Bát Tràng ở huyện Gia Lâm, bờ bắc sông Nhị, nhiềuthuyền buôn tụ tập, mỗi ngày họp hai buổi sáng và chiều Chợ Giầu, huyện ĐôngNgàn, là chợ sầm uất vào loại nhất tỉnh Chợ Lim, huyện Tiên Du, bán nhiều tơsống Chợ Nội Trà, huyện Yên Phong, quán xá đông đúc, hàng hóa nhiều Dothương mại phát triển nên đã xuất hiện các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng (TừSơn), Xuân Cầu, Đa Ngưu (Văn Giang) có tới 70-80% số người trong làng làmnghề buôn bán
Dù làm ruộng, làm nghề thủ công hay buôn bán, từ thượng cổ cho đến ngày nay,nhân dân Bắc Ninh vẫn sống cùng nhau với mô hình cộng đồng làng xóm Máiđình, giếng nước, cây đa đã gắn bó dân làng với nhau hết sức keo sơn, tràn đầy tìnhnghĩa
Ở Bắc Ninh, đình không chỉ là nơi thờ thành hoàng của làng, là nơi tế tự và hộihọp; mà đình còn là nơi mở hội làng Mùa xuân; các làng, xã của Bắc Ninh đều vàođám và mở hội Mỗi hội có những nét riêng, nhưng nhiều người ca ngợi về hội Lim
- hội chùa và hội Quan họ với làn điệu dân ca trữ tình mượt mà độc đáo; hội PhùĐổng tượng trưng cho hội chiến trận, cho sức mạnh phi thường của ông Gióng; hộiĐình Bảng ca ngợi 8 đời vua Lý có công mở ra thời kỳ văn minh Đại Việt; hộiDâu, hội chùa Các hội chùa đã tạo ra không khí tươi vui, lành mạnh trong vùng
Về nghệ thuật, dân ca Quan họ Bắc Ninh với hàng trăm làn điệu trữ tình đượcnhiều người mê say, ngưỡng mộ
Trang 9Theo nhiều ngả khác nhau, Phật giáo đã vào Bắc Ninh từ đầu Công nguyên DòngNam Phương và Quan Bích là cơ sở chủ yếu của đạo Phật ở Việt Nam Đạo Thiênchúa xuất hiện ở Bắc Ninh vào đầu thế kỷ XVIII Thôn Tử Nê thuộc xã Phá Lãng(Lang Tài) đón nhận sớm nhất, rồi từ đó truyền bá sang các thôn Lai Tê, Nghĩa La,Hương La Sau đó các nhà truyền giáo tiếp tục dựng thêm cơ sở ở Phượng Mao,Phong Cốc (Quế Dương), Xuân Hòa, Quả Cảm (Võ Giàng), Ngô Khê, Đông Tảo(Yên Phong), Dũng Vi (Tiên Du), Cẩm Giang (Từ Sơn), Ngăm Điền (Gia Bình).
Nho giáo và Hán học vào Bắc Ninh từ đầu Công nguyên 5), để từ đó lan tỏa đi khắpđất nước Tuy nhiên đến thời nhà Lý, Nho giáo và Hán học mới được phát triển.Suốt chặng đường 826 năm (1075-1901), tham gia thi cử tại nơi cửa Khổng, nho sĩBắc Ninh đã giành nhiều vị trí hàng đầu cả về số lượng và học vị
Xứ Kinh Bắc có gần 700 người đỗ đại khoa Có trạng nguyên khai khoa Lê VănThịnh, quê xã Đông Cứu, huyện Gia Bình Khoa Mậu Thân (1508), nho sĩ BắcNinh chiếm giải Tam khôi: trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, người xã HươngMạc, huyện Đông Ngàn; bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh, người xã Như Nguyệt, huyệnYên Phong; thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm, người xã Phúc Khê, huyện ĐôngNgàn Ở xã Hoài Bão, huyện Tiên Du có Nguyễn Đăng Hạo thi hương, thi hội, thiđình, thi đông các đều đỗ đầu Sau đó Nguyễn Đăng Hạo đi sứ, nổi tiếng ở nướcTàu, được vua nhà Thanh phong tặng là khôi nguyên Em trai là Nguyễn ĐăngMinh đỗ cùng bảng và cháu gọi bằng chú là Nguyễn Đăng Đạo đỗ trạng nguyên.Gia đình Nguyễn Đăng là một vọng tộc ở huyện Tiên Du - trạng nguyên NguyễnĐăng Đạo 6) đi sứ, thông minh, tài giỏi kiệt xuất được phong lưỡng quốc trạngnguyên, Khi Nguyễn Đăng Đạo mất được vua ban cờ và câu đối:
Tiến sĩ thượng thư thiên hạ hữu Trạng nguyên tể tướng thế gian vô.
Dịch:
Thiên hạ có tiến sĩ làm chức thượng thư Thế gian hiếm trạng nguyên lại là tể tướng.
Xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn có bảng nhãn Ngô Đạm với chức hàn lâm thi thư,
dự hội Tao Đàn được phong tước Thái Bảo Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu là con.Tiến sĩ Ngô Diễn và Ngô Dịch là cháu ông Cha truyền con nối hiển đạt, là mộtdòng họ danh vọng ở Đông Ngàn
Trong biển học mênh mông suốt mấy trăm năm đó, làng Kim Đôi huyện Võ Giàng(nay là huyện Quế Võ) nổi bật hơn cả bởi sự đồ sộ về số lượng đại khoa
Trang 10Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: “Về những họ nối đời
hiển đạt như các họ ở làng Kim Đôi, Vịnh Kiều, Vân Điềm, Vọng Nguyệt đều hơn
cả một xứ… Làng Kim Đôi ở huyện Võ Giàng có họ Nguyễn từ Nhân Thiếp trởxuống ba đời thi đỗ 13 người Đầu thời Lê, năm anh em đồng thời cùng đỗ cả, concháu nối nhau đỗ cao, làm quan to trong triều”
Đại Nam nhất thống chí ghi đậm nét hơn: “Năm anh em cùng làm quan một triều,
đời bấy giờ ví anh em nhà này như Ngũ Quế ở Yên Sơn Thánh Tông từng bảo thịthần rằng: Kim Đôi gia thế, chu tử mãn triều (gia thế làng Kim Đôi áo đỏ áo tía đầytriều) Như thế là có ý khen ngợi nhiều lắm”
Châu Cổ Pháp xưa, nay là làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh là nơiphát tích vương triều Lý, một vương triều có 9 đời vua (1009-1225) với 216 năm trị
vì đã xây dựng nên nền văn minh Đại Việt
Với tư duy khoa học, nhìn xa trông rộng, vua Lý Thái Tổ thấy thành Hoa Lư không
đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: “ Trẫm rất đau đớn, không thể không dời Huống chi thành Đại La, đô cũ của CaoVương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắcđông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thếđất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươitốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếucủa bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời Trẫm muốn nhânđịa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” Bầy tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên
hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúngđược đông đúc giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo” “Vua rất mừng” 7) Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ
ở Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở nơi thuyền ngự, nhân
đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức,thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức 8).Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở Thiên Đức, tất cả ở 8
sở, đều dựng bia ghi công
Thăng Long rồng cuộn hổ ngồi đã tạo dựng nên văn minh Đại Việt và trước hết lànền văn minh lúa nước Vua Lý Thái Tông đích thân đi cày ruộng “Trẫm không tựcày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất thiên hạ?” 9) “ nhân dân thiếu ănthì xuống chiếu khuyến nông” 10) Lại chiếu rằng: “Trâu là một con vật quan trọngtrong việc cày cấy, lợi cho người không ít Từ nay về sau không được giết trâu ănthịt, ai làm trái thì trị tội theo pháp luật” 11) và hàng năm đến vụ lúa chín, vua LýThánh Tông, Lý Nhân Tông đều ngự giá kinh lý xem nhân dân gặt hái Công việc
tu bổ đê điều chống hạn lụt cũng được các triều đại hết sức chú trọng Nghề trồng
Trang 11dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa cùng nhiều nghề thủ công mỹ nghệ phát triển mạnhmẽ.
Mùa thu, tháng 8 năm Canh Tuất (1070) làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, ChuCông và Tứ Phối 12), vẽ tượng Thất thập nhị hiền 13), bốn mùa cúng tế Hoàng thái
Tháng 9 năm Nhâm Ngọ (1042), vua Lý Thái Tông xuống chiếu về việc phú thuếcủa trăm họ “ lấy quá thì xử theo tội ăn trộm; trăm họ có người tố cáo được thaphú dịch cho cả nhà trong 3 năm; người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng chobằng hiện vật thu được Nếu quản giáp, chủ đô và người thu thuế thông đồng nhauthu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu, nhưng có người tố cáo thì quản giáp (quản giáp làquan châu giữ việc kinh), chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau” 16)
“Ban sách hình thư”, “ làm sách hình luật của một triều đại, để cho người xem dễhiểu”17), “ cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân, để ai có nói việc gì thì bỏ thư vàotrong ấy”18)
Như vậy, chế độ phong kiến tập quyền nhà Lý đã chú trọng xây dựng pháp luật đểcai trị, thiết chế quản lý nhà nước của vương triều Lý đã đưa xã hội vào kỷ cươngkhuôn phép, ổn định và phát triển
Một điểm nổi bật của vương triều Lý là Hoàng thái hậu Ỷ Lan, một nhà nhiếpchính tài giỏi mà sự nghiệp của bà sống mãi với non sông đất nước
Tục truyền rằng, vua Lý Thánh Tông đi khắp các chùa quán, “xa giá vua đi đếnđâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu
cứ đứng nép trong bụi cỏ lan Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu,phong làm Ỷ Lan phu nhân”19)
Bính Ngọ (1066), “Mùa xuân, tháng giêng, ngày 25 giờ Hợi, Ỷ Lan sinh Hoàng tửCàn Đức Ngày hôm sau, lập làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, phong mẹHoàng thái tử là Ỷ Lan phu nhân làm thần phi” 20) Vua đi đánh giặc Chiêm Thành,giao cho Ỷ Lan phu nhân quyền nhiếp chính, khi trở về “đến châu Cư Liên, nghetin Nguyên Phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hóa hoà hợp, trong cõi vững vàng,tôn sùng Phật giáo, dân gọi bà là Quan Âm, vua nói: Nguyên phi là đàn bà còn làm
Trang 12được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao! Bèn quay lại đánh nữa,thắng được” 21) Ỷ Lan được nhân dân gọi là Quan Âm có nghĩa là sự đức độ, lòngnhân ái, bác ái của Ỷ Lan như Phật bà Quan Âm bồ tát.
Ngày 25 tháng giêng năm Nhâm Tý (1072), Hoàng thái tử Càn Đức lên ngôi hoàng
đế - tức Lý Nhân Tông, khi ấy mới 7 tuổi Ỷ Lan trước đây đã giúp chồng nhiếpchính nay lại giúp con
Khi giặc Tống chuẩn bị tiến công Đại Việt, vua biết tin sai Lý Thường Kiệt chủđộng đánh thành Ung Châu của quân nhà Tống Giặc Chiêm Thành ở phía namcũng bị Lý Thường Kiệt dẹp tan, giữ yên bờ cõi
Đến tháng 3 năm Bính Thìn (1076), nhà Tống sai tướng Quách Quỳ và Triệu Tiếtmang quân xâm lược nước ta Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã giúp vua nhiếp chính sai
Lý Đạo Thành, quan phụ chính, lo việc chính sự trong triều đình Cử Lý ThườngKiệt thống lĩnh đại quân củng cố chiến tuyến sông Cầu, lũy cao, hào sâu và đóngquân ở Yên Phụ, Đại Lâm (Yên Phong), lập căn cứ thủy quân ở Vạn Xuân (QuếDương) Quân sĩ nhà Tống đã bị tướng quân Lý Thường Kiệt cùng quân và dân ĐạiViệt đánh cho tan tành, buộc phải giảng hòa rút chạy về nước Cuộc xâm lược lầnthứ hai của quân Tống hoàn toàn bị thất bại
“Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ” 22).
Bài thơ trên là bản anh hùng ca bất hủ, được coi là lời tuyên ngôn độc lập của nướcĐại Việt
Trang 13Bắc Ninh đã sản sinh và cung cấp cho đất nước một đội ngũ trí thức tài đức, hiểurộng biết nhiều, có nhãn quan tinh tế Họ là nhà ngoại giao, nhà thơ, nhà quản lýxuất sắc của đất nước.
