Vấn đề 1: Phân tích lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị trong việc phát triển ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. I. Lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị để phát triển ngành nông nghiệp: 1. Lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, tuy với diện tích không rộng, người không đông, nhưng do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng trị đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, nhất là nguồn lợi thủ sản, đảm bảo giao lưu thông suốt giữa hai miền Bắc Nam của đất nước. Là vị trí ngã ba Đông Dương với hành lang kinh tế Đông Tây nối cảng Cửa Việt, Mỹ Thuỷ qua đèo Lao Bảo với nước bạn Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar mở ra quan hệ rộng lớn với Đại lục Tây Á. Đặc biệt, Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ. Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc Nam chạy dọc qua tỉnh và quốc lộ 9 gắn với đường Xuyên á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng với các tỉnh trong vùng và cả nước. Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa nông nghiệp như cà phê, hồ tiêu, cao su, sắn… trong vùng và trung chuyển hàng hóa nông nghiệp qua đường Xuyên á.
Trang 1Vấn đề 1: Phân tích lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị trong việc phát triển ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
I Lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị để phát triển ngành nông nghiệp:
1 Lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, tuy với diện tích không
rộng, người không đông, nhưng do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng trị đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, nhất là nguồn lợi thủ sản, đảm bảo giao lưu thông suốt giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước Là vị trí ngã ba Đông Dương với hành lang kinh tế Đông - Tây nối cảng Cửa Việt, Mỹ Thuỷ qua đèo Lao Bảo với nước bạn Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar mở ra quan hệ rộng lớn với Đại lục Tây Á Đặc biệt, Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh và quốc lộ 9 gắn với đường Xuyên á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa nông nghiệp như cà phê, hồ tiêu, cao su, sắn… trong vùng và trung chuyển hàng hóa nông nghiệp qua đường Xuyên á
2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên:
- Về địa hình: Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông
Nam và chia thành 5 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; vùng thung lũng; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hoá thành các tiểu khu vực tạo nên các vùng tiểu khí hậu rất thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Ví dụ:
+ Địa hình gò đồi, núi thấp: Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài
dọc theo tỉnh Có độ cao từ 50-250m, như khối hối bazan Gio Linh - Cam Lộ, khối bazan Vĩnh Linh nằm sát ven biển là điều kiện thích hợp cho việc trồng rừng, cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây
ăn quả lâu năm và chăn nuôi đại gia súc
+ Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, tương đối bằng
phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25 - 30 m Bao gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu mỡ; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh
- Về khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh
sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp Chế độ nhiệt trên địa bàn tỉnh thuận lợi cho phát triển thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, điều kiện khí hậu, thời tiết của Quảng Trị mang tính chất khắc nghiệt, thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa nên xét về mặt lợi thế thì yếu tố khí hậu trên địa bàn tỉnh không cao
- Về thủy văn: Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km2, có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh)
+ Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực động Châu có chiều dài 65 km Diện tích lưu vực rộng khoảng 809 km2, đổ ra biển ở Cửa Tùng
+ Hệ thống sông Thạch Hãn: Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km2, đổ ra biển ở Cửa Việt
+ Hệ thống sông Ô Lâu có tổng chiều dài 65 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 900 km2, đổ ra phá Tam Giang thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, ở phía Tây giáp biên giới Việt - Lào có một số sông nhánh điển hình là sông Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa)
Nhìn chung hệ thống hệ thống sông suối của Quảng Trị phân bố đều khắp, điều kiện thủy văn thuận lợi cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ cho hoạt động tưới tiêu trong nông nghiệp
- Về tài nguyên thiên nhiên:
Trang 2+ Tài nguyên rừng: Rừng Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thực vật gồm nhiều loài cây lấy gỗ, cây
dược liệu, cây cảnh có giá trị kinh tế cao Động vật rừng cũng khá phong phú và đa dạng đang sinh sống tại rừng Quảng Trị Ngoài ra, ở vùng gò đồi còn có cây trồng công nghiệp, nông nghiệp và rừng trồng như cây cao su, hồ tiêu, cà phê, chè, bạch đàn, keo tràm, thông nhựa với diện tích tương đối lớn Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào đống góp vào tổng sản phẩm ngành nông nghiệp của tỉnh
+ Tài nguyên đất: Trên địa bàn tỉnh hiện có 11 nhóm và 32 loại chính, đặc trưng chung gồm 3 nhóm
chính sau:
* Nhóm cồn cát và đất cát ven biển gồm cồn cát trắng kéo dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng khoảng 60
km, rộng 4-6 km, có diện tích 5950ha, chiếm 1,3 % diện tích đất tự nhiên, phù hợp để nuôi trồng thủy, hải sản, trồng rừng ngập mặn, tràm …
* Nhóm đất phù sa do các sông bồi đắp hàng năm dọc ven sông Mỹ Chánh, Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải với diện tích khoảng 9130 ha, chiếm 2% diện tích tự nhiên có tiềm năng dinh dưỡng khá cao để sản xuất lương thực, nhất là cây lúa
* Nhóm đất đỏ vàng (bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du gồm có đất nâu đỏ ở Hướng Hoá, Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ với diện tích chừng 20.000 ha, đất có tầng dày tơi xốp, độ mùn khá thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà phê Ngoài ra còn có loại đất đỏ vàng diện tích 139.966 ha, chiếm 30,4% diện tích đất tự nhiên, đây là loại đất chủ yếu phù hợp với trồng rừng lâm nghiệp
