1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012 : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 56 01

205 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, chính quyền địa phương liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh và phát triển thủ công nghiệp chưa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NHƯ

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN THỦ CÔNG NGHIỆP

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

XÁC NHẬN NCS CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH

GIÁ LUẬN ÁN LUẬN ÁN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch HĐ đánh giá luận án TS

PGS.TS Đoàn Ngọc Hải PGS.TS Ngô Đăng Tri

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất quý báu và nhiệt tình của các Thầy cô giáo, các cán bộ tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin được chân thành cảm ơn các Thầy cô, các cán bộ của Nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Đoàn Ngọc Hải – công tác tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng, Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Khoa Giáo dục Chính trị, Đại học Hà Nội, nơi đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi có thời gian nghiên cứu luận án này Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi có thể yên tâm học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 2 năm 2016

Nguyễn Thị Như

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Ngọc Hải, Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận án, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2016

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Nhƣ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp khoa học của luận án 4

6 Kết cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu chung về thủ công nghiệp ở nước ngoài, trên phạm vi cả nước và các địa phương 6

1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu về thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 16

1.3 Kết quả của các công trình nghiên cứu và những nội dung cần phải giải quyết trong luận án 22

CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN THỦ CÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 25

2.1 Những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh 25

2.1.2 Thủ công nghiệp và thực trạng phát triển thủ công nghiêp của Bắc Ninh trước năm 1997 30

2.1.3 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thủ công nghiệp……… 36

2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 42

Trang 6

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp

trong những năm đầu tái lập tỉnh (1997-2000) 43

2.2.2 Chủ trương phát triển mạnh thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh những năm (2001-2005) 46

2.3 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp 49

2.3.1 Chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thủ công nghiệp 49

2.3.2 Chỉ đạo đào tạo nguồn nhân lực cho thủ công nghiệp 52

2.3.3 Chỉ đạo đổi mới các chính sách và thủ tục hành chính, thu hút đầu tư cho thủ công nghiệp phát triển 55

2.3.4 Chỉ đạo tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh cho các hộ, cơ sở sản xuất ở các làng nghề 59

Tiểu kết 66

CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN THỦ CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2012 68

3.1 Cơ hội, thách thức mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh với phát triển thủ công nghiệp 68

3.1.1 Cơ hội, thách thức mới 68

3.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thủ công nghiệp… 69

3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 75

3.2.1 Rà soát, điều chỉnh lại chủ trương, chính sách về phát triển thủ công nghiệp trong tình hình mới 75

3.2.2 Phát triển thủ công nghiệp theo chiều sâu, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới 78

3.3 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp 83

3.3.1 Chỉ đạo đổi mới các chính sách cho từng loại ngành nghề thủ công nghiệp

83

3.3.2 Chỉ đạo quá trình mở rộng thị trường, hỗ trợ thương mại, quảng bá sản phẩm cho thủ công nghiệp 88

3.3.3 Chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường làng nghề thủ công 92

Trang 7

3.3.4 Chỉ đạo huy động nguồn vốn và tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực cho

phát triển thủ công nghiệp 93

Tiểu kết 104

CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 106

4.1 Nhận xét 106

4.1.1 Về ưu điểm 106

4.1.2 Về hạn chế 122

4.2 Một số kinh nghiệm 131

4.2.1 Phát triển thủ công nghiệp theo lộ trình “thí điểm trước áp dụng rộng rãi sau” 134

4.2.2 Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tự chủ của các tổ chức đảng cơ sở trong lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp 131

4.2.3 Chọn hướng đi đúng, tận dụng mọi nguồn lực phát triển thủ công nghiệp địa phương 134

4.2.4 Phát triển thủ công nghiệp gắn với phát triển ngành nghề khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chú trọng phát triển làng nghề bền vững ở tỉnh Bắc Ninh 139

Tiểu kết 143

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

PHỤ LỤC 172

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CCN-TCN Cụm công nghiệp - thủ công nghiệp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lƣợng làng nghề và cơ cấu ngành nghề của tỉnh Bắc Ninh 34

Bảng 3.1 Ngành nghề gỗ mỹ nghệ ở tỉnh Bắc Ninh 87

Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ trung bình hộ nghèo trong các LN thủ công 101

Bảng 4.1 Hộ gia đình hoạt động trong các làng nghề ở Bắc Ninh 112

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội đất nước, thủ công

nghiệp luôn giữ vai trò, vị trí quan trọng: Thủ công nghiệp đã hỗ trợ và kết hợp

với nông nghiệp tạo thành một cấu trúc kinh tế vững mạnh hơn, kiến tạo văn hóa

đô thị Thủ công nghiệp phát triển tạo việc làm cho người lao động, thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc qua từng sản phẩm, quảng

bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới…

Thủ công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay,

được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với những làng nghề thủ công danh

tiếng như dệt tơ tằm Nội Duệ, chạm gỗ Phù Khê, làng tranh dân gian Đông Hồ,

gốm sứ Phù Lãng Cùng với sự quan tâm chỉ đạo hết sức sát sao của Đảng bộ

tỉnh, Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh, trong những năm 1997 - 2012, với hàng loạt

chủ trương, giải pháp, chính sách lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh: Quy

hoạch không gian làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề, đào tạo nghề,

mở rộng làng nghề thủ công…thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh dần đi vào hoạt

động ổn định, nhân rộng thêm nhiều làng nghề mới, phát triển cả bề rộng lẫn

chiều sâu, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh, giảm tệ nạn

xã hội, góp phần giữ an ninh trật tự thôn, xóm

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều chủ trương, chính sách của Đảng bộ

tỉnh Bắc Ninh, chính quyền địa phương liên quan đến quá trình sản xuất kinh

doanh và phát triển thủ công nghiệp chưa được triển khai đồng bộ, chưa có

những chế tài hay biện pháp cụ thể, thống nhất để TCN phát triển, còn rất nhiều

vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh phải có chủ trương, chỉ đạo giải

quyết: Mối quan hệ giữa thủ công nghiệp với những ngành kinh tế khác cần phải

chú trọng nội dung gì? Củng cố hơn nữa vị trí và vai trò của thủ công nghiệp

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn? Tiềm năng phát triển

du lịch làng nghề thủ công Bắc Ninh trong thời đại ngày nay? Vấn đề ô nhiễm

Comment [MP1]: Giai đoạn>>> Comment [MP2]: Chính sách và giải

pháp?

Comment [MP3]: Nên có minh chứng

cho từng luận điểm

Trang 11

môi trường làng nghề thủ công cần giải quyết như thế nào? Nên TCN vẫn chưa phát huy được hết thế mạnh của nó Do tính thực tế và tầm quan trọng, có khá nhiều công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp Bắc Ninh, dưới nhiều góc độ, cấp độ: kinh tế, chính trị, dân tộc học, lịch sử Việt Nam nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu về chủ trương, chính sách quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp một cách có hệ thống Để kinh tế nói chung và thủ công nghiệp Bắc Ninh nói riêng phát triển hơn nữa trong tương lai

đó là yêu cầu cấp thiết của thực tế và đó cũng là lý do Nghiên cứu sinh quyết

định chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012” làm luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thủ công nghiệp trong 15 năm từ 1997 đến năm 2012

- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012

- Nhận xét kết quả hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012, đúc rút kinh nghiệm để vận dụng vào hiện thực

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung khoa học: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp thông qua các văn kiện, nghị quyết cuả Đảng bộ tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh từ năm 1997 đến năm 2012 Có rất nhiều vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh, song, luận án chỉ tập trung làm rõ về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, Đảng bộ các địa phương trong tỉnh, về sự phát triển thủ công nghiệp mà hạt nhân là các làng nghề thủ công trên địa bàn

- Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 1997 (từ sau khi Bắc Ninh tái

lập tỉnh) đến năm 2012 Tuy nhiên để đảm bảo tính hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu của luận án, NCS có sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phát triển thủ công nghiệp trước năm 1997 và sau năm 2012