Trong dòng văn học thành văn bằng chữ Hán - còn gọi là văn học Hán học, dòngthơ thiền với tên tuổi của Nguyễn Học, Thiền Lão, Lâm Khu, Tô Minh Trí (YênPhong), Vạn Hạnh, Đàm Cứu Chỉ, Phạm Thường Chiếu, Vương Minh Thiềm, LýNgọc Kiều (Từ Sơn), đã đem vào thi ca sự khoáng đạt, những tâm niệm về nhânsinh với những nét đặc sắc Việt Nam
Đội ngũ văn nhân thi sĩ Bắc Ninh vào thời Lê đã để lại nhiều ấn phẩm có giá trị: Vũ
Mộng Nguyên với Vị khê thi tập; Nguyễn Thiên Tích có Tiên Sơn thi tập; Đào Cừ, Đàm Văn Lễ cùng biên soạn Thiên Nam dư học tập; Thái Thuận có Lã Đường thi tập; Đàm Thận Huy có Mạc trai thi tập; Nguyễn Giản Thanh có Thượng Côn châu ngọc tập; Nguyễn Đăng Đạo có Phụng sứ tập; Nguyễn Công Hãng có Trịnh xà thi tập; Nguyễn Gia Thiều có Cung oán ngâm khúc; Đoàn Thị Điểm có Chinh phụ ngâm; Lê Ngọc Hân có Ai tư vãn Phơi bụng viết kinh là quan thám hoa người Hoài
Bão - Nguyễn Đăng Hạo, tài hoa độc đáo lưu danh muôn thủa Người nhà Thanh(Trung Hoa) bấy giờ kính phục than rằng: “địa linh nhân kiệt đời nào cũng có,nhưng vượt trội hơn cả từ nay về sau chỉ có một Đăng Hạo” 23)
Mạch văn học ấy dưới thời Nguyễn cũng phát triển với những tên tuổi như HoàngVăn Hòe, Cao Bá Quát, Nguyễn Cao, Nguyễn Tư Giản Đến nay, Bắc Ninh lại rấtđỗi tự hào là quê hương của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng như Ngô Tất
Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Trần Đức Thảo, HoàngTích Chu, Nam Xương, Thế Lữ, Nguyễn Ngọc Tuyết, Hoàng Cầm, Hồ Bắc, Huy
Du, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Phan Hách và bao tài năng trẻ khác Những tácphẩm văn học và nghệ thuật cùng với những tên tuổi của các tác giả ấy là niềm tựhào và sẽ sống mãi cùng với quê hương, đất nước
Người Bắc Ninh thanh lịch, hào hoa, thông minh, sáng tạo Các thế hệ người BắcNinh có tính cộng đồng cao, luôn đoàn kết thủy chung bên nhau, vượt khó đi lênxây dựng quê hương, đấu tranh dũng cảm, kiên cường bảo vệ quê hương, đất nước.III TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG
Trang sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Bắc Ninh có từ thời HùngVương thứ 6
Trước họa xâm lăng do giặc Ân gây nên, nhân dân bộ Vũ Ninh đã có chàng trailàng Gióng vụt lớn, đứng lên cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đằng ngà đánh đuổi kẻ thù khỏi
bờ cõi Núi Vệ Linh đã chứng kiến lần cuối cùng Phù Đổng Thiên Vương trở về cõitrời sau khi hoàn thành nhiệm vụ Tất cả vẻ đẹp, hình tượng ấy đã làm tỏa sáng
Trang 14truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân Bắc Ninh như lời Cao Bá Quátcảm khái:
“Đánh giặc còn hiềm ba tuổi muộnLên mây chín tầng hận chưa cao”
Cuối thời Hùng Vương, nhà nước Âu Lạc ra đời với Cổ Loa thành kiên cố và nỏliễu phòng chống giặc ngoại xâm Tác giả của các công trình quân sự này là Cao
Lỗ, quê ở Tiểu Than (Vũ Ninh) Nhờ đó, vào năm 218 trước Công nguyên, quânđội Âu Lạc đã giành được thắng lợi quan trọng Tướng nhà Tần là Đồ Thư bị giết.Mấy chục vạn quân Tần phải rút lui
Đến tháng 11 năm 210 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng chết ở Sa Khâu, lợidụng cơ hội ấy Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân vào Âu Lạc nhưng bị đánh bại,bèn tìm cách đánh cắp bí mật quân sự của Cao Lỗ chiếm cao điểm Tiên Du tấncông Cổ Loa
Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà bất ngờ tấn công, chiếm được Cổ Loa Đấtnước Âu Lạc rơi vào tay kẻ thù phương Bắc
Thâu tóm được Âu Lạc hơn 60 năm thì nhà Triệu bị Tây Hán tiêu diệt Đến đầuCông nguyên, nhà Đông Hán lên thay, vùng đất Bắc Ninh thuộc quận Giao Chỉ.Dưới sự cai trị của thái thú Tô Định, cuộc sống nhân dân vô cùng khổ cực
Không cam chịu kiếp sống nô lệ, mùa xuân năm 40, cuộc khởi nghĩa Mê Linh doTrưng Trắc, Trưng Nhị lãnh đạo bùng nổ, nhân dân địa phương đã vùng đứng dậyhưởng ứng với những tên tuổi như Nguyệt Thai, Nguyệt Độ, Ả Lã - Rộng Nhị, ẢTắc - Ả Dị, Diệu Tiên - Pháp Hải, Doãn Công- Đào Nương và hàng chục danhtướng khác Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc khởi nghĩa Mê Linh đã giành thắnglợi Luy Lâu, Long Biên và 63 thành trì khác được giải phóng Bản anh hùng ca bấtdiệt của một thời vô cùng oanh liệt, những tấm gương anh dũng vô song của phụ nữBắc Ninh ngàn năm còn ngời sáng
Liền trong mấy thế kỷ, nhân dân địa phương phải sống dưới ách thống trị của nhàNgô, nhà Tần, nhà Tề, nhà Đường Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, đã nhậnđược sự hưởng ứng kịp thời của Tuy Ông (Lập Ái, Gia Bình); Nguyễn Thi, NguyễnQuảng, Nguyễn Vân (Đông Côi, Thuận Thành); Trương Hống, Trương Hát (VânMẫu, Quế Dương) cùng nhiều hào trưởng khác như Tinh Thiều, Triệu Túc, Phạm
Tu, Lý Phục Man Sau khi chiếm được lỵ sở Giao Châu, ông lên ngôi lấy hiệu là
Lý Nam Đế, lập nước Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên 24)
Trang 15Năm 545, quân nhà Lương từ Trung Quốc kéo sang, chiếm lại được Long Biên.Cuối năm 548, Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục con của Triệu Túc lên thay rút
về đầm Dạ Trạch hoạt động suốt ba năm Lợi dụng tướng nhà Lương là Trần BáTiên đem quân về Trung Quốc cướp ngôi, Triệu Quang Phục đã tổ chức phản công,giết chết Dương Sàn, giành lại Long Biên rồi lại lên ngôi lấy tên là Triệu ViệtVương
Hơn 20 năm sau, Lý Phật Tử đoạt quyền Trương Hống, Trương Hát và nhiều tướnglĩnh khác không theo đã tự vẫn Năm 602, Lý Phật Tử - tức hậu Lý Nam Đế, hènyếu, đẩy nước ta vào vòng Bắc thuộc như những thế kỷ trước
Năm 980, đất nước vừa giành được quyền độc lập, nhà Tống lại lăm le thôn tính.Nhận biết vị trí quan trọng của vùng Thiên Đức, Lê Đại Hành đã đích thân chỉ đạoviệc xây thành Bình Lỗ trên sông Cầu kéo từ Yên Phong đến Võ Giàng
Tuy quân Tống bị chặn trước sông Cầu, nhưng một vài cánh quân của chúng đã đếnđược Hoa Bộ (Hoa Lâm), hợp quân ở Đa La (Đa Hội, Đa Vạn) vào tháng 4-981.Tướng giặc Hầu Nhân Bảo bị giết ở Bình Lỗ Hai cánh quân của Tôn Toàn Hưng,Lưu Trường bị đánh bật khỏi Hoa Bộ, chết hơn một nửa, xác chất đầy đồng, phảitheo đường sông chạy ra biển Các tướng Quách Quang Biện, Triệu Phụng Huân bịbắt sống
Lê Đại Hành tiếp tục xuôi sông Cầu, sông Thái Bình đuổi giặc Chàng Dì, một thủlĩnh quê ở Dị Sử (Lang Tài) đã đem toàn bộ lực lượng của mình tham gia truy kích,bất ngờ tập kích vào trại quân của địch, giành nhiều thắng lợi lớn, được triều đình
cử làm thống lĩnh các đạo quân binh 25)
Năm 1073, dưới triều Lý Nhân Tông, một lực lượng thủy quân lớn của địch từ phíaChiêm Thành đã vượt biển vào sông Thái Bình để tiến sâu vào nội địa Đại Việt.Chúng đã bị quân và dân Đại Việt đánh lui
Cuối năm 1075, với chủ trương đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc (Tiêuphát chế nhân), Lý Thường Kiệt đem hơn 10 vạn quân thủy bộ bất ngờ tập kích vàocác căn cứ quân sự, hậu cần của quân Tống mà trung tâm của nó là thành UngChâu
Mùa xuân năm 1076, tại chiến tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt cùng quân và dânĐại Việt đã đập tan cuộc xâm lược lần thứ hai của quân nhà Tống
Cuối thế kỷ XIII, dưới triều Trần, Bắc Ninh lại trở thành hướng chính của cuộcxâm lược do quân Nguyên tiến hành vào năm 1285 và 1288 Với khí thế của Hộinghị Bình Than, nhân dân địa phương đã hăng hái tham gia xây dựng phòng tuyến
từ Phả Lại đến Châu Cầu, Lãm Sơn, Nghi Vệ, Phật Tích Hơn 1.000 chiến thuyền
Trang 16được điều đến đóng giữ ở Bình Than, Vạn Tải và Vũ Dương Lý Nương tập hợpđược nhiều dân binh ở xã Xuân Ổ Châu Nương quê ở Đình Bảng cùng chồng làTrần Thái Bảo đã lập được nhiều chiến công ở Châu Hoan và gìn giữ kho tàng tạiThăng Long.
Cuối năm 1327, nửa triệu quân Nguyên lại tràn vào Đại Việt Nhân dân Đại Than,Bình Than, Châu Cầu, Thất Gian, Phù Than, Tiểu Than, Văn Than, Cao Trụ, BàDương đã tham gia lấp cửa Đại Than góp phần vào chiến thắng kẻ thù lần thứ ba,giữ vững nền độc lập của đất nước Đại Việt
Nhà Trần lâm vào tình cảnh vui chơi hưởng lạc, trễ nải việc nước, nhân cơ hội ấy,cha con Hồ Quý Ly cướp ngôi Trước tình hình ấy, đầu năm 1407, nhà Minh phátđộng cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, từ đó nhân dân nước ta phải sống trongcảnh đô hộ của nhà Minh
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh đã thu hút nhiều thanh niên BắcNinh vào hàng ngũ nghĩa quân Ngô Đễ người Khánh Lâm (Rừng Mành) “có nhiềuchiến công, được Lê Lợi phong công thần thống lãnh đại tướng quân” 26) NguyễnNghi người Dương Sơn, nhờ lập được nhiều chiến công, được phong hùng uytướng quân Thành Điêu Diêu (Gia Lâm) của quân Minh bị hạ vào tháng 2 và tháng3-1427, quân Minh do Đường Bảo Trinh chỉ huy đóng tại thành Thị Cầu buộc phảiđầu hàng, đều có sự tham gia của nghĩa quân và nhân dân địa phương Bắc Ninh
Chiến thắng Điêu Diêu, Thị Cầu góp phần quan trọng trong sự nghiệp đánh đổ áchthống trị của nhà Minh tồn tại 20 năm (1407-1427) ở nước ta
Năm 1873, thực dân Pháp gây ra sự biến Quý Dậu, xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất.Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hòe, các đội nghĩa dũng của địaphương đã sát cánh cùng quân đội của triều đình do Phạm Thận Duật, TrươngQuang Đảng chỉ huy, tiêu diệt chốt đóng quân của địch ở Gia Lâm (ngày 04-12-1873), giải phóng Siêu Loại (ngày 21-12-1873) bắt sống hàng trăm tên
Chưa chiếm được Bắc Kỳ, đầu năm 1882, thực dân Pháp lại tiến hành xâm lược lầnthứ hai, Nguyễn Cao một lần nữa lại phối hợp với các đội nghĩa dũng bao vây địch
ở Đồn Thủy, đột nhập Hàng Đậu, tấn công Cửa Đông Nhân dân hai huyện Tiên
Du, Đông Ngàn đã khẩn trương xây dựng một chiến lũy từ làng Đình Bảng đếnsông Đuống, đề phòng thực dân Pháp đánh chiếm thành Bắc Ninh
Mùa xuân năm 1884, thành Bắc Ninh bị thất thủ Nhân dân địa phương sát cánhcùng đội quân Tam tỉnh nghĩa đoàn do Nguyễn Cao, Dương Khải, Ngô Quang Huy27) và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo đánh giặc Khi Nguyễn Cao hy sinh và phongtrào Tam tỉnh nghĩa đoàn tan rã, họ lại có mặt trong đội ngũ của Đội Văn 28) gây
Trang 17cho địch nhiều thiệt hại trên địa bàn các huyện Lang Tài, Gia Bình, Siêu Loại, TiênDu.