+ Tài nguyên biển: Vùng lãnh hải Quảng Trị khoảng 8.400 km2, ngư trường đánh bắt rộng lớn, ven
bờ có thể sử dụng nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao Biển Quảng Trị có đầy đủ các loại hải sản quý như: tôm hùm, mực nang, mực ống, cá chim, cá thu, cá ngừ, hải sâm, tảo theo đánh giá của FAO trữ lượng hải sản vùng biển Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn trong đó đặc sản chiếm 11%, cá nổi 57,3%, cá đáy 31,6% Tổng trữ lượng cho phép khai thác hàng năm khoảng 13.000-18.000 tấn Khả năng nuôi trồng hải sản xuất khẩu ven bờ biển khá lớn, mặt nước lợ vùng sông Hiếu, sông Bến Hải có khả năng nuôi trồng tôm sú, tôm he, cua biển, rong câu Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nghành ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản
3 Lợi thế về điều kiện xã hội:
- Tiềm năng cơ sở hạ tầng:
+ Giao thông: Quảng Trị có hệ thống giao thông đường thuỷ khá thuận lợi với nhiều hệ thống sông lớn chảy ra biển Đông, hai cửa sông là Cửa Tùng, Cửa tạo thuận lợi cho tàu thuyền hoạt động trên biển Trên bộ có các đường xuyên quốc gia như đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A, đường 9, đường
Hồ Chí Minh Đáng lưu ý có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và cửa khẩu quốc gia La Lay, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá nông nghiệp từ Quảng Trị đến các tỉnh bạn và các nước trong khu vực
+ Mạng lưới điện quốc gia ngày được phát triển, 100% số xã phường được sử dụng điện Công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Rào Quán đã vận hành tổ máy số 1 và đang tiếp tục thi công các tổ máy tiếp theo đúng tiến độ để hoà vào mạng lưới điện quốc gia, đảm bảo cho việc sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp như tưới tiêu, phơi, sấy…
- Ngân hàng: Hầu hết các ngân hàng lớn của Việt nam đều đặt chi nhánh tại Quảng Trị, rất thuận lợi cho bà con nông dân có thể vay vốn sản xuất nông nghiệp, mở các mô hình trang trại lớn
- Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, kịp thời về các khâu kỹ thuật, lựa chọn nguồn giống, linh hoạt trong việc chọn đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp với nhu cầu thị trường
- Tiềm năng về dân số, văn hóa: Quảng Trị tuy dân số không đông nhưng có cơ cấu dân số thuộc loại trẻ, lao động dồi dào Tính đến 31/12/2013 dân số Quảng Trị có 627.077 người Mật độ dân số 132 người/Km2 Cơ cấu dân số vùng ở thành thị: 24,55%, nông thôn: 76,45% Lao động trong độ tuổi 336.327 người, trong đó lao động nữ 159.736 người Tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn đạt 79,65% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung đạt 27% Nguồn nhân lực dồi dào Quảng Trị luôn vật lộn với thiên nhiên, đấu tranh chóng thù trong giặc ngoài nên đã hình thành nên con người Quảng Trị đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, kiên cường bất khuất bộc trực thẳng thắn, ham học, thông minh và tự tin trong cuộc sống là điều kiện thuận lợi để khắc chế khí hậu khắc nghiệt để từ đó vượt phát triển ngành nông nghiệp
II Lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị để phát triển
ngành công nghiệp:
Trang 31 Lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, tuy với diện tích không
rộng, người không đông, nhưng do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng trị đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, đảm bảo giao lưu thông suốt giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước Là vị trí ngã ba Đông Dương với hành lang kinh tế Đông - Tây nối cảng Cửa Việt, Mỹ Thuỷ qua đèo Lao Bảo với nước bạn Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar mở ra quan
hệ rộng lớn với Đại lục Tây Á Đặc biệt, Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường
bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc
lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh và quốc lộ 9 gắn với đường Xuyên á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt
là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa công nghiệp vùng và trung chuyển hàng hóa công nghiệp qua đường Xuyên á, đặc biệt là hàng hóa của các ngành công nghiệp sản xuất tiêu dùng, điện tử, tin học, cơ khí, luyện kim
2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên:
- Về địa hình: Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông
Nam và chia thành 5 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; vùng thung lũng; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Trong đó, địa hình núi cao phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-300 Địa hình phân cắt mạnh,
độ dốc lớn là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tiềm năng thủy điện nhỏ
Bên cạnh đó địa hình núi cao thích hợp cho hát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc; địa hình gò đồi, núi thấp thích hợp cho trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm là tiền đề để xây dựng và phát triển ngành công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Về khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh
sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng lâm nghiệp, tạo điều kiện cung cấp nguyên liệu phục vụ cho việc phát triển loại hình công nghiệp chế biến gỗ, ván ép
- Về thủy văn: Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km2, có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu
+ Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực động Châu có chiều dài 65 km Diện tích lưu vực rộng khoảng 809 km2, đổ ra biển ở Cửa Tùng
+ Hệ thống sông Thạch Hãn: Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km2, đổ ra biển ở Cửa Việt
+ Hệ thống sông Ô Lâu có tổng chiều dài 65 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 900 km2, đổ ra phá Tam Giang thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, ở phía Tây giáp biên giới Việt - Lào có một số sông nhánh điển hình là sông Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa)
Hệ thống suối phân bố dày đặc ở vùng thượng nguồn Các thung lũng suối phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp tạo ra tiềm năng thủy điện, cho phép xây dựng một số nhà máy thuỷ điện với công suất vừa và nhỏ
- Về tài nguyên thiên nhiên:
+ Tài nguyên rừng: Rừng Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thực vật, trong đó có 175 loài cây gỗ như