- Về không gian nghiên cứu: Các thôn, xã (phường), huyện (quận, thành

phố) có nghề thủ công và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế, về vai trò của kinh tế, đặc biệt là thủ công nghiệp

Nguồn tư liệu luận án bao gồm: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa

Mác- Lênin và Hồ Chí Minh về kinh tế, về vai trò, vị trí của kinh tế đối với đời sống xã hội, về quan hệ giữa kinh tế và sự phát triển xã hội… là nguồn tài liệu nền tảng, cơ sở lý luận của luận án Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, sắc lệnh…của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chính phủ từ năm 1997 đến năm

2012 Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh Báo cáo hàng năm của UBND tỉnh, cùng với Sở, Ban, Ngành, Mặt trận và các đoàn thể; báo cáo hàng năm của các Huyện ở địa phương, các kết luận của Ban thường vụ Tỉnh ủy; các chỉ thị, thông tư của các Bộ, Ngành liên quan, hiện đang được lưu giữ tại Sở, Ban, Ngành tại Bắc Ninh đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất

Trang 13

- Tư liệu điều tra và kết quả khảo sát thực tế của tác giả luận án tại một số làng nghề thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2012

- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê Bắc Ninh được sử dụng để làm

rõ một số nội dung có liên quan

- Các chuyên luận, công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến luận

án đã được công bố

Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên

cứu, ngoài việc sử dụng các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như

phương pháp lịch sử, phương pháp logic, và sự kết hợp giữa 2 phương pháp lịch

sử – logic, luận án còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, khảo sát, điều tra qua bảng hỏi để xử lý

các sự kiện, con số, với mục đích dựng lại quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh hoạch định chủ trương và lãnh đạo thực hiện phát triển thủ công nghiệp Luận án cũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản ánh đặc điểm, bản chất, sự phát triển trong quá trình lãnh đạo thủ công nghiệp ở Bắc Ninh, làm rõ những thành tựu, hạn chế của quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp

5 Đóng góp khoa học của luận án

- Trình bày có hệ thống, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012

- Bước đầu nêu lên những đánh giá, nhận xét có cơ sở khoa học về thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012 để vận dụng vào thực tiễn

- Góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng về phát triển công nghiệp nói chung, thủ công nghiệp nói riêng từ một Đảng bộ cơ sở, qua đó làm phong phú hơn lịch sử lãnh đạo kinh tế công nghiệp của toàn Đảng

Trang 14

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng trong các Học viện, Nhà trường và các công trình nghiên cứu, cung cấp những tư liệu cho việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong 15 năm kể từ khi Bắc Ninh tái lập tỉnh

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, công trình nghiên cứu khoa học có liên

quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án

bao gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2005

Chương 3 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển thủ công

nghiệp từ năm 2005 đến năm 2012

Chương 4 Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI

Đã có rất nhiều công trình khoa học viết về thủ công nghiệp Việt Nam ở

trong nước và nước ngoài được công bố, đặc biệt từ sau khi Việt Nam tiến hành

đường lối đổi mới từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay Thủ công nghiệp mà hạt

nhân là các làng nghề trở thành đề tài “lôi cuốn”, “hấp dẫn”, “thu hút” các nhà

nghiên cứu bởi vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân, sự chuyển động

của thủ công nghiệp khi kinh tế trong nước chuyển sang cơ chế thị trường,…đã

có nhiều cuốn sách, bài viết, nghiên cứu khoa học, báo cáo, đề tài, luận án - dưới

nhiều góc độ, phạm vi khác nhau được công bố và các công trình này đã cho kết

quả “rực rỡ” và “đồ sộ”

Có thể phân chia các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp nói chung

và thủ công nghiệp Bắc Ninh nói riêng thành các nhóm tư liệu chủ yếu có tác

động đến đề tài luận án, như sau:

1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu chung về thủ công nghiệp ở

nước ngoài, trên phạm vi cả nước và các địa phương

Ở nước ngoài, có những nghiên cứu điển hình có liên quan đến thủ công

nghiệp Việt Nam (1) “Stay on the farm, weave in the village leave the home (ly

nông bất ly hương, làm thủ công tại làng) tác giả Đặng Nguyên Anh Cellia,

Hoàng Xuân Thành, nhà xuất bản thế giới năm 2004 Sách được xuất bản bằng

hai thứ tiếng Tiếng Anh, tiếng Việt, dày 91 trang Spitzenpfeil, Annette 1999

(2) Craft villages in Vietnam's Economic Tranformation Process In Vietnam

Villages in Transition, edited by B D a V J Houben Passau: Department of

Southeast Asian Studies, Pasau University (Làng nghề trong quá trình chuyển

đổi kinh tế của Việt Nam, Phòng Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Pasau) (3)

Sango Mahanty and Trung Dinh Dang: Protecting the water commons in

vietnams craft villages Both authors are with the Resource Management in

Asia-Pacific Program, College of Asia and the Asia-Pacific, Australian National University,

Comment [SCD4]: Chia thành 3 nội

dung chính Thủ công nghiệp trên toàn quốc+ Bắc Ninh => chia thành 3 nội dung: Làng nghề truyền thống, giải pháp đề xuất, chính sách làng nghề

Các chính sách của Đảng về TCN Các công trình NC về TCN BN + làng nghề cổ truyền + ô nhiễm MT + Tiềm năng của làng nghề

Còn thiếu NC về chỉnh sách, ảnh hưởng… hạn chế

Trang 16

2009 (Người dân chung tay bảo vệ nguồn nước công cộng tại các làng nghề Việt Nam, hai tác giả đều công tác tại đại học quốc gia Úc); (4) Fanchette S,

2007 – The development process of craft and industrial village (CIV) clusters in

Hà Tây and Bắc Ninh province (Vietnam): from village initiatives to public policies (Quá trình phát triển của nghề và làng công nghiệp (CIV) cụm ở Hà Tây

và Bắc Ninh (Việt Nam): từ sáng kiến làng đến các chính sách công, nhà xuất bản thế giới 2007)

Tiêu biểu là bài của hai tác giả Sango Mahanty and Trung Dinh Dang:

Protecting the water commons in Vietnams craft villages (Người dân chung tay bảo vệ nguồn nước công cộng tại các làng nghề Việt Nam) Bài báo phân tích tỉ

mỉ, có chiều sâu về thực trạng làng nghề thủ công ở Việt Nam Trên cơ sở khảo sát thực tiễn tại 3 nghề thủ công tiêu biểu ở đồng bằng sông Hồng: làng dệt Dương Nội, làng lụa Nha Xá và Phong Khê - một ngôi làng tái chế giấy, tác giả đem lại cách nhìn mới: Nguyên nhân sâu xa ô nhiễm làng nghề thủ công, xuất phát từ chính trị, xã hội…nếu muốn giải quyết dứt điểm phải đi từ chủ trương, chính sách trước Kết quả phân tích công trình góp phần nâng cao những kiến thức mới về sự chuyển biến xã hội ở các làng nghề của Việt Nam, nơi mà đời sống của người nông dân đã chuyển từ kết hợp chăn nuôi và sản xuất thủ công sang sản xuất thủ công chuyên biệt hơn kể từ sau chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Phân tích chi tiết cuốn Fanchette S, 2007 – The development process of craft and industrial village (CIV) clusters in Hà Tây and Bắc Ninh province (Vietnam): from village initiatives to public policies (Quá trình phát triển của

nghề và làng công nghiệp (CIV) cụm ở Hà Tây và Bắc Ninh tỉnh (Việt Nam): từ sáng kiến làng đến các chính sách công) nhà xuất bản thế giới 2007, dài 165 trang Cuốn sách nêu vấn đề: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kết cấu ngành công nghiệp, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tồn tại ở nông thôn, gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội

Trang 17

ở nông thôn Chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến phát triển làng nghề và công nghiệp, trong đó nhiều làng nghề với những sáng kiến “tự thân” đưa nghề thủ công phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Kết hợp giữa chính sách Nhà nước và sáng kiến của chính người lao động trong làng nghề là bước đi mới, đem đến thành công LN TCN trong tương lai

Tất cả công trình này chủ yếu đề cập đến: lịch sử phát triển nghề thủ công, mối quan hệ giữa chính sách và làng nghề thủ công, vấn đề ô nhiễm môi trường…, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về chính sách, chủ trương

của Đảng đến quá trình chỉ đạo phát triển có hệ thống của thủ công nghiệp Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng

Viết Sự - Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam [125]; Bùi Văn Vượng -

Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển [218]; Lê Nguyễn Lưu - Làng nghề cổ truyền xứ Huế [101]; Phạm Hiệp - Phát triển làng nghề cổ truyền ở Hải Dương [69]; Nguyễn Vãn Đại - Tạo việc làm thông qua

Trang 18

khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống [54]; Bạch Thị Lan Anh - Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [1];…

Điển hình, tiêu biểu là tác phẩm Làng nghề thủ công truyền thống của Bùi Văn Vượng [217], Vũ Từ Trang với Nghề cổ truyền nước Việt [171]: Nội dung

các cuốn sách chủ yếu đề cập đến các nghề thủ truyền thống ở Việt Nam: Nghề đúc đồng với các địa danh nổi tiếng ở Đại Bái, Ngũ Xá, Đê Cầu - Đông Mai; nghề kim hoàn Châu Khê, Kiêu Kỵ, Đồng Xâm; nghề gốm Bát Tràng, Hương Canh, Chợ Bông; nghề gốm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận…và một số làng nghề tiêu biểu ở Bắc Bộ và Nam Trung Bộ, đã nhận định về mặt yếu, mặt mạnh, cho thấy cách nhìn nhận mới về thực trạng làng nghề truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, nơi có mật độ làng nghề thủ công nghiệp đông nhất cả nước Công trình nghiên cứu với kết luận hết sức quan trọng, mang tính

lý luận và thực tiễn cao về thực trạng phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền thống cổ truyền Đó là một bức tranh tổng thể về những nghề thủ công nổi tiếng xuất hiện từ lâu đời cho đến ngày nay, góp phần cho thế hệ sau có thế giới quan đầy đủ về các nghề thủ công ở Việt Nam

Cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội, nhà xuất bản Hà Nội

năm 2010, đã thể hiện sâu sắc tình cảm của những người biên soạn đối với làng nghề, phố nghề Thăng Long xưa, chủ biên là Chuyên gia kinh tế cao cấp, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Vũ Quốc Tuấn và các đồng tác giả Nguyễn

Vi Khải và Bùi Văn Vượng là những chuyên gia trong nghiên cứu về làng nghề, đồng thời có điều kiện tiếp cận các chủ trương, chính sách kinh tế vĩ mô, do đó

đã không chỉ khái quát được những thành tựu, giá trị cơ bản của làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội mà còn nêu lên được nhiều giải pháp có ý nghĩa thiết thực vừa cơ bản vừa cấp bách trong công cuộc bảo tồn và phát triển làng nghề, phố nghề ở thủ đô

Nguyễn Hữu Thông với Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống

[145]: Nội dung cuốn sách trình bày khái niệm làng nghề, vai trò của nghề thủ

Trang 19

công đối với đời sống kinh tế - xã hội của cố đô Huế, phát triển làng nghề trong hội nhập kinh tế quốc tế và kinh nghiệm phát triển của một số làng nghề Phân tích thực trạng làng nghề ở Huế: đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới phát triển LNTCN Xuất phát từ những thời cơ và thách thức đối với làng nghề nói chung và làng nghề Huế nói riêng, đề xuất giải pháp nội tại (về sản phẩm, lao động, tổ chức sản xuất, phát triển cụm làng nghề, kết hợp giữa sản xuất, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tại chỗ) Các giải pháp hỗ trợ của cơ quan quản lý: chính sách hỗ trợ về vốn vay cho các làng nghề; chính sách hỗ trợ về cơ sở hạ tầng; chính sách hỗ trợ về thuế Những vấn đề đặt ra đối với làng nghề trong thời đại mới, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho làng nghề hội nhập kinh tế và để làng nghề tồn tại và phát triển cần phải có những chính sách phù hợp thực tế, một trong số yêu cầu đó là cần phải xây dựng tiêu chí làng nghề

Những công trình này chủ yếu cung cấp hệ thống thông tin về lịch sử ra đời và quá trình hình thành làng nghề truyền thống ở Việt Nam Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn gốc của làng nghề thủ công cổ xưa, góp phần xây dựng hình ảnh, quảng bá văn hóa truyền thống từng vùng miền đến với du khách trong và ngoài nước

Nhóm các công trình tiêu biểu nghiên cứu về tình hình phát triển làng nghề thủ công nghiệp Việt Nam

Nguyễn Văn Bách - Phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [3]; Hoàng Văn Châu - Làng nghề du lịch Việt Nam [28]; Nguyễn Hữu Lực - Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở đô thị Việt Nam hiện nay [100]; Đỗ Xuân Luận - Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phổ Yên, Thái Nguyên [99]; Vũ Tuấn Anh - Tác động xã hội và môi trường của việc phát triển làng nghề [2]; Thủy Công - Để làng nghề phát triển đúng hướng [43]; Nguyễn Hữu Khải - Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống [89]; Vũ Lê - Thực trạng và tiềm năng phát triển làng nghề du lịch Việt Nam [94]; Nguyễn Thị Liên

Trang 20

Hương - Nghiên cứu nguy cơ sức khỏe ở các làng nghề tại một số tỉnh phía Bắc

và giải pháp can thiệp [85]; Nguyễn Thị Hường - Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề tiểu thủ công nghiệp [86]; Lê Văn Khoa - Để phát triển kinh tế làng nghề bền vững [90]; Trung Kiên - Sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang khát vốn [91]; Nguyễn Thị Ngân - Xu hướng phát triển làng nghề ở khu vực đồng bằng sông Hồng [104]; Hoàng Ngân - Phát triển bền vững các làng nghề sông Hồng, thực trạng và giải pháp [103]; Dương Bá Phượng - Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa [109]; Hoàng Trung Tập - Khôi phục và phát triển làng nghề ở vùng đồng bằng sông Hồng nước ta hiện nay [132]; Thái Thanh - Đồng Nai ưu tiên phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp [136]; Nguyễn Vĩnh Thanh - Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở vùng đồng bằng sông Hồng [137]; Đỗ Thị Thạch – Khôi phục và phát triển làng nghề ở vùng đồng bằng sông Hồng nước ta hiện nay [133]; Hoàng Văn Chăm - Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay [25];…

Nổi bật cuốn Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, của tác giả Dương Bá Phượng [109], được khảo sát cẩn thận, tỉ mỉ

Nội dung cuốn sách đề cập đến khái niệm làng nghề, đặc điểm và vị trí làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, đưa ra các giải pháp cơ bản để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống trong tương lai Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hoá Viê ̣t, giàu tính nhân văn Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hoá và lịch sử Nhiều giá trị văn hóa của nghề thủ công truyền thống dần bị mai một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của các nghệ nhân lớn tuổi Những ý nghĩa văn hóa truyền thống của mỗi sản phẩm không được các thế hệ sau tiếp thu và phát huy một cách đúng mực dẫn đến mất bản sắc nghề, thậm trí còn có xu hướng thương mại hóa, chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm

Trang 21

cho giá trị văn hóa của sản phẩm thủ công truyền thống bị suy giảm, thương hiệu của làng nghề bị phai mờ Vì vậy để bảo tồn và phát triển làng nghề là yêu cầu cấp thiết của thực tế, cần được nghiên cứu, quan tâm…trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn

Có thể kể sâu hơn về công trình nghiên cứu: Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay, nhà nghiên cứu Trần Văn Chử [42] Đề tài hệ thống hóa làm rõ vai trò, vị trí của làng nghề

tiểu thủ công nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường tiêu thụ sản phẩm LN TCN ở đồng bằng sông Hồng Nhóm tác giả đánh giá, tiềm năng, xu hướng phát triển và thực trạng nghề thủ công, đồng thời nêu lên những khó khăn, vướng mắc về thị trường tiêu thụ ở đồng bằng sông Hồng Nhóm tác giả, xác định rõ phương hướng phát triển và các giải pháp để mở rộng thị trường thủ công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tác giả nhấn mạnh: Thị trường có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề thủ công; thị trường hoàn thiện, mở rộng, vững mạnh thì làng nghề TCN mới phát triển bền vững Do đó, địa phương có nghề thủ công cần phát triển đồng bộ các loại thị trường: Từ thị trường nhiên liệu, thị trường tiêu thụ, thị trường vốn và cả thị trường lao động… cũng cần được đầu tư đồng bộ

Làng nghề Việt Nam và môi trường, của tác giả Đặng Kim Chi [33]: Tác

phẩm được đánh giá cao về tính sáng tạo và có ý nghĩa thực tiễn Đề tài mở ra một hướng nghiên cứu mới về môi trường ở Việt Nam Nội dung đề cập một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam Môi trường và sức khoẻ người lao động An toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề Đặc biệt ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng ảnh hưởng đến làng nghề và cộng đồng xung quanh, tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân và gây nhiều bức xúc Tác giả dự báo

xu hướng phát triển và mức độ ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề đến năm 2010, đề ra những định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo

Trang 22

phát triển làng nghề bền vững, đề xuất giải pháp cải thiện môi trường làng nghề Đặc biệt, đề tài đã đưa ra các mô hình cải thiện môi trường có thể áp dụng cho 4 loại làng nghề phổ biến ở Việt Nam là tái chế giấy, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và chế biến lương thực, thực phẩm Những mô hình này

đã được phổ biến cho bà con ở một số làng nghề, giúp giảm tiêu thụ nguyên, nhiên liệu và xử lý chất thải ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng

Tổng thể, có thể khái quát lại những kết quả chính nhóm trên như sau: (1) Thu được kết quả phong phú, làm giàu thêm những lý luận cơ bản về làng nghề, nghề tiểu thủ công nghiệp, hiểu thêm về sản xuất làng nghề ở các vùng miền trên

cả nước (2) Các công trình hệ thống hóa được nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng và thiết thực đối với quá trình khôi phục và bảo tồn, phát triển thủ công nghiệp trên cả nước (3) Kết quả của nhiều công trình có ý nghĩa về mặt thực tiễn

to lớn đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, tập trung làm rõ sự biến đổi của làng nghề thủ công nghiệp trên cả nước, đề cập chủ yếu đến một số khía cạnh: tỷ

lệ thất nghiệp ở nông thôn, làng nghề truyền thống giàu bản sắc có nguy cơ mai một, ô nhiễm môi trường thủ công nghiệp ngày càng nghiêm trọng…từ thực tiễn

đó làm cơ sở để Đảng, Nhà nước và chính quyền ở địa phương ban hành các chính sách phù hợp với lý luận và thực tiễn nhằm mục tiêu phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng và giữ nước

Nhóm các công trình, bài viết tiêu biểu nghiên cứu về chủ trương chính sách của Đảng và Pháp luật, Nhà nước về thủ công nghiệp Việt Nam

Bộ Thương mại - Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010 [22]; Bộ Thương mại - 20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam, những thành thành tựu và bài học kinh nghiệm [23]; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Một số chính sách về phát triển ngành nghề ở nông thôn [20]; Nguyễn Cúc -

Trang 23

Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đến năm 2005 [44]; Trần Thị Minh Châu - Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam [26]; Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Phát triển cụm công nghiệp làng nghề, thực trạng và giải pháp [15]; Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương - Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn [11]; Trần Minh Đạo - Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng [63]; Lê Mạnh Hùng - Định hướng và những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn tỉnh Hà Tây [79]; Nguyễn Thị Thu Hường - Quản lý Nhà nước về môi trường tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam [87]; Vũ Mạnh Thìn - Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 [141]; Đỗ Minh Tứ - Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 1997-2007 [175]; Trần Thị Anh Trúc - Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển tiểu thủ công nghiệp từ năm 1996-2006 [172];

Đặc sắc hơn cả là công trình: Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010 đề tài khoa

học của Bộ Thương mại do Trần Công Sách chủ trì [22] Các tác giả đã luận giải khá rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn về nghề thủ công truyền thống và vai trò của các chính sách trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và tác động của các chính sách và giải pháp của Nhà nước để tiêu thụ sản phẩm thủ công nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ Đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của yếu tố công nghệ đến kết quả sản xuất kinh doanh Qua đó, các tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới hoàn thiện chính sách nhằm tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống ở Bắc

Trang 24

đầu phát triển bằng vốn tự phát của các doanh nhân, tuy nhiên mức ban đầu rất hạn chế, khi các doanh nghiệp đi vào hoạt động và bước đầu có hiệu quả, họ đều mong muốn gia tăng vốn để mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, các doanh nghiệp này gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn

Do thị trường vốn ở Việt Nam chưa hoàn thiện nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ

có thể tiếp cận được nguồn vốn vay từ thị trường chính thức là hạn chế Hầu hết doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô rất nhỏ (vốn trung bình), họ không thực hiện cổ phần hóa để có thể tham gia thị trường chứng khoán và thu hút được vốn qua thị trường này Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó vay vốn ngân hàng, do nhiều nguyên nhân, căn bản là do các doanh nghiệp này chưa đáp ứng đủ điều kiện để vay vốn Chỉ có 1/3 doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, 1/3 khó tiếp cận và 1/3 không tiếp cận được Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng đã rất khó, nhưng việc duy trì khoản vay nợ và giữ uy tín với ngân hàng lại là điều khó hơn nhiều Thêm vào

đó, lãi suất cho vay của các ngân hàng hiện quá cao Chính vì vậy các chính sách của Đảng, Nhà nước cần phải có ưu tiên cho vay vốn đối với loại hình kinh tế đặc thù này

Kết quả của công trình nêu trên khái quát được (1) Vai trò, vị trí của các chính sách công cơ bản tác động đến ngành nghề và những đề xuất trong hoạch định và hoàn thiện về mặt chính sách của Nhà nước cho phát triển TCN, đặc biệt

là ô nhiễm môi trường trong nghề thủ công hiện nay Một chính sách và cơ chế đúng đắn hợp lý Đảng, Pháp luật của Nhà nước sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thủ công nghiệp (2) Trong quá trình phát triển của làng nghề thủ công, các tỉnh đều thực hiện các chính sách khác nhau về thị trường đầu ra, về vốn, về công nghệ, về đào tạo nghề, về đất đai để giúp đỡ, tạo điều kiện cho nghề thủ công phát triển, dựa trên thực tiễn địa phương Tuy nhiên, mỗi một địa phương có một đặc điểm riêng, nên mỗi

Trang 25

công trình có đóng góp khác nhau về kinh nghiệm sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu về thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Nhóm các công trình tiêu biểu nghiên cứu về thực trạng làng nghề và tình hình sản xuất, kinh doanh của các nghề thủ công ở Bắc Ninh

Lê Đình Thắng - Phát triển vùng làng nghề truyền thống ở Hà Bắc [140]; Chu Hữu Luân - Bắc Ninh - thế và lực mới trong thế kỷ XXI [98]; Lê Đình Thắng - Phát triển vùng làng nghề truyền thống ở Hà Bắc [140]; Sở Kế hoạch Đầu tư Bắc Ninh - Làng nghề Bắc Ninh, tiềm năng và hội nhập [121]; Nguyễn Gia Thiệu - Khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp nhỏ gia đình - khảo sát hộ làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh [142]; Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam - Thực trạng phát triển làng nghề ở Bắc Ninh cùng những giải pháp để bảo vệ môi trường [96]; Nguyễn Duy Hà - Phát triển sản xuất và môi trường ở làng nghề truyền thống huyện Từ Sơn, Bắc Ninh [65]; Nguyễn Văn Hùng - Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh [80]; Lê Văn Hương - Phát triển làng nghề Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa nông thôn [82]; Hồng Minh - Bắc Ninh - 10 năm một chặng đường phát triển [102]; Vũ Thanh Liêm - 10 thành tựu kinh tế Bắc Ninh trong 10 năm phát triển [95]; Phan Trung Chính - Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững [40]; Nguyễn Xuân Hoản - Công nghiệp hóa nông thôn thông qua phát triển các cụm công nghiệp làng nghề: Nghiên cứu trường hợp tại các cụm công nghiệp làng nghề ở Bắc Ninh và Hà Tây [72]; Nguyễn Xuân Hoản - Cụm công nghiệp làng nghề Đồng Kỵ: Lịch sử và hiện trạng [71]; Nguyễn Thị Liên Hương -Thực trạng điều kiện việc làm và sức khỏe người lao động ở các làng nghề truyền thống tại Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên [84]; Nguyễn Thế Thư - Cho vay vốn để hỗ trợ các làng nghề truyền thống một hướng đi đúng, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn Bắc Ninh [151];…

Trang 26

Tác phẩm “Phát triển vùng làng nghề truyền thống ở Hà Bắc, tác giả Lê Đình Thắng [140]: Nghiên cứu về tất cả các làng nghề thủ công truyền thống của

tỉnh Hà Bắc, khi chưa chia tách về địa giới Việc phát triển ngành nghề, làng nghề thủ công nghiệp giúp cho người dân có thêm việc làm, tăng thu nhập, đóng góp to lớn trên phương diện địa phương và quốc gia Tác giả khảo sát và phân tích thực trạng các làng nghề thủ công truyền thống tỉnh Hà Bắc rất công phu, tỉ

mỉ, chi tiết với 3 phần lớn Phần một tìm hiểu một số vấn đề lý luận và thực tiễn

liên quan đến LN TCN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam Nêu rõ được bản chất và đặc điểm của LN TCN cùng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và xu thế vận động của nó Công trình cho thấy sự cần thiết khách quan phát triển LN TCN trong xu thế mới, ở một thời đại mới

Từ kinh nghiệm phát triển thủ công nghiệp ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, tác giả đưa ra một số bài học kinh nghiệm để áp dụng vào làng nghề ở Bắc Ninh Phần hai xem xét đến thực trạng làng nghề cổ truyền thống như gốm sứ Phù Lãng, tranh dân gian Đông Hồ, làng nghề mây tre đan Phúc Tằng… trên quê hương Hà Bắc Với lịch sử tồn tại hàng 100 năm, làng nghề thủ công Hà Bắc đứng trước nhiều nguy cơ thử thách có thể dẫn đến mất nghề Lê Đình Thắng chỉ ra xu hướng vận động của làng nghề thủ công Hà Bắc trước những thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn: Sản phẩm thủ công nghiệp đối mặt với rất nhiều vấn đề: cạnh tranh mẫu mã, chất lượng trên thị trường, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đã và đang tạo sức ép không nhỏ đến chất lượng cuộc sống người làm nghề nói riêng, dân trong vùng nói chung, cần phải tìm hướng đi mới Phần ba trình bày về quan điểm và giải pháp cơ bản để phát triển làng nghề trong tương lai Tác giả chỉ ra thực trạng làng nghề, đưa ra các giải pháp để cho thủ công nghiệp phát triển, nhấn mạnh đến giải pháp hiện đại hóa công nghệ truyền thống, kết hợp truyền thống với công nghệ hiện đại, kết hợp nhiều ngành, nhiều công nghệ trên một đơn vị sản phẩm sẽ tạo cho sản phẩm tiểu

Trang 27

thủ công nghiệp vừa tinh xảo vừa hiện đại, cạnh tranh được trên thị trường là yếu tố quyết định đưa tiểu thủ công nghiệp nông thôn lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

Đề tài Khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp nhỏ gia đình - khảo sát hộ làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Gia Thiệu [142] Nội dung mà

đề tài đề cập đến có ý nghĩa hết sức quan trọng khi cư dân sinh sống ở Bắc Ninh chủ yếu thu nhập nhờ hoạt động làng nghề Để đáp ứng yêu cầu về việc phát triển kinh tế thủ công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh Từ đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội đặt ra các biện pháp thúc đẩy phát triển nghề thủ công Ổn định, mở rộng đầu tư cho sản xuất, nhân cấy nghề mới, góp phần đẩy nhanh năng suất và chất lượng sản phẩm Việc mở rộng thị trường làng nghề thủ công nghiệp là cần thiết và cấp bách nhưng vấp phải nhiều khó khăn: Thiếu vốn, thiếu diện tích, nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu thị trường cũng không có cần quan tâm đến chính sách phù hợp của Đảng

bộ địa phương và các ban, ngành có liên quan

Tổng kết, các kết quả nghiên cứu: (1) Cung cấp hệ thống các lý luận cơ bản về làng nghề thủ công, vai trò cơ bản của làng nghề trong phát triển kinh tế -

xã hội; (2) Cho biết về nguồn gốc ra đời của các nghề thủ công ở Bắc Ninh; (3) Tổng quát về về tình hình hoạt động thủ công nghiệp ở Bắc Ninh: sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng …Vì vậy, kết quả nghiên cứu này có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc hình thành tư duy và nhận thức về làng nghề TCN của Bắc Ninh cho thế hệ sau; đồng thời nó sẽ trở thành cơ sở lý luận khoa học cho các nhà nghiên cứu sau này khi bàn về vấn đề thủ công nghiệp Bắc Ninh

Nhóm các công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu về chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

Ban Thường vụ tỉnh ủy Bắc Ninh - Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

1926-2008 [10]; Nguyễn Như Chung - Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy

Trang 28

phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến 2003, Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp [41]; Bùi Vĩnh Kiên - Chính sách phát triển công nghiệp tại địa phương, nghiên cứu áp dụng với tỉnh Bắc Ninh [92]; Nguyễn Hữu Loan - Phương hướng và giải pháp phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [97]; Nguyễn Mai Hương - Phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh [83]; Nguyễn Việt Sáng - Tăng cường quản lý Nhà nước nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững các làng nghề tỉnh Bắc Ninh [111]; Vương Văn Điểm - Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh, một số kinh nghiệm tổ chức sản xuất [64]; Nguyễn Xuân Hoản - Các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh [73]; Đỗ Minh Yến - Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1997-2006 [219]; Nguyễn Thị Thanh Huyền - Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp 2000-2010 [81]; Nguyễn Thùy Dung - Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương từ

1997 đến 2007 [53]…

Trong nhóm công trình này, có thể kể đến công trình nghiên cứu tác giả

Nguyễn Như Chung “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến 2003, Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp”[41] Phần đầu tác giả hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về

khái niệm đặc điểm, vai trò và các nhân tố tác động tới sự phát triển của làng nghề thủ công Đặc biệt công trình đi sâu phân tích để làm rõ chính sách phát triển ở một số nước châu Á và rút ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam nói chung, Bắc Ninh nói riêng Công trình đã khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để thấy thuận lợi và khó khăn với sự phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh Đó là cơ sở cho việc hoạch định và thực thi chính sách thúc đẩy làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương

Phần hai, tác giả đã đi sâu phân tích hệ thống chính sách của Nhà Nước và địa phương có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh từ

Trang 29

1997 đến năm 2003 Đồng thời, công trình chỉ rõ tác động của các chính sách đó đến sự phát triển của các làng nghề ở trên hai khía cạnh thành tựu - hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế Phân tích các chính sách của Nhà nước và Tỉnh

ủy Bắc Ninh tác động đến làng nghề như thế nào và rút ra 6 bài học kinh nghiệm

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đó là cơ sở để cho việc đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phù hợp với sự phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh Thủ công nghiệp phát triển sẽ là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị Việc đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp nhằm đa dạng hóa các ngành nghề nông thôn, tạo việc làm mới, tăng thêm thu nhập cho dân cư góp phần ổn định kinh tế, xã hội nông thôn

Cuối cùng, tác giả đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách để làng nghề thủ công phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, đưa ra các giải pháp đồng bộ để hoàn thiện các chính sách phát triển làng nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, điều đó giúp cho việc nhận thức và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước với thủ công nghiệp được thuận lợi hơn Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện đó là các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề: chính sách đất đai, chính sách khuyến khích đầu

tư, chính sách thương mại thị trường, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách khoa học công nghệ…

Những luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng có liên quan đến luận án có

Nguyễn Thùy Dung (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương từ 1997 đến 2007; Đỗ Minh Yến (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm 1997-2006 Luận

văn tìm hiểu, nghiên cứu về chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương trong những năm sau tái lập tỉnh (1997 - 2007); từ đó rút ra những nhận xét, bài học kinh nghiệm Thủ công nghiệp được coi là một phần của công nghiệp địa phương, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong 10 năm đầu tái lập đã có nhiều thành tựu bứt phá Quan điểm

Trang 30

chủ trương của Đảng bộ trên cơ sở quan triệt chủ trương Đảng CSVN, áp dụng dụng vào Bắc Ninh một cách sáng tạo và độc đáo Luận văn hệ thống hóa các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2006, khẳng định thành tựu và nêu hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm Chủ yếu tác giả nghiên cứu về cơ cấu kinh tế ngành và một số nét tiêu biểu của chuyển dịch thành phần kinh tế từ khi mới tái lập tỉnh cho đến Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (năm 2005) - Cơ cấu kinh tế vùng ở Bắc Ninh không đề cập đến trong luận văn Vai trò của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh cũng được nghiên cứu, đặt xuyên suốt trong luận văn với chủ trương, mục tiêu và giải pháp

cụ thể Tuy nhiên, chưa có sự khái quát tổng thể, nêu lên được sự độc đáo trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển kinh tế, đặc biệt kinh

tế thủ công nghiệp

Mỗi một công trình nghiên cứu đều có đóng góp riêng về lý luận cũng như nhận thức trong thực tiễn, song nhìn chung, đều có các kết quả như: (1) Nêu khái quát được quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh nói riêng về ngành nghề ở nông thôn, trong đó có thủ công nghiệp, chủ yếu quan điểm từ tinh thần Nghị quyết của các Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội XI Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có đường lối riêng phù hợp điều kiện tỉnh qua quan điểm, chủ trương trong Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (năm 1997), XVI (năm 2001), XVII (năm 2005) (2) Các nghiên cứu này đã nêu khái quát được các chính sách Pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, đặc biệt kinh tế tư nhân, thủ công nghiệp cũng không nằm ngoài tiến trình đó Thông qua công trình, tác giả khảo sát cụ thể về một số luật về kinh tế như Luật doanh nghiệp, Luật đất đai, nghiên cứu về chính sách thuế, và một số chính sách liên quan khác như thuế, cải cách hành chính, luật đầu tư…(3) Đưa ra được một số kiến nghị về chủ trương, chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa, tạo điều kiện để thủ công nghiệp phát triển

Trang 31

Những công trình trên rất phong phú, đa dạng về nội dung và phạm vi nghiên cứu giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu, viết các công trình kinh tế, lịch sử ở Bắc Ninh Đặc biệt đối với các luận án, luận văn chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài việc cho thấy sự vận dụng sáng tạo của Bắc Ninh triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng, đề cập về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nền kinh tế quốc dân còn nêu lên thành tựu và hạn chế, trong

đó có đóng góp của kinh tế thủ công nghiệp Tuy chưa chuyên sâu nghiên cứu quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và công tác chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh với thủ công nghiệp - Các công trình đều là nguồn tư liệu quan trọng, một bức tranh tổng thể về sự phát triển các làng nghề thủ công Bắc Ninh giúp nhận thức của tác giả được đầy đủ hơn cũng như có cách tiếp cận, đưa ra so sánh, chọn lọc những tài liệu phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu

1.3 Kết quả của các công trình nghiên cứu và những nội dung cần phải giải quyết trong luận án

Nhận xét chung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp được nêu trên, như sau:

Tất cả công trình: sách, báo quốc tế, luận án… được nhắc đến ở trên là những tác phẩm tiêu biểu được tác giả chọn lọc để giới thiệu chi tiết nội dung Các công trình liên quan đến thủ công nghiệp trên phạm vi cả nước và Bắc Ninh đều có nội dung chủ yếu gồm có: (1) Nêu lên các khái niệm, phân loại về làng nghề thủ công, thủ công nghiệp Việt Nam nói chung, Bắc Ninh nói riêng; (2) Đánh giá thực trạng thủ công nghiệp Bắc Ninh với hạt nhân là làng nghề thủ công: về tình hình sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm,… (3) Phân tích vị trí, vai trò, đặc điểm của thủ công nghiệp trong đời sống kinh tế - xã hội (4) Những thế mạnh cần khai thác ở làng nghề: tiềm năng du lịch đi đôi với việc bảo vệ nền văn hóa truyền thống… (5) Khái quát được quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về tiểu thủ công nghiệp Việt Nam nói chung, Bắc Ninh

Trang 32

nói riêng ghi nhận ưu điểm và hạn chế và đưa ra những kiến nghị và giải pháp,

quan điểm cho sự phát triển thủ công nghiệp trong tương lai Những khác biệt chủ yếu giữa các công trình nghiên cứu thủ công nghiệp Bắc Ninh, theo hướng:

(1) Phạm vi nghiên cứu có thể một vùng, một tỉnh, huyện hoặc một làng nghề điển hình (2) Đề tài nghiên cứu gắn với một nội dung chủ yếu: Xây dựng thương hiệu, bảo tồn làng nghề, tiêu chí phân loại làng nghề, làng nghề với môi trường, tiềm năng phát triển du lịch làng nghề…

Tổng kết lại, có thể thấy được thủ công nghiệp ở Việt Nam nói chung, thủ công nghiệp Bắc Ninh nói riêng mà hạt nhân là các làng nghề là một đề tài nghiên cứu, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với mức độ khác nhau, cho thấy được sức sống của thủ công nghiệp với đời sống con người Trên từng khía cạnh, các sách, báo, tạp chí, bài viết, công trình nghiên cứu cung cấp những

số liệu rất có ý nghĩa, có giá trị nhất định đối với việc thực hiện luận án cả về lý luận và thực tiễn Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ được vị trí, vai trò của thủ công nghiệp trên phạm vi cả nước nói chung, TCN Bắc Ninh nói riêng trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với kinh tế nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời chỉ ra những thành tựu và hạn chế của thủ công nghiệp trong thời kỳ CNH, HĐH từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp giúp thủ công nghiệp ngày càng phát triển hơn trong tương lai

Một số công trình cũng có những khái quát chung về quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển thủ công nghiệp, đặc biệt ở các luận văn chuyên ngành lịch sử Đảng… Đó là những nội dung chủ yếu, sống còn của các công trình viết về nghề thủ công tác giả cần kế thừa và phát triển, cho tác giả một cách nhìn tổng quát về hoạt động của thủ công nghiệp thời gian qua, đánh giá được phần nào thực trạng của làng nghề khi bước vào kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế với bên ngoài

Mặc dù qua các công trình, thủ công nghiệp Bắc Ninh và trên vùng miền cả nước được nghiên cứu dưới nhiều góc độ nhưng thiếu nghiên cứu và khảo sát thành

Trang 33

một hệ thống về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp nói riêng dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng và xuyên suốt từ sau khi đổi mới đến nay Chính vì lý do đó, tác giả mạnh

dạn, đi sâu nghiên cứu đề tài “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012”

Tóm lại, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về “ Chủ trương, nhiệm vụ, phương hướng, mục tiêu, giải pháp, quá trình chỉ đạo của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh với phát triển thủ công nghiệp” Vì vậy đây là đề tài độc lập, không trùng tên và nội dung với công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu:

- Làm rõ những nhân tố tác động đến phát triển thủ công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012

- Phân tích, luận giải làm rõ tính sáng tạo, độc đáo và cả những hạn chế về chủ trương, sự chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong những năm từ 1997 đến năm 2012

- Nhận xét, đánh giá kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh với phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012, đúc rút kinh nghiệm vận dụng vào phát triển thủ công nghiệp Bắc Ninh trong thời kỳ mới

Trang 34

CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN THỦ CÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 2.1 Những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh

+ Thuận lợi

Vị trí địa lý: Bắc Ninh nằm ở phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, trong

vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng Bắc Ninh xưa và nay luôn là một vùng đất sầm uất, tấp nập, là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ bộ, cảnh quan sinh thái phong phú, trung tâm giao thương về kinh tế -

xã hội của đất nước Đây là những yếu tố rất thuận lợi tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có vị trí quan trọng về quốc phòng an ninh Góp phần tạo điều kiện cho thủ công nghiệp ở Bắc Ninh mở rộng giao lưu buôn bán và phát triển, khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh Bắc Ninh có hệ thống sông ngòi, ao hồ khá dày đặc với các con sông lớn chảy qua như sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình và nhiều sông nhỏ… những con sông này đi qua rất nhiều các làng nghề của Bắc Ninh Đặc biệt, sông Ngũ Huyện Khê dài 48,4km chảy qua hầu hết các thôn của xã Phong Khê - nơi

có nghề tái chế giấy nổi tiếng, sông Cầu chảy qua nhiều làng nghề của xã Tam

Đa và Tam Giang (huyện Yên Phong) Với lợi thế tự nhiên sông hồ, vừa tạo điều kiện cho giao lưu đường thủy, vừa cung cấp nước sinh hoạt và nước sản xuất đồng thời cũng chính là nơi tiếp nhận nguồn nước thải cho sản xuất LN TCN

Dân số lao động: Bắc Ninh là một tỉnh nông nghiệp nằm trong vùng châu

thổ sông Hồng, tổng diện tích tự nhiên khoảng 803,87 km², số dân hơn 1 triệu người với thành phần dân số nông thôn chiếm 76,4%; thành thị chiếm 23,6% Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp, học nghề trở lên chiếm 22,9%, lao động qua đào tạo từ công nhân kỹ thuật có bằng là 14,6% [10,

Trang 35

tr.192] làm cho chất lượng nguồn nhân lực nói chung và chất lượng lao động làng nghề TCN nói riêng được bảo đảm, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của các thủ công truyền thống và mở rộng nghề mới Mật độ dân số trung bình của tỉnh là 1248 người/ km2 Ở những xã có làng nghề, mật độ dân số cao hơn rất nhiều Xã Văn Môn (Yên Phong), nơi có nghề đúc nhôm, đồng, chì tồn tại từ lâu đời, mật độ dân số lên tới 2.015 người/km2 Xã Phong Khê (Yên Phong) nơi có nghề sản xuất giấy phát triển, mật độ dân số rất cao: 11.290 người/km2…[203, tr.11] Mật độ dân số lớn sẽ là một thế mạnh về nguồn nhân lực, thị trường tiềm năng cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm TCN Hơn nữa, một khi người lao động có trình độ văn hóa, họ sẽ dễ dàng tiếp thu khoa học, kỹ thuật hiện đại cũng như lĩnh hội những kinh nghiệm truyền thống từ các nghệ nhân đi trước nhờ đó đảm bảo cho các sản phẩm TCN giữ được nét độc đáo riêng của mỗi vùng, mỗi địa phương

Cơ sở hạ tầng: Bắc Ninh có đầy đủ hệ thống giao thông đường bộ, đường

sắt, đường thuỷ rất thuận lợi để tiếp cận với các thị trường lớn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm TCN Đường quốc lộ 1A và 1B, con đường huyết mạch của đất nước nối thủ đô Hà Nội với Lạng Sơn và biên giới Trung Quốc Sự phân bố tập trung dọc tuyến đường này tạo cho TCN Bắc Ninh có thêm nhiều cơ hội để phát triển Nằm dọc theo hai bên đường quốc lộ 1A có các làng chuyên sản xuất thép (Châu Khê, Từ Sơn), đồ gỗ nội thất (Đồng Kỵ, Hương Mạc, Phù Khê huyện Từ Sơn), các làng nghề sản xuất giấy (Phong Khê - Yên Phong và Phú Lâm - Tiên Du), Ngoài ra, Bắc Ninh còn có rất nhiều lợi thế trong giao lưu đường sắt Qua địa phận Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn Bắc Ninh cũng rất gần với các tuyến đường sắt từ Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Thái Nguyên Bắc Ninh cũng nằm gần với sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quân sự Gia Lâm Với vị trí như vậy rất tốt để cho các làng nghề ở Bắc Ninh thuận tiện tiếp cận với các thị trường trong nước, trong khu vực và thị trường quốc tế

Trang 36

Hệ thống đường làng, ngõ xóm được bê tông hoá hoặc lát gạch Hệ thống thông tin liên lạc trong các làng nghề nói riêng và toàn tỉnh nói chung đã có những bước tiến đáng kể…Sở Điện lực Bắc Ninh đã triển khai quản lý điện đến tận thôn, xóm nhằm đảm bảo cung cấp điện ổn định và hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thoát điện năng, 100% xã ở Bắc Ninh có điện lưới quốc gia,

có đường ô tô đến trung tâm xã và đến hầu hết các thôn, 20% số thôn xóm có đường bê tông hoặc lát gạch Mạng lưới bưu chính viễn thông được phát triển đến 100% số xã, phường, thị trấn, bình quân 100 người dân có 0,67 máy điện thoại… [10, tr.192] Đây là một trong những yếu tố cần thiết tạo điều kiện cho sự phát triển của các TCN nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh nói chung

Có thể thấy, kết cấu hạ tầng, giao thông ở tỉnh Bắc Ninh hơn hẳn các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc… Hệ thống giao thông nằm trong tuyến đường huyết mạch của Tổ quốc tạo sự thuận lợi cho buôn bán giao lưu, gần thủ đô

Hà Nội, nhu cầu về các loại mặt hàng đều gia tăng là động lực chủ yếu để thúc đẩy thủ công nghiệp phát triển góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn

Thành tựu nổi bật nhất của kinh tế Bắc Ninh trước khi tái lập tỉnh là trong sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo được nhu cầu lương thực, bắt đầu có sản phẩm nông nghiệp hàng hóa, đời sống nhân dân được cải thiện Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm, nhiều mô hình sản xuất kinh doanh giỏi xuất hiện, sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú đa dạng Thực hiện chính sách nhiều thành phần, hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp chuyển sang làm dịch vụ, kinh tế hộ phát triển khá, đã có 87 doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH được thành lập

Từ nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số nơi trong tỉnh bước đầu

đã chuyển sang sản xuất hàng hóa Năm 1996, tỷ trọng sản xuất công nghiệp xây dựng chiếm 24,1%, dịch vụ 29,5%, nông nghiệp là 46,4% [10, tr.193] Trên địa bàn tỉnh, đang xây dựng một số cơ sở công nghiệp mới như công ty TNHH kính

Trang 37

nổi Việt Nam (liên doanh với Nhật Bản), các xí nghiệp may, nhà máy khí công nghiệp, nhà máy gạch chịu lửa kiềm tính…bước đầu hình thành các khu cụm công nghiệp ở thị xã Bắc Ninh, Quế Võ

Để có được những thành tựu trên là do Đảng bộ tỉnh Hà Bắc đã quán triệt, vận dụng đúng đắn sáng tạo các Nghị quyết của Trung ương trên cơ sở đó lãnh đạo thực hiện sắp xếp và quản lý đổi mới kinh tế quốc doanh, tăng khả năng thích nghi dần với cơ chế thị trường Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đoàn kết khắc phục khó khăn, nắm bắt thời cơ phát huy thuận lợi, phấn đấu vươn lên giành những thắng lợi quan trọng

Bên cạnh đó, Bắc Ninh có điều kiện về chính trị, xã hội ổn định, Đảng bộ

và chính quyền địa phương đều hết sức quan tâm đến phát triển kinh tế nói chung và phát triển thủ công nghiệp nói riêng Bộ máy chính quyền các cấp của tỉnh luôn được củng cố và đang trong quá trình cải cách hành chính mạnh mẽ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tạo điều kiện thuận lợi cho chỉ đạo thực thi chính sách Nhà nước cũng như hoạch định, xây dựng các chính sách địa phương Bắc Ninh còn là tỉnh có nhiều lễ hội truyền thống có những nét văn hóa đặc sắc Trên địa bàn tỉnh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm vẫn được duy trì, có lễ hội đặc biệt có tầm ảnh hưởng quốc gia như: Hội Lim, Hội chùa Dâu, Hội đền Bà Chúa kho… Bắc Ninh có truyền thống yêu nước và cách mạng, là quê hương của đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ…với trên 3 vạn đảng viên [10,tr.193] được rèn luyện thử thách và ngày càng trưởng thành trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Sau khi tái lập tỉnh, các đảng viên và các tầng lớp nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sự phát triển của tỉnh trong thời kỳ mới

Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng đến quá trình lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh với phát triển thủ công nghiệp Đó là những thuận lợi cơ bản, tiền đề quan trọng, là động lực góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, đưa tỉnh Bắc Ninh bước vào thời kỳ mới cùng cả nước - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 38

+ Khó khăn

Bên cạnh những yếu tố thuận lợi trên, điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, Bắc Ninh tồn tại không ít hạn chế, khó khăn: (1) Đất chật, người đông, đặc biệt là ở các làng nghề thủ công khiến cho mặt bằng sản xuất của các cơ sở làm nghề bị giới hạn, dẫn đến hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh và những hệ luỵ tiêu cực về ô nhiễm môi trường (2) Tài nguyên khoáng sản của tỉnh ít nên nguồn nguyên liệu TCN phần lớn phải mua bên ngoài vì thế chi phí sẽ tăng lên (3) Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Hầu hết các công trình giao thông, thủy lợi đều xuống cấp nghiêm trọng, một số công trình đầu tư mới thì không đồng bộ nên hiệu quả thấp Mạng lưới cung cấp điện lực chưa đảm bảo kỹ thuật, nguồn điện lực chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất Đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, lưới điện bệnh viện, trường học… đều thiếu (4) Nhiệt độ và độ ẩm lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật

từ mặt đất phát tán, phát triển nhanh chóng và lan truyền trong không khí, chuyển hoá các chất ô nhiễm trong không khí gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường trong các làng nghề TCN gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của người làm nghề và chất lượng sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chế biến thực phẩm hoặc các nông sản khác (5) Tư tưởng, tập quán canh tác tự cung tự cấp, bảo thủ trì trệ còn nặng nề trong một bộ phận không nhỏ lao động ở nông thôn (6) Trình độ điều hành quản lý của đội ngũ cán bộ trong cơ chế thị trường còn nhiều hạn chế, bất cập Đội ngũ cán bộ các cơ quan của Đảng, chính quyền, đoàn thể còn thiếu và cơ cấu chưa hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề TCN (7) Dân số trong độ tuổi lao động cao cũng gây sức ép đối với công tác đào tạo và việc làm ở cả thành thị và nông thôn Số lao động không có việc làm và thiếu việc làm ngày càng gia tăng Mức sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng chênh lệch (8) Đại bộ phận cư dân nông thôn chỉ làm nông nghiệp, ít am hiểu về công nghiệp

và dịch vụ, có nghề không biết phải phát triển sản xuất theo hướng nào, làm ra

Trang 39

sản phẩm thì bán ở đâu, làm cho tình trạng dư thừa lao động ngày càng phổ biến

và nghiêm trọng (9) Trong suốt 34 năm hợp nhất tỉnh, nền kinh tế của tỉnh Hà Bắc có thay đổi nhưng vẫn ở tình trạng trì trệ, kém phát triển Kinh tế đứng trước nhiều khó khăn, thử thách: nhịp độ phát triển kinh tế còn chậm, điểm xuất phát thấp,cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, bình quân đầu người GDP năm 1996 chỉ bằng 56,2% mức bình quân của cả nước [152, tr.12-13] Nhìn chung, kinh tế Bắc Ninh đầu năm 1997 vẫn rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp, chủ yếu thuần nông; thu nhập thấp; đời sống nhân dân nhất là khu vực nông thôn còn nghèo Thu ngân sách toàn tỉnh Bắc Ninh chưa đủ chi, tỷ

lệ ngân sách Trung ương trợ cấp còn ở mức cao trong khi đó vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trên địa bàn ít Vì vậy, muốn tạo được cuộc cách mạng thúc đẩy TCN Bắc Ninh phát triển thì trước tiên phải có nhưng giải pháp đồng bộ khắc phục những hạn chế trên, biến khó khắn thành lợi thế

Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan: Tỉnh bị chia tách, thay đổi địa giới hành chính nhiều lần; diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, manh mún không đủ cho sản xuất; công nghiệp chưa có kinh nghiệm, đầu tư dàn trải, quy hoạch chưa triển khai; các cơ sở công nghiệp trong nông thôn chưa nhiều, nhất là công nghiệp chế biến Đặc biệt do thiếu chủ trương và giải pháp đồng bộ, đúng đắn, kịp thời để phát triển kinh tế địa phương cho phù hợp trong giai đoạn đầu

Vì vậy ngay sau tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã nêu rõ quyết tâm

“đoàn kết, tập trung cao độ trí lực, vượt khó khăn, thử thách xây dựng Bắc Ninh giàu đẹp, văn minh” [152, tr.5] Mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh được đặt ra là

yêu cầu bắt buộc, tạo đột phá để tạo điều kiện thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển

2.1.2 Thủ công nghiệp và thực trạng phát triển thủ công nghiệp của Bắc Ninh trước năm 1997

Thủ công nghiệp (theo từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB từ điển Bách khoa năm 1995, trang 272) được hiểu là một hình thức công nghiệp sử dụng

Trang 40

công cụ cầm tay, với phương pháp thủ công tác động lên đối tượng lao động; đặc trưng kỹ thuật là công cụ cầm tay thô sơ hoặc cải tiến, con người làm chức năng phát lực, truyền lực, điều khiển công cụ, đặc điểm chủ yếu: nhiều ngành nghề, từ sản xuất dịch vụ; gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng tại địa phương, có quy mô nhỏ, linh hoạt và tiết kiệm chi phí quản lý; có khả năng huy động vốn tự

có của gia đình; có nhiều loại hình sản xuất; cơ cấu sản xuất đa đạng; tính chất sản xuất: tự sản tự tiêu, tự cung tự cấp và kết hợp sản xuất hàng hóa

Trong “Chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2015… [14]”, thủ công nghiệp là lĩnh vực sản

xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này

có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành Hoặc làng nghề tiểu thủ công nghiệp: là làng có nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển với một tỷ lệ số hộ

và tỷ lệ thu nhập từ nghề TTCN nhất định, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu được của người dân trong làng Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ở Việt Nam đang có xu hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập của làng từ nghề thủ công Tỷ lệ đó được duy trì và ổn định trong nhiều năm

Thực tiễn đã chứng minh rằng trong nền kinh tế nước ta, từ sản xuất nhỏ

từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, cùng với công nghiệp quốc doanh địa phương, là một bộ phận hợp thành của công nghiệp địa phương giữ một vị trí quan trọng và lâu dài trong kinh tế địa

phương, đặc biệt trong sản xuất hàng tiêu dùng để cung cấp cho nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu, góp phần cân đối hai ngành sản xuất lớn là công nghiệp và nông nghiệp Thủ công nghiệp Việt Nam từ xưa đến nay là hiện tượng kinh tế đặc sắc của Việt Nam Thủ công nghiệp phát triển có vai trò hết sức to lớn, được ghi nhận: (1) Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w