Đầu thế kỷ XX, phong trào Trung châu ứng nghĩa đạo có cơ sở ở Từ Sơn, VănLâm, Thuận Thành với 300 cây súng sẵn sàng hỗ trợ cùng nghĩa quân Yên Thếđánh chiếm Hà Nội Cử nhân Nguyễn Văn Đảng, người Nội Duệ (Tiên Du), đã tổchức tại nhà mình với sự có mặt của các chí sĩ Phan Bội Châu, Nguyễn ThượngHiền để hợp nhất hai nhóm Ám xã và Minh xã Sau đó xây dựng phân hiệu ĐôngKinh Nghĩa Thục ở Phù Ninh (Tiên Du) Nhiều nhân sĩ khác như Ngô Gia Du(Tam Sơn); Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Văn Duyên (Phù Khê) đã tham gia phongtrào rất tích cực Đặc biệt là tú tài Hoàng Tích Phụng, quê ở Phù Lưu (Từ Sơn), tuyđang làm tri huyện nhưng vẫn hòa nhập vào các cuộc vận động công khai và là mộtthành viên trong ban Hán học của nhà trường
Truyền thống yêu nước chống giặc phương Bắc, chống thực dân Pháp xâm lượccủa các thế hệ nhân dân Bắc Ninh đã hun đúc và tạo tiền đề cho công cuộc vậnđộng cách mạng giải phóng dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo củaĐảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tứcChủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện
_
1
- Phủ Thuận An gồm có: Gia Lâm, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Lang Tài
- Phủ Từ Sơn gồm có: Tiên Du, Đông Ngàn, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong
- Phủ Bắc Hà gồm có: Hiệp Hoà, Yên Việt, Kim Thoa, Yên Phúc
- Phủ Lạng Giang gồm có: Yên Dũng, Phương Nhỡn, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn, Hữu Lũng
2 Năm 1867 thành lập thêm huyện Đông Anh, cộng với 20 huyện của trấn Kinh Bắc thành 21 huyện
3, 4 Lê Quý Đôn: Thượng kinh phong vật chí.
5 Đền và lăng Sĩ Nhiếp - học tổ Sĩ Vương, hiện còn tại làng Tam Á, huyện Thuận Thành
6 Đỗ Trọng Vĩ: Bắc Ninh Dư địa chí, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997, tr
68
7 Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, t.1, tr.249.
8 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr 249 - 250.
Trang 189, 10, 11 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.190, 191, 214.
12 Tứ Phối tức là: Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ phụ với thầy ở Văn Miếu
13 Thất thập nhị hiền: 72 học trò giỏi của Khổng Tử
14 Chùa Tiên Du: ở núi Tiên Du thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, còn có tên
là núi Phật Tích, lại có tên là núi Lạn Kha (do truyền thuyết nói Vương Chất vào núi đốn củi, chống cán rìu xem hai ông già đánh cờ, tan cuộc nhìn lại thấy cán rìu
đã mục nát)
15 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd
16, 17, 18 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.289.
19, 20 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.289.
21 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.295.
22 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.238.
23 Đỗ Trọng Vĩ: Bắc Ninh Dư địa chí, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997,
tr.63
24 Chưa có đủ cứ liệu chính xác thủ đô Long Biên ở đâu Nhưng nhiều nhà sử học cho rằng là ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành) Hiện ở đình Long Khám vẫn còn bức đại tự Vạn Xuân đế quốc Lại có miếu thờ Phụ mẫu thánh tự, khải thánh từ Đình Đông Mai thờ Dương Mai công chúa, tức bà Hứa Trịnh Hoà Hàng chục làng dọc Ngũ Huyện Khê và sông Cầu thờ Trương Hống, Trương Hát Đình Lập Ái thờ Tuy Ông và đình Đông Côi thờ 3 anh em họ Nguyễn
25 Theo thần tích thôn Đông Hương
26 Xem Đại Nam nhất thống chí.
27 Nguyễn Cao, sinh năm 1837 tại Cách Bi (Võ Giàng) đã đỗ cử nhân Dương Khải, người Chương Xá, tổng Bình Ngô (Thuận Thành) đỗ cử nhân Năm 1852 Ngô Quang Huy quê ở An Lạc (Văn Giang) đỗ cử nhân, làm quan đến đốc học, là chiến hữu của Nguyễn Cao, Dương Khải
28 Đội Văn họ Vương quê ở Thái Lạc (Văn Giang)
Bắc Ninh là một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam, là tỉnh có truyền thốngvăn hiến và cách mạng, vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi phát tích vương triều Lý
- đã tạo dựng nền văn minh Đại Việt Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựngnước và giữ nước, Bắc Ninh đã sản sinh nhiều danh nhân, thi sĩ nổi tiếng tiêu biểunhư Lê Văn Thịnh, Hàn Thuyên, Hoàng Sỹ Khải, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Gia
Trang 19Thiều, Đoàn Thị Điểm, Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng… làm rạng rỡ non sôngđất nước ta Nhân dân Bắc Ninh cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiêncường, anh dũng trong đấu tranh, luôn tự lực tự cường, ý thức cộng đồng sâu sắc,phấn đấu vươn lên xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh
Bắc Ninh là một tỉnh có phong trào cách mạng sớm Ngay từ những năm 20 của thế
kỷ XX, nhiều thanh niên, học sinh yêu nước đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin,giác ngộ cách mạng, trở thành những lãnh tụ xuất sắc của Đảng và cách mạng ViệtNam, như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt…
Hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bắc Ninh luôn đoàn kết, khắcphục khó khăn, vượt qua thử thách, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trongđấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới
Để tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhândân, ngay sau khi tái lập tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời đã có chủ trương vàthành lập Ban Chỉ đạo biên soạn, xuất bản Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh Sau gần
10 năm (1997-2005) nghiên cứu, biên soạn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xuất bản 3
tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2000).
Năm 2010, có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, kỷ niệm 1000 nămThăng Long - Hà Nội, Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI của Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh tổ chức biên soạn, bổ sung
và tái bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008) trên cơ sở kế
thừa những kết quả nghiên cứu và nội dung của 3 tập Lịch sử Đảng bộ đã xuất bản
và biên soạn tiếp giai đoạn 2001-2008
Cuốn sách được hoàn thành là kết quả sự chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, trách nhiệm cao của tập thể Ban chỉ đạo, Ban biên soạn và sự độngviên giúp đỡ của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh qua các thời kỳcùng đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh Ban Thường vụ Tỉnh uỷBắc Ninh chân thành cảm ơn sự phối hợp, giúp đỡ và đóng góp quý báu đó
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn và biên tập, song cuốn sách khótránh khỏi thiếu sót Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc đểlần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008)
với bạn đọc
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC NINH
Trang 20Phần thứ nhất: Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi
nghĩa giành chính quyền tháng tám năm 1945 (1926-1945)
Chương I: QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ ĐÔNG DƯƠNG
CỘNG SẢN ĐẢNG (1926-1930)
I BỐI CẢNH TỈNH BẮC NINH ĐẦU THẾ KỶ XX
Tỉnh Bắc Ninh có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng ở Bắc Kỳ về nhiều lĩnh vực,trong đó có khu vực Gia Lâm bao bọc phía bắc Hà Nội, án ngữ trục giao thông nốigiữa trung tâm đồng bằng Bắc Bộ với đồng bằng duyên hải, có thành Bắc Ninh trấngiữ các đầu mối đường bộ nối liền Phả Lại - Hải Dương, có giang cảng Đáp Cầukhống chế trung lưu sông Cầu, sông Đuống và sông Lục Đầu Mùa xuân năm 1884,thực dân Pháp đã huy động một lực lượng gồm 16.300 binh sĩ với nhiều chiếnthuyền cùng với 55 đại bác yểm trợ do trung tướng Milô (Millot), hai thiếu tướngBrieđờ Lin (Briede L’Isle) và Nêgriéc (Négrier) chỉ huy tiến đánh tỉnh Bắc Ninh.Ngay từ khi đặt chân vào cửa ngõ Bắc Ninh, kẻ thù đã vấp phải sự kháng cự mạnh
mẽ của nhân dân trong tỉnh dưới sự lãnh đạo kiên quyết của các sĩ phu Hoàng VănHòe (1884-1885), Nguyễn Cao (1884-1887), Dương Khải, Ngô Quang Huy, ĐộiVăn (1884-1889) Đội quân viễn chinh Pháp càng tiến sâu và mở rộng xâm lược,chúng càng vấp phải các cuộc khởi nghĩa do Cai Kinh - Cai Bình (1884-1887),Tuần Xô - Đề Vang (1886-1889) lãnh đạo và đã gây cho chúng biết bao thảm bại
Để đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình đánh chiếm và thống trị, thực dân Pháp cònthực thi nhiều biện pháp nhằm làm suy yếu tính cố kết truyền thống của nhân dânbằng cách chia nhỏ tỉnh Bắc Ninh vốn chỉ rộng khoảng 6.000 km2, với 21 phủhuyện và 700.000 dân thành nhiều địa phương khác nhau, với các chế độ cai trịkhác nhau (quân quản, bán quân quản, dân sự) để cuối cùng chỉ còn tỉnh Bắc Ninhnhỏ bé (1.100 km2, 11 phủ huyện, 350.000 dân) Việc thay đổi địa giới, tách nhậpđất đai kể trên là nhằm thực hiện chính sách chia để trị
Thực dân Pháp khuyến khích vui chơi, tăng nồng độ của rượu cồn, thuốc phiện vàgái điếm; triệt để sử dụng bộ máy quản lý làng, xã cũ bằng cách tiến hành các đợtcải lương hương chính vào các năm 1921-1927, nhằm ru ngủ tinh thần dân tộctrong nhân dân ta, nhất là thế hệ thanh niên
Chưa hoàn toàn yên tâm ở những biện pháp vô hình nhưng hữu hiệu kể trên, thựcdân Pháp còn áp đặt lên Bắc Ninh một bộ máy quân sự đồ sộ với doanh trại củaTiểu đoàn pháo thủ số 3 Bắc Kỳ trong thành Bắc Ninh, đại bản doanh của Lữ đoàn
4 Quân khu miền đông ở Thị Cầu - Đáp Cầu, cùng nhiều trại lê dương, trại pháothủ và sân bay Gia Lâm
Trang 21Thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất, thực dân Phápđua nhau nhảy vào cướp đất, lập đồn điền Tính đến năm 30 của thế kỷ XX, toàntỉnh Bắc Ninh có 23 đồn điền, chiếm 13.271 ha, có ở hầu hết các huyện như Mácty(Marty), Loady (Loisy) ở Gia Lâm; Poanớp (Poineuf), Giônétcô (Jonesco) ở QuếDương; Bracôni (Broconir), Luít (Louis), Lôi (Lauise) ở Võ Giàng; Đôloóc(Dolorge) ở Gia Bình Ngoài ra còn phải kể đến một số đồn điền của địa chủ kiêm
tư sản người Việt như Vũ Văn An (ở Yên Phong), Nghiêm Xuân Quảng (ở GiaLâm), Trần Văn Tư (ở Từ Sơn), Trần Quang Huy (ở Thuận Thành), Hàn Sĩ Thiện(ở Gia Bình), Nguyễn Huy Tường, Nguyễn Huy Oanh (ở Lang Tài), Phùng VănQuân, Ngô Đình Bách, Nguyễn Bất (ở Quế Dương)
Hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt và đường không trên địa bàntỉnh Bắc Ninh cũng được thực dân Pháp chú trọng mở mang Đường thuộc địa số 1được làm năm 1885 với các đoạn đường số 55 (Gia Lâm - Đáp Cầu), đường số 60(Đáp Cầu - Lạng Sơn) Các tuyến Gia Lâm - Hải Phòng, Bắc Ninh - Phả Lại, BắcNinh - Hải Dương, Bắc Ninh - Đò Lo cũng lần lượt được xây dựng Nơi đây còn làđầu mối của các tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội - Hải Phòng, HàNội - Vân Nam tại các giao điểm Gia Lâm, Yên Viên Về đường thủy, “Đáp Cầu làmột thành phố tương lai và sẽ là trung tâm thương mại người Âu châu của tỉnh, nhờ
có mực nước sâu nên tàu thuyền buôn bán có thể ra vào” 1) Giang cảng này có cảkhách sạn hạng sang, có chi nhánh của hãng sửa chữa và đóng tàu SACRIC(Société anonymel de Chalandage et Remorquage de I’IndoChine) đặt trụ sở tại HảiPhòng
Năm 1909, Nhà máy điện và cơ sở sản xuất nước đá (Công ty Vâyren), Nhà máygạch ngói (Công ty ngói Đông Dương), Nhà máy pháo của Công ty sản xuất pháoĐông Dương, được xây dựng tại Đáp Cầu Tại Gia Lâm có Nhà máy gạch Hưng
Ký (còn gọi là Nhà máy gạch Du Lâm) xây dựng năm 1921, sử dụng 300 côngnhân Tại thị trấn Gia Lâm, ngoài Nhà máy sửa chữa xe lửa của Công ty đường sắtPháp - Vân Nam còn có Nhà máy sơn (xây dựng năm 1921), Nhà máy khuy trai,Nhà máy rượu (xây dựng năm 1928)
Thị xã Bắc Ninh là một trung tâm xuất khẩu nông sản (chủ yếu là xuất khẩu thócgạo), hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là mặt hàng thêu ren đã có vị trí đáng kể trênthị trường Mỹ, Pháp cũng như các hội chợ ở Pari, Mácxây (Pháp), Brúcxen (Bỉ) và
