LỜI GIỚI THIỆU Đắk Song là huyện biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Đắk Nông, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng của phên dậu quốc gia trên vùng đất Cao nguyên hùng vĩ.Trải qua nhiều biến thiên trong quá trình phát triển của lịch sử, Huyện được thành lập theo Quyết định số 302001NĐCP, ngày 2162001 của Chính phủ. Với vị trí địa lý phía Nam giáp thị xã Gia Nghĩa và huyện Tuy Đức, phía Bắc giáp huyện Đắk Mil, phía Đông giáp huyện Krông Nô, phía Tây giáp biên giới Campuchia, với tổng diện tích tự nhiên là 80.811 ha. Với điều kiện tự nhiên và tài nguyên khoáng sản phong phú là những yếu tố thuận lợi để Đắk Song phát triển nhanh một nền kinh tế đa dạng, xây dựng Đảng vững mạnh gắn với xây dựng thế trận phòng thủ đảm bảo an ninh chính trị trong tình hình mới. Để có được một Đắk Song với vị thế và tiềm năng như hôm nay, lớp lớp đồng bào các dân tộc trên vùng đất này đã vượt qua bao nhiêu gian nan, hy sinh thử thách để hòa chung với dòng chảy của những người con trên quê hương M’Nông chất phác, thật thà, cần cù trong lao động sản xuất, nhưng vô cùng kiên cường và anh dũng trong chiến đấu bảo vệ buôn làng, nương rẫy. Đặc biệt từ khi có sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống tốt đẹp đó càng được nâng lên tầm cao mới. Mỗi buôn, bon, làng, tên núi, tên sông nơi đây đã gắn liền với những chiến công oanh liệt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, giữ vững bản sắc, tôn vinh truyền thống yêu nước mà thế hệ ông cha đã tạo dựng từ xa xưa trên vùng đất Nam Tây Nguyên. Nhằm khơi dậy, bảo tồn và tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống trong đấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng quê hương, đất nước của nhân dân các dân tộc trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện Chỉ thị số 15CTTW, ngày 2882002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 17CTTU, ngày 24122004 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông về công tác nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Lịch sử Đảng bộ và giáo dục truyền thống cách mạng; đồng thời nhân dịp chào mừng Kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 15 năm thành lập huyện Đắk Song và Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV (nhiệm kỳ 2015 2020), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đắk Song quyết định sưu tầm, biên soạn cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Đắk Song ( 1930 – 2010 ).Việc biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ không chỉ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang, nâng cao lòng tự hào, tự tôn, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ngày nay, mà còn bày tỏ sự tôn vinh và tri ân sâu sắc đối với các thế hệ đảng viên, đồng bào các dân tộc đã từng nỗ lực, hy sinh vượt qua gian khó, hiểm nguy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương trên mảnh đất Đắk Song. Sau một thời gian sưu tầm tài liệu, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, nghiên cứu và biên soạn, cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Đắk Song (1930 2010) đã được hoàn thành, nội dung gồm những phần chính sau:Phần mở đầu: Khái quát về vùng đất, con người và truyền thống lịch sử trước khi có tổ chức Đảng lãnh đạo.Phần thứ nhất: Tổ chức Đảng ra đời lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược (19301975).Phần thứ hai: Lãnh đạo nhân dân trên địa bàn huyện quá độ lên CNXH và từng bước thực hiện đường lối đổi mới (19752000).Phần thứ ba: Huyện Đắk Song được thành lập, Đảng bộ huyện lãnh đạo nhân dân thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vị thế mới (20012010)Phần kết luận: Khái quát những thành tựu chủ yếu, những hạn chế, khó khăn và những kinh nghiệm trong hoạt động của Đảng bộ huyện Đắk Song.Trong quá trình sưu tầm tư liệu và biên soạn cuốn sách, Ban Chỉ đạo đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt thành, với những ý kiến đóng góp vô cùng quý giá của các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo địa phương qua các thời kỳ, các đồng chí đã từng sống, chiến đấu, công tác trên địa bàn huyện Đắk Song, Tạp chí Lịch sử Đảng Viện Lịch sử Đảng, Phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và các ban ngành liên quan, để công trình được hoàn thành. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng do địa bàn có nhiều sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt khó khăn trong việc khai thác tài liệu lưu trữ, nhất là các tài liệu trước khi thành lập huyện, do vậy, cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định.Ban Chỉ đạo xin chân thành cảm ơn và mong muốn tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu từ các đồng chí và toàn thể cán bộ, nhân dân trong và ngoài huyện để cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau.Ban Thường vụ Huyện ủy Đắk SongBí thưĐào Xuân Sanh BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN ĐẮK SONG HIỆN NAY TRỤ SỞ HUYỆN ỦY ĐẮK SONG PHẦN MỞ ĐẦU VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC HUYỆN ĐẮK SONG TRƯỚC KHI CÓ TỔ CHỨC ĐẢNG LÃNH ĐẠO1. Lịch sử vùng đất, con người và những giá trị truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk Song1. Quá trình hình thành địa giới huyện Đắk Song Đầu thế kỷ XX Đắk Song là một vùng đất hẻo lánh, dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số người M’Nông sinh sống theo cộng đồng bộ lạc, thị tộc, nằm giữa 2 huyện Di Linh thuộc tỉnh Đồng Nai thượng và Đức Lập tỉnh Đắk Lắk.Năm 1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Đắk Lắk, tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột, gồm 5 quận: M’Đrăk, Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột, Đắk Song và Lăk. Mỗi quận chia ra làm nhiều tổng.Tổng chia ra làm nhiều buôn . Năm 1931, chính quyền thực dân Pháp tiến hành cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương. Địa bàn huyện Đắk Song nằm ở phía Nam tỉnh Đắk Lắk, từ cầu 14 trở xuống, đến giáp tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Phước). Từ đó đến Cách mạng Tháng Tám 1945, trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp và vào thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, địa giới hành chính huyện Đắk Song không có thay đổi lớn so với thời Pháp thuộc. Vào thời kỳ đầu của chính quyền Sài Gòn quản lý miền Nam Việt Nam, huyện Đắk Song là một bộ phận của huyện Đắk Mil, trực thuộc tỉnh Đắk Lắk. Ngày 271958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 356BNVHCNĐ, quy định tỉnh Đắk Lắk có 5 quận, 21 tổng, 77 xã. Trong đó, quận Đắk Song gồm 2 tổng: Đắk Mil (gồm 2 xã) và Đắk Thok (gồm 3 xã). Năm 1959, Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra Sắc lệnh số 24NV ngày 2311959 thành lập tỉnh Quảng Đức; cắt toàn bộ huyện Đắk Mil của Đắk Lắk từ phía Nam cầu 14 đến Đắk Song gọi là quận Đức Lập; cắt một phần huyện Phước Hoà của tỉnh Phước Long thành lập quận Kiến Đức; cắt một phần phía Tây và Bắc huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng và một phần Blaosiêng thuộc Đắk Lắk thành lập quận Khiêm Đức; Tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa. Lúc này, Đắk Song vẫn là một phần của Đức Lập và trực thuộc sự quản lý của tỉnh Quảng Đức.Năm 1960, Trung ương Đảng quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức (lấy mật danh là B.4). Căn cứ vào địa giới hành chính của địch, ta chia tỉnh ra làm bốn đơn vị huyện là Đức Lập (K.2), Đức Xuyên (K.4), Khiêm Đức (K.6), Kiến Đức (K.8). Trong những năm kháng chiến, nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ chiến lược, địa giới huyện Đắk Song thuộc quận Đức Lập được chia tách và tái lập nhiều lần. Giữa năm 1961, Khu 6 được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc về sự chỉ đạo của Khu 6. Đầu năm 1962 tỉnh Quảng Đức giải thể, Đắk Song thuộc E25 do Khu 10 chỉ đạo. Đồng chí Hoàng Đức Thảo (Năm Nam) làm Bí thư, đồng chí Lê Đạo làm Phó Bí thư.Năm 1963, tỉnh Quảng Đức được tái lập. E25 giải thể và trở lại tên cũ huyện Khiêm Đức. Tháng 101963 Khu 10 giải thể, đồng thời giải thể luôn tỉnh Quảng Đức. Huyện Đức Lập, Đức Xuyên về lại tỉnh Đắk Lắk, Khiêm Đức về Lâm Đồng; Kiến Đức về Phước Long.Năm 1965, tỉnh Quảng Đức được tái lập các huyện lại trở về như trước. Đến cuối năm 1966, Khu 10 được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc Khu 10. Từ đó cho đến năm 1975 việc chia tách, sáp nhập thường xuyên thay đổi cho phù hợp với tình hình chiến sự lúc bấy giờ.Tháng 111975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Đắk Song lúc đó là một vùng đất thuộc xã Hoà Thuận, huyện Đắk Mil và xã Đắk N’rung huyện Đắk Nông.Năm 2001, huyện Đắk Song được thành lập theo Quyết định số 30NĐCP ngày 2162001 của Chính phủ, trên cơ sở các xã Trường Xuân, Đắk N’Drung tách từ huyện Đắk Nông và xã Thuận Hạnh, Đắk Mol, Đắk Song tách từ huyện Đắk Mil. Huyện có địa giới hành chính tiếp giáp với các huyện: Đắk Mil, Krông Nô, Đắk Nông, Đắk Rlấp và có chung 24 km đường biên giới với Campuchia. Đến ngày 26112003, Quốc hội ra Nghị quyết số 222003QH 11, quyết định tách Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Huyện Đắk Song thuộc địa bàn tỉnh Đắk Nông quản lí. Ngày 18102007, Chính phủ ban hành Nghị định số 1552007NĐCP điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện của tỉnh Đắk Nông. Trong đó, quyết định thành lập thị trấn Đức An và xã Thuận Hà thuộc huyện Đắk Song.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và truyền thống văn hóa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện.a. Điều kiện tự nhiênĐắk Song là huyện biên giới phía Tây Bắc tỉnh Đắk Nông, nằm ở độ cao trung bình trên 800m so với mặt nước biển. Là cửa ngõ phía Bắc của thị xã Gia Nghĩa, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi; quốc lộ 14C chạy suốt từ Bắc đến Nam huyện, dài hơn 45 km; có tỉnh lộ 6 nối Quảng Sơn của huyện Đắk Glong với Đắk Búk So của huyện Tuy Đức; có tỉnh lộ 2 nối từ ngã ba Đắk Song đi Đắk Mâm của huyện Krông Nô; có đường biên giới với Campuchia dài 24 km. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu giữa nhân dân trong huyện với các địa phương khác trong tỉnh, lưu thông hàng hoá giữa Đắk Song với các huyện, tỉnh bạn, mở ra mối thông thương cho việc phát triển kinh tế, xã hội huyện nhà.Từ 2007 đến nay, diện tích tự nhiên của huyện là 80.803,77 ha, trong đó đất nông nghiệp 24.466 ha, đất lâm nghiệp 40.928 ha, đất khác 15.417ha .Do sự kiến tạo của địa chất và chi phối của điều kiện tự nhiên, lượng mưa hàng năm ở đây khá lớn nên địa hình của Đắk Song bị chia cắt mạnh, đồi núi liên tiếp và các thung lũng hẹp, thấp dần từ Đông sang Tây, đa số diện tích có độ dốc từ 820 độ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 4 kéo dài đến tháng 10 trong năm. Do cấu tạo địa hình và ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Đắk Song tuy không có bão nhưng lượng mưa khá lớn, mưa nhiều vào các tháng 7,8. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.200mm. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau, khí hậu khô hanh và lạnh, đặc biệt ở khu vực trung tâm Đắk Song mùa này trời nhiều sương mù và gió to, mạnh.Gió Đắk Song kéo dài từ tháng 11 đến tháng giêng (âm lịch). Đắk Song chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và mang tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm, thuận lợi cho sự phát triển nhiều loại cây trồng và vật nuôi.Tuy đồi núi dốc nhưng nằm trong vùng đất đỏ bazan nên đất đai ở đây phì nhiêu, thích hợp với cây công nghiệp và cây lấy gỗ, đặc biệt là cây cà phê, hồ tiêu, có thể phát triển thành vùng chuyên canh.Tài nguyên thiên nhiên ở Đắk Song khá phong phú và có giá trị, khu bảo tồn Nâm Nung với những cánh rừng nguyên sinh có trữ lượng gỗ lớn và quý hiếm, nhiều loại thực vật có từ thời nguyên sinh còn bảo tồn lại được và các loài cây dược liệu quý như trầm hương, mã tiền, mật nhân, ….Hệ động vật rừng khá phong phú, trong đó có một số loài hoang dã như voi, hươu nai, trâu bò, lợn rừng, gấu, khỉ, không loại trừ còn có cả tê giác.Khoáng sản bô xít, đá quý, nước khoáng có trữ lượng khá lớn như: mỏ đá thạch anh ở chân dãy núi Nam Nung, mỏ bô xít ở Trường Xuân kéo dài sang cả Thuận Hà có trữ lượng lớn, mỏ đá saphia ở Trường Xuân, mỏ nước khoáng ở Đắk Mol ….. tài nguyên ở Đắk Song nhiều về số lượng, phong phú về thể loại, khá thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế như khai thác khoáng sản, trồng và khai thác rừng, trồng cây công nghiệp,chăn nuôi đại gia súc.Thiên nhiên không chỉ đem lại nguồn tài nguyên quý giá, đa dạng mà còn tạo nên những cảnh quan kỳ thú, trở thành địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn cho du khách trong tương lai.b. Đặc điểm kinh tế xã hộiDân số của huyện khi thành lập là 28.380 khẩu. Đến tháng 122001 huyện có 37.433 khẩu, với 8.209 hộ, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số có 1.234 hộ với 6.764 khẩu, chiếm tỷ lệ 18,06% dân số. Toàn huyện có 5 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 02 xã vùng III là Thuận Hạnh, Đắk Song (có 01 xã biên giới) và 03 xã vùng II là Đắk Mol, Đắk Rung, Trường Xuân (có nhiều đồng bào dân tộc tại chỗ sinh sống).Đắk Song (tên một dòng chảy) nói riêng, Đắk Nông và Tây Nguyên nói chung, do vị trí địa lý, đặc điểm cư dân và các tập tục truyền thống nên vùng đất này gần như cách biệt với vùng đất duyên hải ven biển miền Trung Việt Nam và các nước láng giềng về mặt văn hóa. Theo số liệu thống kê năm 2001, Đắk Song có 5.096 người M’Nông, chiếm 13,6% dân số toàn huyện và chiếm 75,74% tổng số các dân tộc thiểu số nói chung (5.0966.764 người). Đến giữa năm 2002, dân tộc M’Nông huyện Đắk Song có 897 hộ với 5.313 người. Theo khảo sát của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đắk Nông (tháng 6 2004): huyện Đắk Song có tổng số 5.286 người . Trên địa bàn huyện Đắk Song, dân tộc M’Nông có 3 nhánh chính là M’Nông Bu Nơr, M’Nông Nong và M’Nông Preh. Tại xã Đắk N’rung, nhánh M’Nông Bu Nơr cư trú tại 8 bon, bao gồm 292 hộ, 1.761 người. Riêng nhánh M’Nông Preh cư trú tại 4 bon thuộc xã Đắk Mol với 78 hộ, 447 người. Ngoài ra, người M’Nông sống trong các bon, thôn với sự cộng cư cùng các dân tộc khác (với dân tộc Kinh có 5 thôn, với các dân tộc thiểu số khác có 10 bon thôn). Dân tộc Êđê (là một dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk), nhưng ở huyện Đắk Song chỉ có 26 hộ với 110 người. Trên địa bàn 2 xã: Thuận Hạnh và Đắk Song hiện nay không có người dân tộc M’Nông sinh sống.Đảng bộ huyện Đắk Song được thành lập theo Quyết định số 280QĐTU, ngày 0272001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ban Chấp hành lâm thời được chỉ định gồm 21 đồng chí, 07 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ. Sau một thời gian kiện toàn, Ban Chấp hành lâm thời có 29 đồng chí, Ban Thường vụ 9 đồng chí. Đảng bộ có 21 tổ chức cơ sở Đảng, với 417 đảng viên sinh hoạt tại 5 Đảng bộ xã; 02 Đảng bộ Quân sự, Công an và 14 chi bộ trực thuộc. Đảng viên người dân tộc thiểu số có 34 đồng chí, chiếm tỷ lệ 8,15%; đảng viên nữ có 46 đồng chí, chiếm tỷ lệ 11,03%; tỷ lệ đảng viên so với dân số toàn huyện chiếm 1,11%.Đến năm 2010, huyện Đắk Song có 9 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: xã Đắk Môl, xã Đắk Hoà, xã Thuận Hạnh, xã Nam Bình, xã Thuận Hà, xã Đắk N’Drung, xã Nâm N’Jang, xã Trường Xuân và thị trấn Đức An. Dân số toàn huyện có trên 60.340 người , với 20 dân tộc sinh sống ở 08 xã, 01 thị trấn. Toàn huyện có khoảng 1.760 cán bộ, công chức, viên chức ( CBCCVC ); số CBCCVC có trình độ đại học và sau đại học 705 đc, trong đó thạc sỹ 10 đc, đại học 695 đc ( chiếm 40,05% ), cao đẳng 250 đồng chí (chiếm 14,20%), trung cấp 689 đồng chí (chiếm 39,14%); trình độ lý luận chính trị: cử nhân và cao cấp 42 đồng chí (chiếm 2,38%), trung cấp 141 đồng chí (chiếm 8,01%). Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 39.795 người, chiếm 61,22% dân số toàn huyện. Lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế khoảng 36.877 người; trong đó lao động trong lĩnh vực nônglâm nghiệp là 24.514 người, chiếm 66,47% lực lượng lao động; lao động trong công nghiệp chế biến và khai thác là 2.338 người, chiếm 6,33 %, còn lại là lao động thuộc các lĩnh vực khác. Số lao động đã qua đào tạo là 5.000 người, chiếm 13,55%, trong đó đã qua đào tạo nghề 1.500 người chiếm 4,06% . Toàn Đảng bộ có 41 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó 11 đảng bộ cơ sở (8 đảng bộ xã, 01 đảng bộ Thị trấn, 02 dảng bộ lực lượng vũ trang) và 30 chi bộ trực thuộc. Tổng số đảng viên là 1.593 đồng chí, trong đó đảng viên dự bị là 228 đồng chí; đảng viên nữ là 506 đồng chí; đảng viên là người dân tộc thiểu số là 144 đồng chí; đảng viên là người có đạo là 76 đồng chí; đảng viên là đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là 760 đồng chí.C. Cư dân và truyền thống văn hóaTrước thế kỉ XIX, con người xuất hiện sớm trên địa bàn huyện Đắk Song và kéo dài thời kì xã hội nguyên thuỷ, đến những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Đắk Song còn là vùng rừng núi hẻo lánh ít người qua lại, dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, sống trong các cộng đồng thị tộc, bộ lạc… Cư dân sống trên địa bàn Đắk Song chủ yếu là đồng bào dân tộc M’Nông thuộc nhóm M’Nông Preh, M’Noong được chia theo từng nhóm địa phương và mỗi nhóm mang một sắc thái văn hóa riêng.Người M’Nông có ngôn ngữ, chữ viết riêng, có nhiều phương ngữ, nhưng chúng không có sự khác biệt đáng kể.