lim xanh, trường, táu đá, trám, kiền kiền, sồi, gội, Ngoài ra, ở vùng gò đồi còn có cây trồng công nghiệp, nông nghiệp và rừng trồng như cây cao su, hồ tiêu, cà phê, chè, bạch đàn, keo tràm, thông nhựa với diện tích tương đối lớn Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để hình thành và phát triển loại hình công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mộc mỹ nghệ và công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu
+ Tài nguyên đất: Trên địa bàn tỉnh hiện có 11 nhóm và 32 loại chính, đặc trưng chung gồm 3 nhóm
chính Trong đó, nhóm đất đỏ vàng (bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du gồm có đất nâu đỏ
ở Hướng Hoá,Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ với diện tích chừng 20.000 ha, đất có tầng dày tơi xốp,
độ mùn khá thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà phê Ngoài ra còn có loại đất đỏ vàng, diện tích 139.966 ha, chiếm 30,4% diện tích đất tự nhiên, đây là loại đất chủ yếu phù
Trang 4hợp với trồng rừng lâm nghiệp Đây là điều kiện để tạo nguồn nguyên liệu tại chổ cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất các mặt hàng từ cao su…
+ Tài nguyên biển: Vùng lãnh hải Quảng Trị khoảng 8.400 km2, ngư trường đánh bắt rộng lớn, ven
bờ có thể sử dụng nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao Biển Quảng Trị có đầy đủ các loại hải sản quý như: tôm hùm, mực nang, mực ống, cá chim, cá thu, cá ngừ, hải sâm, tảo theo đánh giá của FAO trữ lượng hải sản vùng biển Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn trong đó đặc sản chiếm 11%, cá nổi 57,3%, cá đáy 31,6% Tổng trữ lượng cho phép khai thác hàng năm khoảng 13.000-18.000 tấn Khả năng nuôi trồng hải sản xuất khẩu ven bờ biển khá lớn, mặt nước lợ vùng sông Hiếu, sông Bến Hải có khả năng nuôi trồng tôm sú, tôm he, cua biển, rong câu Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để phát triển ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản để xuất khẩu
+ Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Quảng Trị khá phong phú và đa dạng, đặc
biệt là khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng và làm vật liệu xây dựng Đây là điều kiện để tỉnh có thể phát triển mạnh công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng
Mỏ đá vôi và nguyên liệu sản xuất xi măng kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tập trung ven đường 9 và đường 14 Dự báo trữ lượng khoảng 3,5 tỷ tấn tập trung ở Cam Tuyền, Tân Lâm (Cam Lộ) mỏ Tà Rùng (Hướng Hoá) Đá vôi với chất lượng khá tốt Nguyên liệu sét và các phụ gia khác để sản xuất xi măng đều sẵn có
Đá xây dựng, ốp lát: toàn tỉnh có 10 điểm, mỏ đá xây dựng, trữ lượng khoảng 500 triệu m3; phân bố chủ yếu dọc Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh trở về phía Tây, có điều kiện giao thông khá thuận lợi
Sét gạch ngói hiện có 18 điểm, mỏ với trữ lượng khoảng gần 82 triệu m3, tập trung chủ yếu ở Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng
Cát thủy tinh Dự báo trữ lượng khoảng 125 triệu m3, chất lượng tốt, tập trung ở khu vực Cửa Việt; có khả năng chế biến silicát, sản xuất thủy tinh và kính xây dựng
Mỏ ti tan nằm dọc bờ biển Vĩnh Thái-Vĩnh Kim (Vĩnh Linh) có trữ lượng 400.000 tấn, ước tính toàn bộ các điểm ti tan ven biển toàn tỉnh khoảng 1 triệu tấn, chất lượng Inmenhit, Zilicon, Ru tin khá cao rất dễ khai thác, thuận tiện giao thông
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn nhiều nguồn khoáng sản như cát, cuội, sỏi xây dựng trữ lượng
dự báo khoảng 3,9 triệu m3, tập trung ở phần thượng nguồn các sông; nguồn nước khoáng ở Tân Lâm
có 3 điểm xuất lộ chính đều nằm ở phía Bắc sông Cam Lộ, chất lượng các nguồn nước khoáng tốt, có tác dụng làm nước giải khát; cao lanh ở Tà Long, A Pey (Đăkrông) và La Vang (Hải Lăng) chất lượng khá tốt; than bùn phân bố tập trung ở Hải Lăng và Gio Linh với tổng trữ lượng gần 400 ngàn tấn cho phép khai thác làm nguyên liệu sản xuất phân vi sinh với khối lượng khá lớn; vàng phân bố ở Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Tà Long, A Vao (Đakrông) với trữ lượng khoảng 20 tấn là cơ hội để khai thác và phát, phát triển các loại hình công nghiệp trên địa bàn tỉnh
3 Lợi thế về điều kiện xã hội:
- Tiềm năng cơ sở hạ tầng:
+ Giao thông: Quảng Trị có hệ thống giao thông đường thuỷ khá thuận lợi với nhiều hệ thống sông lớn chảy ra biển Đông, hai cửa sông là Cửa Tùng, Cửa tạo thuận lợi cho tàu thuyền hoạt động trên biển Trên bộ có các đường xuyên quốc gia như đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A, đường 9, đường
Hồ Chí Minh Đáng lưu ý có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và cửa khẩu quốc gia La Lay, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá công nghiệp từ Quảng Trị đến các tỉnh bạn và các nước trong khu vực
+ Mạng lưới điện quốc gia ngày được phát triển, 100% số xã phường được sử dụng điện Công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Rào Quán đã vận hành tổ máy số 1 và đang tiếp tục thi công các tổ máy tiếp theo đúng tiến độ để hoà mạng lưới quốc gia, đảm bảo cho việc vận hành các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh được liên tục, ổn định
- Ngân hàng: Hầu hết các ngân hàng lớn của Việt nam đều đặt chi nhánh tại Quảng Trị, rất thuận lợi cho các doanh nghiệp, công ty vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất của mình
- Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, kịp thời, linh hoạt trong việc chọn thị trường, mẫu mã sản phẩm công nghiệp
- Tiềm năng về dân số, văn hóa:
Quảng Trị tuy dân số không đông nhưng có cơ cấu dân số thuộc loại trẻ, lao động dồi dào Tính đến 31/12/2013 dân số Quảng Trị có 627.077 người Mật độ dân số 132 người/Km2 Cơ cấu dân số vùng
Trang 5ở thành thị: 24,55%, nông thôn: 76,45% Lao động trong độ tuổi 336.327 người, trong đó lao động nữ 159.736 người Tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn đạt 79,65% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung đạt 27% Nguồn nhân lực dồi dào Quảng Trị luôn vật lộn với thiên nhiên, đấu tranh chóng thù trong giặc ngoài nên đã hình thành nên con người Quảng Trị đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, kiên cường bất khuất bộc trực thẳng thắn, ham học, thông minh và tự tin trong cuộc sống là điều kiện thuận lợi đào tạo và cung ứng cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
III Lợi thế về địa lý, về điều kiện tự nhiên, về điều kiện xã hội của tỉnh Quảng Trị để phát triển