Hà Nội Hoạt động của các làng nghề chuyên buôn bán, các làng nghề tiểu thủ côngnghiệp trở nên sôi động: phụ nữ Nội Duệ (Tiên Du) buôn bán khắp trong Nam,ngoài Bắc, đàn ông làm thợ xây dựng ở khắp nơi; Đình Bảng vừa buôn bán, vừanhuộm thâm Các làng gò đồng ở Đại Bái, đúc đồng ở Quảng Bố (Gia Bình), giátvàng ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm) có nhiều hộ chuyển sang hành nghề ở Hà Nội
Sự phát triển và mở rộng phương thức sản xuất mới đã khiến cho xã hội Bắc Ninhbiến đổi và phân hóa mạnh mẽ Số lượng giai cấp địa chủ tuy ít nhưng có tiềm lực
Trang 22lớn về kinh tế và địa vị chính trị ở nông thôn Giai cấp nông dân đông đảo về sốlượng nhưng ngày càng lún sâu vào con đường bần cùng hóa, họ phải làm tá điền,lĩnh canh ruộng của địa chủ người Pháp và người Việt, bị tô cao thuế nặng, sưuthuế đè nặng làm cho nhiều người không trụ nổi, phải dời bỏ quê hương và nhữngngười thân đi làm phu ở vùng mỏ than Hồng Gai, Cẩm Phả, Vàng Danh hoặc vàolàm phu ở các đồn điền cao su Nam Bộ và đi làm nô lệ cho bọn chủ tư bản ở TânĐảo Giai cấp tư sản nhỏ bé về số lượng, yếu ớt về thế lực kinh tế (vì tư bản Pháp
và Hoa kiều chèn ép, phương thức phong kiến kìm hãm) dẫn đến sự bạc nhược vềchính trị
Giai cấp công nhân Bắc Ninh được hình thành qua nhiều thời kỳ trên những lĩnhvực khác nhau (xây dựng đường bộ, làm đường sắt, lập bến cảng, làm thuê chohãng cầu Lơroa ở Đáp Cầu hoặc làm trong các nhà máy gạch, khuy, giấy, sơn, điện,sửa chữa xe lửa, v.v.) Chưa tính đến công nhân áo nâu ở các đồn điền, cả tỉnh có5.000-6.000 công nhân ở các nhà máy Tầng lớp tiểu tư sản phát triển khá nhanh về
số lượng, họ bao gồm thị dân, thợ thủ công và giới trí thức, cư trú chủ yếu ở thànhthị, mang trong mình dòng máu yêu nước lại nhạy bén, năng động nên đã trở thànhlớp người đầu tiên tiếp xúc với tư tưởng tiến bộ, đóng vai trò to lớn trong việctruyền bá những tư tưởng đó vào nhân dân
Những biến đổi về mặt kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội Bắc Ninh có một giátrị nhất định trong việc hình thành và phát triển các trào lưu tư tưởng và các phongtrào chính trị lúc đó
Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa dân tộc bản xứ ở cácnước thuộc địa chính là động lực vĩ đại chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩathực dân phương Tây
Điều đó hoàn toàn đúng vì ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, sự chuyển đổiphương thức đấu tranh của khởi nghĩa nông dân Yên Thế đã tạo tiền đề cho sự pháttriển các phong trào cách mạng sau này Tiếp theo đó, dòng giáo dục yêu nước doĐông Kinh Nghĩa Thục khởi xướng, với các yếu nhân Bắc Ninh như NguyễnQuyền, Hoàng Tích Phụng, Nguyễn Cảnh Lâm, Nguyễn Văn Đảng, Nguyễn PhátHoành Các hoạt động chính trị công khai của họ đã tạo ra nét đặc sắc của thời đạicách mạng tư sản dân quyền Cuối cùng sự tiếp bước của Phó Đức Chính, LươngNgọc Tốn, Nguyễn Văn Viện trong tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng đã chỉ rõnhững điều kiện xã hội Việt Nam, khi tư tưởng cách mạng từ bên ngoài đưa vào đãđược các trí thức tiểu tư sản tiếp thu tạo ra vị trí xứng đáng trong tầng lớp tư sản,trong cách mạng dân chủ tư sản
Phong trào đấu tranh cách mạng đã xuất hiện những xu hướng mới tại Bắc Ninh,tiếp tục chuyển mình khi tầng lớp trí thức tiểu tư sản tiếp cận với ánh sáng của chủnghĩa Mác-Lênin Sự đàn áp nặng nề và tàn khốc của kẻ thù, những thủ đoạn bóclột dã man và tinh vi cộng với sự mê hoặc về chính trị và tinh thần mà thực dân
Trang 23Pháp đã thực thi tại địa phương đã làm cho lòng căm giận của nhân dân bùng cháythêm dữ dội và chính trong bối cảnh tối tăm đó trải qua nhiều hy sinh gian khổ,tầng lớp trí thức Bắc Ninh đã dần dần tìm thấy ánh sáng và chân lý thời đại.
II CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐƯỢC TRUYỀN BÁ VÀO BẮC NINH
Cho đến những năm 1920, đội ngũ trí thức tiêu biểu của Bắc Ninh khá đông đảo,trong đó có nhiều người bắt đầu có tên tuổi trên lĩnh vực báo chí, văn chương nhưNgô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, Nam Xương (Nguyễn Cát Nhạc), Thế Lữ (NguyễnThứ Lễ), Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Tích Chu Không ít tríthức đã trưởng thành trong cao trào đấu tranh dân chủ 1925-1926, nhất là khôngkhí sôi sục sau các cuộc bãi khóa đòi thả Phan Bội Châu và truy điệu Phan ChuTrinh, nhiều học sinh đã rời bỏ ghế nhà trường, đi tìm con đường cứu nước
Giữa lúc ấy Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu (Trung Quốc) truyền bá nộidung, phương pháp cách mạng mới gắn liền tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để xâydựng đội ngũ cách mạng của quần chúng có ý thức giác ngộ chính trị cao, đoàn kết
và thống nhất hành động nhằm mục tiêu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Tháng2-1925, Người lập ra Cộng sản Đoàn Đến tháng 6-1925, Người thành lập Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên thu hút hầu hết các phần tử ưu tú trong tầng lớp tríthức trẻ, cử người về trong nước vận động, lựa chọn để đưa thanh niên yêu nướcsang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị do chính mình tổ chức
Từ cuối năm 1926, theo đường dây đặc biệt, lớp thanh niên đầu tiên của tỉnh BắcNinh là Nguyễn Tuân, Nguyễn Sơn, Trần Tư Chính, Nguyễn Hữu Căn 2) đã đếnđược lớp huấn luyện an toàn, được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanhniên, trở thành nòng cốt, hạt nhân của phong trào
Nối tiếp khóa đào tạo trên còn có Ngô Gia Tự 3) được tham dự lớp huấn luyện ởBản Đáy (Quảng Tây, Trung Quốc)
Ngô Gia Tự học cùng với Nguyễn Tuân ở trường Bưởi (Hà Nội) và cũng bị đuổihọc vì tham gia bãi khóa Ngay sau đó, Ngô Gia Tự trở về quê vừa dạy học vừa tựhọc để thi lấy bằng tú tài, tham gia nhiều hoạt động của địa phương, được NguyễnCông Thu đánh giá cao, kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cuốinăm 1926 tại số nhà 47 Trần Nhân Tông, Hà Nội, cùng sinh hoạt với Trịnh ĐìnhCửu, Trần Tích Du, Trần Tích Dương Đầu năm 1927, Ngô Gia Tự được cử đi dựlớp huấn luyện ở Bản Đáy Sau hai tháng, Ngô Gia Tự được cử về hoạt động ở BắcNinh
Ngoài ra, Nguyễn Quốc Huy, bạn học của Ngô Gia Tự, cháu nhà chí sĩ NguyễnCảnh Lâm, cũng trưởng thành từ cái nôi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cuốinăm 1926
Trang 24Từ những thành phần xuất thân khác nhau, lớp thanh niên trí thức kể trên sau khitham dự các lớp huấn luyện của Tổng bộ, được kết nạp vào Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên đều tán thành và đến với chủ nghĩa cộng sản Tuy nhiên, chínhnguồn gốc ấy, cộng với môi trường sinh ra và lớn lên đã chi phối mạnh mẽ quátrình hoạt động và cống hiến của từng người.
Những hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của Bắc Ninh được đào tạo
ở Quảng Châu, Bản Đáy và trưởng thành ở trong nước, cùng với sách báo do Tổng
bộ xuất bản thực hiện được nhiệm vụ trọng đại là tuyên truyền tư tưởng cách mạng,
tổ chức quần chúng để đưa họ vào trường đấu tranh Nhờ các nỗ lực ấy, chủ nghĩaMác - Lênin được truyền bá vào địa phương một cách hiệu quả, thu hút và quy tụtất cả các giai tầng xã hội, đặc biệt là giai cấp công - nông dưới ngọn cờ của mìnhchiến đấu cho mục đích cao cả, nguyện vọng tha thiết của dân tộc là giải phóng đấtnước, giành lại nền độc lập, tự do
Quán triệt và thấm nhuần phương pháp vận động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc, trong một thời gian ngắn và giữa năm 1927, bốn chi hội của Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên đã ra đời ở Bắc Ninh
Chi hội Tam Sơn (Từ Sơn) xuất hiện đầu tiên trong tỉnh Chi hội này được Ngô Gia
Tự tổ chức ngay tại nhà mình ở xóm Xanh, gồm 5 hội viên là Ngô Gia Hương, Ngô
Tự Lan, Ngô Sách Ngọ, Ngô Gia Chỉ, Ngô Gia Tự; do Ngô Gia Hương (sinh năm
1907, thư ký hương hội) làm Bí thư
Chi hội Tam Sơn là thử nghiệm của Ngô Gia Tự về việc tuyên truyền, vận động lớpthanh niên tiên tiến ở nông thôn có học thức hoặc có chút vai vế trong bộ máy chứcdịch và quan hệ họ hàng Từ kết quả này, Ngô Gia Tự đã hướng sự chú ý tới thị xãBắc Ninh - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh để xây dựng và phát triểnphong trào
Nguyễn Tuân cũng chọn vùng Thị Cầu - Đáp Cầu làm địa bàn phát triển cơ sở cáchmạng của mình nhưng quá chậm khiến Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanhniên Bắc Kỳ phải đôn đốc và cử Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Trọng Ngọc đến hỗ trợ.Nhờ được tăng cường, Nguyễn Tuân và các đồng chí của mình đi sâu vào mối thântình bằng hữu nên đầu tháng 7-1927 chi hội Thị Cầu - Đáp Cầu ra đời, gồm các họcsinh Ngô Đình Chương, An Đình Họa, Vũ Đình Đại, Ngô Thế Dương và một sốthành phần khác là Vũ Xuân Hồng - tiểu thương, Trần Nhu - công nhân, PhạmĐình Thúy - thợ thủ công; do Ngô Đình Chương làm Bí thư
Khoảng giữa tháng 71927, chi hội thị xã Bắc Ninh (còn gọi là chi hội Tiền An
-Vệ An - Ninh Xá) do Ngô Gia Tự tổ chức cũng được thành lập Hội viên của chihội này hầu hết là thợ thủ công gồm Phạm Văn Chất, Hồ Ngọc Lân, Trần VănQuảng, Trần Đức Minh, Trần Văn Thìn và học sinh Thái Bá San, Trương Văn Nhã;
do Phạm Văn Chất làm Bí thư
Trang 25Nhận thấy công việc tổ chức do mình phụ trách tiến triển chậm, nhất là ở vùngnông thôn, Nguyễn Tuân đã hướng sự chú ý của mình vào các làng nằm trong vànhđai phía bắc thị xã Bắc Ninh, lập ra chi hội Vạn - Yên - Hà, gồm 7 người vào cuốitháng 7-1927 Chi hội do Đàm Đức Hòa (sinh năm 1908 - tiểu thương) làm Bí thư
và gồm có Đỗ Hữu Thành, Đặng Văn Đắc (Yên Ninh); Đặng Văn Thâm, Đặng VănGiám, Trần Văn Phú (Vạn Phúc); Trịnh Quang Liễn (Thổ Hà)
Như vậy, phương pháp gây dựng cơ sở phát triển, phong trào cách mạng của NgôGia Tự, Nguyễn Tuân đều bắt đầu từ nơi mình sinh ra, đã quen thung thổ và tínhcách con người Họ chú trọng đến thành phần công - nông, tuy hầu hết đều xuấtthân từ gia đình khá giả Số hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là thanhniên, học sinh chiếm số lượng cao nhất
Do những đòi hỏi cấp bách của phong trào cách mạng trong tỉnh và các điều kiện
để thành lập Tỉnh hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đủ, tháng 7-1927, Tỉnhhội Bắc Ninh được thành lập gồm 3 người (Nguyễn Tuân - Bí thư, Ngô Gia Tự vàNguyễn Hữu Căn) 4), đảm nhận cả việc gây dựng cơ sở và phong trào cách mạng ởBắc Giang
Cùng với thời điểm này, thông qua Nguyễn Quốc Uy, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên Bắc Kỳ đã cử Dương Hạc Đính phát triển chi hội Phật Tích(Nguyễn Thị Minh - Bí thư, Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Thủy và Nguyễn VănTụ) Chi hội Hoài Bão (Nguyễn Duy Bình - Bí thư, Nguyễn Văn Bình, NguyễnVăn Dị, Lê Hữu Đông, Nguyễn Duy Đạt, Nguyễn Quang Đản, Nguyễn Đăng Kỳ).Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1927, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện 6chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, với khoảng 40 hội viên có mặt ở thị xãBắc Ninh, huyện Tiên Du, huyện Võ Giàng và phủ Từ Sơn Các cán bộ cốt cán nhưNgô Gia Tự, Nguyễn Tuân, Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Quốc Uy và Dương HạcĐính đã lăn lộn với phong trào để ươm trồng và phát triển các hạt giống cách mạng
ở vùng đất giàu truyền thống yêu nước và văn hiến
Sang năm 1928, một trong những nhiệm vụ cấp bách và cần kíp của Tỉnh hội BắcNinh là phải xây dựng bằng được cơ sở ở phủ Lạng Thương - trung tâm chính trị,kinh tế, văn hóa của tỉnh Bắc Giang Thực hiện nghị quyết trên, Nguyễn TrọngNgọc và Nguyễn Hữu Căn đã kết nạp được một số hội viên, lập ra chi hội phủ LạngThương do Trịnh Hữu Chiêm làm Bí thư và Uỷ viên gồm có Trịnh Thị Uyển, TrịnhThị Nhu (em gái Trịnh Hữu Chiêm - quê ở Thọ Xương), Dương Văn Phái (quê ởNội Hoàng - Yên Dũng trọ học ở Châu Xuyên), Khổng Văn Quỳ, quê ở ChâuXuyên, Nguyễn Văn Mẫn quê ở thành Tiền Môn - phủ Lạng Thương Kỳ bộ HộiViệt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ quyết định thành lập Tỉnh hội Việt NamCách mạng Thanh niên Bắc Ninh - Bắc Giang do Ngô Gia Tự làm Bí thư, đặt trụ sởtại xóm Giầu (gia đình Nguyễn Tuân - Thị Cầu), trạm giao liên tại Niềm Thắng(nhà của Hồ Ngọc Lân)