Đa số các dân tộc thiểu số sống bằng nghề nông với phương thức canh tác hết sức đơn giản, ngoài việc trồng lúa thì người dân cũng tập trung chăn nuôi gia súc gia cầm,săn bắt thú rừng, bắt cá trên các sông suối. Người M’Nông săn bắt rất giỏi. Chim, thú là nguồn thực phẩm chủ yếu để tăng khẩu vị trong bữa ăn. Họ biết khôn khéo đặt bẫy trên lối có thú đi qua. Biết ra suối bắt ốc, mò trai về nấu canh, nung vỏ trai để lấy vôi ăn trầu. Phụ nữ dân tộc biết tự dệt vải để tự túc cái mặc; đàn ông M’Nông thường giỏi leo cây rất giỏi để lấy mật ong, biết đan lát đồ dùng trong nhà, sáng chế ra những công cụ lao động và cả vũ khí để săn bắt. Trình độ sản xuất của đồng bào chủ yếu vẫn dựa vào nương rẫy, với sở trường du canh du cư.Làng của người M’Nông trước đây được bao quanh bằng hàng rào gỗ, có cổng ra vào vừa để chống thú dữ, vừa có thể ngăn chặn, đề phòng cướp bóc của kẻ xấu. Đứng đầu vùng liên cư là già làng, già làng là người được nhân dân bầu chọn, là người quản lý luật tục và chỉ huy bảo vệ buôn làng. Già làng là thủ lĩnh của làng hoàn toàn làm việc tự nguyện không có thù lao.Trong quan hệ gia đình và xã hội, người M’Nông vẫn duy trì chế độ thị tộc mẫu hệ, người phụ nữ đóng vai trò quyết định trong mọi công việc. Các gia đình trong bon đều có mối quan hệ thân tộc hoặc thích tộc, làm cho quan hệ cộng đồng được duy trì khá bền vững. Những tập quán được truyền từ đời này qua đời khác, các phong tục tập quán của bà con dân tộc thiểu số còn mang nhiều nét tàn dư của thời kỳ nguyên thuỷ.Trang phục truyền thống của đồng bào M’Nông đơn giản không cầu kỳ, đàn ông thường quấn khăn vắt tà lên vai, mặc khố và quấn trên đầu một chiếc khăn đan màu tím hoặc màu xanh nước biển. Phụ nữ mặc yên (váy) có khăn che ngực, đeo vòng bằng đồng thau ở cổ và tay. Nhìn chung trang phục của người M’Nông thiên về gọn gàng thích hợp với lao động, không mất nhiều thời gian trang điểm như các dân tộc khác.Về văn hóa dân gian, cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, người M’Nông ở Đắk Song trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh để tồn tại và phát triển đã hình thành nên một nền văn hóa rất phong phú độc đáo gồm cả ca dao, tục ngữ, truyện cổ, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn. Nghệ nhân Điểu Kâu (Ma Phước), Điểu K’Lớt, Điểu N’Dja ở Đắk N’Drung đã cung cấp hàng vạn câu ca dao, tục ngữ được lưu truyền từ đời này qua đời khác.Về nhạc cụ, họ cũng sáng chế ra một số nhạc cụ độc đáo như bộ gõ có giàn chiêng, trống. Xa xưa còn có đàn đá, một số nghệ nhân ở Trường Xuân biết sử dụng đàn đá khá thành thạo . Xã hội cổ truyền người M’Nông được vận hành theo luật tục, tục truyền quy định rõ những điều được làm và những điều không được làm, nếu vi phạm thì phân xử rõ ràng. Nội dung các luật tục đề cập tới hầu hết các mối quan hệ xã hội như: vấn đề hôn nhân gia đình, phong tục tín ngưỡng, về tài sản… Cộng đồng người M’Nông ở Đắk Song còn lưu giữ được cả một hệ thống luật tục dưới hình thức văn vần truyền miệng.Nguồn gốc đồng bào M’Nông ở đây không theo một tôn giáo nào, tín ngưỡng chủ yếu nhờ vào thần linh vô hình gọi là Rít và sau đó đến các thần sông, thần núi, thần cây cối… Là một dân tộc có tinh thần phóng khoáng, yêu tự do, không chịu áp bức của kẻ khác.II. Truyền thống đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đắk Song trước khi có tổ chức Đảng lãnh đạoCùng với các dân tộc khác trên vùng đất Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc huyện Đắk Song từ xa xưa đã được hun đúc truyền thống quật cường bất khuất, chống lại ách áp bức cường quyền dưới chế độ phong kiến để bảo vệ sự tồn tại của bộ tộc mình. Bài ca “Ra trận” của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã được hát vang từ đời này sang đời khác, lan tỏa cả vùng đất Đắk Sọng. Tinh thần thượng võ, phóng khoáng, yêu tự do độc lập, bảo vệ chủ quyền của mảnh đất mà thế hệ cha ông đã vượt qua bao nhiêu gian khó tạo dựng được, đồng bào không chấp nhận kẻ mang theo gươm giáo, súng đạn đến để xâm chiếm quê hương mình. Do vậy, ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên mảnh đất này, đồng bào các dân tộc huyện Đắk Song đã cùng với đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đứng lên chiến đấu quyết liệt với thực dân Pháp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.Năm 1894, hai toán quân Pháp đi theo thung lũng sông Ba và sông H’Năng lên cao nguyên bị đồng bào M’Dhur (Êđê) chặn đánh, rút xuống đồng bằng. Tháng 3 năm 1900, tên công sứ Bourgois đem quân chinh phục người Bih ở hạ lưu sông Krông Ana và Krông Nô, những người dân Bih với sự lãnh đạo của N’Trang Gưh đã quật cường, bền bỉ chống lại. Quân Pháp buộc phải bỏ chạy khỏi buôn Tour, trước khi bỏ chạy, chúng còn đốt trụi buôn Trấp, buôn Choá (Cuah) quê hương của N’Trang Gưh. Lập tức sau đó nghĩa quân nổi dậy tiến công trả thù tiêu diệt toàn bộ lính Pháp trong đồn buôn Tour, tên đồn trưởng Canivey cũng bị chết gục ở sân đồn, người đầy tên ná. Các đồn trại của Pháp ở các buôn Djiêng, Djou, Phety buôn Tinh… lần lượt bị tiêu diệt. Cuộc chiến đấu của đồng bào Bih kéo dài đến năm 1913, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, N’Trang Gưh kêu gọi nhân dân chuyển làng vào rừng sâu, bất hợp tác với giặc. 250 gia đình người Bih di chuyển lên phía Bắc vùng M’Nông thuộc vùng trung lưu sông Sê Rê Pốc để sinh sống ở đó, không chịu khuất phục quân Pháp.Đặt chân lên vùng đất này đã khó, thiết lập cho được ách thống trị thực dân, thực hiên công cuộc khai thác ở đây lại càng khó hơn. Thực dân Pháp đã vấp phải một phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc mà người cầm đầu thường là các tù trưởng hay những người có uy tín trong địa phương. Cuộc đấu tranh chống xâu thuế, chống cướp đất lập đồn điền của đồng bào các dân tộc tiếp tục, các phong trào yêu nước trước đó đã diễn ra liên tục ngày càng quyết liệt. Đồng bào nhận rõ: “Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ làng đi làm đường cho bọn Ó Trắng (chỉ bọn Pháp) để chúng giậm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta”.Trên đường 26, đồng bào Êđê, dưới sự chỉ huy của tù trưởng Ama Shao nổi dậy chống Pháp từ 1889 đến 1905. Năm 1889 khi thực dân Pháp bắt hàng loạt người đi phu làm đường và mở đồn điền, ông đã tập hợp lực lượng chống lại ách thống trị của chúng. Nghĩa quân của ông đã nhiều lần tấn công quấy rối khiến cho Pháp rất lo sợ. Chúng bao vây nghĩa quân, cắt đường tiếp tế, cấm đưa muối và các công cụ sắt vào vùng của nghĩa quân Ama Shao. Ama Shao và nhân dân không chịu khuất phục, họ tìm cách bí mật liên lạc được với dân làng và cuộc đấu tranh chống bắt xâu vẫn tiếp tục lan rộng.Tháng 1 năm 1904, Pháp huy động lính từ Huế và từ Campuchia sang đàn áp khốc liệt phong trào. Năm 1905, công sứ Pháp Bét na (Besnard) mua chuộc những người theo Ama Shao đang dao động trong tình thế bị bao vây kinh tế và bị đàn áp mạnh. Có một số đã ra hàng Pháp làm cho lực lượng nghĩa quân yếu đi. Sau đó, Ama Shao bị sa vào tay giặc, chúng giam ông đến chết ở trong tù.Phong trào đấu tranh lớn nhất chống lại ách thống trị của Pháp ở Đắk Nông trong những năm đầu thế kỷ XX là phong trào khởi nghĩa của N’Trang Lơng. Phong trào này bùng nổ từ năm 1912 kéo dài tới năm 1936, tiêu biểu cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của các dân tộc trong tỉnh nói riêng và của Tây Nguyên nói chung.Trong những năm 19091911, thực dân Pháp tiến hành nhiều cuộc cướp bóc lúa gạo của đồng bào M’Nông để dự trữ lương thực cho các cuộc hành quân đồng thời chúng bắt đi xâu liên tiếp để làm đồn bốt cho chúng. Tên Hăng ri mét (Hari Maitre) chỉ huy cuộc bình định M’Nông đưa quân đi khủng bố đàn áp khốc liệt những làng nổi dậy để hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng.Cuối năm 1911, một cánh quân tuần tiễu của Hăng ri mét đốt phá làng Bu N’Trang, hãm hiếp vợ con ông. Tội ác này chồng chất lên những tội ác khác, đã trực tiếp châm ngòi cho cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng bùng nổ . N’Trang Lơng là một tù trưởng có uy tín lớn trong vùng được nhân dân bộ lạc Biệt cũng như các bộ lạc khác kính nể. Khi đứng lên đánh Pháp, ông tập hợp được nhiều tù trưởng khác trong đó có những người sau này trở thành thủ lĩnh tài giỏi của nghĩa quân như R’Ding, R’Ong leng (vốn là người dân tộc M’Nông tù trưởng của các làng BuJengchet, Bumera và Bù Nốp thuộc tổng Đắk Rtih nay là thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) hay Bulak ma prah (vốn là người bộ lạc Rơ, ông là tù trưởng trong lưu vực sông Đa Khoch gần biên giới Campuchia). Địa bàn hoạt động của nghĩa quân N’Trang Lơng là cao nguyên trung tâm, nằm giữa biên giới Việt – Miên, về phái Tây Nam Đắk Nông. Quá trình hoạt động của nghĩa quân N’Trang Lơng kéo dài 24 năm, trả thù nhà, đền nợ nước, thủ lĩnh của nghĩa quân N’Trang Lơng đã làm cho thực dân Pháp vô cùng kinh ngạc về ý chí và sự bất khuất kiên cường của đồng bào dân tộc nơi đây. Khi chiến thắng ở Bunor và Bumêra thanh thế của nghĩa quân N’Trang Lơng vang dội khắp miền Nam Tây Nguyên, các bộ lạc M’Nông đều ngả theo nghĩa quân. Thực dân Pháp thú nhận các vùng đóng quân giữa ngoại vi vùng M’Nông không có tác dụng gì trong việc kiểm soát người M’Nông. Trước tình hình đó một mặt chúng tăng cường các cuộc càn quét, mặt khác chúng thực hiện âm mưu bao vây kinh tế nghĩa quân N’Trang Lơng.Bước sang những năm 30 của thế kỷ XX, Pháp mở những cuộc hành quân trên quy mô lớn nhằm bình định bằng được cao nguyên M’Nông, đẩy mạnh việc xây dựng con đường chiến lược số 14. Tên Gatin (Gatille) đại lý Pháp ở Snul được giao làm đoạn đường 14 chạy dưới chân cao nguyên M’Nông. Công trường làm đường của Gatin có nhiều đội lính Khố xanh bảo vệ nhưng chúng vẫn bị nghĩa quân tấn công. Ngày 2611931, tên Gatin bị giết ở đoạn đường 14 cách Sreykhtum 17km. Sau sự kiện đó một phong trào chống Pháp bùng lên mạnh mẽ ở vùng ba biên giới. Từ tháng 2 đến tháng 121931, Pátxkia (Pasquier) toàn quyền Đông Dương và tên Bilốt (Billôte) tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã chuẩn bị một kế hoạch đối phó với những cuộc nổi dậy của đồng bào M’Nông. Đồng bào M’Nông dưới sự lãnh đạo của nghĩa quân N’Trang Lơng đã thực hiện “vườn không nhà trống” dời làng vào rừng sâu chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Do sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân, đến cuối năm 1932, chúng vẫn không đạt được mục đích, chỉ dựng thêm hai đồn trong khu vực M’Nông là đồn Budengrom (Bujengdrom) và Lơ rô lăng (Lerolland),(thuộc Campuchia).Đầu năm 1933, nghĩa quân N’Trang Lơng nỗ lực giành lại thế chủ động. Ngày 611933, 200 quân trang bị bằng tên và súng cướp được của địch dưới sự chỉ huy của N’Trang Lơng đã tiêu diệt đồn Gati . Sau đó nghĩa quân đánh bại cánh quân đến tiếp viện diệt tên chỉ huy Lơ công tơ (Leconte) của Pháp. Tháng 2 và tháng 31933 chúng tiến hành một cuộc càn quét quy mô lớn vào căn cứ địa của nghĩa quân, đốt làng, thiêu huỷ lương thực, bắn trâu bò, triệt phá kinh tế vùng hoạt động của nghĩa quân. Nhưng nghĩa quân và đồng bào M’Nông, Stiêng vẫn kiên cường rải chông, lập làng chiến đấu. Đầu năm 1934 N’Trang Lơng phái người đi liên lạc với các thủ lĩnh trong vùng M’Nông Biệt và Stiêng để vận động, phối hợp tác chiến. Thực dân Pháp quyết định thay chỉ huy, tăng lực lượng chiến đấu, mở cuộc càn quét quy mô từ vùng bắc Biên Hoà, Thủ Dầu Một cho đến bờ sông Sê Rê Pốc gần sát Buôn Ma Thuột. Nghĩa quân tạm lánh những mũi tấn công chính của Pháp, chuyển sang đánh phá các đồn quan trọng của chúng. Tiêu biểu là trận đánh ngày 531935, nghĩa quân diệt gọn đồn Rôlăng khiến Pháp phải cho máy bay hoạt động để ngăn ngừa những đợt tấn công mới của nghĩa quân. Giữa tháng 51935, quân Pháp tập trung lực lượng, tiến công đại bản doanh của nghĩa quân NTrang Lơng. Lương thực, thực phẩm, vũ khí và thuốc men của nghĩa quân tại vùng căn cứ thiếu thốn nghiêm trọng. NTrang Lơng bị trọng thương, cùng một số thủ lĩnh khác của cuộc khởi nghĩa rơi vào tay giặc. Ông đã anh dũng hy sinh vào đêm 2351935, nhưng nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu, sang năm 1936 phong trào khởi nghĩa mới chấm dứt.Phong trào khởi nghĩa của NTrang Lơng đã khích lệ, cổ vũ đồng bào các dân tộc trên vùng đất Tây Nguyên nói chung, Đắk Song nói riêng nối tiếp nhau đứng lên chiến đấu chống chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế, nộp sản vật...của thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai của chúng. Cũng như phong trào khởi nghĩa tự phát của nông dân Yên Thế ở miền núi phía Bắc trước đó, phong trào khởi nghĩa của N’Trang Lơng thể hiện sự phản kháng mãnh liệt đối với giặc ngoại xâm khi xâm chiếm đất đai, lập đồn điền, khai thác tài nguyên, xâm phạm đến lợi ích của đồng bào dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa đó thiếu một đường lối chính trị đúng đắn, lực lượng nhỏ yếu và bị phân tán, chưa phối hợp được với các phong trào chung trong cả nước, nên bị cô lập và từng bước bị thực dân Pháp đàn áp.Tuy thất bại, nhưng khởi nghĩa của N’Trang Lơng mãi mãi là niềm tự hào của các dân tộc ở Đắk Nông về sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất kiên cường và tinh thần đoàn kết chiến đấu của các dân tộc để bảo vệ nương rẫy, bảo vệ quê hương, đất nước. Đó cũng là cơ sở lịch sử quan trọng để phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Đắk Song vươn lên tiếp nhận ánh sáng cách mạng của Đảng, hòa chung vào dòng chảy của sự nghiệp cách mạng cả nước trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.PHẦN ITỔ CHỨC ĐẢNG RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN, KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ (19301975)Chương IQUÂN VÀ DÂN ĐẮK SONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (19301954)I.Nhân dân Đắk Song đấu tranh giành chính quyền cách mạng dưới ánh sáng của Đảng (19301945)1. Đắk Song dưới sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến phản độngVùng đất Đắk Song nói riêng, tỉnh Đắk Nông nói chung có vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng của khu vực Nam Tây Nguyên, do vậy, ngay từ những năm cuối thế kỷ XVIII, những đội quân tình báo, gián điệp khoác áo “thầy tu” và các “nhà thám hiểm” đã lên hoạt động, nắm tình hình ở vùng cao nguyên M’Nông. Sau nhiều thập kỷ thăm dò và thám hiểm, nhất là sau khi đã bình định xong các vùng đồng bằng, thực dân Pháp mở các cuộc tấn công quyết chiếm được vùng Tây Nguyên. Ngay sau khi chiếm được vùng đất này, thực dân Pháp đã thi hành chính sách “trực trị”, đồng thời ra sức xây dựng bộ máy quân đội và chính quyền người bản xứ để làm công cụ đàn áp, thống trị, bóc lột nhân dân ta.Về chính trị: Chính quyền thực dân sử dụng triệt để chính sách “chia để trị”, gạt ảnh hưởng của triều đình nhà Nguyễn ra khỏi đời sống chính trị Tây Nguyên nói chung và Đắk Song nói riêng, sử dụng quân đội và bộ máy hành chính của thực dân Pháp cai trị trực tiếp đồng bào Tây Nguyên. Chúng mua chuộc, lôi kéo một số già làng, tù trưởng, dựng lên chính quyền tay sai cai quản các vùng dân tộc từ tỉnh đến buôn, bon dưới quyền sai khiến của viên công sứ người Pháp, làm công cụ để đàn áp và thống trị lâu dài Tây Nguyên. Chính quyền thực dân còn thi hành một số thủ đoạn chính trị xảo quyệt như kêu gọi tinh thần hợp tác giữa người Pháp với người Thượng, làm ra vẻ tôn trọng các phong tục tập quán của đồng bào bằng cách nghiên cứu tỉ mỉ các phong tục tập quán và đề ra các chính sách cai trị cho thích hợp với từng vùng, từng dân tộc.Hệ thống kìm kẹp của chúng kết chặt giữa bộ máy quan lại, tổng, lý từ buôn, huyện đến tỉnh với bọn quan lại chỉ huy đồn trú ngày một tăng cường, làm cho đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Song nói riêng bị gò ép, vây ráp trong vòng xiềng xích, không hề có chút tự do, dân chủ.Chính quyền thực dân còn ban bố những luật lệ nhằm ngăn cản mối quan hệ giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh, kích động tư tưởng bài Kinh, ngăn trở mọi ảnh hưởng tư tưởng cách mạng tiến bộ vào Đắk Nông. Đối với nội bộ các dân tộc thiểu số, chúng dùng cách đối xử phân biệt, chia rẽ để gây mâu thuẫn giữa các dân tộc; dùng dân tộc này chống lại dân tộc khác. Dùng người theo đạo chống lại người không theo đạo. Nhiều vụ xung đột giữa các buôn, giữa các thành phần dân cư, giữa các dân tộc nổ ra ở Đắk Song thời kỳ này đều có bàn tay chỉ huy vấy máu của thực dân Pháp.Về kinh tế: Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để khai thác triệt để nguồn tài nguyên của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trước hết là dùng vũ lực dồn đuổi đồng bào các dân tộc, cướp đoạt đất đai, nương rẫy của đồng bào để xây dựng hệ thống các đồn bốt và lập các đồn điền trồng chè, cà phê, cao su, cây dược liệu.., thực hiện chính sách cướp bóc tài nguyên, chiếm đất, chiếm mọi nguồn lợi của Tây Nguyên. Dọc theo quốc lội 14, 21, các quận, thị trấn lần lượt xuất hiện các đồn điền Sau khi cướp đất lập đồn điền, thực dân Pháp lại “mộ phu” là những người đã bị mất đất, mất ruộng đi làm thuê cho chúng. Công nhân trong các đồn điền dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp nơi đây, không chỉ phải chịu đựng khí hậu khắc nghiệt của “rừng thiêng, nước độc”, mà còn chịu sự bóc lột thậm tệ, với giá nhân công rẻ mạt của các chủ đồn điền. Chính nữ kí giả người Pháp Ăngđrê Viôlit viết về tình trạng công nhân Đông Dương năm 1931 như sau: “…tôi được biết ở các đồn điền, và nói riêng ở các đồn điền trồng cao su tại các vùng khí hậu rất xấu, công nhân phải làm việc từ 15 đến 16 giờ mỗi ngày và được trả từ 1,2 đến 2,2 phrăng mỗi ngày” .Đặc biệt khi nước Pháp lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chúng ra sức vơ vét ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Song nói riêng bằng việc tăng thuế và đặt ra nhiều loại thuế mới. Chính quyền thực dân bóc lột đồng bào các dân tộc một cách thậm tệ bằng sưu cao, thuế nặng, làm cho mọi nhà điêu đứng. Một trong những lợi ích kinh tế của bọn cai trị Pháp lúc bấy giờ là thi hành chính sách xâu (đi phu), thuế khắc nghiệt, tàn nhẫn đối với người dân Đắk Song. Chúng đặt ra nhiều loại hình thuế như thuế thân, thuế điền thổ, thuế voi, thuế đầu thú, xâu công ích, tư ích, phu đồn điền… Với chế độ xâu, thuế đó, thực dân Pháp đã biến người dân ở đây thành những “cu ly” thường trực cho các công trường đường sá, khai thác tài nguyên cho chúng. Chế độ đi xâu quy định đối với đàn ông từ 16 tuổi đến 60 tuổi, mỗi năm người lao động bị bắt làm xâu ba, bốn tháng. Vào thời vụ đặc biệt, mỗi người phải đi xâu 20 ngày (gồm 10 ngày xâu công ích và 10 ngày xâu tư ích) tính cho mỗi tháng. Chúng bắt cả voi cũng phải đi xâu như người. Công việc làm xâu gian khổ, vất vả như chặt phá rừng, khai khẩn đất đai trồng cao su, cà phê, đào núi, lấp suối, bắc cầu, làm đường… người đi xâu ốm đau không có thuốc men, chết dần, chết mòn. Đối với người không đi xâu cũng phải nộp 0,25 đồngngày và voi phải nộp 0,5 đồngngày. Ngoài xâu, còn có các thứ “lao dịch” khác cho bọn chánh tổng, huyện phải nộp các lễ vật, trâu, gà, heo, gạo… là những gánh nặng chồng chất mà đồng bào phải chịu đựng.Chính quyền thực dân còn đặt ra loại thuế vô lý là thuế đầu thú. Thuế này đánh vào dân các làng trước đây nổi dậy, bất hợp tác, dời làng đi nơi khác, về sau bị bao vây, o ép phải quay lại địa bàn cũ thuộc địa bàn thực dân Pháp chiếm đóng. Thuế này năm 1929, mỗi suất là 1,0 đồng (bằng 4 kg gạo), đến năm 1933, tăng lên 2,5 đồng. Hai loại thuế nặng nhất đối với nhân dân Đắk Song là thuế thân và thuế voi. Hàng năm, mỗi người phải đóng hai đồng bạc Đông Dương và hai thùng thóc cho thuế thân; mỗi con voi phải chịu ba đồng cho thuế voi. Đồng bào thường xuyên bị chính quyền thuộc địa và các chủ đồn điền, chủ buôn, bon phạt vạ như phạt làm hỏng đường, phạt làm hỏng cây cối ở các đồn điền, phạt vì đồng bào có hành vi chống lại chính quyền… Đồng thời, thuế ruộng đất, thuế phát rẫy, thuế nhà, thuế muối và nhiều thứ thuế vô lý khác cũng được tăng lên. Chế độ xâu, thuế bóc lột tận xương tủy của chính quyền thuộc địa làm cho sản xuất đình trệ, người dân không ngóc đầu lên, sống trong cảnh nghèo đói, cơ cực. Về quân sự: Để tăng cường lực lượng đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân và làm bia đỡ đạn cho chính quyền thực dân khi chiến tranh xảy ra, thực dân Pháp ráo riết xây dựng các đơn vị vũ trang người dân tộc. Thâm độc hơn, chúng dùng lực lượng vũ trang là người dân tộc tại địa phương để khủng bố, tàn sát dân làng, tạo cảnh “nồi da xáo thịt” trong các buôn, làng Tây Nguyên.Thực dân Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt ở các quận, huyện, thị xã, các đầu mối giao thông quan trọng và những nơi hiểm yếu nhằm kiểm soát chặt chẽ sự giao lưu của các dân tộc Tây Nguyên, chia tách Tây Nguyên khỏi Việt Nam. Đồng thời, cử nhiều quan chức có kinh nghiệm đến cai trị ở Tây Nguyên. Từ năm 1930, để thực hiện kế hoạch bình định nhanh chóng Tây Nguyên, chính quyền thực dân tập trung lực lượng quân sự đàn áp phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc. Với chính sách “đốt sạch, giết sạch”, chúng tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn có sự yểm trợ của máy bay, pháo binh nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa N’Trang Lơng và các cuộc đấu tranh khác của đồng bào Tây Nguyên. Về văn hóa, giáo dục, y tế: Cùng với sự kìm kẹp về chính trị, sự đình đốn về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùng Tây Nguyên. Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường giáo phận dùng để truyền giáo. Giáo dục đào tạo hạn chế đến mức tối thiểu và cũng chỉ giành cho con em các viên chức tổng lý, một số con em tù trưởng, chủ làng để phục vụ trực tiếp cho bộ máy hành chính và đội quân cai trị của chính quyền thực dân. Núp dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng” hoặc “không đụng chạm đến tập tục văn hóa bản địa”, thực dân Pháp đã tạo điều kiện duy trì và khuyến khích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân. Mọi sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm. Chúng thực thi phát triển “tôn giáo hóa văn hóa” nhằm phân hóa, ru ngủ lực lượng có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc. Trên thực tế, Pháp không thực hiện được một công trình văn hóa, xã hội nào trên Tây Nguyên để thể hiện “sự khai hóa” như sự tuyên truyền của họ.Là vùng đất mới khai phá, nơi “rừng thiêng nước độc”, trong khi đó chính quyền thực dân bỏ mặc, nên dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở vùng Tây Nguyên. Các bệnh kiết lỵ, sốt rét, dịch hạch, bướu cổ, phong… luôn đe dọa mạng sống nhân dân, có năm cướp đi hàng trăm sinh mạng. Cùng với nạn đói, dịch bệnh là tác nhân của sự diệt vong giống nòi các dân tộc Tây Nguyên.Chính sách cai trị dã man, chế độ xâu thuế nặng nề của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Đắk Song nói riêng, Tây Nguyên nói chung với chính quyền thực dân ngày càng sâu sắc. Nguyện vọng thiết tha của đồng bào là lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do. Do đó, kể từ khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng đất này, thì các phong trào đấu tranh của các dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược liên tục nổ ra quyết liệt để giữ buôn, giữ đất.2. Phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk SongTrong suốt những năm đầu thế kỷ XX, tiếp nối truyền thống đấu tranh anh dũng quật cường chống ngoại xâm, phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song và tỉnh Đắk Nông đã diễn ra sôi nổi, quyết liệt chống thực dân Pháp. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc MNông, STiêng, do thủ lĩnh NTrang Lơng đứng đầu, chống thực dân Pháp xâm lược nổ ra từ năm 1912. Tuy bị đàn áp dã man, nhưng phong trào khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc thiểu số chống thực dân Pháp xâm lược vẫn kéo dài hơn 24 năm (19121936) do thủ lĩnh NTrang Lơng đứng đầu, bị kẻ thù đàn áp dã man, dìm trong bể máu. Tuy nhiên, ý chí kiên cường, tinh thần đoàn kết các dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung của NTrang Lơng và nghĩa quân đã khích lệ đồng bào các dân tộc ở Đắk Song và người MNông, STiêng, Êđê, Mạ, Chàm, Kinh, Kho... ở Đắk Nông, Krông Nô, Đắk Mil... kế tiếp nhau đứng lên chiến đấu chống bọn xâm lược và tay sai của chúng.Cùng với cuộc khởi nghĩa NTrang Lơng, phong trào đấu tranh của đồng bào Đắk Song và khu vực Tây Nguyên chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế nộp sản vật... của đồng bào các dân tộc thiểu số diễn ra sôi nổi. Năm 1933, phong trào đấu tranh của đồng bào Êđê đòi được tự do đi mua muối, chống nộp lúa, chống đi phu làm đường, không nộp trâu, phá đồn điền... làm cho chính quyền thuộc địa ở Tây Nguyên hết sức lo ngại. Các năm 19371938, đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song và tỉnh Đắk Nông hưởng ứng phong trào Mộ Cộ (Bằng Trắng). Phong trào do hai thủ lĩnh người dân tộc Kho tên là KVoai và KMhòi khởi xướng từ buôn Đông Đò, xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Đồng Nai Thượng. Phong trào thành lập các tổ chức bí mật tới các buôn ấp, vận động đồng bào Thượng, Chăm, Kinh đoàn kết cùng nhau đánh Pháp, đóng góp tiền bạc, sắm vũ khí... Từ Di Linh, phong trào nhanh chóng lan ra nhiều huyện ở Lâm Đồng và Bình Thuận, thu hút trên hơn 1 vạn người tham gia. Thực dân Pháp coi đây là mối lo mới nên chúng quyết định tấn công, đàn áp phong trào, bắt hai thủ lĩnh. Ngày 13121938, chúng lập tòa án Di Linh, kết án 14 người về tội âm mưu làm loạn chống chính quyền, với án từ 7 đến 20 năm tù khổ sai nhằm uy hiếp đồng bào ta. Không run sợ trước sự khủng bố của kẻ thù, ở địa bàn Đắk Song và nhiều nơi Đắk Nông đồng bào Thượng, Chàm, Kinh vẫn đoàn kết tiếp tục đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột của chính quyền thuộc địa và tay sai của chúng.Phong trào đấu tranh của các tù nhân bị giam tại nhà đày Buôn Ma Thuột và các trại giam diễn ra liên tiếp trong nhà tù. Phong trào này bắt đầu ngay từ năm 1930 diễn ra trên các công trường làm đường quốc lộ. Nổi bật là cuộc đấu tranh của các tù nhân ở công trường làm đường km 33 (quốc lộ 14) ngày 1831932, phản đối lính đánh đập tàn nhẫn và ăn uống tồi tệ. Dưới sự chỉ đạo của một số tù nhân cộng sản, tất cả tù nhân đình công, đưa ra 3 yêu sách: Không được đánh đập, phạt tù;
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Đắk Song là huyện biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Đắk Nông, có vịtrí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòngcủa phên dậu quốc gia trên vùng đất Cao nguyên hùng vĩ
Trải qua nhiều biến thiên trong quá trình phát triển của lịch sử, Huyện đượcthành lập theo Quyết định số 30/2001/NĐ-CP, ngày 21-6-2001 của Chính phủ.Với vị trí địa lý phía Nam giáp thị xã Gia Nghĩa và huyện Tuy Đức, phía Bắcgiáp huyện Đắk Mil, phía Đông giáp huyện Krông Nô, phía Tây giáp biên giớiCampuchia, với tổng diện tích tự nhiên là 80.811 ha Với điều kiện tự nhiên vàtài nguyên khoáng sản phong phú là những yếu tố thuận lợi để Đắk Song pháttriển nhanh một nền kinh tế đa dạng, xây dựng Đảng vững mạnh gắn với xâydựng thế trận phòng thủ đảm bảo an ninh chính trị trong tình hình mới.
Để có được một Đắk Song với vị thế và tiềm năng như hôm nay, lớp lớpđồng bào các dân tộc trên vùng đất này đã vượt qua bao nhiêu gian nan, hy sinhthử thách để hòa chung với dòng chảy của những người con trên quê hươngM’Nông chất phác, thật thà, cần cù trong lao động sản xuất, nhưng vô cùng kiêncường và anh dũng trong chiến đấu bảo vệ buôn làng, nương rẫy Đặc biệt từ khi
có sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống tốt đẹp đó càng được nâng lên tầm caomới Mỗi buôn, bon, làng, tên núi, tên sông nơi đây đã gắn liền với những chiếncông oanh liệt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, giữvững bản sắc, tôn vinh truyền thống yêu nước mà thế hệ ông cha đã tạo dựng từ
xa xưa trên vùng đất Nam Tây Nguyên
Nhằm khơi dậy, bảo tồn và tiếp tục phát huy những giá trị truyền thốngtrong đấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng quê hương, đất nướccủa nhân dân các dân tộc trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện Chỉ thị
số 15-CT/TW, ngày 28/8/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số CT/TU, ngày 24-12-2004 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông về công tácnghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Lịch sử Đảng bộ và giáo dục truyền thống cáchmạng; đồng thời nhân dịp chào mừng Kỷ niệm 85 năm ngày thành lập ĐảngCộng sản Việt Nam, 15 năm thành lập huyện Đắk Song và Đại hội Đảng bộhuyện lần thứ IV (nhiệm kỳ 2015- 2020), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đắk
17-Song quyết định sưu tầm, biên soạn cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Đắk Song ( 1930 – 2010 ).
Việc biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ không chỉ góp phần giáo dục truyềnthống cách mạng vẻ vang, nâng cao lòng tự hào, tự tôn, ý thức trách nhiệm của cán
bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ngày nay, mà còn bày tỏ sự tôn vinh vàtri ân sâu sắc đối với các thế hệ đảng viên, đồng bào các dân tộc đã từng nỗ lực, hy
Trang 2sinh vượt qua gian khó, hiểm nguy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hươngtrên mảnh đất Đắk Song
Sau một thời gian sưu tầm tài liệu, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, nghiên
cứu và biên soạn, cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Đắk Song (1930- 2010) đã được
hoàn thành, nội dung gồm những phần chính sau:
Phần mở đầu: Khái quát về vùng đất, con người và truyền thống lịch sử
trước khi có tổ chức Đảng lãnh đạo
Phần thứ nhất: Tổ chức Đảng ra đời lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền
và kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược (1930-1975)
Phần thứ hai: Lãnh đạo nhân dân trên địa bàn huyện quá độ lên CNXH và
từng bước thực hiện đường lối đổi mới (1975-2000)
Phần thứ ba: Huyện Đắk Song được thành lập, Đảng bộ huyện lãnh đạo
nhân dân thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vị thế mới 2010)
(2001-Phần kết luận: Khái quát những thành tựu chủ yếu, những hạn chế, khó
khăn và những kinh nghiệm trong hoạt động của Đảng bộ huyện Đắk Song
Trong quá trình sưu tầm tư liệu và biên soạn cuốn sách, Ban Chỉ đạo đãnhận được sự giúp đỡ nhiệt thành, với những ý kiến đóng góp vô cùng quý giá củacác đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo địa phương qua các thời
kỳ, các đồng chí đã từng sống, chiến đấu, công tác trên địa bàn huyện Đắk Song,Tạp chí Lịch sử Đảng -Viện Lịch sử Đảng, Phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng - BanTuyên giáo Tỉnh uỷ và các ban ngành liên quan, để công trình được hoàn thành Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng do địa bàn cónhiều sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt khókhăn trong việc khai thác tài liệu lưu trữ, nhất là các tài liệu trước khi thành lậphuyện, do vậy, cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhấtđịnh
Ban Chỉ đạo xin chân thành cảm ơn và mong muốn tiếp tục nhận đượcnhiều ý kiến đóng góp quý báu từ các đồng chí và toàn thể cán bộ, nhân dân trong
và ngoài huyện để cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện được hoàn chỉnh hơn trong nhữnglần tái bản sau
Ban Thường vụ Huyện ủy Đắk Song
Bí thư
Đào Xuân Sanh
Trang 3BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN ĐẮK SONG HIỆN NAY
Trang 4TRỤ SỞ HUYỆN ỦY ĐẮK SONG
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC HUYỆN ĐẮK
SONG TRƯỚC KHI CÓ TỔ CHỨC ĐẢNG LÃNH ĐẠO
1 Lịch sử vùng đất, con người và những giá trị truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk Song
1 Quá trình hình thành địa giới huyện Đắk Song
Đầu thế kỷ XX Đắk Song là một vùng đất hẻo lánh, dân cư thưa thớt, chủyếu là đồng bào dân tộc thiểu số người M’Nông sinh sống theo cộng đồng bộlạc, thị tộc, nằm giữa 2 huyện Di Linh thuộc tỉnh Đồng Nai thượng và Đức Lậptỉnh Đắk Lắk
Năm 1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Đắk Lắk, tỉnh lỵ đóng tại Buôn
Ma Thuột, gồm 5 quận: M’Đrăk, Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột, Đắk Song và Lăk.Mỗi quận chia ra làm nhiều tổng.Tổng chia ra làm nhiều buôn1 Năm 1931,chính quyền thực dân Pháp tiến hành cuộc cải cách hành chính toàn ĐôngDương Địa bàn huyện Đắk Song nằm ở phía Nam tỉnh Đắk Lắk, từ cầu 14 trởxuống, đến giáp tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Phước) Từ đó đến Cáchmạng Tháng Tám 1945, trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp và vào thời kìđầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, địa giới hành chính huyện Đắk Song không cóthay đổi lớn so với thời Pháp thuộc
Vào thời kỳ đầu của chính quyền Sài Gòn quản lý miền Nam Việt Nam,huyện Đắk Song là một bộ phận của huyện Đắk Mil, trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.Ngày 2-7-1958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 356/BNV-HC-NĐ, quyđịnh tỉnh Đắk Lắk có 5 quận, 21 tổng, 77 xã Trong đó, quận Đắk Song gồm 2tổng: Đắk Mil (gồm 2 xã) và Đắk Thok (gồm 3 xã)
Năm 1959, Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra Sắc lệnh số24-NV ngày 23-1-1959 thành lập tỉnh Quảng Đức; cắt toàn bộ huyện Đắk Milcủa Đắk Lắk từ phía Nam cầu 14 đến Đắk Song gọi là quận Đức Lập; cắt mộtphần huyện Phước Hoà của tỉnh Phước Long thành lập quận Kiến Đức; cắt mộtphần phía Tây và Bắc huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng và một phần Blaosiêngthuộc Đắk Lắk thành lập quận Khiêm Đức; Tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa Lúc này,Đắk Song vẫn là một phần của Đức Lập và trực thuộc sự quản lý của tỉnhQuảng Đức
1.Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 22-11-1904
Trang 6Năm 1960, Trung ương Đảng quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức (lấymật danh là B.4) Căn cứ vào địa giới hành chính của địch, ta chia tỉnh ra làmbốn đơn vị huyện là Đức Lập (K.2), Đức Xuyên (K.4), Khiêm Đức (K.6), KiếnĐức (K.8) Trong những năm kháng chiến, nhằm phục vụ cho các nhiệm vụchiến lược, địa giới huyện Đắk Song thuộc quận Đức Lập được chia tách và táilập nhiều lần
Giữa năm 1961, Khu 6 được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc về sự chỉđạo của Khu 6 Đầu năm 1962 tỉnh Quảng Đức giải thể, Đắk Song thuộc E25 doKhu 10 chỉ đạo Đồng chí Hoàng Đức Thảo (Năm Nam) làm Bí thư, đồng chí LêĐạo làm Phó Bí thư
Năm 1963, tỉnh Quảng Đức được tái lập E25 giải thể và trở lại tên cũhuyện Khiêm Đức Tháng 10-1963 Khu 10 giải thể, đồng thời giải thể luôn tỉnhQuảng Đức Huyện Đức Lập, Đức Xuyên về lại tỉnh Đắk Lắk, Khiêm Đức vềLâm Đồng; Kiến Đức về Phước Long
Năm 1965, tỉnh Quảng Đức được tái lập các huyện lại trở về như trước.Đến cuối năm 1966, Khu 10 được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc Khu 10 Từ
đó cho đến năm 1975 việc chia tách, sáp nhập thường xuyên thay đổi cho phùhợp với tình hình chiến sự lúc bấy giờ
Tháng 11-1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk Đắk Songlúc đó là một vùng đất thuộc xã Hoà Thuận, huyện Đắk Mil và xã Đắk N’runghuyện Đắk Nông
Năm 2001, huyện Đắk Song được thành lập theo Quyết định số 30/NĐ-CPngày 21-6-2001 của Chính phủ, trên cơ sở các xã Trường Xuân, Đắk N’Drungtách từ huyện Đắk Nông và xã Thuận Hạnh, Đắk Mol, Đắk Song tách từ huyệnĐắk Mil
Huyện có địa giới hành chính tiếp giáp với các huyện: Đắk Mil, Krông
Nô, Đắk Nông, Đắk Rlấp và có chung 24 km đường biên giới với Campuchia Đến ngày 26-11-2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH 11, quyết địnhtách Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông Huyện Đắk Song thuộc địabàn tỉnh Đắk Nông quản lí
Ngày 18-10-2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2007/NĐ-CPđiều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện của tỉnhĐắk Nông Trong đó, quyết định thành lập thị trấn Đức An và xã Thuận Hàthuộc huyện Đắk Song
2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện.
a Điều kiện tự nhiên
Trang 7Đắk Song là huyện biên giới phía Tây Bắc tỉnh Đắk Nông, nằm ở độ caotrung bình trên 800m so với mặt nước biển Là cửa ngõ phía Bắc của thị xã GiaNghĩa, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi; quốc lộ 14C chạy suốt từBắc đến Nam huyện, dài hơn 45 km; có tỉnh lộ 6 nối Quảng Sơn của huyện ĐắkGlong với Đắk Búk So của huyện Tuy Đức; có tỉnh lộ 2 nối từ ngã ba Đắk Song
đi Đắk Mâm của huyện Krông Nô; có đường biên giới với Campuchia dài 24
km Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu giữa nhân dân tronghuyện với các địa phương khác trong tỉnh, lưu thông hàng hoá giữa Đắk Songvới các huyện, tỉnh bạn, mở ra mối thông thương cho việc phát triển kinh tế, xãhội huyện nhà
Từ 2007 đến nay, diện tích tự nhiên của huyện là 80.803,77 ha, trong đóđất nông nghiệp 24.466 ha, đất lâm nghiệp 40.928 ha, đất khác 15.417ha2
Do sự kiến tạo của địa chất và chi phối của điều kiện tự nhiên, lượng mưahàng năm ở đây khá lớn nên địa hình của Đắk Song bị chia cắt mạnh, đồi núiliên tiếp và các thung lũng hẹp, thấp dần từ Đông sang Tây, đa số diện tích có độdốc từ 8-20 độ Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng
4 kéo dài đến tháng 10 trong năm Do cấu tạo địa hình và ảnh hưởng của khí hậunhiệt đới gió mùa nên Đắk Song tuy không có bão nhưng lượng mưa khá lớn,mưa nhiều vào các tháng 7,8 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000đến 2.200mm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau, khí hậukhô hanh và lạnh, đặc biệt ở khu vực trung tâm Đắk Song mùa này trời nhiềusương mù và gió to, mạnh.Gió Đắk Song kéo dài từ tháng 11 đến tháng giêng(âm lịch) Đắk Song chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và mang tính chấtkhí hậu nhiệt đới ẩm, thuận lợi cho sự phát triển nhiều loại cây trồng và vật nuôi
Tuy đồi núi dốc nhưng nằm trong vùng đất đỏ bazan nên đất đai ở đây phìnhiêu, thích hợp với cây công nghiệp và cây lấy gỗ, đặc biệt là cây cà phê, hồtiêu, có thể phát triển thành vùng chuyên canh
Tài nguyên thiên nhiên ở Đắk Song khá phong phú và có giá trị, khu bảotồn Nâm Nung với những cánh rừng nguyên sinh có trữ lượng gỗ lớn và quýhiếm, nhiều loại thực vật có từ thời nguyên sinh còn bảo tồn lại được và các loàicây dược liệu quý như trầm hương, mã tiền, mật nhân, …
Hệ động vật rừng khá phong phú, trong đó có một số loài hoang dã nhưvoi, hươu nai, trâu bò, lợn rừng, gấu, khỉ, không loại trừ còn có cả tê giác
Khoáng sản bô xít, đá quý, nước khoáng có trữ lượng khá lớn như: mỏ đáthạch anh ở chân dãy núi Nam Nung, mỏ bô xít ở Trường Xuân kéo dài sang cả
2Theo Niên giám thống kê của Chi cục thống kê huyện Đắk Song 4-2013: tính đến năm 2012 huyện Đắk Song có
tổng diện tích là 80.766 ha ( trong đó đất nông nghiệp: 48.796 ha; đất lâm nghiệp: 26.162 ha; đất chưa sử dụng: 1.272 ha)
Trang 8Thuận Hà có trữ lượng lớn, mỏ đá saphia ở Trường Xuân, mỏ nước khoáng ởĐắk Mol … tài nguyên ở Đắk Song nhiều về số lượng, phong phú về thể loại,khá thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế như khai thác khoáng sản, trồng và khaithác rừng, trồng cây công nghiệp,chăn nuôi đại gia súc.