dịch vụ:
1 Lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, tuy với diện tích không
rộng, người không đông, nhưng do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng trị đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, nhất là nguồn lợi thủ sản, đảm bảo giao lưu thông suốt giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước Là vị trí ngã ba Đông Dương với hành lang kinh tế Đông - Tây nối cảng Cửa Việt, Mỹ Thuỷ qua đèo Lao Bảo với nước bạn Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanmar mở ra quan hệ rộng lớn với Đại lục Tây Á Đặc biệt, Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh và quốc lộ 9 gắn với đường Xuyên á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường Xuyên á Đây là điều kiện thuận lợi để Quảng Trị phát triển các loại hình dịch vụ vận tải, dịch vụ xuất nhập khẩu
2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên:
- Về địa hình: Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông
Nam và chia thành 5 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; vùng thung lũng; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hoá thành các tiểu khu vực tạo nên các vùng tiểu khí hậu rất thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi, từ đó hình thành nên các làng sinh thái như làng sinh thái Lệ Xuyên, làng sinh thái Linh An thuộc xã Triệu Trạch… là cơ hội tốt để thu hút khách tham quan, du lịch
- Về khí hậu: Nhìn chung, Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao,
chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao , điều kiện khí hậu, thời tiết của Quảng Trị mang tính chất khắc nghiệt, thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa Nhưng xét riêng tiểu vùng khí hậu đỉnh Trường Sơn với tính ôn hoà thì đây là tài nguyên quý mang lại sức hấp dẫn cho sự phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch, tạo không gian mát mẻ cho tham quan, nghỉ dưỡng, đặc biệt là trong mùa hè nóng gay gắt của vùng Bắc Trung Bộ Đây là điểm độc đáo của khí hậu Quảng Trị
- Về thủy văn: Quảng Trị có có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến
Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu Các con sông trên địa bàn tỉnh mang trong mình dấu ấn lịch sử đậm nét, là nơi chứng kiến những nỗi đau chia cắt đất nước, nỗi bật là sông Bến Hải đã chịu nỗi đau chia cắt suốt ròng rã 21 năm trời Giờ đây hòa bình lập lại, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương là một trong những điểm tham quan, thu hút khách thập phương
- Về tài nguyên thiên nhiên:
+ Tài nguyên rừng: Rừng Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thực vật thuộc 528 chi, 130 họ, trong đó
có 175 loài cây gỗ Động vật rừng cũng khá phong phú và đa dạng Hiện tại có khoảng 67 loài thú,
193 loài chim và 64 loài lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ) đang sinh sống tại rừng Quảng Trị Quảng Trị còn có những cánh rừng nguyên sinh, suối nước nóng ở Đakrông, khu vực hồ Rào Quán -Khe Sanh, Thác Luồi Đakrông cho phép phát triển du lịch lâm sinh thái Ngoài ra, ở vùng gò đồi còn có cây trồng công nghiệp, nông nghiệp và rừng trồng như cây cao su, hồ tiêu, cà phê, chè, bạch đàn, keo tràm, thông nhựa với diện tích tương đối lớn Đây là điều kiện thuận lọi cho phép Quảng Trị phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trong giai đoạn tới
+ Tài nguyên đất: Trên địa bàn tỉnh hiện có 11 nhóm và 32 loại chính, đặc trưng chung gồm 3 nhóm
chính sau:
* Nhóm cồn cát và đất cát ven biển gồm cồn cát trắng kéo dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng khoảng 60
km, rộng 4-6 km
Trang 6* Nhóm đất phù sa do các sông bồi đắp hàng năm dọc ven sông Mỹ Chánh, Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải với diện tích khoảng 9130 ha
* Nhóm đất đỏ vàng (bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du gồm có đất nâu đỏ ở Hướng Hoá, Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ với diện tích chừng 20.000 ha, ngoài ra còn có loại đất đỏ vàng diện tích 139.966 ha
Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các dịch vụ nông nghiệp như cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc, vật tư nông nghiệp
và dịch vụ cho vay vốn hỗ trợ sản xuất
+ Tài nguyên biển: Vùng lãnh hải Quảng Trị khoảng 8.400 km2, ngư trường đánh bắt rộng lớn, ven
bờ có thể sử dụng nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao Biển Quảng Trị có đầy đủ các loại hải sản quý như: tôm hùm, mực nang, mực ống, cá chim, cá thu, cá ngừ, hải sâm, tảo là điều kiện tốt để phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá Bên cạnh đó, quảng Trị có nhiều bải biển đẹp như biển Cửa Việt, cửa biển Mỹ Thủy, bãi tắm Gia Đằng, biển Cửa Tùng được ví là “nữ hoàng của các bãi tắm” là điều kiện tốt để xây dựng các nhà hàng, khách sạn cung ứng dịch vụ nghỉ ngơi, tắm biển và ẩm thực về biển
3 Lợi thế về điều kiện xã hội:
- Tiềm năng cơ sở hạ tầng:
+ Giao thông: Quảng Trị có hệ thống giao thông đường thuỷ khá thuận lợi với nhiều hệ thống sông lớn chảy ra biển Đông, hai cửa sông là Cửa Tùng, Cửa tạo thuận lợi cho tàu thuyền hoạt động trên biển Trên bộ có các đường xuyên quốc gia như đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A, đường 9, đường
Hồ Chí Minh Đáng lưu ý có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và cửa khẩu quốc gia La Lay, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá từ Quảng Trị đến các tỉnh bạn và các nước trong khu vực Ngoài ra, đây còn
là điều kiện thuận lợi để góp phần vào phát triển tiềm năng du lịch của “con đường di sản miền Trung” và “con đường huyền thoại”
+ Các di tích lịch sử: Quảng Trị có hệ thống di tích chiến tranh cách mạng gắn liền với cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc, trong đó có những địa danh nổi tiếng thế giới như Thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, di tích Hiền Lương, Cồn Tiên, Dốc Miếu, đường mòn Hồ Chí Minh, Khe Sanh, Làng Vây, Nhà tù Lao Bảo, nghĩa trang liệt sỹ Đường 9, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, hàng rào điện tử McNamara, trường Bồ Đề, sân bay Tà Cơn, Khu di tích tổng bí thư Lê Duẩn Đây là bảo tàng sinh động nhất về di tích chiến tranh cách mạng, đó là cơ sở để tạo sản phẩm du lịch hoài niệm
về chiến trường xưa độc đáo