Trang 26Dưới danh nghĩa thầy giáo dạy tư, Ngô Gia Tự đã mở hai lớp huấn luyện chính trịcho hội viên mới và một số thanh niên yêu nước của tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang.Lớp thứ nhất mở ở nhà Hồ Ngọc Lân (tháng 4-1928) với gần 20 học viên Lớp thứhai mở tại nhà Nguyễn Tuân (tháng 6-1928) với hơn 10 học viên Ngoài ra còn cólớp mở ở nhà Trịnh Hữu Chiêm do Nguyễn Tuân phụ trách 5) Tài liệu giảng dạy
của các lớp trên là tác phẩm Đường kách mệnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một
số tài liệu khác
Sau các lớp huấn luyện, cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được mở rộnghơn Các chi hội đã nhanh chóng truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, theo nội dung cơ
bản của Đường kách mệnh để khẳng định con đường giải phóng dân tộc đúng đắn
của cách mạng Việt Nam, đấu tranh chống lại khuynh hướng tư tưởng phi vô sản,khẳng định vai trò cách mạng của giai cấp vô sản
Việc vận động binh lính tham gia phong trào được chú trọng, nhất là trong binhđoàn pháo thủ số 3 Bắc Kỳ đóng tại Bắc Ninh Tỉnh hội Bắc Ninh - Bắc Giang đãgiao nhiệm vụ cho Hồ Ngọc Lân bắt mối, thử thách và giác ngộ họ Đến tháng 9-
1928, chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lính khố đỏ thành Bắc Ninh gồm 7người (Phạm Văn Thắm, Dương Quang Chiểu, Nguyễn Văn Khá, Đinh Văn Đạt,Đinh Văn Nhẫn, Nguyễn Văn Cẩm, Nguyễn Văn Hách) do Phạm Văn Thắm làm Bíthư ra đời 6)
Cuối năm 1928, một số học sinh trường tiểu học Pháp - Việt, Đáp Cầu như VươngVăn Trà, Nguyễn Ngọc Hoành, sau khi dự lớp huấn luyện chính trị đã được kết nạpvào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trở về quê ở Lạc Thổ (Thuận Thành) kếtnạp Nguyễn Ngọc Quý, Nguyễn Hữu Chấp, lập ra chi hội Lạc Thổ, do NguyễnNgọc Hoành làm Bí thư
Cùng thời điểm trên, Ngô Gia Tự lập các chi hội ở ấp Tam Sơn (Lạng Giang, BắcGiang) và Tử Nê - Chi Nê (Tiên Du) Ngoài ra, còn lập các chi hội Yên Viên (GiaLâm), chi hội thị trấn Gia Lâm và chi hội Vĩnh Phục - Ân Phú (Yên Phong) 7).Trong khoảng hai năm 1927-1928, số thanh niên, học sinh Bắc Ninh đã được thamgia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở nhiều địa bàn khác
- Nguyễn Ngọc Vũ, còn gọi là Phan Phương, sinh năm 1908, quê ở Từ Sơn, BắcNinh, trú tại Khâm Thiên, Hà Nội được kết nạp tại Hà Nội giữa năm 1927
- Nguyễn Công Miều tức Lê Văn Lương, sinh năm 1912, quê ở Xuân Cầu, VănGiang, học sinh trường Bưởi, được kết nạp tại Hà Nội cuối năm 1927
- Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt, sinh năm 1905, quê ở Đáp Cầu, học sinhTrường kỹ nghệ thực hành Hải Phòng, bị đuổi học vì tham gia bãi khóa, đượcNguyễn Đức Cảnh kết nạp tại Hải Phòng đầu năm 1928
Trang 27- Nguyễn Văn Cừ, sinh năm 1912, quê ở Phù Khê, Từ Sơn, bị đuổi học vì ý thứcbài Pháp, được kết nạp tại Hà Nội cuối năm 1928.
Như vậy, đến năm 1928, Tỉnh hội Bắc Ninh - Bắc Giang đã có trên 100 hội viênsinh hoạt trong 14 chi hội và hoạt động lẻ ở nhiều nơi, thực sự đã tạo ra chuyểnbiến cách mạng toàn diện và mạnh mẽ
Thực hành quyết nghị của Hội nghị Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niênBắc Kỳ họp tại Tam Sơn (Từ Sơn), Tỉnh hội Bắc Ninh - Bắc Giang đã cử nhiều hộiviên đi vô sản hóa: Nguyễn Văn Mẫn đi làm ở mỏ than Mạo Khê, rồi sau đó làmkéo xe tay ở Hà Nội; Đỗ Hữu Thành đi làm kinh tế gây quỹ cho tổ chức; Trịnh ThịNhu và Trịnh Thị Uyển thâm nhập vào Nhà máy dệt Nam Định; Nguyễn Thị Hồnglao động ở mỏ than Kế Bào
Đợt vô sản hóa diễn ra từ cuối năm 1928 sang đầu năm 1929 tuy đạt được một sốkết quả nhưng so với yêu cầu đặt ra còn nhiều hạn chế, nhất là trong việc tuyêntruyền và tổ chức phong trào công nhân Mục đích nhằm gạt bỏ lập trường phi vôsản để cùng suy nghĩ và hành động theo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin Số hội viên quyết tâm dấn thân vào con đường vô sản hóa chưa nhiều
Ngoài con đường vô sản hóa kể trên, nhiều hội viên và chi hội đã sáng tạo ra nhữngviệc làm nhằm đóng góp vào việc giác ngộ và tập hợp quần chúng, nâng cao lòngyêu nước của họ Tỉnh hội Bắc Ninh - Bắc Giang cũng tổ chức nhiều hoạt động đểthúc đẩy phong trào
Tháng 3-1929, các hội viên thuộc chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thị xãBắc Ninh đã vận động tiểu thương buôn bán ở chợ Nhớn bãi thị, kéo đến biểu tìnhtrước Tòa công sứ tỉnh Bắc Ninh đòi giảm thuế chợ, thuế môn bài Cuộc đấu tranhkéo dài 7 ngày, buộc giới thống trị phải chấp nhận yêu sách
Tháng 5-1929, hưởng ứng chủ trương của Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanhniên Bắc Kỳ phản đối việc thực dân Pháp lợi dụng tình trạng mất mùa, đói kém ởcác tỉnh đồng bằng để lừa gạt nhân dân đi làm phu tại các đồn điền ở Nam Kỳ, Tỉnhhội đã phân công đồng chí Hồ Ngọc Lân - Ủy viên Tỉnh hội lãnh đạo việc tổ chứcphá nhà mộ phu của Ba Danh đặt tại thị xã để giải thoát cho những nông dân bị lừagạt Theo kế hoạch, các hội viên chi hội trại lính khố đỏ thành Bắc Ninh đã phâncông nhau canh gác ở các ngả đường và đột nhập vào nhà mộ phu, mở cửa chohàng chục người đang bị giam giữ trở về quê Nhà mộ phu Bắc Ninh bị ngừng hoạtđộng từ đấy
Một số hội viên khác còn tham gia thực hiện các nhiệm vụ do Kỳ bộ Hội Việt NamCách mạng Thanh niên Bắc Kỳ giao cho Nguyễn Quốc Uy sang Thái Lan một thờigian Ba hội viên Nguyễn Thị Lưu (tức chị Cả Khương), Nguyễn Thị Thủy vàNguyễn Thị Minh thuộc chi hội Phật Tích lần lượt được điều ra Hòn Gai, HảiPhòng, Hà Nội làm công tác giao thông liên lạc và in tài liệu Hồ Ngọc Lân vận
Trang 28chuyển an toàn vũ khí từ Hải Phòng về Hà Nội và các tỉnh Trung Kỳ Nguyễn Tuânlên nhận công tác ở Kỳ bộ.
Đặc biệt, với tư duy tinh nhạy, nắm bắt kịp thời tiến độ của phong trào, tháng
3-1929, Ngô Gia Tự, Nguyễn Tuân và Trần Tư Chính đã tham gia thành lập Chi bộCộng sản đầu tiên ở Việt Nam Tháng 4-1929, Nguyễn Hữu Căn là nòng cốt củaChi bộ Cộng sản đầu tiên ở Hải Phòng
Sự trưởng thành vượt bậc đó đã góp phần đẩy nhanh quá trình ra đời của ĐảngCộng sản ở Việt Nam Tuy nhiên, trên bước đường đi lên, Tỉnh hội Bắc Ninh - BắcGiang không tránh khỏi những quan niệm sai lầm và thiếu sót, điển hình là vụ xử lý
kỷ luật hai hội viên Trịnh Thị Uyển, Trịnh Thị Nhu ở Hải Phòng (tháng 5-1929)dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm cho chi hội phủ Lạng Thương ngừng hoạt động.III SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG BỘ ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG BẮCNINH - BẮC GIANG
Trong vòng hai năm tồn tại, phát triển và hoạt động (từ tháng 1927 đến tháng 1929), Tỉnh hội Bắc Ninh - Bắc Giang đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình trongviệc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào địa phương, xây dựng được một đội ngũcán bộ cách mạng mới góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước sang lập trường vôsản
7-Thực tế lịch sử đã chứng tỏ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn đủsức để đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi Sứ mệnh đó phải do chính giaicấp vô sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân thực hiện
Đồng chí Ngô Gia Tự và nhiều cán bộ lãnh đạo trong Kỳ bộ Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên Bắc Kỳ qua chỉ đạo thực tế phong trào ở cơ sở, tổng kết quá trình
vô sản hóa đã khẳng định điều đó Với những kiến thức cộng với sự hiểu biết vềchủ nghĩa cộng sản, qua tài liệu sách báo của chính quyền thuộc địa, Ngô Gia Tựcàng thấy rõ chân lý hơn
Mùa xuân năm 1929, ở Bắc Ninh đã có 4 yếu nhân (Ngô Gia Tự, Nguyễn Tuân,Nguyễn Hữu Căn, Trần Tư Chính tức Bàng Thống) trong tổ chức cộng sản Sự kiện
đó đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của các trí thức cách mạng, nổi bật nhất làcác đóng góp lớn cả về lý luận và thực tiễn của Ngô Gia Tự tại Đại hội Tổng bộHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp ở Hồng Kông (tháng 5-1929), trong việcthành lập Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6-1929) và trong cuộc đấu tranh củacông nhân xưởng Avia (Hà Nội)
Trên nhiều địa bàn khác nhau, lần lượt các đồng chí Nguyễn Công Miều, NguyễnVăn Cừ, Nguyễn Ngọc Vũ, Hạ Bá Cang, Nguyễn Quốc Uy, Nguyễn Thị Lưu,Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Văn Mẫn đều được đứng trong hàng ngũ Đông DươngCộng sản Đảng
Trang 29Đầu tháng 7-1929, đồng chí Ngô Gia Tự - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâmthời Đông Dương Cộng sản Đảng đã chọn các đồng chí Phạm Văn Chất, Hồ NgọcLân, Nguyễn Hữu Căn thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở hai tỉnh Bắc Ninh - BắcGiang, giao cho họ nhiệm vụ tuyên truyền chính cương, điều lệ và tuyên ngôn củaĐông Dương Cộng sản Đảng trong các chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.Việc ra đời chi bộ cộng sản đầu tiên của hai tỉnh đã đánh dấu một mốc quan trọng
về bước phát triển mới của phong trào cách mạng Bắc Ninh - Bắc Giang, tạo ranhân tố mới cho sự biến đổi về chất của phong trào Sự ra đời ấy đã dẫn đến sựkiện ngày 4-8-1929, tại núi Hồng Vân (núi Lim, Tiên Du), hơn 20 hội viên tiên tiếncủa Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của hai tỉnh, đã được triệu tập để thànhlập Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang (sau hội nghị hợpnhất ở Hương Cảng, tháng 2-1930 chuyển thành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Namtỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang)
Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang được thành lập chứng
tỏ mối quan hệ khăng khít về truyền thống đấu tranh của hai tỉnh, tạo ra điều kiện
cơ bản để quyết định những bước nhảy vọt của tiến trình đấu tranh cho độc lập tự
do và chủ nghĩa xã hội
Đứng đầu Ban Tỉnh ủy là đồng chí Bí thư Phạm Văn Chất Các đồng chí Hồ NgọcLân, Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Xuân Hồng, Trần Nhu là Ủy viên Ban Tỉnh ủy.Toàn Đảng bộ khi đó có 4 chi bộ như sau:
- Chi bộ thị xã Bắc Ninh (Trần Văn Quảng, Thái Bá San, Trần Đức Minh, TrầnVăn Thìn, Phạm Đình Thúy)
- Chi bộ trại lính khố đỏ Bắc Ninh (Phạm Văn Thắm, Dương Quang Chiểu,Nguyễn Văn Khá, Đinh Văn Đạt, Đinh Văn Nhẫn, Nguyễn Văn Cẩm, Nguyễn VănHách)
- Chi bộ làng Lạc Thổ (Vương Văn Trà, Nguyễn Ngọc Hoành, Nguyễn Hữu Chấp,Nguyễn Ngọc Quý)
- Chi bộ Nhà máy gạch Hưng Ký ở Du Lâm - Từ Sơn gồm 3 đảng viên vô sản hóa(Đàm Đức Hòa, Ngô Gia Chỉ tức Ngô Gia Trinh, Vương Văn Trà)
Một tháng sau đó, hai chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập tại Vạn Yên - Hà và thị xã phủ Lạng Thương (Bắc Giang) Như vậy đến giữa tháng 9-1929,Đảng bộ đã có 6 chi bộ với 30 đảng viên 8) Để rèn luyện năng lực lãnh đạo và côngtác, Đông Dương Cộng sản Đảng chủ trương tiếp tục rèn luyện đảng viên trong môitrường vô sản hóa một cách thực sự và bắt buộc, tránh tình trạng “có người hănghái đi vào các nhà máy hoạt động, có người về hoạt động tại gia” 9) như trước đây.Đảng bộ Bắc Ninh - Bắc Giang cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề vô sản hóa.Ngoài số đảng viên được cử đến Nhà máy gạch Hưng Ký (Yên Viên), các đồng chí
Trang 30-Vũ Xuân Hồng, Trần Nhu và Nguyễn Khắc Trung (Bí thư Tỉnh hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên Thanh Hóa đến Bắc Ninh vô sản hóa) vào làm tại Nhà máy giấyĐáp Cầu; đồng chí Trương Văn Nhã làm tại gara ôtô Sĩ Quang (Bắc Ninh), sau đólàm tại hiệu xe đạp Mécxê (Hàng Trống, Hà Nội); đồng chí Nguyễn Thị Lưu làmviệc ở Nhà máy gạch Nam Ký (Hà Nội); đồng chí Nguyễn Văn Cừ xuống mỏ thanVàng Danh (Quảng Yên).