Thiên nhiên không chỉ đem lại nguồn tài nguyên quý giá, đa dạng mà còntạo nên những cảnh quan kỳ thú, trở thành địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn cho
du khách trong tương lai
b Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân số của huyện khi thành lập là 28.380 khẩu Đến tháng 12-2001 huyện
có 37.433 khẩu, với 8.209 hộ, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số có 1.234
hộ với 6.764 khẩu, chiếm tỷ lệ 18,06% dân số Toàn huyện có 5 đơn vị hànhchính cấp xã, trong đó có 02 xã vùng III là Thuận Hạnh, Đắk Song (có 01 xãbiên giới) và 03 xã vùng II là Đắk Mol, Đắk Rung, Trường Xuân (có nhiều đồngbào dân tộc tại chỗ sinh sống)
Đắk Song (tên một dòng chảy) nói riêng, Đắk Nông và Tây Nguyên nóichung, do vị trí địa lý, đặc điểm cư dân và các tập tục truyền thống nên vùng đấtnày gần như cách biệt với vùng đất duyên hải ven biển miền Trung Việt Nam vàcác nước láng giềng về mặt văn hóa Theo số liệu thống kê năm 2001, Đắk Song
có 5.096 người M’Nông, chiếm 13,6% dân số toàn huyện và chiếm 75,74% tổng
số các dân tộc thiểu số nói chung (5.096/6.764 người) Đến giữa năm 2002, dân
tộc M’Nông huyện Đắk Song có 897 hộ với 5.313 người Theo khảo sát của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đắk Nông (tháng 6 - 2004): huyện Đắk Song có tổng số
5.286 người 3 Trên địa bàn huyện Đắk Song, dân tộc M’Nông có 3 nhánh chính làM’Nông Bu Nơr, M’Nông Nong và M’Nông Preh Tại xã Đắk N’rung, nhánhM’Nông Bu Nơr cư trú tại 8 bon, bao gồm 292 hộ, 1.761 người Riêng nhánhM’Nông Preh cư trú tại 4 bon thuộc xã Đắk Mol với 78 hộ, 447 người Ngoài ra,người M’Nông sống trong các bon, thôn với sự cộng cư cùng các dân tộc khác(với dân tộc Kinh có 5 thôn, với các dân tộc thiểu số khác có 10 bon thôn) Dântộc Êđê (là một dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở ĐắkLắk), nhưng ở huyện Đắk Song chỉ có 26 hộ với 110 người Trên địa bàn 2 xã:Thuận Hạnh và Đắk Song hiện nay không có người dân tộc M’Nông sinh sống
Đảng bộ huyện Đắk Song được thành lập theo Quyết định số 280-QĐ/TU,ngày 02-7-2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ban Chấp hành lâm thời được chỉđịnh gồm 21 đồng chí, 07 đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Sau một thời gian
3
Theo khảo sát của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đắk Nông (tháng 6-2004), dân số dân tộc M’Nông ở tỉnh Đắk Nông
là 40.205 người, trong đó huyện Krông Nô có 5.628 người, huyện Chư Jút có 1.620 người, huyện Đắk Mil có 6.387 người, huyện Đắk Song 5.286 người, huyện Đắk Nông có 10.605 người, huyện Đắk R’lấp có 10.643 người
Trang 9kiện toàn, Ban Chấp hành lâm thời có 29 đồng chí, Ban Thường vụ 9 đồng chí.Đảng bộ có 21 tổ chức cơ sở Đảng, với 417 đảng viên sinh hoạt tại 5 Đảng bộxã; 02 Đảng bộ Quân sự, Công an và 14 chi bộ trực thuộc Đảng viên người dântộc thiểu số có 34 đồng chí, chiếm tỷ lệ 8,15%; đảng viên nữ có 46 đồng chí,chiếm tỷ lệ 11,03%; tỷ lệ đảng viên so với dân số toàn huyện chiếm 1,11%.
Đến năm 2010, huyện Đắk Song có 9 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn:
xã Đắk Môl, xã Đắk Hoà, xã Thuận Hạnh, xã Nam Bình, xã Thuận Hà, xã ĐắkN’Drung, xã Nâm N’Jang, xã Trường Xuân và thị trấn Đức An Dân số toànhuyện có trên 60.340 người4, với 20 dân tộc sinh sống ở 08 xã, 01 thị trấn Toàn huyện
có khoảng 1.760 cán bộ, công chức, viên chức ( CBCCVC ); số CBCCVC có trình độđại học và sau đại học 705 đ/c, trong đó thạc sỹ 10 đ/c, đại học 695 đ/c ( chiếm40,05% ), cao đẳng 250 đồng chí (chiếm 14,20%), trung cấp 689 đồng chí (chiếm39,14%); trình độ lý luận chính trị: cử nhân và cao cấp 42 đồng chí (chiếm 2,38%),trung cấp 141 đồng chí (chiếm 8,01%) Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 39.795người, chiếm 61,22% dân số toàn huyện Lực lượng lao động đang làm việc trongcác ngành kinh tế khoảng 36.877 người; trong đó lao động trong lĩnh vực nông-lâmnghiệp là 24.514 người, chiếm 66,47% lực lượng lao động; lao động trong côngnghiệp chế biến và khai thác là 2.338 người, chiếm 6,33 %, còn lại là lao động thuộccác lĩnh vực khác Số lao động đã qua đào tạo là 5.000 người, chiếm 13,55%, trong
đó đã qua đào tạo nghề 1.500 người chiếm 4,06% Toàn Đảng bộ có 41 tổ chức cơ
sở Đảng, trong đó 11 đảng bộ cơ sở (8 đảng bộ xã, 01 đảng bộ Thị trấn, 02 dảng bộlực lượng vũ trang) và 30 chi bộ trực thuộc Tổng số đảng viên là 1.593 đồng chí,trong đó đảng viên dự bị là 228 đồng chí; đảng viên nữ là 506 đồng chí; đảng viên làngười dân tộc thiểu số là 144 đồng chí; đảng viên là người có đạo là 76 đồng chí;đảng viên là đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là 760 đồng chí
C Cư dân và truyền thống văn hóa
Trước thế kỉ XIX, con người xuất hiện sớm trên địa bàn huyện Đắk Song vàkéo dài thời kì xã hội nguyên thuỷ, đến những năm cuối thế kỷ XVIII - đầu thế
kỷ XIX, Đắk Song còn là vùng rừng núi hẻo lánh ít người qua lại, dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, sống trong các cộng đồng thị tộc,
bộ lạc…5
4 Theo Niên giám thống kê của Chi cục thống kê huyện Đắk Song 4-2013
5
Tháng 7-1975, tại di chỉ nằm ở sườn Đông núi Đắk Tơn (xã Trường Xuân, huyện Đắk Song), Nguyễn Xuân An
và Nguyễn Tiến Dũng đã phát hiện một số di vật thời tiền sử Trong hố đào đã thu được 11 công cụ rìu đá mài toàn thân, 2 mảnh vòng tay và 2 bàn đập vỏ cây Bàn đập vỏ cây có khắc rãnh được sử dụng để in đập tạo hoa văn trên đồ gốm, làm cho năng suất lao động tăng lên.
Hiện nay, tại Bảo tàng Đắk Lắk đang trưng bày bộ sưu tập gồm 3 chiếc bôn đá và 1 viên đá ghè tròn có khoét lỗ thủng Các di vật này đều được tìm thấy ở Đắk Tơn, xã Trường Xuân, huyện Đắk Song ( Theo: Nguyễn
Khắc Sử, Khảo cổ học tiền sử Đắk Lăk, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004, tr 236-237)
Các di vật trên đây được các nhà khoa học khẳng định thuộc hậu kỳ đá mới Trong giai đoạn này, con người đã chế tác công cụ đá đạt tới đỉnh cao bằng kỹ thuật mài toàn bộ công cụ, chế tạo đồ gốm, định cư làm
Trang 10Cư dân sống trên địa bàn Đắk Song chủ yếu là đồng bào dân tộc M’Nôngthuộc nhóm M’Nông Preh, M’Noong được chia theo từng nhóm địa phương vàmỗi nhóm mang một sắc thái văn hóa riêng.
Người M’Nông có ngôn ngữ, chữ viết riêng, có nhiều phương ngữ, nhưngchúng không có sự khác biệt đáng kể
Đa số các dân tộc thiểu số sống bằng nghề nông với phương thức canh táchết sức đơn giản, ngoài việc trồng lúa thì người dân cũng tập trung chăn nuôi giasúc gia cầm,săn bắt thú rừng, bắt cá trên các sông suối Người M’Nông săn bắtrất giỏi Chim, thú là nguồn thực phẩm chủ yếu để tăng khẩu vị trong bữa ăn Họbiết khôn khéo đặt bẫy trên lối có thú đi qua Biết ra suối bắt ốc, mò trai về nấucanh, nung vỏ trai để lấy vôi ăn trầu Phụ nữ dân tộc biết tự dệt vải để tự túc cáimặc; đàn ông M’Nông thường giỏi leo cây rất giỏi để lấy mật ong, biết đan lát
đồ dùng trong nhà, sáng chế ra những công cụ lao động và cả vũ khí để săn bắt.Trình độ sản xuất của đồng bào chủ yếu vẫn dựa vào nương rẫy, với sở trường
Trong quan hệ gia đình và xã hội, người M’Nông vẫn duy trì chế độ thịtộc mẫu hệ, người phụ nữ đóng vai trò quyết định trong mọi công việc Các giađình trong bon đều có mối quan hệ thân tộc hoặc thích tộc, làm cho quan hệcộng đồng được duy trì khá bền vững Những tập quán được truyền từ đời nàyqua đời khác, các phong tục tập quán của bà con dân tộc thiểu số còn mangnhiều nét tàn dư của thời kỳ nguyên thuỷ
Trang phục truyền thống của đồng bào M’Nông đơn giản không cầu kỳ,đàn ông thường quấn khăn vắt tà lên vai, mặc khố và quấn trên đầu một chiếckhăn đan màu tím hoặc màu xanh nước biển Phụ nữ mặc yên (váy) có khăn chengực, đeo vòng bằng đồng thau ở cổ và tay Nhìn chung trang phục của ngườiM’Nông thiên về gọn gàng thích hợp với lao động, không mất nhiều thời giantrang điểm như các dân tộc khác
Về văn hóa dân gian, cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, ngườiM’Nông ở Đắk Song trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh để tồn tại vàphát triển đã hình thành nên một nền văn hóa rất phong phú độc đáo gồm cả cadao, tục ngữ, truyện cổ, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn Nghệ nhân Điểu Kâu
nông Đây là giai đoạn chuẩn bị quan trọng cho việc bước vào ngưỡng cửa của văn minh.
Trang 11(Ma Phước), Điểu K’Lớt, Điểu N’Dja ở Đắk N’Drung đã cung cấp hàng vạn câu
ca dao, tục ngữ được lưu truyền từ đời này qua đời khác
Về nhạc cụ, họ cũng sáng chế ra một số nhạc cụ độc đáo như bộ gõ cógiàn chiêng, trống Xa xưa còn có đàn đá, một số nghệ nhân ở Trường Xuân biết
sử dụng đàn đá khá thành thạo6
Xã hội cổ truyền người M’Nông được vận hành theo luật tục, tục truyềnquy định rõ những điều được làm và những điều không được làm, nếu vi phạmthì phân xử rõ ràng Nội dung các luật tục đề cập tới hầu hết các mối quan hệ xãhội như: vấn đề hôn nhân gia đình, phong tục tín ngưỡng, về tài sản… Cộngđồng người M’Nông ở Đắk Song còn lưu giữ được cả một hệ thống luật tục dướihình thức văn vần truyền miệng
Nguồn gốc đồng bào M’Nông ở đây không theo một tôn giáo nào, tínngưỡng chủ yếu nhờ vào thần linh vô hình gọi là Rít và sau đó đến các thầnsông, thần núi, thần cây cối… Là một dân tộc có tinh thần phóng khoáng, yêu tự
do, không chịu áp bức của kẻ khác
II Truyền thống đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đắk Song trước khi có tổ chức Đảng lãnh đạo
Cùng với các dân tộc khác trên vùng đất Tây Nguyên, đồng bào các dân tộchuyện Đắk Song từ xa xưa đã được hun đúc truyền thống quật cường bất khuất,chống lại ách áp bức cường quyền dưới chế độ phong kiến để bảo vệ sự tồn tạicủa bộ tộc mình Bài ca “Ra trận” của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đãđược hát vang từ đời này sang đời khác, lan tỏa cả vùng đất Đắk Sọng Tinh thầnthượng võ, phóng khoáng, yêu tự do độc lập, bảo vệ chủ quyền của mảnh đất
mà thế hệ cha ông đã vượt qua bao nhiêu gian khó tạo dựng được, đồng bàokhông chấp nhận kẻ mang theo gươm giáo, súng đạn đến để xâm chiếm quêhương mình Do vậy, ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên mảnh đất này,đồng bào các dân tộc huyện Đắk Song đã cùng với đồng bào các dân tộc trên địabàn tỉnh Đắk Nông đứng lên chiến đấu quyết liệt với thực dân Pháp, bảo vệ chủquyền lãnh thổ
Năm 1894, hai toán quân Pháp đi theo thung lũng sông Ba và sông H’Nănglên cao nguyên bị đồng bào M’Dhur (Êđê) chặn đánh, rút xuống đồng bằng.Tháng 3 năm 1900, tên công sứ Bourgois đem quân chinh phục người Bih ở hạ
6 Tháng 7-1995, ông Nguyễn Xuân An, Giám đốc Công ty đá quý Việt Nam, trong khi khai thác đá saphia ở khu vực suối Đắk Tơn thuộc xã Trường Xuân đã tìm thấy một bộ di vật bằng đá gồm: rìu, vòng trang sức, bàn đạp hoa văn trên gốm… Theo các nhà khoa học thì những di vật bằng đá đó thuộc hậu kỳ đồ đá mới cách ngày nay khoảng 3.500 - 4.000 năm (Theo tài liệu: Viện Khảo cổ học
Việt Nam: Báo cáo điều tra khai quật khỏa cổ học ở Đắk Lắk năm 1993-1994, Hà Nội, 1994, tr 9-10)
Trang 12lưu sông Krông Ana và Krông Nô, những người dân Bih với sự lãnh đạo củaN’Trang Gưh đã quật cường, bền bỉ chống lại Quân Pháp buộc phải bỏ chạykhỏi buôn Tour, trước khi bỏ chạy, chúng còn đốt trụi buôn Trấp, buôn Choá(Cuah) quê hương của N’Trang Gưh Lập tức sau đó nghĩa quân nổi dậy tiếncông trả thù tiêu diệt toàn bộ lính Pháp trong đồn buôn Tour, tên đồn trưởngCanivey cũng bị chết gục ở sân đồn, người đầy tên ná Các đồn trại của Pháp ởcác buôn Djiêng, Djou, Phety buôn Tinh… lần lượt bị tiêu diệt Cuộc chiến đấucủa đồng bào Bih kéo dài đến năm 1913, nhưng do lực lượng quá chênh lệch,N’Trang Gưh kêu gọi nhân dân chuyển làng vào rừng sâu, bất hợp tác với giặc.
250 gia đình người Bih di chuyển lên phía Bắc vùng M’Nông thuộc vùng trunglưu sông Sê Rê Pốc để sinh sống ở đó, không chịu khuất phục quân Pháp
Đặt chân lên vùng đất này đã khó, thiết lập cho được ách thống trị thực dân,thực hiên công cuộc khai thác ở đây lại càng khó hơn Thực dân Pháp đã vấpphải một phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc mà người cầmđầu thường là các tù trưởng hay những người có uy tín trong địa phương Cuộcđấu tranh chống xâu thuế, chống cướp đất lập đồn điền của đồng bào các dân tộctiếp tục, các phong trào yêu nước trước đó đã diễn ra liên tục ngày càng quyếtliệt Đồng bào nhận rõ: “Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà
ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ làng đi làm đường cho bọn Ó Trắng (chỉ bọn Pháp)
để chúng giậm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta”
Trên đường 26, đồng bào Êđê, dưới sự chỉ huy của tù trưởng Ama Shao nổidậy chống Pháp từ 1889 đến 1905 Năm 1889 khi thực dân Pháp bắt hàng loạtngười đi phu làm đường và mở đồn điền, ông đã tập hợp lực lượng chống lại áchthống trị của chúng Nghĩa quân của ông đã nhiều lần tấn công quấy rối khiếncho Pháp rất lo sợ Chúng bao vây nghĩa quân, cắt đường tiếp tế, cấm đưa muối
và các công cụ sắt vào vùng của nghĩa quân Ama Shao Ama Shao và nhân dânkhông chịu khuất phục, họ tìm cách bí mật liên lạc được với dân làng và cuộcđấu tranh chống bắt xâu vẫn tiếp tục lan rộng.Tháng 1 năm 1904, Pháp huy độnglính từ Huế và từ Campuchia sang đàn áp khốc liệt phong trào Năm 1905, công
sứ Pháp Bét na (Besnard) mua chuộc những người theo Ama Shao đang daođộng trong tình thế bị bao vây kinh tế và bị đàn áp mạnh Có một số đã ra hàngPháp làm cho lực lượng nghĩa quân yếu đi Sau đó, Ama Shao bị sa vào tay giặc,chúng giam ông đến chết ở trong tù
Phong trào đấu tranh lớn nhất chống lại ách thống trị của Pháp ở Đắk Nôngtrong những năm đầu thế kỷ XX là phong trào khởi nghĩa của N’Trang Lơng.Phong trào này bùng nổ từ năm 1912 kéo dài tới năm 1936, tiêu biểu cho tinhthần bất khuất chống ngoại xâm của các dân tộc trong tỉnh nói riêng và của TâyNguyên nói chung
Trong những năm 1909-1911, thực dân Pháp tiến hành nhiều cuộc cướp bóclúa gạo của đồng bào M’Nông để dự trữ lương thực cho các cuộc hành quân
Trang 13đồng thời chúng bắt đi xâu liên tiếp để làm đồn bốt cho chúng Tên Hăng ri mét(Hari Maitre) chỉ huy cuộc bình định M’Nông đưa quân đi khủng bố đàn ápkhốc liệt những làng nổi dậy để hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quầnchúng.
Cuối năm 1911, một cánh quân tuần tiễu của Hăng ri mét đốt phá làng BuN’Trang, hãm hiếp vợ con ông Tội ác này chồng chất lên những tội ác khác, đãtrực tiếp châm ngòi cho cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng bùng nổ7 N’TrangLơng là một tù trưởng có uy tín lớn trong vùng được nhân dân bộ lạc Biệt cũngnhư các bộ lạc khác kính nể Khi đứng lên đánh Pháp, ông tập hợp được nhiều tùtrưởng khác trong đó có những người sau này trở thành thủ lĩnh tài giỏi củanghĩa quân như R’Ding, R’Ong leng (vốn là người dân tộc M’Nông tù trưởngcủa các làng BuJengchet, Bumera và Bù Nốp thuộc tổng Đắk Rtih nay là thị xãGia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) hay Bulak ma prah (vốn là người bộ lạc Rơ, ông là
tù trưởng trong lưu vực sông Đa Khoch gần biên giới Campuchia) Địa bàn hoạtđộng của nghĩa quân N’Trang Lơng là cao nguyên trung tâm, nằm giữa biên giớiViệt – Miên, về phái Tây Nam Đắk Nông Quá trình hoạt động của nghĩa quânN’Trang Lơng kéo dài 24 năm, trả thù nhà, đền nợ nước, thủ lĩnh của nghĩa quânN’Trang Lơng đã làm cho thực dân Pháp vô cùng kinh ngạc về ý chí và sự bấtkhuất kiên cường của đồng bào dân tộc nơi đây Khi chiến thắng ở Bunor vàBumêra thanh thế của nghĩa quân N’Trang Lơng vang dội khắp miền Nam TâyNguyên, các bộ lạc M’Nông đều ngả theo nghĩa quân Thực dân Pháp thú nhậncác vùng đóng quân giữa ngoại vi vùng M’Nông không có tác dụng gì trong việckiểm soát người M’Nông Trước tình hình đó một mặt chúng tăng cường cáccuộc càn quét, mặt khác chúng thực hiện âm mưu bao vây kinh tế nghĩa quânN’Trang Lơng
Bước sang những năm 30 của thế kỷ XX, Pháp mở những cuộc hành quântrên quy mô lớn nhằm bình định bằng được cao nguyên M’Nông, đẩy mạnh việcxây dựng con đường chiến lược số 14 Tên Gatin (Gatille) đại lý Pháp ở Snulđược giao làm đoạn đường 14 chạy dưới chân cao nguyên M’Nông Côngtrường làm đường của Gatin có nhiều đội lính Khố xanh bảo vệ nhưng chúngvẫn bị nghĩa quân tấn công Ngày 26-1-1931, tên Gatin bị giết ở đoạn đường 14cách Sreykhtum 17km Sau sự kiện đó một phong trào chống Pháp bùng lênmạnh mẽ ở vùng ba biên giới Từ tháng 2 đến tháng 12-1931, Pátxkia (Pasquier)toàn quyền Đông Dương và tên Bilốt (Billôte) tổng chỉ huy quân đội Pháp ởĐông Dương đã chuẩn bị một kế hoạch đối phó với những cuộc nổi dậy củađồng bào M’Nông Đồng bào M’Nông dưới sự lãnh đạo của nghĩa quân N’TrangLơng đã thực hiện “vườn không nhà trống” dời làng vào rừng sâu chuẩn bị sẵnsàng chiến đấu Do sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân, đến cuối năm 1932,
7 N’Trang Lơng tên thật là N’Trang, sinh năm 1870 là tù trưởng bộ lạc Biệt sống ở Bu N’Trang, một làng M’Nông thuộc khu vực sông Đắk Rtih (Đắk Rtih).