- Tiềm năng về văn hóa: Quảng Trị có nhiều món ăn, nhiều lễ hội văn hóa mang bản sắc riêng là điều kiện thuận lợi để thu hút khachs du lịch và phát triển dịch vụ ăn uống:
+ Về ẩm thực: Quảng Trị có rất nhiều đặc sản, chẳng hạn như bánh khoái, rau trên đá, nước mắm, xôi nếp Lào, bún hến làng Mai Xá, cháo bột Diên Sanh, bánh ướt Phương Lang, canh ám làng Lam Thủy, bánh bột lọc Mỹ Chánh, rượu Kim Long, nước mắm Mỹ Thủy, ruốc bột Thâm Khê…
+ Về lễ hội văn hóa: Ở Quảng Trị có một số lễ hội thu hút đông đảo sự tham gia của nhân dân địa phương và du khách như: Lễ hội đêm Thành Cổ, Lễ hội Trường Sơn huyền thoại, Lễ hội thống nhất non sông, Lễ hội Tổ đình Sắc Tứ, Lễ hội dân gian, Hội Cướp Cù, Hội Thượng Phước, Lễ hội rước kiệu ở thánh địa La Vang, Lễ hội đua thuyền, Lễ hội rước hến làng Mai Xá, Lễ hội đua thuyền truyền thống làng Mai Xá, Lễ hội chợ đình Bích La Lễ hội Nhịp cầu Xuyên Á Ngoài ra còn có hệ thống chùa chiền, nhà thờ các tôn giáo và dòng họ, các lễ hội truyền thống gắn liền gắn liền với đời sống vhoá tinh thần các dân tộc
- Tiềm năng về dân số: Quảng Trị tuy dân số không đông nhưng có cơ cấu dân số thuộc loại trẻ, lao động dồi dào Tính đến 31/12/2013 dân số Quảng Trị có 627.077 người Mật độ dân số 132 người/Km2 Cơ cấu dân số vùng ở thành thị: 24,55%, nông thôn: 76,45% Lao động trong độ tuổi 336.327 người, trong đó lao động nữ 159.736 người Tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn đạt 79,65% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung đạt 27% Nguồn nhân lực dồi dào Quảng Trị luôn vật lộn với thiên nhiên, đấu tranh chóng thù trong giặc ngoài nên đã hình thành nên con người Quảng Trị đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, kiên cường bất khuất bộc trực thẳng thắn, ham học, thông minh và tự tin trong cuộc sống là điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ việc làm và xuất khẩu lao động
* LƯU Ý THÊM VỀ TÀI NGUYÊN ĐẤT
Xét về mặt thổ nhưỡng: +TNĐ: Tài nguyên đất:
Có 11 nhóm và 32 loại chính, đặc trưng chung gồm 3 nhóm chính sau:
Trang 7- Nhóm cồn cát và đất cát ven biển gồm cồn cát trắng kéo dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng khoảng 60
km, rộng 4-6 km Đất cát ven biển phân bố rãi rác dọc ven biển có diện tích 5950ha, chiếm 1,3 % diện tích đất tự nhiên, hầu hết cồn cát và đất cát ven biển là đất nghèo kiệt dinh dưỡng, đất chua ít sử dựng hoặc có sử dụng đem lại giá trị kinh tế không cao Tuy vậy phù hợp để lập các làng sinh thái, nuôi trồng thủy, hải sản, trồng rừng ngập mặn, tràm chống cát bay…
-Nhóm đất phù sa do các sông bồi đắp hàng năm dọc ven sông Mỹ Chánh, Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải với diện tích khoảng 9130 ha, chiếm 2% diện tích tự nhiên có tiềm năng dinh dưỡng khá cao đã và đang được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
- Nhóm đất đỏ vàng (bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du gồm có đất nâu đỏ (bazan) ở Hướng Hoá,Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ với diện tích chừng 20.000 ha, đất có tầng dày tơi xốp,
độ mùn khá thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà phê Ngoài ra còn có loại đất đỏ vàng, phổ biến là đồi trọc lau lách, diện tích 139.966ha, chiếm 30,4% diện tích đất tự nhiên, đây là loại đất chua, nghèo mùn, giá trị sản xuất nông nghiệp thấp, chủ yếu phù hợp với trồng rừng lâm nghiệp Nguồn nguyên liệu chủ động để phát triển công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất các mặt hàng từ cao su…
Xét về mặt quản lý:
1 Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2008, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có 474.699,11 ha Các loại đất chia theo mục đích sử dụng bao gồm:
1.1 Đất nông nghiệp.Có diện tích là 301.993,75 ha, chiếm 63,62% tổng diện tích đất tự nhiên Bình
quân đất nông nghiệp/người là 4.770 m2
- Đất sản xuất nông nghiệp.Có diện tích 79.556,86 ha, chiếm 16,76%, bình quân đất sản xuất nông nghiệp/người là 1.257 m2 Phần lớn đất sản xuất nông nghiệp là đất trồng cây hàng năm với diện tích 50.950,17 ha, chiếm 64,04% đất sản xuất nông nghiệp (trong đó đất lúa 29.643,08 ha, đất cây hàng năm khác 21.177,78 ha, đất cỏ dùng vào chăn nuôi 129,31 ha) Đất trồng cây lâu năm có 28.606,69
ha, chiếm 35,96% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả
- Đất lâm nghiệp có rừng: Có diện tích là 219.638,85 ha, chiếm 72,73% diện tích đất nông nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất 101.631,02 ha, rừng phòng hộ 62.664,45 ha, rừng đặc dụng 55.343,38 ha
1.2 Đất phi nông nghiệp.Diện tích có 41.421,31 ha, chiếm 8,73% tổng diện tích đất tự nhiên, bao gồm:
- Đất ở Diện tích 7.129,18 ha, chiếm 17,2% diện tích đất phi nông nghiệp, trong đó đất ở tại đô thị 1.516,67 ha, đất ở tại nông thôn 5.612,51 ha
- Đất chuyên dùng Diện tích 14.836,01 ha, chiếm 35,82% diện tích đất phi nông nghiệp, bao gồm đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 241,68 ha; đất an ninh quốc phòng 1375,98 ha; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 767,23 ha; đất có mục đích công cộng 12.082,45 ha (giao thông, thuỷ lợi )
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng Diện tích 368,37 ha
- Đất nghĩa trang nghĩa địa Diện tích 3.921,34 ha
- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng Diện tích 15.052,29 ha
- Đất phi nông nghiệp khác: 114,12 ha
1.3 Đất chưa sử dụng.Còn 131.284,05 ha, chiếm 27,66% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó:
- Đất bằng chưa sử dụng 12.725,25 ha, có thể khai thác đưa vào sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp khác
- Đất đồi núi chưa sử dụng 117.782,15 ha Đây là tiềm năng lớn cho phép khai hoang mở rộng quy
mô phát triển nông, lâm nghiệp và đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội
- Diện tích núi đá không có rừng cây: 776,65 ha
Tuy diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều nhưng phần lớn là đất cồn cát, đất chua mặn, đất đồi núi chia cắt mạnh, có tầng dày mỏng, nhiều diện tích bị kết vón đá ong, phân bố rải rác, không tập trung và có những vùng còn bom mìn chưa được rà phá Do đó để cải tạo, khai thác đưa vào sử dụng được trong các ngành kinh tế cần có đầu tư vốn lớn và kỹ thuật, thuỷ lợi, rà phá bom mìn
Trang 8Vấn đề 2: Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Phật giáo, Công giáo và Tin lành trên địa phương tỉnh Quảng Trị? Giải pháp nào để nâng cao chất lượng công tác tôn giáo ở tỉnh ta?
I Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Phật giáo, Công giáo và Tin lành trên địa phương tỉnh Quảng Trị
1 Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Phật giáo:
Phật giáo truyền vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ I (Tây lịch), trong bối cảnh nước ta đang nội thuộc của phong kiến Trung Quốc Cùng với quá trình mở mang bờ cõi của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam, tiêu biểu thời Lý, Trần và của chúa Nguyễn, đạo Phật đã được các cư dân người Việt mang theo trong các đợt di dân, khai canh lập làng, dựng chùa Các chùa cổ nhất ở Quảng Trị được xây dựng vào đầu thế kỷ
XV và mang dấu ấn Phật giáo Đại Việt như Chùa làng Câu Nhi (Hải Lăng), chùa Lan Đình (Gio Linh) chùa Làng Gia Độ ở huyện Triệu Phong Muộn hơn có chùa làng An Thái (Cam Tuyền- Cam Lộ), chùa làng Đầu Kênh (Triệu Phong), chùa làng Lâm Xuân (Hải Lăng) được thành lập vào khoảng thế kỷ XVI- XVII
Nền Phật giáo dân gian truyền thống ấy đã tạo điều kiện cho sự truyền bá và tiếp nhận tích cực Phật giáo phái Thiền Lâm Tế Quảng Đông, Trung Hoa thế kỷ XVIII Từ sau thời kỳ truyền phái Lâm Tế vào Quảng Trị, một hệ thống chùa chiền phái này đã được thiết lập Trong số này có chùa Sắc Tứ Tịnh Quang thuộc dòng Liễu Quán Quảng Trị, sang đến thời Nguyễn, Phật giáo Quảng Trị đã có bước phát triển rộng lớn, nên tín ngưỡng Phật giáo ăn sâu bám rễ trong các tầng lớp nhân dân
Đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phật giáo bắt đầu chấn hưng và phát triển Phật giáo Quảng Trị cũng bắt đầu phục hồi và phát triển Đến chế độ độc tài Ngô Đình Diệm với chính sách kỳ thị tôn giáo hết sức khốc liệt, chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra bao nỗi tang tóc đối với tín đồ Phật giáo miền Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng
Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, Phật giáo bắt đầu hồi phục và có điều kiện phát triển nỗi bật hơn Năm 1981, các hệ phái Phật giáo đã họp tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội thống nhất các hệ phái với danh xưng “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” Ở Quảng Trị, từ năm 1981- 1989, Ban Đại diện Phật giáo Quảng Trị thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Trị Thiên Từ khi tái lập tỉnh năm 1989, Phật giáo Quảng Trị đã phát triển mạnh mẽ, hội nhập và đồng hành cùng quê hương Quảng Trị trên con đường đổi mới
Do hậu quả của chiến tranh nặng nề, sau giải phóng (30/4/1975) số cơ sở thờ tự Phật giáo ở Quảng Trị hầu hết bị tàn phá Trước giải phóng theo ước tính có khoảng 284 chùa, niệm phật đường, tịnh xá, tịnh thất (Thống kê chính thức năm 2013 có 126 cơ sở thờ tự) Sau năm 1975, chỉ còn lại một số ít ngôi chùa ở huyện Hải Lăng tương đối còn nguyên vẹn, còn lại đa số hư hại nặng chỉ còn nền móng
Hiện nay, Phật giáo có 188 cơ sở thờ tự, trong đó có 2 cơ sở từ thiện xã hội Cùng với chủ trương, chính sách đổi mới tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phần lớn các cơ sở thờ tự Phật giáo đã được xây dựng khá khang trang, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của đa số bà con Phật tử tỉnh nhà
Hiện nay, số lượng chức sắc Phật giáo là 90 người Trong đó Hòa thượng: 3 người, Thượng tọa: 1, Đại đức: 53, Ny sư, Sư cô: 33 người
Về tổ chức, từ năm 1981 – 1989, Ban Đại diện Phật giáo Việt Nam tỉnh thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên Từ khi lập lại tỉnh đến nay Giáo hội Phật giáo tỉnh đã trải quan 5
kỳ đại hội
Đại hội lần thứ nhất (nhiệm kỳ 1990- 1991), đại hội đã bầu ra Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh gồm 16 vị, trong đó có 7 chức sắc và 9 cư sỹ do Thượng tọa Thích Chánh Trực làm trưởng Ban Ban Trị sự nhiệm kỳ thứ nhất kéo dài 9 năm, sở dĩ như vậy là vì đến kỳ đại hội theo quy định của Hiến chương, xét thấy chưa cần thay đổi bộ máy và nhân sự nên Ban Trị sự xin lưu nhiệm mãi đến năm 1999 mới đại hội lần thứ hai
Đại hội lần thứ V (nhiệm kỳ 2012 - 2017) Ban Trị sự Phật giáo tỉnh có 56 vị, Hòa thượng Thích Thiện Tấn được bầu làm Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh
Về tổ chức Phật giáo các huyện, thị, thành phố: 8/10 huyện, thị, thành phố đã có Ban Đại diện Phật giáo là Huyện Hải Lăng, Gio Linh, Triệu Phong, Cam Lộ, Hướng Hóa, Đakrông, Thị xã Quảng Trị và thành phố Đông Hà
Về tổ chức cơ sở: toàn tỉnh có 188 có ban hộ tự Chùa, Niệm Phật đường cơ sở, phân bố đều 8 huyện trong toàn tỉnh Các hoạt động chủ yếu tập trung kỷ niệm các ngày lễ trọng như: Phật đản, Vulan, đại hội nhiệm kỳ, tu bổ, xây dựng cơ sở thờ tự, phong chức phong phẩm, thuyên chuyển chức sắc, giới thiệu tăng ni thọ giới, tu học, thuyết pháp, bồi dưỡng Tăng tài, tổ chức các kỳ An cư kiết hạ…
Trang 9Về hoạt động của Gia đình Phật tử: hiện nay tỉnh Quảng Trị có 164 đơn vị Gia đình Phật tử Phân ban gia đình Phật tử Quảng Trị là một bộ phận của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Trị do Ban Trị
sự Phật giáo tỉnh quản lý Quảng Trị là một trong những tỉnh có số lượng Gia đình Phật tử tương đối đông
so với cả nước và hoạt động khá tích cực Hoạt động của Gia đình Phật tử Quảng Trị thuần túy tôn giáo và được sự quản lý bảo trợ của Ban Đại diện các huyện, thị, thành phố cũng như Ban hộ tự Chùa, Niệm phật đường cơ sở
2 Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Công giáo:
Công giáo du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ XVI- XVII do các linh mục Dòng tên người Bồ Đào Nha, tuy nhiên người có công lớn đưa Công giáo vào Việt Nam là Linh mục Alexandre de Rhodes người Pháp vào thế kỷ XVII Công giáo du nhập vào tỉnh Quảng Trị vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII
do giám mục Bá Đa Lộc, người đã giúp Nguyễn Phúc Ánh khi ông trốn chạy cuộc vây hãm của Tây Sơn Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long Nhớ ơn Giám mục Bá Đa Lộc, Gia Long cho phép tự do truyền bá Công giáo Đây được coi là thời kỳ thịnh vượng của Công giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn, trong đó có đạo Công giáo Quảng Trị Đến thời Cảnh Thịnh với chính sách cấm đạo, Công giáo Quảng Trị đã bị ảnh hưởng rất nhiều và sự tích hình thành nhà thờ La Vang ra đời trong hoàn cảnh ấy nên đã nhuốm màu dân gian và huyền thoại
* Một số vấn đề về Nhà thờ La Vang
Nhà thờ La Vang ở thôn Phú Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị là một nhà thờ giáo
xứ nhưng cũng là nơi diễn ra lễ hội hành hương đã thành truyền thống của tín đồ công giáo khắp nơi trong
cả nước với tình cảm tín ngưỡng sâu sắc
Giáo hội Công giáo coi La Vang là một trong 3 nơi trên thế giới có Đức mẹ Maria hiện hình (La Vang - Việt Nam, Lộ Đức - Pháp, Patima - Bồ Đào Nha) Nhà thờ La Vang được tòa thánh Vatican phong
tước hiệu “Tiểu Vương cung thánh đường” Giáo hoàng Gioăng Pôn II nhiều lần gửi thư và nhắc đến
“Thánh địa La Vang” trong các lần triều yết tại tòa thánh La Mã.
- Trong suốt 100 năm đầu, câu chuyện La Vang chỉ là vấn đề tín ngưỡng của một số giáo dân địa phương, không thấy giáo hội nói gì tới Đến cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp đặt xong ách đô hộ thực dân lên đất nước ta, đạo công giáo đã trở thành có thế lực Giám mục Gaspa cũng định tước hiệu cho đức mẹ La
Vang là “Đức mẹ phù hộ các giáo hữu”; chọn mẫu tượng Đức mẹ La Vang và định lệ sau khi khánh thành
nhà thờ mới, cứ 3 năm tổ chức đại hội Kiệu Đức mẹ La Vang một lần Năm 1901 nhà thờ làm xong, lễ khánh thành nhà thờ cũng là lễ đại hội Kiệu La Vang lần thứ nhất Từ đầu thế kỷ XX đến nay , do hoàn cảnh chiến tranh bị gián đoạn nên giáo hội mới tổ chức được 29 kỳ đại hội, trong những kỳ Đại hội gần đây
số lượng giáo dân về hành hương ngày càng đông Đại hội 26 (2002) có 16 vạn người, đại hội 27 (2005) có
30 vạn, đại hội 28(2008) có khoảng 40 vạn giáo dân
- Ngày 24/11/1960, Giáo hoàng Gioan 23 ra sắc chỉ thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam
- Ngày 13/4/1961, Hội đồng giám mục Việt Nam họp tại Huế quyết định lấy đền thờ La Vang làm
đền thờ toàn quốc dâng hiến trái tim đức mẹ, đồng thời quyết định coi nhà thờ La Vang là “Trung tân thánh mấu toàn quốc”.
- Ngày 8/8/1961, Hội đồng giám mục Việt Nam họp tại Đà Nẵng quyết định xin tòa thánh nâng nhà
thờ La Vang lên hàng “Vương cung thánh đường” và vạch một chương trình quy mô mở rộng linh địa La Vang cho xứng với “Trung tân thánh mấu toàn quốc”.
- Ngày 22/8/1961, Giáo hoàng Gioan 23 ra sắc chỉ chấp thuận đề nghị của Hội đồng giám mục Việt
Nam coi La Vang là “Tiểu Vương cung thánh đường” của Giáo hội hoàn vũ.