Trong quá trình vô sản hóa, xây dựng Công hội đỏ, vận động công nhân, Chi bộNhà máy gạch Hưng Ký đã kịp thời phát động 300 công nhân bãi công nhân việctên Cai Sáu đánh bị thương một nữ công nhân ngày 29-9-1929 Mặc dù trong quátrình đấu tranh, mật thám đã bắt 24 công nhân nhưng phong trào vẫn được giữvững Công hội đỏ Bắc Ninh đã hỗ trợ bằng cách rải truyền đơn kêu gọi công nhâncác nhà máy khác ở khu vực Gia Lâm ủng hộ, nhân dân các làng lân cận giúp đỡ.Ngày 4-10-1929, cuộc bãi công thắng lợi, chủ nhà máy phải chấp nhận các yêusách do công nhân nêu ra
Phong trào cách mạng địa phương đang đà phát triển mạnh mẽ thì xảy ra hàng loạttổn thất nặng nề
Ngày 10-10-1929, Nguyễn Tuân - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thờiĐông Dương Cộng sản Đảng bị bắt ở bến đò Tân Đệ (Thái Bình) Bị tra tấn và lunglạc ý chí, Nguyễn Tuân đã khai báo “nhiều điểm cực kỳ quan trọng về tổ chức cộngsản ở Bắc Kỳ, đã thú nhận là một trong ba ủy viên Trung ương, đã khai báo tất cảđồng đảng mà hắn biết tên; cũng đã đưa ra nhiều điểm khá bổ ích về tổ chức cáchmạng thanh niên mà trước đây hắn là phó đảng ở Hà Nội” 10)
Chưa lường hết được hậu quả sẽ xảy ra khi Nguyễn Tuân khai báo nên Đảng bộBắc Ninh - Bắc Giang đã không đề ra những biện pháp kịp thời nhằm rút các đảngviên vào hoạt động bí mật, tránh những hình thức hoạt động phô trương để giảmtổn thất khi địch tăng cường khủng bố Đảng bộ đã thiếu cảnh giác, sơ hở và thiếuchặt chẽ, khoa học trong công tác tổ chức Việc giáo dục chính trị, tư tưởng và rènluyện quan điểm, lập trường của giai cấp vô sản chưa được chú trọng Bí thư PhạmVăn Chất còn đưa Hoàng Khắc Trung đến dự các cuộc họp ở Lạc Thổ, Phật Tíchnên khi bị bắt đã khai báo với kẻ thù 11)
Trong khi đó, kẻ địch đã giăng lưới và chuẩn bị một kế hoạch khủng bố dữ dội
“Có lẽ ngoại trừ cơ quan an ninh còn mọi người không biết về Đảng Cộng sản đãđược thành lập ở Bắc Kỳ và những người cách mạng ở tỉnh Bắc Ninh khá đôngđảo, trong đó nhiều người khá thông minh và nguy hiểm Đầu tháng 11 năm 1929
cơ quan an ninh đã phát hiện ra một đường dây liên lạc về những người cộng sảnchuẩn bị kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga ngày 7 tháng 11 và phân pháttruyền đơn” 12)
Trang 31Ngày 6-11-1929, địch bắt đầu chiến dịch đàn áp Ngay lập tức chúng bắt Phạm VănChất, Bí thư Tỉnh ủy và Trần Văn Quảng ở thị xã Bắc Ninh, Lê Hữu Đông ở TrùngQuang (Tiên Du), Trương Văn Nhã và Nguyễn Thị Minh ở phố Hậu Giám (HàNội).
Mặc dù tình hình trở nên cấp bách, âm mưu của địch đã rõ và có nhiều dấu hiệucho thấy chúng đề phòng rất cẩn thận, nhưng một số đảng viên ở chi bộ thị xã BắcNinh vẫn không thay đổi kế hoạch và địa bàn hoạt động “Tháng 11-1929 ( ), ngày
7, tại những trung tâm chính của Bắc Kỳ, Đông Dương Cộng sản Đảng tìm cách tổchức kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga bằng cách rải truyền đơn và treo
cờ đỏ Những truyền đơn và cờ đỏ bị thu nhặt ngay lập tức Nhiều người rải truyềnđơn đã bị bắt Vào dịp này bắt được một người bản xứ tự nhận là Dương Văn Trai,nhưng ít lâu sau mới biết là đồng căn cước với Hoàng Khắc Trung” 13) Tại cổngNhà máy giấy Đáp Cầu, địch còn bắt được các đồng chí Trần Nhu, Phạm ĐìnhThúy và Vũ Xuân Hồng Chính tại đây, ngày 01-5-1929, đồng chí Ngô ĐìnhChương đã bị bắt khi đang rải truyền đơn
Việc tiến hành những hoạt động rầm rộ, phô trương lực lượng trong điều kiện địchchủ động đề phòng đã dẫn đến sự tổn thất không đáng có cho các tổ chức cơ sởđảng “Cảnh sát địa phương đã canh gác chặt chẽ, sáng ngày 7 tháng 11 đã thuđược khoảng một chục lá cờ búa liềm và khoảng 30 kẻ phản loạn mang theo cácbiểu tượng cộng sản Họ bị bắt sau khi dán biểu tượng tại Bắc Ninh và hai vùngkhác là Đông Côi, phủ Thuận Thành và Đông Yên, huyện Yên Phong Cảnh sáttrưởng Đáp Cầu đã bắt giữ ba người cộng sản đúng lúc họ rời khỏi nhà máy mangtheo một tập truyền đơn và cờ đỏ búa liềm mà họ chuẩn bị tung ra” 14)
Ngoài thị xã Bắc Ninh, Đông Côi và Đông Yên, trong ngày 7-11-1929, cờ đỏ búaliềm, áp phích, biểu ngữ, truyền đơn còn xuất hiện ở thôn Vĩnh Phú (Tiên Du), thônBình Ngô (Gia Bình), làng Đại Vi (Tiên Du), đê Đài Bàng (Yên Phong), dốc Đặng,Đáp Cầu (Võ Giàng) và thị trấn Gia Lâm
Trước tình hình cơ sở bị phá vỡ và nhiều cán bộ lãnh đạo (Phạm Văn Chất, HồNgọc Lân, Trần Nhu, Vũ Xuân Hồng) sa vào tay giặc, một số đảng viên còn lạiđược triệu tập về nhà Trịnh Quang Liễn (Thổ Hà, Việt Yên) họp để vạch kế hoạchđối phó Cuộc họp chuẩn bị bắt đầu thì theo sự hướng dẫn của các nhà chức tráchBắc Giang, ngày 14-12-1929 bọn địch đã khám tại nhà Trịnh Quang Liễn ở Thổ
Hà Ngày hôm đó Liễn tiếp 4 đồng chí cộng sản của tỉnh Bắc Ninh 15) Những ngườinày đã giúp Liễn viết truyền đơn và sao chép thành nhiều văn bản 16) Sau đó địchbắt tiếp Ngô Gia Hương (Tam Sơn, Từ Sơn), Nguyễn Như Chấp, Nguyễn NgọcQuý (Lạc Thổ, Thuận Thành)
“Từ tháng 12-1929, Phạm Đình Thúy đã thừa nhận làm nhiệm vụ liên lạc giữaPhạm Văn Chất ủy viên của khu vực với những người hoạt động phân tán” 17) Do
sự khai báo đó, 7 đảng viên thuộc chi hội trại lính khố đỏ thành Bắc Ninh và Vũ
Trang 32Xuân Hồng bị bắt ngày 2-1-1929 Cũng trong mấy tháng tăng cường khủng bố đó,địch bắt thêm Lê Văn Chắc (ngày 1-12-1929), Trần Văn Thìn, Đặng Văn Đắc, NgôVăn Thuyết, Đỗ Hữu Căn, Trần Văn Quý, Trần Văn Phú, Nguyễn Văn Giám,Nguyễn Văn Kỳ, Đặng Văn Thắm, Ngô Thế Xương
Sau khi phá được phần lớn cơ sở cách mạng ở Bắc Ninh, ngày 8-1-1930, thực dânPháp cho thả Nguyễn Tuân để dùng Tuân làm con mồi nhằm tiếp tục rà phá nốtnhững cơ sở cách mạng còn lại
Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã quyết địnhgiao cho đồng chí Nguyễn Văn Mẫn thi hành bản án tử hình đối với tên NguyễnTuân phạm tội phản cách mạng vào ngày 2-2-1930 “Các truyền đơn báo việc hànhhình Nguyễn Tuân tức Kim Tôn - người được ông Chánh án Tòa án Bắc Ninh chotại ngoại hậu cứu sau khi giúp những điều bổ ích cho chính quyền - đã được phânphát từ ngày 4 đến ngày 20 tháng 2 tại Hải Phòng, Nam Định (Bắc Kỳ), Vinh, ĐàNẵng, Huế và Hội An (Trung Kỳ) Ban Giám đốc Sở liêm phóng lúc đầu còntưởng việc phân phát truyền đơn này chỉ là tấn kịch đánh lừa chính quyền vềNguyễn Tuân Tên này khi khai cũng chỉ nói rằng y là nạn nhân của một cuộc đánhbẫy Người ta đã ném vào người y - mà người ta khó nhìn ra - giống như những vết
giãi bầy nhưng thầy thuốc khám kỹ cho biết trong người y có 3 viên đạn” 18)
Cuộc khủng bố của kẻ thù trong khoảng thời gian chưa đầy 3 tháng (từ ngày
6-11-1929 đến ngày 2-1-1930) đã phá vỡ hầu hết các cơ sở cách mạng ở thị xã Bắc Ninh.Chúng đã bắt và giam giữ trên 40 người, gồm hầu hết là Ban Tỉnh ủy và các đồngchí đảng viên của Đảng bộ Lúc này phong trào cách mạng ở địa phương lắngxuống và đứng trước thử thách lớn lao Kẻ thù có phần hý hửng trước những kếtquả khủng bố của mình, nhưng vẫn còn lo ngại trước sức sống mãnh liệt của ĐôngDương Cộng sản Đảng và các đảng viên cộng sản
Có thể thấy rằng, sau hơn 3 năm kể từ khi những người thanh niên trí thức BắcNinh được đào tạo, huấn luyện để trở thành nòng cốt trong việc truyền bá chủ nghĩaMác - Lênin vào trong nước, phong trào cách mạng ở trong tỉnh có những chuyểnbiến tích cực Việc các tầng lớp nhân dân ý thức được vai trò và trách nhiệm củamình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là thắng lợi cơ bản và lớn nhất Bên cạnh
đó, các tổn thất do kẻ thù gây ra sẽ là một bài học sâu sắc cho bước trưởng thành và
đi lên của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang ra đời được chính là
từ trí tuệ và sự hy sinh của tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước và sẽ ngày mộttrưởng thành và phát triển để gánh vác trọng trách mà nhân dân giao phó
Quá trình hình thành và ra đời của Đảng bộ Bắc Ninh - Bắc Giang diễn ra liên tục
từ năm 1926 đến năm 1930 là sự kết hợp biện chứng giữa ba yếu tố: chủ nghĩa Mác
- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Những chiến sĩ cộng sản
Trang 33tỉnh Bắc Ninh đã trở thành những con người kiên trung bất khuất cả trong lao tù,trước tòa án, trên trường bắn và đã làm cho kẻ thù khiếp sợ Bao nhiêu người con
ưu tú ngã xuống để tô thắm lý tưởng cộng sản tươi đẹp Tên tuổi của họ khôngnhững là niềm tự hào mà còn là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng ViệtNam, là tấm gương sáng ngờicho thế hệ mai sau Họ thực sự là niềm tự hào củaquê hương và dân tộc Việt Nam