Trang 14chúng vẫn không đạt được mục đích, chỉ dựng thêm hai đồn trong khu vựcM’Nông là đồn Budengrom (Bujengdrom) và Lơ rô lăng (Lerolland),(thuộcCampuchia).
Đầu năm 1933, nghĩa quân N’Trang Lơng nỗ lực giành lại thế chủ động.Ngày 6-1-1933, 200 quân trang bị bằng tên và súng cướp được của địch dưới sựchỉ huy của N’Trang Lơng đã tiêu diệt đồn Gati8 Sau đó nghĩa quân đánh bạicánh quân đến tiếp viện diệt tên chỉ huy Lơ công tơ (Leconte) của Pháp Tháng 2
và tháng 3-1933 chúng tiến hành một cuộc càn quét quy mô lớn vào căn cứ địacủa nghĩa quân, đốt làng, thiêu huỷ lương thực, bắn trâu bò, triệt phá kinh tếvùng hoạt động của nghĩa quân Nhưng nghĩa quân và đồng bào M’Nông, Stiêngvẫn kiên cường rải chông, lập làng chiến đấu Đầu năm 1934 N’Trang Lơng pháingười đi liên lạc với các thủ lĩnh trong vùng M’Nông Biệt và Stiêng để vậnđộng, phối hợp tác chiến Thực dân Pháp quyết định thay chỉ huy, tăng lực lượngchiến đấu, mở cuộc càn quét quy mô từ vùng bắc Biên Hoà, Thủ Dầu Một chođến bờ sông Sê Rê Pốc gần sát Buôn Ma Thuột Nghĩa quân tạm lánh những mũitấn công chính của Pháp, chuyển sang đánh phá các đồn quan trọng của chúng.Tiêu biểu là trận đánh ngày 5-3-1935, nghĩa quân diệt gọn đồn Rôlăng khiếnPháp phải cho máy bay hoạt động để ngăn ngừa những đợt tấn công mới củanghĩa quân Giữa tháng 5-1935, quân Pháp tập trung lực lượng, tiến công đại bảndoanh của nghĩa quân N'Trang Lơng Lương thực, thực phẩm, vũ khí và thuốcmen của nghĩa quân tại vùng căn cứ thiếu thốn nghiêm trọng N'Trang Lơng bịtrọng thương, cùng một số thủ lĩnh khác của cuộc khởi nghĩa rơi vào tay giặc.Ông đã anh dũng hy sinh vào đêm 23-5-1935, nhưng nghĩa quân vẫn tiếp tụcchiến đấu, sang năm 1936 phong trào khởi nghĩa mới chấm dứt
Phong trào khởi nghĩa của N'Trang Lơng đã khích lệ, cổ vũ đồng bào cácdân tộc trên vùng đất Tây Nguyên nói chung, Đắk Song nói riêng nối tiếp nhauđứng lên chiến đấu chống chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế, nộp sảnvật của thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai của chúng
Cũng như phong trào khởi nghĩa tự phát của nông dân Yên Thế ở miềnnúi phía Bắc trước đó, phong trào khởi nghĩa của N’Trang Lơng thể hiện sựphản kháng mãnh liệt đối với giặc ngoại xâm khi xâm chiếm đất đai, lập đồnđiền, khai thác tài nguyên, xâm phạm đến lợi ích của đồng bào dân tộc Các cuộckhởi nghĩa đó thiếu một đường lối chính trị đúng đắn, lực lượng nhỏ yếu và bịphân tán, chưa phối hợp được với các phong trào chung trong cả nước, nên bị côlập và từng bước bị thực dân Pháp đàn áp.Tuy thất bại, nhưng khởi nghĩa củaN’Trang Lơng mãi mãi là niềm tự hào của các dân tộc ở Đắk Nông về sức mạnh
to lớn của tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất kiên cường và tinh thần đoàn kếtchiến đấu của các dân tộc để bảo vệ nương rẫy, bảo vệ quê hương, đất nước Đó
8 Cứ điểm vệ tinh lớn của đồn đại lý Lơrôlăng của Pháp
Trang 15cũng là cơ sở lịch sử quan trọng để phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dânĐắk Song vươn lên tiếp nhận ánh sáng cách mạng của Đảng, hòa chung vàodòng chảy của sự nghiệp cách mạng cả nước trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
PHẦN I
TỔ CHỨC ĐẢNG RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN
CÁC DÂN TỘC ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN,
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
VÀ ĐẾ QUỐC MỸ (1930-1975)
Trang 161 Đắk Song dưới sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến phản động
Vùng đất Đắk Song nói riêng, tỉnh Đắk Nông nói chung có vị trí quantrọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng của khu vực Nam TâyNguyên, do vậy, ngay từ những năm cuối thế kỷ XVIII, những đội quân tìnhbáo, gián điệp khoác áo “thầy tu” và các “nhà thám hiểm” đã lên hoạt động, nắmtình hình ở vùng cao nguyên M’Nông Sau nhiều thập kỷ thăm dò và thám hiểm,nhất là sau khi đã bình định xong các vùng đồng bằng, thực dân Pháp mở cáccuộc tấn công quyết chiếm được vùng Tây Nguyên Ngay sau khi chiếm đượcvùng đất này, thực dân Pháp đã thi hành chính sách “trực trị”, đồng thời ra sứcxây dựng bộ máy quân đội và chính quyền người bản xứ để làm công cụ đàn áp,thống trị, bóc lột nhân dân ta
Về chính trị: Chính quyền thực dân sử dụng triệt để chính sách “chia để
trị”, gạt ảnh hưởng của triều đình nhà Nguyễn ra khỏi đời sống chính trị TâyNguyên nói chung và Đắk Song nói riêng, sử dụng quân đội và bộ máy hànhchính của thực dân Pháp cai trị trực tiếp đồng bào Tây Nguyên Chúng muachuộc, lôi kéo một số già làng, tù trưởng, dựng lên chính quyền tay sai cai quảncác vùng dân tộc từ tỉnh đến buôn, bon dưới quyền sai khiến của viên công sứngười Pháp, làm công cụ để đàn áp và thống trị lâu dài Tây Nguyên
Chính quyền thực dân còn thi hành một số thủ đoạn chính trị xảo quyệtnhư kêu gọi tinh thần hợp tác giữa người Pháp với người Thượng, làm ra vẻ tôntrọng các phong tục tập quán của đồng bào bằng cách nghiên cứu tỉ mỉ cácphong tục tập quán và đề ra các chính sách cai trị cho thích hợp với từng vùng,từng dân tộc
Hệ thống kìm kẹp của chúng kết chặt giữa bộ máy quan lại, tổng, lý từbuôn, huyện đến tỉnh với bọn quan lại chỉ huy đồn trú ngày một tăng cường, làmcho đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Song nói riêng bị gò ép,vây ráp trong vòng xiềng xích, không hề có chút tự do, dân chủ
Chính quyền thực dân còn ban bố những luật lệ nhằm ngăn cản mối quan
hệ giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh, kích động tư tưởng bài
Trang 17Kinh, ngăn trở mọi ảnh hưởng tư tưởng cách mạng tiến bộ vào Đắk Nông Đốivới nội bộ các dân tộc thiểu số, chúng dùng cách đối xử phân biệt, chia rẽ để gâymâu thuẫn giữa các dân tộc; dùng dân tộc này chống lại dân tộc khác Dùngngười theo đạo chống lại người không theo đạo Nhiều vụ xung đột giữa cácbuôn, giữa các thành phần dân cư, giữa các dân tộc nổ ra ở Đắk Song thời kỳnày đều có bàn tay chỉ huy vấy máu của thực dân Pháp.
Về kinh tế: Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để khai thác triệt để nguồn
tài nguyên của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trước hết là dùng vũ lực dồnđuổi đồng bào các dân tộc, cướp đoạt đất đai, nương rẫy của đồng bào để xâydựng hệ thống các đồn bốt và lập các đồn điền trồng chè, cà phê, cao su, câydược liệu , thực hiện chính sách cướp bóc tài nguyên, chiếm đất, chiếm mọinguồn lợi của Tây Nguyên Dọc theo quốc lội 14, 21, các quận, thị trấn lần lượtxuất hiện các đồn điền Sau khi cướp đất lập đồn điền, thực dân Pháp lại “mộphu” là những người đã bị mất đất, mất ruộng đi làm thuê cho chúng Công nhântrong các đồn điền dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp nơi đây, không chỉphải chịu đựng khí hậu khắc nghiệt của “rừng thiêng, nước độc”, mà còn chịu sựbóc lột thậm tệ, với giá nhân công rẻ mạt của các chủ đồn điền Chính nữ kí giảngười Pháp - Ăngđrê Viôlit viết về tình trạng công nhân Đông Dương năm 1931như sau: “…tôi được biết ở các đồn điền, và nói riêng ở các đồn điền trồng cao
su tại các vùng khí hậu rất xấu, công nhân phải làm việc từ 15 đến 16 giờ mỗingày và được trả từ 1,2 đến 2,2 phrăng mỗi ngày”9
Đặc biệt khi nước Pháp lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chúng ra sức
vơ vét ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Song nói riêng bằng việc tăng thuế vàđặt ra nhiều loại thuế mới Chính quyền thực dân bóc lột đồng bào các dân tộcmột cách thậm tệ bằng sưu cao, thuế nặng, làm cho mọi nhà điêu đứng Mộttrong những lợi ích kinh tế của bọn cai trị Pháp lúc bấy giờ là thi hành chínhsách xâu (đi phu), thuế khắc nghiệt, tàn nhẫn đối với người dân Đắk Song.Chúng đặt ra nhiều loại hình thuế như thuế thân, thuế điền thổ, thuế voi, thuếđầu thú, xâu công ích, tư ích, phu đồn điền… Với chế độ xâu, thuế đó, thực dânPháp đã biến người dân ở đây thành những “cu ly” thường trực cho các côngtrường đường sá, khai thác tài nguyên cho chúng Chế độ đi xâu quy định đốivới đàn ông từ 16 tuổi đến 60 tuổi, mỗi năm người lao động bị bắt làm xâu ba,bốn tháng Vào thời vụ đặc biệt, mỗi người phải đi xâu 20 ngày (gồm 10 ngàyxâu công ích và 10 ngày xâu tư ích) tính cho mỗi tháng Chúng bắt cả voi cũngphải đi xâu như người Công việc làm xâu gian khổ, vất vả như chặt phá rừng,khai khẩn đất đai trồng cao su, cà phê, đào núi, lấp suối, bắc cầu, làm đường…người đi xâu ốm đau không có thuốc men, chết dần, chết mòn Đối với người
9 A Viollis: Indochine SOS (Đông Dương cấp cứu), Les Esditeurs Francais resunis, Paris,1949, tr.107
Trang 18không đi xâu cũng phải nộp 0,25 đồng/ngày và voi phải nộp 0,5 đồng/ngày.Ngoài xâu, còn có các thứ “lao dịch” khác cho bọn chánh tổng, huyện phải nộpcác lễ vật, trâu, gà, heo, gạo… là những gánh nặng chồng chất mà đồng bào phảichịu đựng.
Chính quyền thực dân còn đặt ra loại thuế vô lý là thuế đầu thú Thuế nàyđánh vào dân các làng trước đây nổi dậy, bất hợp tác, dời làng đi nơi khác, vềsau bị bao vây, o ép phải quay lại địa bàn cũ thuộc địa bàn thực dân Pháp chiếmđóng Thuế này năm 1929, mỗi suất là 1,0 đồng (bằng 4 kg gạo), đến năm 1933,tăng lên 2,5 đồng Hai loại thuế nặng nhất đối với nhân dân Đắk Song là thuếthân và thuế voi Hàng năm, mỗi người phải đóng hai đồng bạc Đông Dương vàhai thùng thóc cho thuế thân; mỗi con voi phải chịu ba đồng cho thuế voi Đồngbào thường xuyên bị chính quyền thuộc địa và các chủ đồn điền, chủ buôn, bonphạt vạ như phạt làm hỏng đường, phạt làm hỏng cây cối ở các đồn điền, phạt vìđồng bào có hành vi chống lại chính quyền… Đồng thời, thuế ruộng đất, thuếphát rẫy, thuế nhà, thuế muối và nhiều thứ thuế vô lý khác cũng được tăng lên.Chế độ xâu, thuế bóc lột tận xương tủy của chính quyền thuộc địa làm cho sảnxuất đình trệ, người dân không ngóc đầu lên, sống trong cảnh nghèo đói, cơ cực
Về quân sự: Để tăng cường lực lượng đàn áp các phong trào đấu tranh
của nhân dân và làm bia đỡ đạn cho chính quyền thực dân khi chiến tranh xảy ra,thực dân Pháp ráo riết xây dựng các đơn vị vũ trang người dân tộc Thâm độchơn, chúng dùng lực lượng vũ trang là người dân tộc tại địa phương để khủng
bố, tàn sát dân làng, tạo cảnh “nồi da xáo thịt” trong các buôn, làng Tây Nguyên
Thực dân Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt ở các quận, huyện, thị xã, cácđầu mối giao thông quan trọng và những nơi hiểm yếu nhằm kiểm soát chặt chẽ
sự giao lưu của các dân tộc Tây Nguyên, chia tách Tây Nguyên khỏi Việt Nam.Đồng thời, cử nhiều quan chức có kinh nghiệm đến cai trị ở Tây Nguyên
Từ năm 1930, để thực hiện kế hoạch bình định nhanh chóng Tây Nguyên,chính quyền thực dân tập trung lực lượng quân sự đàn áp phong trào đấu tranhcủa đồng bào các dân tộc Với chính sách “đốt sạch, giết sạch”, chúng tổ chứcnhiều cuộc càn quét quy mô lớn có sự yểm trợ của máy bay, pháo binh nhằm dậptắt cuộc khởi nghĩa N’Trang Lơng và các cuộc đấu tranh khác của đồng bào TâyNguyên
Về văn hóa, giáo dục, y tế: Cùng với sự kìm kẹp về chính trị, sự đình đốn
về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùngTây Nguyên Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường giáo
Trang 19phận dùng để truyền giáo Giáo dục đào tạo hạn chế đến mức tối thiểu và cũngchỉ giành cho con em các viên chức tổng lý, một số con em tù trưởng, chủ làng
để phục vụ trực tiếp cho bộ máy hành chính và đội quân cai trị của chính quyềnthực dân Núp dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng” hoặc
“không đụng chạm đến tập tục văn hóa bản địa”, thực dân Pháp đã tạo điều kiệnduy trì và khuyến khích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân.Mọi sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm Chúng thực thiphát triển “tôn giáo hóa văn hóa” nhằm phân hóa, ru ngủ lực lượng có tinh thầnyêu nước, yêu dân tộc Trên thực tế, Pháp không thực hiện được một công trìnhvăn hóa, xã hội nào trên Tây Nguyên để thể hiện “sự khai hóa” như sự tuyêntruyền của họ
Là vùng đất mới khai phá, nơi “rừng thiêng nước độc”, trong khi đó chínhquyền thực dân bỏ mặc, nên dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở vùng Tây Nguyên.Các bệnh kiết lỵ, sốt rét, dịch hạch, bướu cổ, phong… luôn đe dọa mạng sốngnhân dân, có năm cướp đi hàng trăm sinh mạng Cùng với nạn đói, dịch bệnh làtác nhân của sự diệt vong giống nòi các dân tộc Tây Nguyên
Chính sách cai trị dã man, chế độ xâu thuế nặng nề của thực dân Pháp đãlàm cho mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Đắk Song nói riêng, Tây Nguyên nóichung với chính quyền thực dân ngày càng sâu sắc Nguyện vọng thiết tha củađồng bào là lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do
Do đó, kể từ khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng đất này, thì các phong tràođấu tranh của các dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược liên tục nổ ra quyết liệt
để giữ buôn, giữ đất
2 Phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk Song
Trong suốt những năm đầu thế kỷ XX, tiếp nối truyền thống đấu tranh anhdũng quật cường chống ngoại xâm, phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạngcủa đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song và tỉnh Đắk Nông đã diễn ra sôinổi, quyết liệt chống thực dân Pháp Nổi bật là cuộc khởi nghĩa của đồng bàocác dân tộc M'Nông, S'Tiêng, do thủ lĩnh N'Trang Lơng đứng đầu, chống thựcdân Pháp xâm lược nổ ra từ năm 1912 Tuy bị đàn áp dã man, nhưng phong tràokhởi nghĩa của đồng bào các dân tộc thiểu số chống thực dân Pháp xâm lược vẫnkéo dài hơn 24 năm (1912-1936) do thủ lĩnh N'Trang Lơng đứng đầu, bị kẻ thùđàn áp dã man, dìm trong bể máu Tuy nhiên, ý chí kiên cường, tinh thần đoànkết các dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung của N'Trang Lơng vànghĩa quân đã khích lệ đồng bào các dân tộc ở Đắk Song và người M'Nông,
Trang 20S'Tiêng, Êđê, Mạ, Chàm, Kinh, K'ho ở Đắk Nông, Krông Nô, Đắk Mil kếtiếp nhau đứng lên chiến đấu chống bọn xâm lược và tay sai của chúng.