- Sau năm 1975, nhà thờ La Vang bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng với chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nàh nước ta Các lễ hội tôn giáo tạo nhà thờ vấn diễn ra bình thường và ổn định Chính quyền các cấp vẫn coi nhà thờ La Vang là nhà thờ giáo xứ
*Từ những tư liệu đã được tìm hiểu nghiên cứu ở trên, từ các văn bản của nhà nước từ tỉnh đến cơ sở
đều dùng tên gọi: Nhà thờ La Vang và gần đây ngày 17/11/2009, UBND tỉnh Quảng Trị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đã dùng danh từ: Nhà thờ La Vang Ban Dân vận Tỉnh ủy đề xuất tên gọi: Nhà thờ La Vang hoặc Trung tâm hành hương La Vang Không dùng bất cứ một danh xưng nào của
Giáo hội Công giáo đã sử dụng trước đây đối với nhà thờ La Vang
Tín đồ Công giáo toàn tỉnh hiện vào khoảng 1,1 vạn người, tăng khoảng 1.000 người so với năm 2004, bình quân mỗi năm tăng trên 100 người Phân bố hầu khắp các huyện, thị, thành phố, đông nhất là huyện Hải Lăng, thành phố Đông Hà, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị
Trang 10Số lượng chức sắc Công giáo ở tỉnh Quảng Trị hiện nay có 22 Linh mục quản xứ, phó xứ tại 33 nhà thờ thuộc 20 giáo xứ trên toàn tỉnh Có 3 dòng tu nữ thuộc 16 cộng đoàn (Dòng Mến Thánh giá, Dòng Đức
Mẹ vô nhiễm và Dòng Đức Mẹ đi viếng) với 43 thành viên dòng tu
Trước năm 1975, theo thống kê có gần 70 cơ sở thờ tự của đạo Công giáo, tập trung 9/ 10 huyện, thị, thành phố trong tỉnh Trong chiến tranh, giai đoạn từ 1968- 1972 giáo dân Quảng Trị di dân vào nam rất nhiều và hầu như cơ sở thờ tự của Công giáo ở Quảng Trị bị hư hỏng nặng chỉ còn lại nền, móng nhất là địa bàn các huyện Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, một số cơ sở thờ tự đã được nhà nước trưng dụng xây dựng trạm xá, trường học, hợp tác xã, công viên và một số công trình công cộng khác
Hiện nay có 33 cơ sở thờ tự thuộc 20 giáo xứ tập trung ở 6 huyện thị: Triệu Phong, Đông Hà, Hướng Hóa, Cam Lộ, Gio Linh, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị Ngày nay trong xu thế hội nhập và đổi mới, cùng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, các cơ sở sinh hoạt đạo Công giáo đã được xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đại đa số giáo dân, trong số đó phải kể đến Trung tâm hành hương Đức mẹ La Vang, một trong ba điểm hành hương của giáo hội toàn cầu, nhà thờ Long Hưng được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia
Về cơ cấu giáo hội Công giáo cấp tinh chỉ có 2 cấp có tư cách pháp nhân là Giáo hạt và giáo xứ Hạt trưởng Hạt Công giáo Quảng Trị do linh mục Lê Quang Quý đứng đầu trực thuộc giáo phận Huế, có 20 giáo xứ với 33 cơ sở sinh hoạt tôn giáo
Hoạt động của công giáo những năm qua diễn ra bình thường chủ yếu tăng cường truyền đạo, phát triển tín đồ, tăng cường đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển các linh mục về các giáo xứ Xúc tiến thành lập các hội đoàn Công giáo, cũng cố tổ chức giáo xứ, họ đạo ở cơ sở nhằm tăng cường cũng cố đức tin thu hút tín đồ Tăng cường mối quan hệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tranh thủ kinh phí hoạt động, in ấn kinh sách, nhất là mở rộng đất đai, xây dựng các cơ sở tôn giáo, điển hình là Trung tâm hành hường Đức mẹ La Vang đã được nhà nước cấp thêm đất, xây dựng mới một số hạng mục và khu hành hương
3 Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đạo Tin lành:
Đạo Tin lành du nhập vào Quảng Trị vào những năm 60 của thế kỷ XX trong bối cảnh cuộc chiến tranh ác liệt giữa dân tộc ta và đế quốc Mỹ Trong thời gian này đạo Tin lành phát triển khá nhanh cả về số lượng tín đồ, chức sắc cũng như quy mô tổ chức giáo hội và phạm vi hoạt động
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), các mục sư và một số truyền đạo chuyển vào các tỉnh phía Nam, một số cốt cán Tin lành có tham chế độ cũ được đưa đi học tập, cải tạo Mặt khác ta tích cực đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị trong các tôn giáo cho nên giai đoạn này, các tổ chức Tin lành ở Quảng Trị hầu như không hoạt động Một bộ phận tín đồ dần dần khô, nhạt đạo
Cuối năm 1980 và đầu năm 1981, có 13 hộ với 45 khẩu người dân tộc thiểu số trở lại sinh hoạt đạo Tin lành Được sự hổ trợ từ bên ngoài và địa hạt Trung trung bộ về tiền, kinh sách, băng hình… số cốt cán Tin Lành đẩy mạnh việc tuyên truyền phát triển đạo Từ đó, đạo Tin lành phát triển với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng nhanh, địa bàn ngày càng rộng, có lúc trở thành phong trào Năm 1991, có 83 hộ với
386 khẩu, năm 1995 có 142 hộ với 680 khẩu, năm 2001 tăng lên 398 hộ, 1.800 khẩu, đến tháng 10 năm
2004 có 412 hộ với hơn 2.000 khẩu, đến tháng 12 năm 2013 toàn tỉnh có 3.441 tín đồ
Đối tượng truyền đạo chủ yếu là trong đồng bào dân tộc Vân Kiều Địa bàn truyền đạo tập trung vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, các xã dọc đường 9, và dọc bờ biển nơi có đông người hồi hương theo chương trình HCR
Sau khi Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) có văn thư xin phép cử đại diện Tin lành ở Quảng Trị, các ban ngành chức năng thống nhất ý kiến trình UBND tỉnh giải quyết Ngày 17/12/2002, UBND tỉnh đã có công văn số 2446 - CV/UB chấp nhận ông Dương Minh Đức làm Mục sư nhiệm chức đại diện Tin lành Quảng Trị Ngày 23/01/2014, tại Nhà thờ Tin lành Chi hội Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, hệ phái Tin lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Quảng Trị tổ chức bầu nhân sự đại diện Tin lành Quảng Trị nhiệm kỳ 2013- 2015 Tham dự có đại diện Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) cùng với các mục sư, truyền đạo trên địa bàn tỉnh Kết quả Mục sư Nguyễn Hữu Trung quản nhiệm Chi hội thánh Tin lành Cửa Việt đã được bầu làm đại diện Tin lành Quảng Trị thay Mục sư Dương Minh Đức
Toàn tỉnh có 2 chi hội là Chi hội thánh Tin lành Cửa Việt và Chi hội thánh Tin lành Khe Sanh; có 62 điểm nhóm, 59 nhà nhóm; trưởng điểm nhóm 60 người; có 2 mục sư và 3 truyền đạo