_
1 Dẫn theo Lịch sử Hà Bắc, Hội đồng Lịch sử Hà Bắc xuất bản, 1986, tr.75.
2 Nguyễn Tuân sinh năm 1908 tại Thị Cầu (Bắc Ninh) Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyễn Bác, sinh năm 1908 tại Kiêu Kỵ (Gia Lâm) Trần Tư Chính tức Bàng Thống, sinh năm 1909 tại Du Lâm (Từ Sơn) Nguyễn Hữu Căn, sinh năm 1904 tại
Đa Ngưu (Văn Giang)
3 Ngô Gia Tự, sinh năm 1908 tại Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh), còn gọi là Ngô Sĩ Quyết, Tú Háy, Bách
4 Tài liệu của Sở mật thám Bắc Ninh cho rằng Ngô Gia Tự là Phó Bí thư, Nguyễn Trọng Ngọc là Uỷ viên Tỉnh hội
5 Theo hồi ký của Đàm Đức Hoà, Đỗ Hữu Thành
6 Phạm Văn Thắm còn gọi là Thuận Quang, sinh năm 1902 tại Vũ Tiên, Thái Bình, là cai kèn trong trại lính khố đỏ Bắc Ninh, đã từng được sang Pháp rồi trở về Sơn Tây, Bắc Ninh
7 Theo những tài liệu của Pháp còn lại, Ngô Gia Chỉ là Bí thư chi hội ấp Tam Sơn;Nguyễn Thế Xương là Bí thư chi hội Tử Nê - Chi Nê; Đặng Đình Hương là Bí thư chi hội thị trấn Gia Lâm Ngoài ra, Trương Đình Phú, Bí thư chi hội Vĩnh Phục -
Ân Phú và Nguyễn Duy Bình, Bí thư chi hội Yên Viên
8 Văn kiện Đảng (1930-1939), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản,
Hà Nội, 1977, t.1, tr.282
9 Xem Bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng
Trung ương biên khảo, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961
10 Báo cáo của toà đệ nhị cấp Bắc Ninh, Tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử Đảng
Trung ương
11 Báo cáo của toà đệ nhị cấp Bắc Ninh, Tài liệu đã dẫn
12 Báo cáo của toà đệ nhị cấp Bắc Ninh, Tài liệu đã dẫn
13 Báo cáo năm 1929-1930 của Sở mật thám Bắc Kỳ
Trang 3414 Đỗ Kim Thận, tri phủ huyện Thuận Thành, trong tờ sớ trình ngày 9-1-1929 viết
“Nay có một lá cờ treo trên cây gạo ở ngã tư đường cái thuộc địa phận xã Đông Côihạt tôi, lá cờ ấy bằng vải tây điều, trên đó có viết 3 chữ cờ cộng sản bằng quốc ngữ,giữa viết hình chữ (…….) dưới có 3 chữ cộng sản đảng bằng chữ nho”
15 Bốn đồng chí đó là Vương Văn Trà, Nguyễn Ngọc Hoành, Đàm Đức Hoà, Đỗ Hữu Thành
16 Báo cáo của Toà đệ nhị cấp Bắc Ninh, Tài liệu đã dẫn
17 Báo cáo của Toà đệ nhị cấp Bắc Ninh, Tài liệu đã dẫn
18 Báo cáo năm 1929-1930 của Sở mật thám Bắc Kỳ
Trang 35Chương II: ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH
QUYỀN CÁCH MẠNG (1930-1945)
I ĐÓNG GÓP VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CHUNG
Những chiến sĩ cộng sản sinh trưởng trên vùng đất Bắc Ninh và trưởng thành từĐảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang có nhiều đóng gópcho sự nghiệp cách mạng chung của Đảng và dân tộc
Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập và trực tiếp lãnh đạo cuộc bãicông ở xưởng Avia (Hà Nội) thắng lợi, Ngô Gia Tự đã vào Nam Kỳ thay cho Trần
Tư Chính để mở rộng và phát triển cơ sở cách mạng theo nghị quyết của Ban Chấphành Trung ương lâm thời họp tại Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh) Đồng chí đã cùngcác đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương sống ở khu lao động xóm Chiếu(Sài Gòn) để vừa vô sản hoá vừa đi vào phong trào công nhân (lập công hội thuỷthủ, công hội nhà máy điện, công hội thợ nề, công hội bồi bếp), lập các chi bộĐông Dương Cộng sản Đảng tại Nhà máy Ba Son, đồn điền cao su Phú Riềng (xãVĩnh Kim) nhằm tạo thế chân kiềng vững chắc cho cách mạng Nam Kỳ Tháng 11-
1929, Ngô Gia Tự cử Hoàng Quốc Việt, Lưu Bá Kỳ sang Pháp tranh thủ sự giúp đỡcủa Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản 1) Nhưng sứ mệnh và công lao lớnnhất lúc bấy giờ của Ngô Gia Tự là cùng các đồng chí trong An Nam Cộng sảnĐảng ở Nam Kỳ bằng mọi biện pháp để thống nhất các lực lượng cách mạng trongnước Trong những ngày ấy, đồng chí tự tay in tài liệu, huấn luyện đảng viên mới,điều tra về kết cấu xã hội nông thôn và nông dân Nam Kỳ Cuối tháng 3-1930, các
tổ chức cộng sản Nam Kỳ đã thống nhất thành một Đảng bộ, và Ngô Gia Tự đượctín nhiệm trong cương vị Bí thư Chấp uỷ lâm thời Đồng thời đã ký quyết nghị chấpnhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Ngô Gia Tự, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ ngày một pháttriển Cờ đỏ búa liềm, truyền đơn áp phích đã xuất hiện ở Mỹ Tho, Thủ Dầu Một,Biên Hoà, Sài Gòn nhân dịp ngày 1-5-1930 Biểu tình, bãi khoá và nhiều cuộc đấutranh của nông dân đã nổ ra ở Cao Lãnh (Sa Đéc), Chợ Mới (Long Xuyên), ĐứcHoá (Chợ Lớn) Rõ ràng, phải là một trí thức cộng sản xuất sắc, một tài năng đặcbiệt, một ý chí phi thường như Ngô Gia Tự mới có thể thúc đẩy phong trào cáchmạng ở Nam Kỳ có những bước trưởng thành vượt bậc
Lăn lộn với phong trào công nhân, Nguyễn Văn Cừ đã trưởng thành nhanh chóng.Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, đến tháng 4-1930 nhiều chi bộ Đảng Cộng sản ViệtNam đã ra đời ở các mỏ Mạo Khê, Vàng Danh, Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông
Đồng chí còn trực tiếp chỉ đạo, duyệt tờ Báo Than của chi bộ Mạo Khê và thường
xuyên trau dồi nhận thức thông qua các tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin đểnâng cao trình độ lý luận và phương pháp chỉ đạo cách mạng của mình Trong dịp
kỷ niệm ngày 1-5-1930, bằng các kinh nghiệm sẵn có, Nguyễn Văn Cừ đã làm dấylên một không khí cách mạng mạnh mẽ trong toàn khu mỏ Truyền đơn, áp phích,
Trang 36cờ đỏ búa liềm xuất hiện ở nhiều trọng điểm Những cuộc bãi công ở nhà sàng CửaÔng, nhà máy than luyện, mỏ cái đá và cuộc bãi thị của tiểu thương Hồng Gai đãtạo nên một cao trào cách mạng mới Nắm bắt kịp thời sự chuyển biến của phongtrào, Nguyễn Văn Cừ đã tăng cường sự lãnh đạo của Xứ uỷ Bắc Kỳ Chấp nhận đềnghị đó, Ban Chấp hành Trung ương (tháng 10-1930), Xứ uỷ Bắc Kỳ đã triệu tậpcác đảng uỷ ở mỏ về Hải Phòng và quyết định thành lập Đặc khu mỏ, nhất là vấn
đề kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng Nhiều cuộc rải truyền đơn phản đối chính sáchđàn áp dã man của thực dân Pháp, ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh, Kỷ niệm Cách mạngTháng Mười Nga đã được tiến hành ở Hồng Gai, Hà Tu, Cẩm Phả, Cửa Ông
Đồng chí Nguyễn Thị Lưu (Cả Khương) sau khi vô sản hoá tại Nhà máy gạch Nam
Ký (Hà Nội) được phân công làm giao thông liên lạc cho Xứ uỷ Bắc Kỳ Cuối năm
1929, Nguyễn Thị Lưu được điều động về vùng mỏ để giữ mối liên lạc giữa vùng
mỏ với Hải Phòng, tiến hành công tác tuyên truyền trong công nhân và giới tiểu
thương, phân phát báo Lao động của Tổng công hội Bắc Kỳ Đồng chí đã vượt qua
muôn vàn khó khăn để hoàn thành xuất sắc việc vận chuyển tài liệu, truyền đơn vềvùng mỏ đúng dịp kỷ niệm ngày 1-5-1930 Nhờ đó, truyền đơn, áp phích được rải
và dán ở cổng nhiều nhà máy và tầng cao hầm lò suốt từ Hà Tu, Hà Lầm về đếnHồng Gai, Cẩm Phả, cờ đỏ búa liềm đã tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ Tháng 11-
1930, Nguyễn Thị Lưu còn diễn thuyết công khai giữa chợ Hồng Gai và tổ chức chị
em tiểu thương đấu tranh đòi giảm thuế chợ, giảm giá hàng
Với cương vị Bí thư Ban Tỉnh uỷ Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - BắcGiang, đồng chí Phạm Văn Chất đã có nhiều biện pháp tăng cường hỗ trợ và bổsung cán bộ cho các nơi khác như cho các hoạt động của Ban Chấp hành Trungương lâm thời (Hồ Ngọc Lân) 2), cho Thành uỷ Hà Nội (Trương Văn Nhã, NguyễnThị Minh) 3), cho Đặc khu mỏ (Nguyễn Thị Lưu), cho Tỉnh uỷ Hải Phòng (NguyễnThị Thuỷ, Trần Nhu) Suốt hai tháng 9 và 10-1929, đồng chí đã chỉ đạo gây dựngcác tổ chức nông hội ở Tam Sơn (Từ Sơn), Phật Tích, Hoài Bão (Tiên Du), LạcThổ (Thuận Thành), Vạn Phúc (Võ Giàng), Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) Gầnđến ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Phạm Văn Chất đã chỉ đạo, phânphát truyền đơn, áp phích, cờ đỏ búa liềm đến các địa bàn Thuận Thành, LạngGiang, Tiên Du, Lang Tài, Võ Giàng, Yên Phong
Nguyễn Ngọc Vũ cùng các đồng chí Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần QuangTặng, Nguyễn Văn Phúc gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội vàotháng 6-1929, được phân công phụ trách Xưởng in Ngọc Hà (Hà Nội) Sau khiĐảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Thành uỷ lâm thời Hà Nội được tổ chức, NguyễnNgọc Vũ tham gia Ban Chấp hành và đến tháng 6-1930 được cử làm Bí thư Thành
uỷ chính thức của Đảng bộ Hà Nội thay Đỗ Ngọc Du đi nhận nhiệm vụ mới Ngoàiviệc lãnh đạo chung, đồng chí còn trực tiếp phụ trách công tác nông vận và đặctrách vận động anh em bồi bếp phụ việc các viên chức cao cấp Pháp để họ tổ chức
cơ quan và Hội nghị bí mật của Trung ương, Xứ uỷ, Thành uỷ Đồng chí đã ngày
Trang 37đêm gây dựng cơ sở, tổ chức phong trào ở ga Hàng Cỏ, Nhà máy xe lửa Gia Lâm,
Sở xe điện, Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà máy bia, Xưởng Avia, Xưởng Stai
và một số nhà in Đồng chí đã lập ra chi bộ cộng sản ở Đông Phú (Thanh Trì), chỉđạo tiểu thương ở chợ Đồng Xuân đấu tranh đòi giảm thuế, công nhân bán vé xeđiện đình công (tháng 4-1930), rải truyền đơn (tháng 5-1930), tuyên truyền ủng hộXôviết Nghệ - Tĩnh tại phố Sinh Từ (tháng 10-1930), phá cuộc đón đoàn toànquyền Hà Lan (tháng 11-1930)
Đầu năm 1930, Nguyễn Hữu Căn được cử sang học tại Trường đại học PhươngĐông ở Mátxcơva Tháng 8-1930, đồng chí được mời tham dự Đại hội Quốc tếCộng sản Công hội đỏ lần thứ V tại Liên Xô Với bí danh Hoàng Bình, đồng chí đãtrình bày trước Đại hội án nghị quyết về nhiệm vụ công hội vận động ở ĐôngDương 4) Trong bản báo cáo này, đồng chí đã vận dụng thực tiễn trong quá trìnhchỉ đạo phong trào công nhân ở Bắc Ninh, Hải Phòng và đề ra nhiều biện phápcông tác thích hợp