Cùng với cuộc khởi nghĩa N'Trang Lơng, phong trào đấu tranh của đồngbào Đắk Song và khu vực Tây Nguyên chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuếnộp sản vật của đồng bào các dân tộc thiểu số diễn ra sôi nổi Năm 1933,phong trào đấu tranh của đồng bào Êđê đòi được tự do đi mua muối, chống nộplúa, chống đi phu làm đường, không nộp trâu, phá đồn điền làm cho chínhquyền thuộc địa ở Tây Nguyên hết sức lo ngại
Các năm 1937-1938, đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song và tỉnhĐắk Nông hưởng ứng phong trào Mộ Cộ (Bằng Trắng) Phong trào do hai thủlĩnh người dân tộc K'ho tên là K'Voai và K'Mhòi khởi xướng từ buôn Đông Đò,
xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Đồng Nai Thượng Phong trào thành lập các tổchức bí mật tới các buôn ấp, vận động đồng bào Thượng, Chăm, Kinh đoàn kếtcùng nhau đánh Pháp, đóng góp tiền bạc, sắm vũ khí Từ Di Linh, phong tràonhanh chóng lan ra nhiều huyện ở Lâm Đồng và Bình Thuận, thu hút trên hơn 1vạn người tham gia Thực dân Pháp coi đây là mối lo mới nên chúng quyết địnhtấn công, đàn áp phong trào, bắt hai thủ lĩnh Ngày 13-12-1938, chúng lập tòa án
Di Linh, kết án 14 người về tội âm mưu làm loạn chống chính quyền, với án từ 7đến 20 năm tù khổ sai nhằm uy hiếp đồng bào ta Không run sợ trước sự khủng
bố của kẻ thù, ở địa bàn Đắk Song và nhiều nơi Đắk Nông đồng bào Thượng,Chàm, Kinh vẫn đoàn kết tiếp tục đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột của chínhquyền thuộc địa và tay sai của chúng
Phong trào đấu tranh của các tù nhân bị giam tại nhà đày Buôn Ma Thuột
và các trại giam diễn ra liên tiếp trong nhà tù Phong trào này bắt đầu ngay từnăm 1930 diễn ra trên các công trường làm đường quốc lộ Nổi bật là cuộc đấutranh của các tù nhân ở công trường làm đường km 33 (quốc lộ 14) ngày 18-3-
1932, phản đối lính đánh đập tàn nhẫn và ăn uống tồi tệ Dưới sự chỉ đạo củamột số tù nhân cộng sản, tất cả tù nhân đình công, đưa ra 3 yêu sách: Khôngđược đánh đập, phạt tù; Phải cho ăn uống khá hơn, sạch sẽ hơn Mỗi tuần phảiđược ăn một bữa thịt; Phải có thuốc chữa bệnh, tắm rửa phải có xà phòng Tênchỉ huy cho lính bao vây khu trại giam, bắt một số người chúng cho là chủ mưu
Tù nhân ở trại giam trên công trường tiếp tục đấu tranh đòi giải quyết các yêusách và đòi trả về công trường, những người bị chúng bắt đi chỗ khác Cuộc đấutranh kéo dài 3 ngày, đến ngày thứ 4 thì các yêu sách của tù nhân được giảiquyết Còn những người bị bắt, ba tháng sau mới được ra khỏi phòng biệt giam ởnhà lao thị xã, trả về nhà đày Noi gương các tù nhân ở công trường km 33, tùnhân ở các công trường km 24, 27 cũng tổ chức đình công với yêu sách tương
Trang 21tự Bước sang năm 1933, tù nhân làm đường quốc lộ 14 tiếp tục tổ chức nhiềucuộc đấu tranh đòi cải thiện bữa ăn, giảm giờ lao động, đòi cấp phát quần áo Cùng với việc tổ chức tù nhân đấu tranh, suốt từ năm 1930 đến 1939 nhữngngười cộng sản còn thành lập một số tổ chức để có điều kiện trao đổi tình hình,
tổ chức đấu tranh với mục tiêu cao hơn và xây dựng lại nội bộ
Cũng thời gian này, công nhân đồn điền nhiều nơi nổi dậy đấu tranh đòiquyền lợi Tại đồn điền Rôsi, nổ ra cuộc đấu tranh của công nhân Do chính sáchchia rẽ, phân biệt đối xử và bóc lột thậm tệ của chính quyền thuộc địa, bọn chủđồn điền thường trả lương cho công nhân người dân tộc ít hơn công nhân ngườiKinh Cuộc đấu tranh diễn ra hết sức mạnh mẽ: công nhân nhất loạt đình công,đưa yêu sách tới bọn chủ, đồng thời vận động đồng bào các buôn lân cận cùngkéo đến nhà tên chủ đồn điền đấu tranh, yêu cầu: không được trả lương thấp đốivới công nhân người dân tộc Cuộc đấu tranh kéo dài một tuần lễ, làm cho cáchoạt động của đồn điền gần như bị tê liệt Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ củacông nhân và đồng bào quanh vùng, tên chủ đồn điền phải chấp nhận yêu sáchcủa công nhân Phong trào đấu tranh của công nhân là một trong những yếu tốtác động đến nhận thức và phong trào đấu tranh chống áp bức cường quyền củađồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song
Tiếp sau phong trào đấu tranh của những người phu đi làm đường 14, lànhững tác động vô cùng quan trọng của những cuộc đấu tranh, những cuộc vượtngục của các chiến sĩ cách mạng bị giam trong nhà ngục Đắk Mil10 Nhà ngụcĐắk Mil đặt giữa trung tâm cao nguyên M’Nông, không chỉ là bằng chứng tốcáo về tội ác của thực dân Pháp đối với chiến sĩ yêu nước cách mạng, làm thứctỉnh lòng yêu nước, căm thù giặc của đồng bào dân tộc nơi đây, mà còn lan tỏangọn lửa đấu tranh cách mạng từ Buôn Ma Thuột đến vùng đất hẻo lánh NamTây Nguyên, lâu nay đang âm ỉ ngọn lửa đấu tranh chống kẻ xâm phạm đất đai,nương rẫy của đồng bào Sau sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản trong nhà đàyBuôn Ma Thuột (vào cuối năm 1941 đầu năm 1942), năm 1943 một chi bộ cộngsản được thành lập trong ngục Đắk Mil Đồng chí Nguyễn Tạo được bầu làm Bíthư Chi bộ Các chiến sĩ yêu nước cách mạng trong ngục Đắk Mil đã tranh thủthời gian đi lao dịch, tuyên truyền giác ngộ đồng bào các dân tộc ở xung quanhnhà ngục, đồng thời tìm cách cảm hóa binh lính là những thanh niên trong cácbuôn bị bắt lính trông coi ngục, làm tan rã hàng ngũ địch Đồng bào các dân tộcnơi đây đã tìm cách che chở những chiến sĩ yêu nước cách mạng mỗi lần trốn tù,vượt ngục Mặc dù nhà ngục Đắk Mil không phải nằm trên địa bàn Đắk Song,nhưng những hoạt động của các chiến sĩ yêu nước cách mạng trong nhà ngục
10 Năm 1940, do số lượng tù bị giam ở nhà lao Buôn Ma Thuột ngày càng đông, và để phục vụ cho tuyến đường xuyên qua cao nguyên M’Nông, thực dân Pháp đã lập thêm một nhà ngục tại Đắk Mil, ngay trung tâm huyện
Trang 22trong thời gian này đã có tác động không chỉ trên địa bàn huyện Đắk Mil, mà tácđộng cả các địa bàn lân cận
Như vậy, thời kỳ này, ảnh hưởng của ánh sáng cách mạng do Đảng Cộngsản Đông Dương lãnh đạo chưa lan rộng tới các địa phương thuộc địa bàn huyệnĐắk Song, nhưng những cuộc đấu tranh của tù nhân cộng sản trong nhà đàyBuôn Ma Thuột, của công nhân các đồn điền, công nhân trên công trường làmcầu, đường, cuộc đấu tranh kiên cường và hoạt động tích cực của các chiến sĩtrong nhà ngục Đắk Mil11 đã thức tỉnh, khích lệ, cổ vũ đồng bào các dân tộcchiến đấu chống quân thù, bảo vệ buôn làng, núi rừng Tây Nguyên
Các phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song,Đắk Nông và khu vực Tây Nguyên thể hiện lòng yêu nước thiết tha và tinh thầnđấu tranh bất khuất chống thực dân Pháp xâm lược Đây chính là cơ sở vữngchắc để đồng bào các dân tộc nơi đây chuẩn bị bước vào một thời kỳ cách mạngmới - cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
3 Đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk Song cùng với nhân dân Tây Nguyên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945
Bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyểnbiến thuận lợi cho phong trào cách mạng ở Đông Dương Ngày 9-3-1945, phátxít Nhật tiến hành đảo chính, thay thế thực dân Pháp cai trị Đông Dương ĐảngCộng sản Đông Dương xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt của nhân dân ĐôngDương là phát xít Nhật và tay sai Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, BanThường vụ Trung ương Đảng khẩn trương triệu tập cuộc họp, sau khi nhận định
tình hình đã ban hành Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta
(12-3-1945), nhằm phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước, chuẩn bị tiến tớiTổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ đến
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, theo chủ trương của Trung ương Đảng,cũng như các địa phương trong cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Nguyênnói chung và trên địa bàn Đắk Song, Đắk Nông nói riêng bước vào thời kỳ tiềnkhởi nghĩa, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật, cứu nước, chuẩn bị mọi điều kiện11
Bị thất bại liên tiếp trong việc cai quản và lợi dụng công sức của tù chính trị vào xây dựng Đại lý Đắk Mil, đến năm 1943 thực dân Pháp chuyển toàn bộ số tù nhân về Nhà đày Buôn Ma Thuột và cho phá Nhà ngục Đắk Mil.Thất bại ở Đắk Mil của thực dân Pháp chứng tỏ rằng, chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù không thể ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trái lại, như lửa thử vàng, bền gan quyết chí đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. (Xem: Lịch sử Di tích cách mạng Nhà ngục Đắk Mil (1941-1943), Nxb CTQG, H.2013)
Trang 23tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền Trước tình hình mới, chi bộ và các tổchức cách mạng trong nhà đày Buôn Ma Thuột chủ trương tăng cường công táctuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm vụ cách mạng, tiếp tục xây dựng cơ sởcách mạng, chống lại những luận điệu tuyên truyền phản động của phát xít Nhật
và tay sai Các hoạt động của các chiến sĩ cách mạng trong nhà đày Buôn MaThuột đã tác động, ảnh hưởng tích cực đến phong trào đấu tranh của nhân dân ởbên ngoài Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời kỳ này, ta xây dựng được thêm 3 chi
bộ mới tại đồn điền Ca Đa, xã Lạc Sa và trong công chức thị xã Sự lãnh đạo củaĐảng được tăng cường Tuy nhiên, tại tỉnh Đồng Nai Thượng, cấp trên trực tiếpcủa huyện Đắk Nông, Đắk Song do địa bàn hiểm trở, chính sách nham hiểm kìmkẹp và chia rẽ đồng bào các dân tộc của chính quyền thực dân phong kiến phảnđộng, nên đến giữa tháng 8-1945, vẫn chưa xây dựng được cơ sở Đảng
Trung tuần tháng Tám năm 1945, tình hình chiến cuộc thế giới chuyểnbiến mau lẹ Sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô tuyên chiến với phát xítNhật và trong vòng một tuần lễ, đánh tan đạo quân Quan Đông thiện chiến củaphát xít Nhật Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng Đồng Minh không điều kiện.Tại Đông Dương, tinh thần lực lượng quân đội Nhật suy sụp, chính quyền tay saihoang mang cực độ Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến Đêm ngày 13-8-1945, BanChấp hành Trung ương họp Hội nghị toàn quốc và Đại hội quốc dân tại TânTrào (Tuyên Quang) Sau khi nghe tin phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng Minh,Trung ương Đảng và Uỷ ban Mặt trận Dân tộc giải phóng ra lệnh Tổng khởinghĩa toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân
Tin về những cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở khắp các tỉnh miền Bắc, miềnTrung dội tới Tây Nguyên nói chung và Đắk Song, Đắk Nông nói riêng Mặc dùchưa nhận được lệnh của Trung ương, nhưng ngày 14-8-1945, Ban Lãnh đạolâm thời tỉnh triệu tập Hội nghị chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền trongtỉnh tại thị xã Buôn Ma Thuột Để bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi chắc chắn
và không đổ máu, Hội nghị chủ trương hai vấn đề lớn là tăng cường tuyêntruyền, giác ngộ nhằm nắm chắc lực lượng bảo an binh, gấp rút chuẩn bị khởinghĩa trên địa bàn toàn tỉnh, trước hết là ở những vùng trọng điểm, những đồnđiền có phong trào cách mạng phát triển mạnh Hội nghị bầu Ban Lãnh đạo khởinghĩa, phân công cán bộ phụ trách công tác công vận, nông vận, binh vận vàchờ đoàn cán bộ từ Nha Trang tăng cường để tiến hành khởi nghĩa giành chínhquyền tại thị xã Hội nghị cử Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Phan Kiệm làmTrưởng ban, Phạm Sĩ Vịnh làm Phó ban, các ủy viên Nguyễn Trọng Ba, Huỳnh
Bá Vân, Y Ngông Niê Kđăm, YBih Alêô, Thái Xuân Đồng Hội nghị cũng đề cửngười đứng đầu Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời do Phạm Sĩ Vịnh làm Chủtịch và Yblô làm Phó Chủ tịch
Trang 24Ngày 17-8-1945, Tỉnh bộ Việt Minh Đắk Lắk quyết định và tiến hànhkhởi nghĩa thắng lợi tại đồn điền Ca Đa Tiếp đó tại một số đồn điền trên địa bàntỉnh Đắk Nông như đồn điền ở km 7, 17, 24, 29, các cơ sở Việt Minh lãnh đạocông nhân và nông dân đứng lên khởi nghĩa giành quyền làm chủ, ra mắt Uỷ banViệt Minh Đó là những cơ sở đầu tiên trong tỉnh giành chính quyền về tay nhândân lao động.
Ngày 19-8-1945, đoàn cán bộ cách mạng miền xuôi tăng cường cho ĐắkLắk, gồm các đồng chí Huỳnh Bá Vân, Đào Xuân Quý đã về tới đồn điền Ca
Đa và nhận được tin Khánh Hoà khởi nghĩa thắng lợi cổ vũ nhân dân các đồnđiền và các buôn trong tỉnh tiếp tục đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân.Chỉ trong ngày 19-8, được công nhân đồn điền Ca Đa hỗ trợ, chính quyền cáchmạng được thành lập ở nhiều đồn điền và buôn ấp từ km 49 đến km 3 trên đường
số 21 và dọc tỉnh lộ số 8 từ Buôn Ma Thuột đi MêWal Đồn điền Ca Đa đượcchọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh
15 giờ ngày 24-8-1945, cuộc mít tinh giành chính quyền diễn ra tại sânvận động thị xã, quy tụ hơn 3.000 đồng bào các dân tộc Êđê, Gia Rai, M’Nông
và 500 lính bảo an binh, những người đã quay súng về với cách mạng Đại biểuMặt trận Việt Minh tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai phản động của phát xítNhật và thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân lao động, kêu gọi cáctầng lớp nhân dân trong tỉnh ủng hộ chính quyền, tham gia xây dựng cuộc sốngmới Quần chúng hô vang các khẩu hiệu cách mạng: “Việt Nam hoàn toàn độclập”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo phát xít Nhật” Tại các huyện và buôntrong tỉnh Đắk Lắk, trong đó có nhiều địa phương nay thuộc tỉnh Đắk Nông nhưĐắk Song, Đắk Mil, Đắk Rlấp, Krông Nô , dưới sự lãnh đạo của cán bộ, hộiviên Việt Minh, nhân dân đứng lên giành chính quyền thắng lợi
Tại huyện Đắk Nông, lúc này thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng, diễn biếncuộc đấu tranh giành chính quyền gặp nhiều khó khăn Đến 28-8-1945, được sự
hỗ trợ của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Lâm Viên, tổng khởi nghĩa mới giành thắnglợi
Cách mạng tháng Tám thành công tại Đắk Song và trên địa bàn ĐắkNông, nhân dân các dân tộc trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trậnViệt Minh đã vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, mở ra một thời kỳ mớitrong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Tây Nguyên anh hùng Vớithắng lợi to lớn này, cùng với nhân dân cả nước - trong đó đồng bào các dân tộcĐắk Song - từ thân phận người nô lệ, lầm than trở thành người dân tự do, làmchủ đất nước, làm chủ núi rừng, bon ấp của mình Mặc dù gặp nhiều khó khăn
Trang 25về khách quan và chủ quan, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại các địaphương trong tỉnh Đắk Lắk nói chung và địa bàn Đắk Song, Đắk Nông nói riêng
đã diễn ra đúng thời cơ và giành thắng lợi, góp phần vào thắng lợi của Cáchmạng tháng Tám trong cả nước
Ngay sau ngày cách mạng thành công, dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thốngnhất của Trung ương Đảng, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyềncách mạng đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách mới trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hoá xã hội… nhằm mang lại quyền lợi thực sự cho đồngbào các dân tộc Đắk Song nói riêng và cả Tây Nguyên rộng lớn nói chung Đồngbào ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, một lòng đi theo ngọn cờđấu tranh của Đảng Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, hình ảnh về Bác Hồluôn in sâu trong trái tim đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Song, tỉnh ĐắkNông Đó chính là nguồn cổ vũ, động viên to lớn, tiếp sức cho đồng bào vữngtin trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược
II - Các tổ chức Đảng ra đời và lãnh đạo nhân dân Đắk Song tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
1 Đắk Song những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám 1945
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công xóa bỏ bộ máy cai trị củathực dân Pháp và phát xít Nhật, nông dân các dân tộc vùng đất Đắk Nông nóiriêng và khu vực Tây Nguyên đã đoàn kết, chung sức xây dựng chế độ mới.Dưới sự lãnh đạo của Đảng các tầng lớp nhân dân mà đông đảo nhất là đội ngũnông dân trong tỉnh đã hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lựclượng vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm
Thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là công tác xây dựng, củng cố khốiđại đoàn kết các dân tộc, giữa đồng bào Kinh với đồng bào Thượng, giữa đồngbào Thượng người Êđê với đồng bào Thượng người M’Nông… luôn được quantâm, tăng cường
Để phát triển kinh tế và tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp, dưới sựlãnh đạo của Đảng, hệ thống chính quyền các cấp lần lượt được hình thành, thựchiện các chính sách tiến bộ như: Xóa bỏ chế độ đi xâu và lao dịch; giảm tô, giảmthuế ruộng đất; bãi bỏ các thứ thuế vô lý như thuế voi, thuế thân theo Sắc lệnh số11-SL ngày 07-9-1945 của Chính phủ lâm thời Mặc dù các loại thuế này đangchiếm đến 60% tổng số thuế trực thu, nhưng là thứ thuế vô lý, nên Chính phủ vàChủ tịch Hồ Chí Minh cương quyết bãi bỏ Việc xóa bỏ thuế voi và thuế thân cómột ý nghĩa chính trị to lớn, củng cố niềm tin của nông dân các dân tộc trên địabàn tỉnh với Đảng và cách mạng
Trang 26Cùng với việc thực hiện các chính sách về kinh tế, cải thiện đời sống chongười nông dân và quần chúng nhân dân, chính quyền và Mặt trận Việt Minh đãtăng cường tập hợp quần chúng, phát huy vai trò nhân dân trong việc trấn áp bọnphản động, tay sai thân Nhật, xóa bỏ các tàn dư của chế độ cũ trong đời sống xãhội, vận động nông dân ở các vùng nông thôn thực hành nếp sống mới, bãi bỏnhững hủ tục, mê tín dị đoan Những hoạt động của Mặt trận Việt Minh và chínhquyền cách mạng các cấp có tác dụng to lớn trong phong trào cách mạng, gópphần không nhỏ vào việc thực hiện công tác giữ gìn trật tự trị an, đấu tranh trấn
áp phản động
Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng, nhiều cán bộ của Đảng được điều vềtới tận các buôn bon Những quần chúng tích cực người dân tộc được chú trọng,bồi dưỡng để trở thành nòng cốt trong việc thực hiện chính sách của Đảng Tạimột số vùng ở Đắk Nông, nông dân nơi đây đã tham gia thực hiện nhiệm vụ xâydựng củng cố chính quyền và các đoàn thể quần chúng
Do những hoạt động tích cực của công tác trị an, những hủ tục lạc hậu, sự
kỳ thị các sắc tộc đã giảm hẳn Nông dân các dân tộc yên tâm, phấn khởi thựchiện nhiệm vụ cách mạng Trước hết, chính quyền cách mạng xoá bỏ các thứthuế đánh vào các dân tộc ít người, quốc hữu hóa toàn bộ các công sở, đồn điềncủa thực dân Pháp
Để kịp thời động viên nông dân các dân tộc, một mặt chính quyền cáchmạng mở những kho thóc của bọn Pháp, Nhật cứu đói kịp thời cho đồng bào,phá kho muối của địch chia cho dân và lập các trạm bán muối; mặt khác, khuyếnkhích nông dân ở các vùng canh tác tăng gia sản xuất lương thực, chăm lo đờisống nhân dân
Việc xây dựng chính quyền cơ sở ở nông thôn, vừa chăm lo đẩy mạnh sảnxuất để giải quyết cái ăn cho cán bộ và nhân dân cũng hết sức được chú trọng.Chính quyền cách mạng chủ trương tập trung chỉ đạo sản xuất lương thực, mởmang sản xuất, tăng diện tích canh tác ở các vùng nông thôn Phấn khởi trướcđời sống mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào các dân tộc trên địa bàn ĐắkNông đoàn kết, tích cực lao động sản xuất thực hiện những biện pháp kinh tế kịpthời của chính quyền, Mặt trận có hiệu quả, quần chúng nhân dân, nhất là ngườinông dân ngày càng tin tưởng và đi theo Đảng, Cách mạng
Vùng Ba ranh giới (huyện Tuy Đức ngày nay)12 là vị trí tiền tiêu của ĐắkLắk Vì chiếm được vùng này là ngăn chặn được sự liên lạc và các hoạt độngcủa ta đi về phía Nam, đồng thời khống chế được vùng Nam Tây Nguyên vàvùng rừng núi miền Đông Nam Bộ Do đó, đây là trọng điểm đánh chiếm củathực dân Pháp Để chiếm được Đắk Nông, quân Pháp từ Nam Bộ theo đường 14
12 Trước đây là căn cứ chống Pháp của nghĩa quân N’Trang Lơng
Trang 27đánh ra và từ Campuchia theo đường Camrulăng đánh sang Dự đoán trước đượctình hình, nên cuối tháng 9-1945, tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Ban Chỉ huy mặttrận vùng Ba ranh giới, gồm nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Lựclượng bố trí ở mặt trận này lúc đầu là ba đại đội, sau thêm hai đại đội Nam tiếnnữa Ban chỉ huy mặt trận đã cho lập hai phòng tuyến:
Một phòng tuyến ở trên đường 14, cách ngã ba 1 km về phía Nam và mộtphòng tuyến trên đường Camrulăng, gần giáp với đường biên giới Việt Nam -Campuchia Để xây dựng phòng tuyến được nhanh chóng, chắc chắn, Ban Chỉhuy mặt trận đã huy động hàng ngàn ngày công của đồng bào các dân tộc trongvùng Thanh niên nam nữ và cả những người già đều hăng hái tham gia rấpđường, vót chông cắm, làm cạm bẫy xung quanh phòng tuyến để ngăn chặn địch.Ngoài ra, đồng bào còn ủng hộ lương thực, thực phẩm Với truyền thống yêunước và đoàn kết, đồng bào M’Nông ở huyện đã tích cực tham gia vào các côngviệc trên
Đây là thời điểm tình hình chính trị, xã hội ở khu vực thuộc địa bàn ĐắkNông diễn biến phức tạp Thực dân Pháp đang ráo riết tấn công lấn chiếm, trongkhi chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa đủ thời gian để xây dựng và củng
cố vững chắc về mọi mặt
Cùng với nông dân Đắk Lắk, nông dân địa bàn Đắk Nông, tập trung sứcngười sức của xây dựng phòng tuyến tại vùng Ba ranh giới, cách Buôn MaThuột 100 km về hướng Nam, do một tiểu đoàn tân binh được cải tạo từ tiểuđoàn Bảo an cũ và một đại đội Nam Tiến từ Bắc vào bảo vệ
Trung ương Đảng, Chính phủ đã xác định, Đắk Mil là tiền tiêu của cả tỉnh,bởi vậy, tăng cường lực lượng cho khu vực này là chủ trương kịp thời và đúngđắn
Tháng 10-1945, khi Chính phủ quyết định chia cả nước thành các chiếnkhu, địa bàn Đắk Nông với những đặc điểm riêng biệt thuộc sự chỉ đạo củaChiến khu 6 Thực hiện chủ trương kháng chiến của Trung ương, Ủy ban nhândân cách mạng tỉnh Đắk Lắk và địa bàn Đắk Nông đã vận động quần chúng nhândân và nông dân ở các vùng nông thôn đẩy mạnh công tác bố phòng, chuẩn bịlực lượng kháng chiến Cũng trong thời gian này, Trung ương quyết định tăngcường cho Đắk Lắk trong đó có Đắk Nông một số cán bộ chủ chốt về quân sựcũng như về chính trị Các đoàn công tác của Trung ương và Khu ủy 5 đã chỉđạo cuộc kháng chiến ở khu vực này
Ngày 29-11-1945, quân Pháp do một thiếu tá chỉ huy có xe tăng, xe bọcthép và máy bay yểm trợ, có súng cối và đại bác mở đường từ Campuchia, theođường Căm Ru Lăng đánh vào phòng tuyến Ba ranh giới Ban chỉ huy Mặt trận
do chỉ huy trưởng Vũ Bỉnh chỉ huy tổ chức họp và thống nhất lệnh cho bộ đội
Trang 28rút về khu vực của huyện Đắk Song ngày nay, để bảo toàn lực lượng Bộ độichia nhỏ lực lượng, thực hiện đánh du kích diệt hàng chục tên địch trên trụcđường 14 (từ Đắk Song đến Đắk Lắk) khiến kẻ địch không thực hiện âm mưuchiếm đóng Sau đó, thực dân Pháp tăng cường hoả lực để đánh chiếm, đếncuối tháng 11-1945, Đắk Mil hoàn toàn rơi vào tay giặc Đắk Mil là huyện đầutiên trên địa bàn Đắk Nông thành vùng tạm bị chiếm Nhưng Đắk Mil vinh dự làđịa phương nổ phát súng đầu tiên ở địa bàn Đắk Nông nói riêng và tỉnh Đắk Lắknói chung của Mặt trận Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
Mặc dù trong bối cảnh thực dân Pháp tiến hành tái chiếm, nhưng nông dân
ở Đắk Mil, khu vực huyện Krông Nô ngày nay vẫn tiến hành bầu cử Quốc hội.Đây là lần đầu tiên nhân dân các dân tộc Tây Nguyên được tham gia bầu cửQuốc hội dưới nhiều hình thức Với những đặc thù của đồng bào dân tộc nơiđây, hình thức bỏ phiếu của người dân cũng rất linh hoạt Người biết chữ thì viếtphiếu, người không biết chữ thì bỏ phiếu bằng hình thức biểu quyết giơ tay, bỏhạt đậu, hạt ngô (hạt bắp), thay phiếu Do sự chống phá của kẻ thù, để bảo vệcho cuộc bầu cử của nhân dân, một Đội công tác đã anh dũng hy sinh khi tổchức bầu cử ở Đắk Mil Cuộc tổng tuyển cử giành được thắng lợi, nhân dân cácdân tộc nhất trí bầu hai đại biểu của Tỉnh ( là hai đồng bào người dân tộc ) vàoQuốc hội nước Việt Nam Việt Nam dân chủ cộng hòa Thắng lợi của cuộc Tổngtuyển cử là sự thể hiện vai trò làm chủ đất nước của nhân dân – trong đó chủyếu là nông dân các dân tộc trong tỉnh, thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của đồngbào các dân tộc đối với cách mạng, đối với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Từ tháng 1-1946, nông dân, nhân dân Đắk Nông và đồng bào các dân tộcTây Nguyên bước vào thời kỳ đầy gay go, quyết liệt Đồng bào các dân tộc trênđịa bàn Đắk Nông sôi nổi ủng hộ và giúp đỡ, tham gia chiến đấu chặn từng bướctiến của quân thù, chống sự mở rộng chiếm đóng của địch Sau khi bị chiếm,cuộc chiến đấu bao vây, kìm chân địch, gây rối, phá hoại các cơ sở của địch diễn
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo trực tiếp củaTỉnh uỷ lâm thời Đắk Lắk, đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông thựchiện công cuộc thiết lập, bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng đờisống mới
Trang 29Ngay sau khi giành được chính quyền, Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâmthời ở các huyện, xã được cải tổ và đổi thành Uỷ ban Nhân dân cách mạng Chỉtrong vòng một tuần, chính quyền Cách mạng được thiết lập củng cố ở hầu hếtcác huyện, tổng và các buôn, bon thuộc khu vực huyện Đắk Song; đồng thờiphát động nhân dân các dân tộc thực hiện các chương trình của Mặt trận ViệtMinh, đề ra một số chủ trương, biện pháp thiết thực trên các mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Ngày 20-8-1945, Ban Liêm phóng tỉnhĐắk Lắk được thành lập Nhiệm vụ của Ban Liêm phóng là tập trung đối phó với
âm mưu phá hoại của địch hòng lật đổ chính quyền cách mạng, nhanh chóng ổnđịnh tình hình trật tự trị an, trừng trị bọn phản động
Trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, củng cố khốiđại đoàn kết các dân tộc (giữa đồng bào Kinh với đồng bào Thượng, giữa đồngbào Thượng người Êđê với đồng bào Thượng người M’Nông v.v ) luôn đượcchú trọng, tăng cường
Tháng 10-1945, chính quyền cách mạng tỉnh tổ chức Hội chợ liên hoanđoàn kết giữa các dân tộc trong tỉnh, đồng bào các dân tộc trong địa bàn tỉnh nônức hưởng ứng, trong đó có đồng bào các huyện Đắk Song, Đắk Mil Thôngqua Hội chợ, những âm mưu, thủ đoạn chia rẽ các dân tộc, kìm hãm sự phát triển
xã hội của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước bị vạch trần Qua đó giảiquyết được những hiểu lầm giữa các dân tộc
Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng, nhiều cán bộ của Đảng được điều vềtận các buôn, bon Những quần chúng tích cực người dân tộc được chú trọng bồidưỡng để trở thành nòng cốt trong việc thực hiện chính sách của Đảng Tại cáchuyện Đắk Song, Krông Nô, đã mở một số lớp đào tạo cán bộ người M’Nông,điều về các buôn làng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng củng cố chính quyền vàcác đoàn thể quần chúng
Dưới sự lãnh đạo của chính quyền Cách mạng, công tác xây dựng lựclượng, xây dựng cơ sở bí mật, xây dựng mạng lưới an ninh được tiến hành rấtkhẩn trương Những hoạt động của Mặt trận Việt Minh và chính quyền cáchmạng các cấp có tác động to lớn trong phong trào cách mạng, góp phần khôngnhỏ vào việc thực hiện công tác giữ gìn trật tự trị an, đấu tranh trấn áp phảnđộng
Trên địa bàn huyện Đắk Song, việc trấn áp bọn phản cách mạng được thựchiện, thu hút đồng bào các dân tộc trong huyện đoàn kết, gắn bó bên nhau đấutranh chống lại bọn phản cách mạng và tội phạm Công tác giữ gìn trật tự trị an
từ thị xã đến các buôn, bon do những quần chúng giác ngộ cách mạng tự chủđảm nhận Các đoàn thể quần chúng tự giải quyết những vướng mắc nảy sinhtrong cộng đồng Trong công tác đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, lực
Trang 30lượng công an phối hợp với quân đội, dân quân tự vệ, thanh niên, công nhântrong các đồn điền và đồng bào các dân tộc truy bắt những tên phản cách mạng.Thanh niên trong các buôn, bon hăng hái vào tự vệ, phân công canh gác buôn,bon, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Do tác động tích cực của công tác trị an, những hủ tục lạc hậu, sự kỳ thịcác sắc tộc đã giảm hẳn Đồng bào các dân tộc yên tâm, phấn khởi thực hiệnnhiệm vụ cách mạng
Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động chính trị, trấn áp tội phạm, phản cáchmạng, Mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng kịp thời thực hiện nhữngchủ trương của Đảng và Nhà nước về kinh tế, tài chính, nhằm nhanh chóng ổnđịnh tình hình, nâng cao đời sống nhân dân
Chế độ áp bức, bóc lột do thực dân Pháp, phát xít Nhật và chính quyền bùnhìn đặt ra được xoá bỏ Trước hết, chính quyền cách mạng xoá bỏ các thứ thuếđánh vào các dân tộc ít người, xóa bỏ chế độ bắt xâu, bắt lính và các thứ thuế vôlý; nhanh chóng quốc hữu hóa toàn bộ các công sở, đồn điền của thực dân Phápgiao cho các Uỷ ban công nhân quản lý, xây dựng, củng cố bộ máy quản lý tạicác đồn điền
Đối với công nhân, thực hiện ngày làm 8 giờ Xóa bỏ mức hưởng thụ khácbiệt giữa công nhân người Thượng và công nhân người Kinh, giữa nam giới và
nữ giới, có chính sách ưu tiên chiếu cố tới anh chị em người Thượng Các cơ sởbuôn bán của Pháp trước đây được cải tiến thành các cơ sở thu mua nông, lâmsản, thành nơi trao đổi muối và các nhu yếu phẩm khác
Để kịp thời động viên nhân dân các dân tộc, một mặt chính quyền cáchmạng mở những kho thóc của bọn Pháp, Nhật cứu đói kịp thời cho đồng bào,phá kho muối của địch chia cho dân và lập các trạm bán muối; mặt khác, khuyếnkhích khai thác tài nguyên, phát triển giao lưu kinh tế giữa các miền, các vùng
Trong cuộc phát động nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm,chính quyền cách mạng vận động nhân dân cải tiến kỹ thuật, khai phá đất hoang,
mở rộng diện tích sản xuất Đồng thời còn tổ chức thực hiện tốt chủ trương củaChính phủ về “Tuần lễ vàng”, quỹ “Tuần lễ đồng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêugọi Đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đắk Song, Đắk Nông tích cựchưởng ứng, trong một thời gian ngắn đã thu được hàng tấn đồng kể cả đồ đồngtrang sức của phụ nữ, góp phần vào việc giải quyết những khó khăn về tài chínhcủa chính quyền Cách mạng và trong việc rèn đúc vũ khí phục vụ sẵn sàng chiếnđấu Những chủ trương của Đảng và Chính phủ được địa phương chỉ đạo thựchiện có hiệu quả, đã giải quyết được khó khăn lớn về kinh tế, tài chính của chínhquyền cách mạng
Trang 31Về giáo dục, phong trào bình dân học vụ được phát động Chính quyềncách mạng tại Đắk Song mở trường dạy học bằng tiếng M’Nông Khuyến khíchviệc học trường lớp thanh niên người dân tộc, phát động phong trào bình dânhọc vụ; chuẩn bị chương trình dạy tiếng M’Nông thay tiếng Pháp Tuyển họcsinh người M’Nông đi học các lớp văn hóa và kỹ thuật ở miền xuôi.
Về y tế, nhân viên y tế chính quyền cũ được lưu dụng, phát động phongtrào vệ sinh phòng bệnh Phong trào được sự hưởng ứng nhiệt tình của đồng bàocác dân tộc, đưa lại hiệu quả
Về xã hội, xoá bỏ tàn tích văn hoá thực dân Tranh thủ nhân sĩ trí thức,công chức, các vị chỉ huy, binh lính người Thượng để làm việc cho chính quyềncách mạng
Đối với các khu vực nông thôn trong tỉnh ( trong đó có Đắk Song hiệnnay), Ủy ban Việt Minh và Hội Nông dân cứu quốc phát động phong trào thi đuasản xuất lương thực, tổ chức quản lý đàn trâu bò, thu mua nông lâm thổ sản,nhiều nơi trở thành hoạt động tập trung rầm rộ được đông đảo nông dân tham giahưởng ứng Ban Công vận và các Ủy ban Công nhân quản lý đồn điền phối hợpvới Nông hội vận động công nhân ra sức sản xuất và thu hoạch mùa vụ, cungcấp cho tỉnh nhiều sản phẩm như cà phê, cao su, chè… để đưa vào Sài Gòn bánlấy tiền mua gạo, muối, các nhu yếu phẩm cần thiết cung cấp cho nhân dân trênđịa bàn
Những biện pháp kịp thời cần thiết trên đáp ứng yêu cầu ổn định tình hình
và nhu cầu thiết yếu của đồng bào các dân tộc
Thực hiện đường lối của Đảng và Chính phủ, chính quyền cách mạng vàMặt trận ở các địa phương trên địa bàn của Đắk Song, Đắk Nông có những biệnpháp tích cực về gây dựng phong trào, tuyên truyền, giáo dục, thực hiện chínhsách ưu tiên đối với đồng bào các dân tộc, bộ mặt về văn hóa, giáo dục, y tế xãhội có những thay đổi đáng kể
2 Các tổ chức Đảng ra đời, lãnh đạo xây dựng cơ sở, củng cố lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
a Xây dựng lực lượng, củng cố tổ chức, bảo vệ chính quyền cách mạng
Với địa thế hiểm trở, vùng Tây Nguyên trở thành khu vực quân sự có tầmquan trọng chiến lược đối với cả nước Sau thất bại trong kế hoạch “đánh nhanh,thắng nhanh” ở Nam Bộ, hướng tiến công quan trọng của thực dân Pháp là NamTrung Bộ, trước hết là các tỉnh cực Nam Trung Bộ và vùng Tây Nguyên Khuvực Đắk Song cũng nằm trong hướng tấn công đó
Trang 32Đắk Song nói riêng và Đắk Nông nói chung là vùng núi có thế rất cao sovới các vùng tiếp giáp, nằm trên trục nối liền với miền Bắc, tiếp giáp với ĐôngBắc Campuchia và Đông Nam Bộ, là địa bàn quân sự có tầm quan trọng chiếnlược Với vị trí quan trọng của địa bàn Đắk Song, Đắk Nông nói riêng, TâyNguyên nói chung, kẻ địch âm mưu dốc sức tái chiếm địa bàn này để giữ thếtrận phòng thủ Tây Nguyên và bảo vệ Nam Đông Dương
Trước nguy cơ thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra Nam Trung Bộ,Trung ương Đảng, Chính phủ chủ trương tăng cường chỉ đạo Nam Trung Bộchuẩn bị kháng chiến Cuối tháng 9-1945, Hội nghị quân sự do Uỷ viên trưởngquốc phòng Nguyễn Chánh chủ trì, quyết định thành lập Bộ Chỉ huy mặt trậnNam Trung Bộ, sau đó thành lập Mặt trận Tây Nguyên Tháng 10-1945, Chínhphủ quyết định chia cả nước làm 10 khu Miền Nam Trung bộ được chia làm haikhu, là Khu 5 và Khu 6, địa bàn các huyện Đắk Song, Đắk Mil… với những đặcđiểm riêng biệt thuộc sự chỉ đạo của Chiến khu 6 Cùng thời gian trên Trungương còn tăng cường cho tỉnh Đắk Lắk một số cán bộ chủ chốt về quân sự cũngnhư về chính trị Các đoàn công tác của Trung ương và của khu uỷ qua Đắk Lắk,
đã cho những ý kiến chỉ đạo cụ thể cho cuộc kháng chiến ở đây Ngoài ra Trungương và Khu uỷ còn cử các đoàn bộ đội Nam tiến vào trực tiếp chiến đấu chốngPháp cùng đồng bào, đồng chí ở Nam bộ và Nam Trung bộ
Nhiệm vụ của quân và dân trên địa bàn Đắk Nông cũng như của quân và
dân Nam Trung Bộ theo Chỉ thị: Kháng chiến kiến quốc (ngày 25-11-1945) của
Trung ương Đảng là:“Hiện nay ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, giặc Pháp chiếmđược nhiều tỉnh lỵ, nhưng ta vẫn làm chủ thôn quê” và “đang bao vây quân Pháp
ở các thành thị” Từ đó, chỉ đạo: “Nhiệm vụ chiến thuật của ta ở Nam Bộ và miềnNam Trung Bộ là cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phongtoả những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự”13
Cuối năm 1945, tình hình chính trị, xã hội ở khu vực thuộc địa bàn ĐắkSong, Đắk Nông có những diễn biến phức tạp Bên ngoài thực dân Pháp ráo riếttấn công lấn chiếm, bên trong chính quyền còn non trẻ chưa ổn định, vững chắc.Vùng Ba ranh giới (Tuy Đức) nằm phía Tây núi Nâm Nung (căn cứ củaN'Trang Lơng trước 1935), là vị trí tiền tiêu của Đắk Lắk, là trọng tâm đánhchiếm của thực dân Pháp Chiếm được vùng này là ngăn chặn được con đườngliên lạc và các hoạt động của ta phát triển vào phía Nam, khống chế được vùngNam Tây Nguyên và vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ
Thực hiện chủ trương kháng chiến của Trung ương, Uỷ ban nhân dân cáchmạng tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo đẩy mạnh công tác bố phòng, chuẩn bị lực lượng
13 Ban Chấp hành Trung ương: Văn kiện Đảng 1945-1954, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nộ,
1978, Tr.33.
Trang 33kháng chiến Uỷ ban quân sự Đắk Lắk khẩn trương điều một số đơn vị quân giảiphóng về khu vực các huyện Đắk Song, Đắk Mil, thành lập Ban chỉ huy Mặt trận
Ba ranh giới Ban chỉ huy gồm nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Lựclượng quân sự bố trí ở mặt trận này gồm 3 đại đội Trong đó, mỗi đại đội có mộttrung đội người Kinh, hai trung đội là người đồng bào các dân tộc thuộc tiểuđoàn tập trung đầu tiên của tỉnh Sau đó, Uỷ ban quân sự tỉnh bổ sung thêm haiđại đội Nam tiến Tuy nhiên, trình độ chiến đấu của lực lượng vũ trang bổ sungcòn non kém, vũ khí còn thô sơ và thiếu kinh nghiệm chiến đấu trước đội quânthực dân nhà nghề Cùng với quân và dân Đắk Lắk, quân dân địa bàn Đắk Song,Đắk Nông cũng tập trung sức người sức của xây dựng tuyến phòng thủ tại vùng
Ba ranh giới
Cùng với việc xây dựng các phòng tuyến, từ tháng 9-1945 đến tháng
12-1945, thanh niên khắp các buôn, bon trên địa bàn Đắk Song, Đắk Mil, Tuy Đức,Krông Nô, thuộc Đắk Nông nô nức gia nhập quân đội, lên đường ra mặt trận giếtgiặc, cứu nước Các đơn vị giải phóng quân được thành lập cùng với việc thànhlập chính quyền cách mạng Trong thời gian này Đắk Lắk thành lập được hai đạiđội mang tên N’Trang Lơng Ở các xã, lực lượng tự vệ được tổ chức rộng rãi.Mỗi xã có tiểu đội, trung đội do Ban chỉ huy tự vệ hoặc uỷ viên quân sự xã chỉhuy
Cùng với các đơn vị quân giải phóng, nhân dân các dân tộc trên địa bànĐắk Song cũng đẩy nhanh công tác chuẩn bị để kết hợp với bộ đội địa phương
và du kích tại các buôn, bon sẵn sàng chiến đấu chống lại những đợt tấn côngđầu tiên của thực dân Pháp lên Tây Nguyên
Mặc dù là vùng đầu tiên của Tây Nguyên bị Pháp tái chiếm, nhưng nhândân Đắk Lắk nói chung và nhân dân các huyện Đắk Song, Đắk Mil, Krông Nônói riêng đã tham gia bầu cử Quốc hội bằng nhiều hình thức Người biết chữ thìviết phiếu, người không biết chữ thì bỏ phiếu bằng hình thức biểu quyết giơ tay,
bỏ hạt đậu, hạt ngô (hạt bắp), thay phiếu Dù kẻ địch phá hoại quyết liệt, nhưngcuộc tổng tuyển cử đã giành được thắng lợi, nhân dân các dân tộc nhất trí bầuhai đại biểu của tỉnh vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.14 Lần đầutiên nhân dân trên địa bàn Đắk Song phấn khởi được thể hiện vai trò làm chủ đấtnước, đồng thời cũng minh chứng sự tin tưởng tuyệt đối của đồng bào các dântộc Đắk Song, Đắk Nông vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
b.Các tổ chức Đảng ra đời, lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, góp phần đánh thắng thực dân Pháp xâm lược
Ngày 29-11-1945, quân Pháp do một thiếu tá chỉ huy có xe tăng, xe bọcthép và máy bay yểm trợ, có súng cối và đại bác mở đường từ Campuchia, theo
14 Bác sỹ YNgông Nie KĐăm và ông YWang MLô Du.
Trang 34đường Căng Rô Lant, đánh vào phòng tuyến Ba ranh giới Số lính Pháp đi đầu bịsập hầm chông, bọn địch dùng hỏa lực mạnh hòng tiêu diệt ta Để bảo toàn lựclượng, Ban chỉ huy Mặt trận do chỉ huy trưởng Vũ Bỉnh chỉ huy tổ chức họp vàthống nhất lệnh cho bộ đội rút về Đắk Song sau khi đã đốt kho gạo và tiêu hủynhững thứ không mang theo được
Tại Đắk Song, bộ đội ta chia nhỏ lực lượng, thực hiện đánh du kích diệthàng chục tên địch trên trục đường 14 (từ Đắk Song đến Đắk Lắk), kết hợp với
sự bất hợp tác với giặc của đồng bào, khiến thực dân Pháp không yên ổn trongviệc thực hiện âm mưu chiếm đóng
Do chênh lệch lực lượng, đến cuối 11-1945, vùng Đắk Song hoàn toàn rơivào tay giặc, thành vùng tạm bị chiếm Tuy nhiên, sự kiên cường bảo vệ nền độclập dân tộc trong thời gian đầu tiến hành cuộc kháng chiến, đồng bào trên địabàn Đắk Song cũng như quân và dân trên vùng đất Tây Nguyên thật sự tự hào
và cảm động nhận được thư khen của Bác Hồ: “ Từ ba tháng nay, các anh chị em
đã đem xương máu ra để giữ lấy từng tấc đất của Tổ quốc
Tôi và tất cả đồng bào ở Bắc Bộ và phía Bắc Trung Bộ, đã bao nhiêu lần tứcgiận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên lãnh thổ của ông cha ta, giết hại nòigiống ta
Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị
vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc tạo nên, đã bao lần hồi hộp cảm độngtrước những gương hy sinh vô cùng dũng cảm của những người con yêu của Tổquốc
Do đó, tôi càng tin chắc rằng: với một nước đã có những con người hysinh như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không
bị mất một lần nữa”.15
Sau khi chiếm được vùng Ba ranh giới, thực dân Pháp cho quân tiến sâuvào Đắk Nông Ngày 1-12-1945 quân Pháp đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột(thủ phủ của Đắk Lắk) Từ tháng 1-1946, dân quân du kích của Đắk Song vàĐắk Nông cùng với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên bước vào thời kỳ đầy gay
go, quyết liệt Đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện sôi nổi ủng hộ và giúp
đỡ, tham gia chiến đấu chặn từng bước tiến của quân thù, chống sự mở rộngchiếm đóng của địch Sau khi bị chiếm, cuộc chiến đấu bao vây, kìm chân địch,gây rối, phá hoại các cơ sở của địch diễn ra quyết liệt Ban cán sự Đảng Đắk Lắk
đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Đắk Song, Krông Nô, Đắk Mil… nội dung cơ bản làgây cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền, thành lập các đơn vị du kích, thực
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NxbCTQG, H, 2000, tập 4, tr 134
Trang 35hiện chiến tranh du kích trong lòng địch và vùng sau lưng địch, nhân dân đấutranh bằng các hình thức đơn giản.