Trong hoàn cảnh Đảng mới ra đời, kẻ thù đàn áp dã man, phong trào cách mạngđang gặp muôn vàn khó khăn, những đóng góp về thực tiễn và lý luận của nhữngngười con ưu tú, những chiến sĩ cộng sản trung kiên của Đảng bộ là vô cùng quýgiá và là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh
II GIỮ VỮNG Ý CHÍ VÀ PHẨM CHẤT CÁCH MẠNG
Kể từ khi tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời ở Bắc Ninh, nhiềuhội viên đã sa vào tay giặc (Đặng Đình Hướng - tháng 5-1928, Ngô Đình Chương -tháng 5-1929…) Trong cuộc khủng bố của kẻ thù ở phạm vi tỉnh Bắc Ninh từ ngày
6 đến ngày 27-11-1929 đã có 8 hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và
28 đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng bị bắt và cầm tù Trên phạm vi toànquốc, địch vẫn tiếp tục giăng lưới và tính từ tháng 11-1929 đến tháng 10-1931,hàng chục đồng chí quê hương Bắc Ninh bị bắt như các đồng chí: Hồ Ngọc Lân,Trương Văn Nhã, Nguyễn Thị Minh (ngày 7-11-1929); Hoàng Quốc Việt (ngày 15-5-1930); Ngô Gia Tự (ngày 31-5-1930); Tô Hiệu (ngày 25-8-1930); Nguyễn Ngọc
Vũ (ngày 6-2-1930); Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Thuỷ, Nguyễn Văn Cừ (tháng2-1931); Lê Văn Lương (tháng 3-1931) và Nguyễn Văn Mẫn (tháng 10-1931) Mặc dù bị kẻ thù tra tấn dã man nhưng tuyệt đại đa số các hội viên Hội Việt NamCách mạng Thanh niên và các đồng chí đảng viên cộng sản đã vượt lên mọi đònthù ác hiểm, giữ vững ý chí và phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng, nêu nhữngtấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về ý chí bất khuất, tình yêuthương đồng chí, tinh thần đấu tranh trước toà án trong Sở mật thám và trong nhà
tù đế quốc
Để trấn áp phong trào, đe doạ quần chúng, quân thù không từ bất kỳ một thủ đoạn
đê hèn, dã man nào nhằm làm nhụt chí khí và lung lạc tinh thần của nhân dân Đầu
Trang 38năm 1930, toà án Bắc Ninh đã xử bốn án tử hình vắng mặt (Ngô Gia Tự, NguyễnTrọng Ngọc, Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Thái Lạng), 156 năm 8 tháng tù cho 30 hộiviên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đảng viên Đông Dương Cộng sảnĐảng, trong đó nặng nhất là Phạm Văn Chất và 7 đồng chí trong chi bộ trại línhkhố đỏ thành Bắc Ninh mỗi người 10 năm tù, sau tăng lên 20 năm khổ sai, đày raCôn Đảo.
Trong các phiên toà tiếp theo, thực dân Pháp đã xử:
- Tử hình: Hồ Ngọc Lân (ngày 16-11-1931), Lê Văn Lương (ngày 9-5-1933); sau
đó án của đồng chí Lê Văn Lương rút xuống tù chung thân
- Chung thân: Hoàng Quốc Việt (ngày 27-1-1931), Ngô Gia Tự (ngày 9-3-1931),Nguyễn Văn Cừ (ngày 15-3-1931), Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh
Số còn lại đều bị tù từ 5-10 năm giam ở Hoả Lò, Sơn La hoặc Côn Đảo
Tại các phiên toà đế quốc, khí thế lẫm liệt của các chiến sĩ cộng sản Bắc Ninh đãkhiến cho kẻ thù vô cùng khiếp sợ
Ngày 31-7-1932, đồng chí Hồ Ngọc Lân và Nguyễn Đức Cảnh bị đưa ra hành hìnhtrước nhà lao Hải Phòng “Trước khi lên máy chém, cả hai đều bình tĩnh Hồ NgọcLân đề nghị khi lên máy chém đừng trói, còn Cảnh không đề nghị gì, chỉ ngồi hát"5)
Đồng chí Trương Văn Nhã điềm nhiên trả lời trước phiên toà: “Tôi chỉ tiếc là mìnhmới là đảng viên dự bị của Đảng” 6)
Đồng chí Hoàng Quốc Việt trả lời trước phiên toà Kiến An: “Tôi không cần từ chối
gì về hoạt động cách mạng của tôi cả, vì đó là bổn phận của tôi phải đóng góp sứccứu vớt 20 triệu đồng bào và đánh đổ giai cấp tư sản đế quốc” 7)
Đồng chí Nguyễn Thị Lưu bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần trong suốt hai thángtrời vẫn kiên quyết không khai “Hôm ra toà, không biết chị Cả Khương (NguyễnThị Lưu) làm thế nào mà giấu được trong người một lá cờ đỏ búa liềm Khi tên bồithẩm vừa đọc xong bản cáo trạng, chị liền rút lá cờ ra và giương cao lên, chị dõngdạc lên án đế quốc, kêu gọi đồng bào đứng lên làm cách mạng” 8)
Tại toà đại hình Sài Gòn (tháng 5-1933), Ngô Gia Tự đanh thép lên án: “Chính đếquốc Pháp cướp nước Việt Nam, nô dịch nhân dân nước chúng tôi Đế quốc Pháp
đã câu kết với phong kiến, lập nên một chế độ hà khắc, áp bức bóc lột nhân dânnước chúng tôi hết sức tàn bạo, chính điều đó đã thúc đẩy chúng tôi đứng lên đểgiành độc lập cho Tổ quốc chúng tôi, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân chúngtôi” 9)
Trả lời trước phiên toà, Nguyễn Văn Cừ khảng khái nói: “Tôi làm nghề cách mạng(…) vì đâu tôi phải làm cách mạng? vì rằng bọn đế quốc áp bức quần chúng, tìm
Trang 39hết cách mà bóc lột, nào sưu thuế, nào quốc trái Còn bảo là rối cuộc trị an, ấy là do
tư bản đặt ra để bảo vệ cho họ, chúng tôi là vô sản giai cấp thì phải phá cuộc trị anấy” 10)
Trong nhà tù đế quốc, Ngô Gia Tự tiếp tục trau dồi, học tập lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, dịch các tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Làm gì, Bệnh ấu trĩ “Tả khuynh” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hai sách lược, Những nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, Những vấn đề chủ nghĩa Mác - Lênin, Chống Đuyrinh… từ tiếng Pháp ra tiếng Việt Lúc còn ở Hoả Lò (Hà Nội) đồng chí
đã dành nhiều thời gian viết lại cuốn Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Lênin bằng trí nhớ của mình, biên soạn tập sách Những vấn đề cơ bản của cách mạng Đông Dương Khi ra Côn Đảo, sống dưới chế độ lao tù hà khắc, phải làm công việc
khổ sai cực nhọc, Ngô Gia Tự vẫn không ngừng nâng cao kiến thức và năng lực,tham gia giảng dạy các lớp lý luận chính trị, văn hoá do chi hội đảng nhà tù tổchức, góp phần đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng sau này
Nhờ không ngừng tu dưỡng và học tập một cách không mệt mỏi, Ngô Gia Tự đãtrở thành nhà lý luận, nhà chính trị, nhà chiến lược của Đảng Qua tổng kết kinhnghiệm vận động cách mạng trong thời kỳ dựng Đảng, đồng chí đã chỉ ra rằngngười đảng viên phải bảo vệ Đảng, vì Đảng, vì cách mạng mà hy sinh, đừng vì ta
mà cách mạng phải hy sinh Sinh mạng của Đảng quý hơn sinh mạng của mình,phải hy sinh tất cả cho Đảng Bất kỳ ở đâu chúng ta cũng phải đấu tranh cho chủnghĩa cộng sản
Tháng 7-1934, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị đày ra Côn Đảo Trong nhà tù, đồngchí luôn nâng cao ý thức rèn luyện phẩm chất cách mạng, trau dồi trình độ chính
trị Khi tham gia vào ban lãnh đạo khám 2, đồng chí thường xuyên viết cho tờ Ý kiến chung và tập san Người tù đỏ, tự học môn triết học, kinh tế chính trị, trao đổi
về phương pháp vận động công - nông, tập diễn thuyết
Đồng chí Nguyễn Thị Lưu tuy bị giam chung với tù thường phạm ở Hoả Lò nhưngvẫn thể hiện được tinh thần bất khuất, kiên cường Đồng chí đã tổ chức họ vào độicứu tế, chăm lo cho họ lúc ốm đau Trong nhà tù, đồng chí vẫn đảm nhiệm côngviệc giao thông liên lạc, cất giấu tài liệu Chế độ nhà tù hà khắc cộng với đòn thù áchiểm đã làm cho sức khoẻ đồng chí suy kiệt, dạ dày bị đau nặng Anh em trong nhà
tù đã đấu tranh mạnh mẽ và liên tục khiến cho kẻ thù không thể làm ngơ, phải đưađồng chí vào nhà thương chạy chữa Bác sĩ từ chối mổ vì không có thuốc gây mênhưng đồng chí bảo cứ tiến hành Sau ca mổ, chúng phải kêu lên: “Cộng sản canđảm thật” 11)
Hai em gái của đồng chí là Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thuỷ cùng bị giam ởHoả Lò “Thế là ba chị em từ một mái nhà ở làng Phật Tích ra đi làm cách mạng,nay lại gặp nhau trong nhà tù đế quốc” 12)
Trang 40Đồng chí Phạm Văn Thắm, Bí thư chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng, lính khố đỏthành Bắc Ninh, cũng bị đày ở Côn Đảo, qua nhiều lần tổ chức vượt biển khôngthành, tháng 5-1935 đồng chí đã trốn thoát, cập bến Cà Mau, bắt tay ngay vào việcthành lập đội tìm kiếm và bảo vệ các đồng chí từ Côn Đảo trở về, giao cho PhạmNgọc Hiến phụ trách.
Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù, biết bao người con ưu tú củaBắc Ninh đã ngã xuống Ngay từ mùa hè năm 1929, Nguyễn Quốc Uy yên nghỉ saumột chuyến đi công tác dài ngày cho cách mạng 13)
Dưới chế độ hà khắc của lao tù đế quốc, nhiều chiến sĩ cộng sản của Bắc Ninh đãngã xuống như Vũ Xuân Hồng, Ngô Đình Chương, Phạm Văn Chất (năm 1931),Nguyễn Ngọc Vũ, Ngô Gia Hương (năm 1932)
Đồng chí Ngô Gia Tự hy sinh trên biển cuối tháng 12-1934 trong khi vượt biển vềđất liền tiếp tục hoạt động
Những tên tuổi ấy là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sốngmãi với quê hương, đất nước
III KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG
Trong những ngày đen tối nhất, nhiều quần chúng cách mạng và đảng viên vẫn tiếptục hoạt động nhằm tập hợp lực lượng, khôi phục phong trào cách mạng ở BắcNinh
Ngay từ đầu năm 1930, một số đảng viên và quần chúng cách mạng ở Hoài Bãocùng với đồng chí Trương Đình Phú đã tìm cách liên lạc với cơ sở cách mạng củaTrung ương đặt tại phố Hàng Than (Hà Nội) nhận chỉ thị để tiếp tục hoạt động.Đồng chí Dương Văn Phái tiếp tục tuyên truyền gây dựng cơ sở trong công nhânNhà máy giấy Cổ Mễ, Nhà máy pháo Đáp Cầu Tháng 11-1930, để kỷ niệm Cáchmạng Tháng Mười Nga, ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh và hai cuộc đấu tranh của nôngdân huyện Tiền Hải (Thái Bình), huyện Bình Lục (Hà Nam), đồng chí đã cùng một
số quần chúng cách mạng ở hai nhà máy treo lá cờ đỏ búa liềm tại thị xã Bắc Ninh,
lá cờ mang dòng chữ:
“Việt Nam Cộng sản Đảng!
Kỷ niệm Cách mạng Nga thành công!
Không được đụng đến anh em, chị em