Chiến sự ngày càng ác liệt, để bảo toàn và củng cố lực lượng cho khángchiến lâu dài, ngày 23-6-1946, ta quyết định rút toàn bộ lực lượng quân dânchính Đảng về miền Tây Phú Yên, cả địa bàn Đắk Lắk, Đắk Nông dường như bỏtrống Cuối tháng 6-1946 thực dân Pháp chiếm xong toàn bộ Tây Nguyên Từđây, ta dựa vào địa bàn Tây Phú Yên làm hậu cứ, tỉnh Đắk Lắk (trong đó có cáchuyện Đắk Song, Đắk Mil) củng cố lại lực lượng, gây dựng cơ sở chuẩn bị mọiđiều kiện cho cuộc kháng chiến lâu dài
Sau khi chiếm được vùng đất Đắk Song nói riêng, Tây Nguyên nói chung,thực dân Pháp lập lại bộ máy cai trị cũ Ngoài ra, chúng còn dùng nhiều thủ đoạn
mị dân để mua chuộc, dụ dỗ, khống chế nhân dân, tạo ra tầng lớp tay sai mới tạicác buôn Bên cạnh việc tiến hành khủng bố trắng hết sức dữ dội nhằm tiêu diệtlực lượng kháng chiến, thực dân Pháp còn dựa vào lực lượng tay sai trong cácbuôn làng phát hiện cán bộ cách mạng và các cơ sở che dấu cán bộ, treo giảithưởng mỗi một đầu cán bộ cốt cán của cách mạng là 20kg muối, hăm dọa cácgià làng tỏ ra thiện cảm với cách mạng Cùng với việc tăng cường hệ thống ngụyquân, ngụy quyền khắp nơi; thực hiện chính sách độc quyền muối, thuốc chữabệnh sốt rét, dụng cụ sản xuất; duy trì các tập quán tín ngưỡng lạc hậu, thực hiện
mị dân, thực dân Pháp còn tuyên truyền luận điệu nói xấu Việt Minh trong đồngbào các dân tộc, chia rẽ người Kinh, người Thượng, lùng bắt thanh niên đi lính,thực hiện âm mưu thâm độc “lấy người Việt trị người Việt”, “ dùng người dântộc, trị người dân tộc”
Đây là thời gian cực kỳ gian khó của lực lượng kháng chiến trên địa bànĐắk Song nói riêng, vùng Nam Tây Nguyên nói chung Các hoạt động quân sựlớn của ta tạm thời lắng xuống do các đội vũ trang công tác của ta chưa vượt quađược vành đai trắng mà công cuộc bình định của thực dân Pháp lập nên Nhưng,đồng bào các dân tộc trên địa bàn vẫn một lòng hướng về cách mạng, một sốbuôn nhân dân vẫn lợi dụng việc chống thú dữ, đặt hố bẫy, cài chông và cắmxung quanh buôn nhằm chống lại những cuộc càn sục bất ngờ của địch Cónhiều người bất hợp tác với địch, nhiều binh lính không ra làm việc lại cho địch,bất chấp sự mua chuộc dụ dỗ cũng như khủng bố ác liệt của kẻ thù
Trước tình hình đó, đầu năm 1947, Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đượccủng cố, đồng chí Nguyễn Khắc Tính làm Bí thư Tỉnh Đắk Lắk (trong đó cóĐắk Nông) có sự chỉ đạo thống nhất, toàn diện Tháng 7-1947, Phòng Quốc dânthiểu số giải thể, thành lập Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh do Ama Khê làmChủ tịch Đảng bộ, chính quyền cách mạng tỉnh được khôi phục Đắk Song, ĐắkNông lúc này dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk và
Trang 36Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Đắk Lắk Từ 1947 lãnh đạo tỉnh Đắk Lắkquyết định đưa lực lượng trở lại bám đất, bám dân, lãnh đạo kháng chiến, các cơquan lãnh đạo ở các huyện thuộc địa bàn tỉnh Đắk Nông (ngày nay) lần lượtđược tái lập.
Từ đây, các cán bộ cách mạng mở rộng hoạt động, gây cơ sở chính trị,bám dân từng bước vận động nhân dân phát động chiến tranh du kích
Tháng 9-1947 đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộquyết định thành lập Khu 15 (gồm 5 tỉnh Tây Nguyên, trong đó có Đắk Nông)
để chỉ đạo trực tiếp công tác xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích ởvùng địch chiếm Đến tháng 10 năm 1948, Khu 5, Khu 6 và Khu 15 được hợpnhất lại thành Liên khu 5
Đi đôi với mở rộng gây cơ sở chính trị, lãnh đạo phát động quần chúng,từng bước đứng lên đấu tranh về chính trị, kinh tế với địch, phong trào chiếntranh du kích trong toàn Liên khu 5 phát triển một bước khá, các thôn trong Liênkhu có dân quân, các xã có đội du kích tập trung được trang bị vũ khí thô sơ nhưgiáo, mác và một vài súng trường
Các cán bộ của Đắk Nông và các huyện trên địa bàn tỉnh thực hiện nhiệm
vụ quay trở lại vùng địch hậu, xây dựng cơ sở, củng cố chính quyền cách mạng,diệt tề trừ gian, phát động chiến tranh du kích, xây dựng bảo vệ căn cứ
Đến năm 1948, trên địa bàn Đắk Nông còn có một số huyện chưa xâydựng được cơ sở Đảng, cơ sở chính trị Chính vì vậy, chủ trương xây dựng tổchức chính trị ở khu vực Đắk Nông (trong đó có Đắk Song) được Ban Chỉ đạoTây Nguyên hết sức quan tâm Nơi đây là khu vực có địa thế đặc biệt, có tầmquan trọng chiến lược trong chiến tranh, thêm vào đó là nơi đồng bào các dântộc Êđê, M’Nông… sinh sống Xây dựng các cơ sở Đảng, tập hợp vận độngquần chúng là việc cấp bách cho việc chuẩn bị xây dựng khu vực hậu cứ
Đầu năm 1949, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên có Văn phòng Tây Nguyên(nằm trong Uỷ ban kháng chiến Nam Trung bộ) Văn phòng có ngân quỹ để hoạtđộng và kinh phí cho công tác địch hậu Chính vì vậy về tổ chức Đảng ở cáchuyện thuộc Đắk Nông có bước phát triển mới, được tăng cường thêm cán bộ,thành lập Ban cán sự Đảng huyện Đắk Mil và sau đó là các huyện khác trên địabàn tỉnh trong đó có Đắk Song Công tác chuẩn bị xây dựng hậu cứ trên địa bàn
đã hoàn tất khâu chuẩn bị
Nhằm củng cố, xây dựng cơ sở, Ban cán sự Đảng huyện Đắk Mil đượchình thành Các huyện được sắp xếp lại thành 6 khu hoặc hạt, ở mỗi khu tùy theoyêu cầu bố trí các đội vũ trang tuyên truyền và các đại đội độc lập để xây dựng
cơ sở chính trị và phát động chiến tranh du kích Đối với những xã có cơ sở thì
Trang 37bố trí một đội công tác gồm có cán bộ Đảng, cán bộ vận động chính quyền, cán
bộ công an và một tổ bộ đội
Trên đà phát triển của phong trào kháng chiến vùng Nam Đắk Lắk, BanLãnh đạo đội vũ trang VT3-124 cử đội công tác do đồng chí Nguyễn Xuân Hòa(Ma Thu) và đồng chí Y Diết phụ trách, xây dựng cơ sở cách mạng ở bon BuRóa (thuộc xã Đắk Rung huyện Đắk Nông ngày nay) Được cán bộ cách mạngtrực tiếp tuyên truyền, giác ngộ, nhân dân các dân tộc Đắk Nông trong đó cóđồng bào các dân tộc ở Đắk Song hăng hái tham dự những buổi học tập chính trị
do cán bộ tổ chức bí mật ở ngoài rừng và tích cực làm những công việc mà cán
bộ giao cho
Đội công tác cũng tổ chức, tập hợp quần chúng tham gia vào các đoàn thểtheo giới và theo lứa tuổi như thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu nhi, Từ đó bộmáy chính quyền xã, buôn được xây dựng dưới hình thức bán công khai
Năm 1950, trên chiến trường Tây Nguyên quân và dân ta thu được nhiềuthắng lợi, đẩy địch lâm vào thế lúng túng, bị động Trên đà thắng lợi của cuộckháng chiến, Trung ương và Liên khu ủy 5 quyết định đẩy mạnh công tác vùngsau lưng địch Cuối tháng 1-1950, Hội nghị cán bộ Đảng toàn Liên khu 5 lần thứhai, sau khi phân tích tình hình địch, ta trên chiến trường, đề ra chủ trương tiếptục phát triển du kích chiến tranh đến cao độ ở trong vùng sau lưng địch, đồngthời tập trung binh lực mở những chiến dịch lớn và liên tục tạo một chuyển biếntrong tương quan lực lượng giữa địch và ta; giành thế chủ động hoàn toàn vềchiến dịch đi đến chủ động chiến lược bộ phận, tiến tới chủ động hoàn toàn Đặcbiệt Hội nghị quyết định triệt để thực hiện tổng động viên nhân tài vật lực đểđẩy mạnh phong trào kháng chiến ở chiến trường lên cao hơn
Theo chỉ thị của Tổng Quân ủy Trung ương về hoạt động quân sự hè năm
1950, Liên khu ủy 5 chọn Nam Tây Nguyên, trong đó có địa bàn huyện ĐắkSong, Đắk Mil, Tuy Đức… là một trong những hướng để phát triển mạnh cơ sởchính trị và chiến tranh du kích
Tháng 3-1950, Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk họp bàn kế hoạch thực hiệnchủ trương của Liên khu ủy 5 về hoạt động hè của Liên khu trên địa bàn tỉnh.Hội nghị quyết định củng cố các cơ sở chính trị và cơ sở du kích, đẩy mạnhphong trào du kích chiến tranh, phá tề trừ gian; phối hợp với các lực lượng củaLiên khu tác chiến tiêu hao, tiêu diệt địch; tổ chức việc tiếp nhận và bảo quản tốthàng tiếp vận; kiện toàn các cơ quan giúp việc của Ban cán sự
“Đầu năm 1950, tại Đắk Lắk các đội vũ trang tuyên truyền (VT3) do Bancán sự Đảng tỉnh lãnh đạo, nhưng thực chất về tổ chức, hoạt động do Trung đoàn
84 điều hành Trung đoàn 84 gồm 9 đại đội độc lập, 6 đội vũ trang tuyên truyềnđặc trách Nam Tây Nguyên, Trung đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Quang Tiến,
Trang 38Chính ủy là đồng chí Đoàn Khuê Khoảng giữa năm 1950, Trung đoàn 84 đượcphiên chế lại thành 2 liên đại đội (12 và 13), 6 đại đội độc lập (11, 14, 16, 17, 18,19), cùng phối hợp với cán bộ dân chính đảng lập ra 8 đội vũ trang tuyên truyền(121, 122, 123, 124, 125, 126, 127, 128)”16.
Nhằm đẩy mạnh công tác địch hậu ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắknói riêng, theo chỉ đạo của Tổng Quân ủy Trung ương về hoạt động hè năm
1950, Liên khu 5 chọn Nam Tây Nguyên (trong đó có địa bàn các huyện ĐắkSong, Đắk Mil… thuộc Đắk Nông) làm hướng chính với nhiệm vụ phát triểnmạnh cơ sở chính trị và du kích; đánh địch bằng tiêu diệt các tiền đồn, đội quânứng chiến; phá chính quyền Sài Gòn và dùng kho nhân vật lực của địch
Do đó, hoạt động hè năm 1950 ở Nam Tây Nguyên được lấy tên là chiếndịch Nguyễn Huệ (từ tháng 7 đến tháng 9-1950) Chiến dịch nhằm đẩy mạnh gây
cơ sở địch hậu ở chiến trường chính, phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, bồidưỡng lực lượng của ta Với tinh thần đó công tác chuẩn bị cho chiến dịchNguyễn Huệ được tiến hành khẩn trương Ban cán sự Đảng, Ủy ban kháng chiếnhành chính, các đoàn thể quần chúng và các lực lượng vũ trang của tỉnh được bổsung thêm cán bộ
Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định thành lập Bộ chỉ huy mặttrận, thành phần gồm các đồng chí Khu ủy viên, Tỉnh ủy viên, cán bộ chỉ huyTrung đoàn 803 và Trung đoàn 84 để chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch Mặc dù còngặp nhiều khó khăn, nhưng lực lượng địa phương tham gia tích cực
Tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 kết luận: Vớichiến dịch, ta đã đặt được nền móng đầu tiên cho việc xây dựng một khu dukích, mở đường xây dựng một khu căn cứ địa trên vùng địch hậu Đắk Lắk,Trung tâm của vị trí chiến lược Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên khu.Quân địch ở Đắk Lắk phải bị động đối phó với các hoạt động của quân và dântrong tỉnh Tuy vậy, về tương quan lực lượng trên chiến trường, thì địch vẫnmạnh Do đó, sau khi chiến dịch kết thúc, quân chủ lực rút về thì địch tìm cáchđẩy mạnh hoạt động, giành lại thế chủ động
Từ ngày 29-12-1950 đến 2-1-1951, Hội nghị Liên khu ủy 5 họp mở rộng
để kiểm điểm tình hình năm 1950, quyết định những chủ trương cho năm 1951
Trên cơ sở tình hình địch và Liên khu, Hội nghị đề ra nhiệm vụ cần kíp làcủng cố và mở rộng cơ sở địch hậu, phát triển du kích chiến tranh đến cực độ;xây dựng lực lượng phù hợp với nhiệm vụ và hoàn cảnh, khả năng của Liên khu;thực hiện địch vận, nhất là ngụy vận mạnh, làm tan rã hàng ngũ địch; bảo vệ hậuphương, xây dựng căn cứ địa Hội nghị nhấn mạnh vấn đề đặc biệt của các chiến
16 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 1930 - 2005, Nxb Chính
trị quốc gia,tr
Trang 39trường trong đó có chiến trường Tây Nguyên là chỉnh đốn tư tưởng ỷ lại vào bộđội chủ lực, đòi hỏi hoạt động quy mô, đồng thời thực hiện phương thức ba xungphong; đẩy mạnh tăng gia sản xuất để tiếp tế tại chỗ; ra sức đào tạo cán bộ địaphương.
Từ sau chiến dịch Nguyễn Huệ, đầu năm 1951 địch tổ chức một số cuộccàn quét nhỏ để thăm dò lực lượng của ta, rồi tiến hành các cuộc càn quét lớn,nhằm bao vây, tiêu diệt các đội vũ trang tuyên truyền, các đại đội độc lập bámtrụ trên chiến trường và đặc biệt là nhằm chặn hành lang các đoàn tiếp vận của tavào sâu trong nội địa
Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tăng cường Tiểu đoàn 39 chủlực cho Đắk Lắk (trong đó có Đắk Song và Đắk Nông) để cùng với các lựclượng của Trung đoàn 84 N'Trang Lơng giữ vững thành quả của chiến dịchNguyễn Huệ, bảo vệ các đoàn tiếp vận và chống các cuộc càn quét của địch
Năm 1950 đội vũ trang tuyên truyền VT3-124, do đồng chí Yblóck ÊBanlàm đội trưởng, các chiến sĩ của đội từ 32 đồng chí tăng lên 60 đồng chí, đượctrang bị tiểu liên, đưa du kích đi tham gia chiến đấu Sau khi gây cơ sở ở một sốbuôn, đội cử một bộ phận về báo cáo tình hình, dẫn theo 6 nam nữ thanh niêndân tộc về để đào tạo nhằm bổ sung cán bộ người M' Nông Do đó, cơ sở ở đâytừng bước được củng cố Đến cuối năm 1950, sau khi bộ phận đi về quay trở lại,đội chia làm hai bộ phận tiến dần vào phía Nam Cơ sở được mở rộng ra 5 xã;xây dựng được 5 chi bộ Đảng đầu tiên của Đắk Mil; Các cơ sở ở 5 xã xây dựngđược lực lượng du kích, đào hầm chông, cài bẫy đá, rào buôn để chống địch,cùng một số buôn cơ sở và các buôn khác bất hợp tác với địch
Các chiến sĩ đội vũ trang cùng với các đảng viên tích cực tuyên truyền,bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, chống địch càn quét
Ở huyện Đắk Mil, Đắk Song, Đội vũ trang tuyên truyền kiên trì khắc phụckhó khăn, móc nối với quần chúng, lấy quần chúng giác ngộ, tuyên truyền choquần chúng theo phương thức "cầu chuyền", "vết dầu loang", làm cho cơ sở pháttriển ngày càng nhanh Vùng Nam Đắk KLó trở thành căn cứ đứng chân đầu tiêncủa đội, rồi phát triển lên Đắk Đam, phía Bắc đường 14
Trên cơ sở của phong trào quần chúng, tháng 10-1951, một chi bộ với 6đảng viên được thành lập (5 đảng viên là người địa phương, 1 đảng viên của độicông tác), do đồng chí Nguyễn Xuân Hòa làm Bí thư Đây là chi bộ Đảng chínhthức đầu tiên của huyện Đắk Nông Sau khi chi bộ Đảng thành lập đã cùng vớichính quyền xã, buôn lãnh đạo, tổ chức đồng bào lập ra các tổ dân quân tự vệlàm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ buôn ấp Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên tổ chứcvận động quyên góp lương thực cho các lực lượng thoát ly; vận động vót chông,cắm chông và làm các vũ khí thô sơ như nỏ, cung…
Trang 40Các tổ chức chính trị, tổ chức cơ sở Đảng tại đây đã phát huy vai trò quantrọng trong việc tập hợp quần chúng, giác ngộ quần chúng qua những buổi sinhhoạt tập thể, góp phần hoàn thành một bước nhằm xây dựng vững chắc vùng hậu
cứ, đảm bảo cho thắng lợi của cuộc kháng chiến
Căn cứ vào tình hình địch, ta trên chiến trường, tháng 9-1951, Hội nghịBan chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (Khóa II) họp bàn về công tác vùngsau lưng địch Hội nghị ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương châm công táctrong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích Hội nghị nêu rõ các địa phương phảibiết căn cứ vào tương quan lực lượng giữa địch và ta ở mỗi chiến trường màđịnh phương châm đấu tranh cho thích hợp: khi trọng về chính trị, khi chính trị,quân sự đi đôi, khi trọng về quân sự, nhưng điều cơ bản là phải biết lấy dân làmgốc
Theo tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ hai, những vùng như ĐắkSong, Đắk Mil là vùng tạm bị chiếm, là nơi địch kiểm soát tương đối chặt, thìlấy đấu tranh chính trị và kinh tế là chính, khi có điều kiện thì chuyển lên đấutranh vũ trang, tránh manh động, trừ gian bừa bãi
Vừa đấu tranh chính trị, kinh tế, Đắk Song cũng nắm bắt chủ trương xâydựng vùng du kích, tạo ra thế giằng co với địch giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh
vũ trang, tiến tới mở rộng vùng du kích, xây dựng và củng cố các căn cứ dukích Mọi công việc ở cả hai vùng đều phải xoay quanh ba việc chính: dân vận,vận động ngụy quân, chiến tranh du kích
Liên khu ủy 5 và các tỉnh Đảng bộ mở Hội nghị vùng sau lưng địch Hộinghị Liên khu uỷ 5 đánh giá cao những cố gắng và tiến bộ của phong trào saulưng địch ở Tây Nguyên Biểu dương tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh củacán bộ, lực lượng vũ trang và cơ sở cách mạng trong vùng bị chiếm ở đồngbằng Đồng thời, cũng phân tích sâu sắc những khuyết điểm trong công tác vùngsau lưng địch trên địa bàn Liên khu.Trên cơ sở phân tích những kết quả, hạn chếcủa Liên khu, Hội nghị đề ra yêu cầu xác định rõ vùng du kích, vùng tạm chiếm
ở mỗi tỉnh, nhấn mạnh vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong đó có Đắk Song,Đắk Mil là những huyện thuộc tỉnh Đắk Nông ngày nay
Quán triệt tinh thần của Trung ương và Liên khu ủy, tháng 12-1952, Bancán sự Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk họp Hội nghị mở rộng nhằm quán triệt Nghị quyết
về công tác vùng sau lưng địch của Trung ương và Liên khu ủy Hội nghị nêu rõphương châm và nhiệm vụ toàn bộ công tác vùng sau lưng địch là nhằm vậnđộng quần chúng đấu tranh, vận động binh lính địch và phát động du kích chiếntranh, phá tan chính sách bình định của địch
Hội nghị nhấn mạnh rằng vùng sau lưng địch phải được chia thành haivùng với hai phương châm khác nhau: Vùng tạm chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu