1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

26 548 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 53,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: vấn đề cơ bản của triết học? • Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó. • Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giũa ý thức và vật chất, giũa con người với giới tự nhiên. • Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: thứ nhất giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Thứ hai con người có khẩ năng nhận thức được thế giới không? + Đi trả lời cho câu hỏi thứ nhất: chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức. Ngược lại các nhà duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất. + Trả lời cho câu hỏi thứ 2 là con người có khả năng nhận thức được thế giới ( khả tri luận) và ngược lại trường phái bất khả tri luận cho rằng con người không nhận thức được thế giới. Mặt khác những người theo trường phái nhi nguyên luận cho rằng con người lúc nhận thức được có lúc không nhận thức được thế giới. • Theo chủ nghĩa Mác – LeeNin cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊCâu 1: vấn đề cơ bản của triết học?

• Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó

• Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giũa ý thức và vật chất, giũa con người với giới tự nhiên

• Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: thứ nhất giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Thứ hai con người có khẩ năng nhận thứcđược thế giới không?

+ Đi trả lời cho câu hỏi thứ nhất: chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là cái có trước và quyết định ýthức Ngược lại các nhà duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất

+ Trả lời cho câu hỏi thứ 2 là con người có khả năng nhận thức được thế giới ( khả tri luận) và ngược lại trường phái bất khả tri luận cho rằng con người không nhận thức được thế giới Mặt khác những người theo trường phái nhi nguyên luận cho rằng con người lúc nhận thức được có lúc không nhận thức được thế giới

• Theo chủ nghĩa Mác – LeeNin cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới

Câu 2: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Liên hệ thực tiễn?

a, Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

• Khái niệm:

• Mối liên hệ là khái niệm dung để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới

• Mối liên hệ phổ biến là phạm trù triết học dùng để chỉ mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật hiện tượng trong thế giới ( tự nhiên, xã hội, tư duy)

• Tính chất:

• Tính khách quan của các mối liên hệ: mối liên hệ tồn tại ngay trong bản thận sự vật

và không phụ thuộc vào ý chí con người, con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình

Trang 2

• Tính phổ biến của các mối liên hệ: mối liên hệ có ở tất cả các sự vật hiện tượng ở mọi quá trình trong tự nhiên xã hội và trong tư duy.

• Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: tính đa dạng phong phú của mlh được thể hiện ở chỗ các sựu vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có mối liên hệ cụ thể khác nhau, giũa vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triể của nó, mặt khác cùng một mlh nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong cùng điều kiện cụ thể khác nhau

ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau tính đa dạng phổ biến của mlh diễn ra dưới nhiều hình thwucs khác nhau: mlh bên trong và bên ngoài, mlh bản chất và hiện tượng, mlh chủ yếu và thứ yếu, mlh trực tiếp và gián tiếp… của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới

• Ý nghĩa phương pháp luận:

• Quan điểm toàn diện: yêu cầu trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhận thức được các sự vật, hiện tượng và phải có mlh với nhau và đặt nó vào trong các mlh với các sựu vật khác

• Quan điểm này chống lại quan điểm phiến diện một chiều

• Phải có quan điểm lịch sử cụ thể: trong nhận thức hành động phải đặt sự vật hiện tượng trong mlh cụ thể xác định vị trí vai trò của từng mlh

b, Liên hệ thực tiễn:

Câu 3 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất

và ngược lại Liên hệ thực tiễn?(đã chỉnh sửa toàn bộ)

→ Quy luật này chỉ ra cho chúng ta tích chất của quá trình phát triển, con đường và hính thức phát triển từ trạng thái cũ sang trạng thái mới.

1.Khái niệm chất và lượng:

+ Quan hệ giữa chất và thuộc tính, thuộc tính là đặc trưng (khía cạnh) của chất 

được bộc lộ ra trong các mối quan hệ với sự vật khác Mỗi sự vật có nhiều thuộc  tính, mỗi thuộc tính lại là sự tổng hợp của những đặc trưng và trở thành một chất.  Điều đó có nghĩa sự vật có thể có nhiều chất Ph Ăngghen: “Những chất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại”. 

+ Chất của sự vật không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành sự 

Trang 3

vật mà còn được xác định bởi trật tự sắp xếp, phương thức liên kết giữa các yếu tố. 

b Khái niệm lượng 

+ Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số  lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng  như các thuộc tính của nó.Lượng và chất thống nhất với nhau trong mỗi sự vật tồn tại khách quan, do đó lượng cũng mang tính khách quan, phong phú như chất. 

+ Trong thực tế, lượng có thể được xác định bằng những đơn vị, các đại lượng 

và được nhận thức thông qua các đơn vị và đại lượng , có những lượng không  được xác định bằng đơn vị, đại lượng, nhưng chúng ta vẫn nhận thức được nhờ khả năng trừu tượng hóa. 

→ Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối. 

2 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng 

- Lượng đổi dẫn đến chất đổi. 

+ Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một thể thống nhất giữa chất và lượng Trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, chất và lượng cũng không ngừng biến đổi.Sự thay đổi của lượng và chất không diễn ra độc lập với nhau, mà 

chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi sự vật còn tồn tại trong một chất xác định, nghĩa là sự vật còn tồn tại trong khuôn khổ của một độ. 

+ Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới  hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật. Độ biểu hiện khuôn khổ ổn định tương đối của sự vật, độ của sự vật có thể thay đổi khi điều kiện thay đổi. Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tiệm tiến tăng dần hoặc giảm dần, khi lượng biến đổi đạt tới giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn đó gọi là điểm nút. 

+ Điểm nút là giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật.Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút.

Ví dụ: Trạng thái nước lỏng (chất), 0oC và 100oC là những điểm nút. 

Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới, sự 

chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là bước nhảy. 

+ Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của các sự  vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra.Các hình thức của bước nhảy diễn ra rất

đa dạng: có bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ; bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần. 

→Như vậy, quá trình phát triển bao gồm sự tiệm tiến về lượng và thông qua 

những bước nhảy vọt, tạo ra sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới Bước nhảy là 

sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai  đoạn phát triển mới.Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên  tục của sự vật. 

- Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới.

Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút. 

Khi chất mới ra đời, chất mới tác động trở lại lượng, quy định lượng mới để tạo ra phù hợp giữa chất và lượng mới.Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của 

sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.

Trang 4

3 Ý nghĩa phương pháp luận 

- Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay  đổi về chất sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động

nhận thức và hoạt động thức tiễn. 

- Để có tri thúc đúng về sự vật, thì phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó,

và đặc biệt về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó. 

- Sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất có mối quan hệ với nhau, do vậy 

trong hoạt động thực tiễn phải hiểu đúng vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay  đổi về lượng và chất, đặc biệt trong sự phát triển xã hội; phải kịp thời chuyển từ sự  thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến  hóa sang thay đổi mang tính cách mạng. 

- Xem xét tiến hóa và cách mạng trong quan hệ biện chứng là một trong những 

nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách  mạng Hiểu đúng mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ  nghĩa xét lại hữu khuynh, cũng như chủ nghĩa “tả” khuynh. 

- Chất của sự vật còn phụ thuộc vào trật tự sắp xếp, phương thức liên kết các 

yếu tố của sự vật Trong hoạt động thực tiễn phải biết vận dụng để tạo ra sự phát  triển đa dạng về chất của các sự vật và quá trình tự nhiên.Trong hoạt động xã hội  cũng phải tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã  hội.

Câu 4 :Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Liên hệ thực tiễn

• Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội:

• Ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định

• Ý thức xã hội và ý thức cá nhân có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Mối quan hệ giữa thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mqh giữa cái chung và cái riêng

• Cấu trúc của ý thức xã hội: Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sứcphức tạp và có thể tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý

Trang 5

thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội thì ý thức xã hội được chia thành: Ý thức xã hội thông thường: là toàn

bộ những tri thức, những quan niệm của con người trong một cộng đồng nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động trực tiếp hàng ngày, chưa được hệ thống, khái quát thành lý luận Ý thức lý luận: là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, kháiquát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâusắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng Ý thức lý luậnđạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng

• Cũng co thể phân ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội Tâm lý xh là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí… của những cộng đồng người nhất định là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như chnhs trị, triết học…, là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội

• Trong xã hội có giai cấp, ý thức xh có tính giai cấp, phản ánh điều kiện vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập giữa các giai cấp

+ Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội:

• Tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội; nội dung của ý thức xã hội là

sự phản ánh tồn tại xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng tồn tại xã hội thế nào thì ý thức xã hội thế ấy, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất, do đó không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó

mà phải tìm trong hiện thực vật chất

• Ý thức xã hội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội và phụ thuộc vào tồn tại xã hội Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện đời sống vật chất khác nhau thì ý thức xã hội cũng khác nhau Mỗi khi tồn tại xã hội (nhất là phương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật tất yếu sẽ biến đổi theo

• Tồn tại xã hội quyết định sự biến đổi của ý thức xã hội Khi tồn tại xã hội nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo; sự biến đổi của ý thức

xã hội là sự phản ánh đối với sự biến đổi của tồn tại xã hội Sự biến đổi của một thời đại nào

đó sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại đó Theo C.Mác:

“ không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cư vào ý thức của thời đại đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội cũng chỉ ra rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn, trực tiếp mà thường thông qua các

Trang 6

khâu trung gian Không phải bất cứ tưtưởng, quan niệm, hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, nhưng nếu xét đến cùng thìcác mối quan hệ kinh tế bao giờ cũng được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các

tư tưởng ấy Ý nghĩa phương pháp luận: việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại

xã hội và ý thức xã hội có vai trò quan trọng

• Liên hệ thực tiễn:

• Tính tương đối của ý thức xã hội:

• Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội: theo nguyên lý tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội thì khi tồn tại xã hội biến đổi tất yếu dẫn đến sự biến đổi của ý thức xã hội, tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp sự biến đổi của tồn tại xã hội đều ngay lập tức dẫn đến sựu biến đổi của ý thức xã hội, trái lại nhiều yếu tố của ý thức xã hội

có thể tồn tại rất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại xã hội sản sinh ra nó đã được tahy đổi căn bản: một là do bản chất của ý thức xã hội chỉ là sự phản ánh scuar tồn tại xã hội cho nên nóichung ý thức xh chỉ có thể biến đổi sau khi có sựu biến đổi của tồn tại xh Mặt khác sựu biến đổi của tồn tại xh do sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của hoạt động thực tiễn diễn ra vs tốc độ nhanh mà ý thức ko thể phản ánh kịp hai là do sức mạnh của thóiquen, truyền thống tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức

xh Ba là ý thức xh luôn gắn vs lợi ích củ những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp nhất định trong xh

• Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn

so với tồn tại xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng tời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo trước được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do phát triển chin muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra Tuy nhiên suy đến cùng khả năng phản ánh vượt trước ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xãhội

• Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó: Lịch sử phát triển đời sống

xã hội cho thấy rằng những quan điểm lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên những mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sử kế thừa những tài liệu lý luận của thời đại trước Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên ko thể giải thích được một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào nhưng quan hệ kinh tế hiện có, ko chú ý đến các giai đoạn phát triển

tư tưởng trước đó

+ Trong xã hội có giai cấp, tính kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính giai cấp của

nó Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thwoif đại trước Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của xh cũ để lại

Trang 7

• Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng.+ Sự tác động qua lại các hình thái ý thức xã hội là 1 nguyên nhân làm cho trong mỗihình thái ý thức có những mặt, những tính chất ko thể giải thích được 1 cách trực tiếp từ tồn tại xã hội.

+ Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy thông thương ở mỗi thời đại tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh mẽ đến các hình thái ý thức khác

• Ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội:

+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử ko những phê phán quan điểm duy tâm mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường hay chủ nghĩa duy vật kinh tế Mức độ ảnh hưởng của tưu tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể, vào tính chất của mqh kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh, vào vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng, vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với cac nhu cầu phát triển xã hội, vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng. > cần phân biệt vai trò của ý thức tư tưởng, tiến bộ và ý thức tư tưởng phán tiến bộ đối với sự phát triển của xã hội

• Nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính đọc lập tương đối của ý thức

xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp trong lịch sử phát triển của ý thức xã hội và đời sống tinh thần xã hội nói chung Nó bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thwuongf về mqh giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

+ Quan ddierm duy vật macsxit về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức

xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong những cơ sở phương pháp luận căn bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là cơ sở phương pháp luận căn bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn Theo nguyên lý này, một mặt, nhận thức các hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội phải căn cứ vào tồn tại xã hội nhưng mặt khác cũng phảithấy được sự độc lập tương đối giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Do đó, trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội

và ý thức xã hội, trong đó thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản để thay đổi ý thức xã hội; đồng thời, cũng cần phải thấy rằng những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại

xã hội

• Liên hệ thực tiễn

Trang 8

Câu 5 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Liên hệ thực tiễn

- Phạm trù thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục địch mang tính lịch sử -xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội

- Bản chất của nhận thức: nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn

- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

- Thực tiễn là cơ sở nguồn gốc, động lực của nhận thức.

+ Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất quy luật Trên cơ sở đó con người mới có hiểu biết, tri thức về sự vật Nói khác đi, thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức, là

cơ sở để hình thành sự hiểu biết của con người VÍ DỤ : Khi ném hòn đá vào một tấm kính, thấy tấm kính đó Vỡ ra khi chúng ta sẽ biết rằng kính có thuộc tính dễ vỡ Cán

bộ hiện nay không chịu bộc lộ thuộc tính (không có chính kiến, quan điểm) để lấy phiếu của cấp trên và cấp dưới.

+ Thực tiễn đề ra yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi các nhà lý luận phải giải quyết để trên cơ

sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.

+ Thực tiễn là cơ sở rèn luyện các giác quan của con người, trên cơ sở đó giúp con người nhận thức hiệu quả hơn và giúp thúc đẩy nhận thức phát triển Cảm giác chuẩn thì tri giác mới chuẩn Tri giác chuẩn thì biểu tượng mới chính xác Nhận thức trực quan sinh động càng đúng, càng chính xác thì nhận thức tư duy trừu tượng càng chuẩn xác

+ Thực tiễn là cơ sở chế tạo phương pháp máy móc để hỗ trợ con người nhận thức đúng đắn, hiệu quả hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức.

+ Nhận thức của con người ngay từ khi con người mới xuất hiện trên Trái đất với tư cách là người đã bị quy định bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại, tức là nhu cầu thực

Trang 9

tiễn Để sống và tồn tại, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, nghĩa là phải

có nhận thức.

+ Những tri thức kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa, chỉ có giá trị khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là thước đo đánh giá giá trị, ý nghĩa, kết quả của nhận thức.

- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức chân lý : Theo triết học duy vật biện chứng thì chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân lý Bởi lẽ chỉ thông qua thực tiễn mới vật chất hoá được tri thức, hiện thực hoá được tư tưởng; thông qua đó mới khẳng định được chân lý và bác bỏ được sai lầm.

+ VÍ DỤ : Trên ti vi hiện nay nhiều công ty quảng cáo cho rằng mặt hàng của mình là tốt nhất Nhưng mặt hàng nào tốt nhất phải lấy thực tiễn để kiểm nghiệm

→ Lưu ý,thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Ngoài thực tiễn ra thì không gì có thể thay thế được Tính tương đối của nó thể hiện ở chỗ bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển Do vậy, với tư cách là tiêu chuẩn chân lý nó cũng không đứng im Cho nên thực tiễn đúng của hôm qua chưa chắc đã đúng hoặc hoàn toàn đúng với hôm nay (thực tiễn không đứng im, chỉ là tương đối)

- Ý nghĩa phương pháp luận:

+ Trong nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn.

Nghĩa là mọi chủ trương chính sách, nhận thức của con người đều phải xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với thực tiễn, phải dựa vào thực tiễn để kiểm nghiệm kết quả nhận thức đúng hay sai.

+ Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành.

+ Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn.

+ Trách tuyệt đối hóa thực tiễn và coi thường lý luận cũng như tuyệt đối hóa lý luận

mà coi thường thực tiễn Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận xuông còn thực

Trang 10

tiễn mà không có cách mạng soi đường thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng.

- Liên hệ thực tiễn:

Liên hệ với quá trình học tập và lao động của bản thân.

Câu 6 Quy luật giá trị??

• Nội dung và yêu cầu của quy luật gái trị

• Quy luật gái trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và tao đổi hàng hóa, ở đâu có

sx và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị

• Yêu cầu chung của quy luật gái trị: việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên

cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết

• Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết

có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay ưu thông, phải thực hiện theonguyên tắc ngang giá: tức là giá cả bằng giá trị

• Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa Vì giá trị là cơ sở của gái cả, còn gái cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị hàng hóa nào càng nhiều giá trị thì gái cả của nó càng cao và ngược lại Trên thị trường ngoài giá trị thì giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho gái cả hàng háo trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó

• Sự vận động giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơchế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

• Tác động của quy luật giá trị:

• Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:

+ Điều tiết sx là điều hào, phân bổcác yếu tố sx giữa các nghành các lĩnh vực của nền kinh tế Tác dụng này của quy luật giá trịthông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thịtrường dưới tác động của quy luật cung cầu Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ

đổ xô vào ngành ấy Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấytăng lên Ngược lại, khi cung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá bán không chạy và có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy

mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao

Trang 11

+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả thịtrường Sự biến động của giá cả thịtrường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá

cả cao, do đó làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định

Như vậy, sự biến động của giá cả thịtrường không những chỉrõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá

• Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, thúc dẩy lực lượng sx xã hội phát triển:Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thịtrường thì các hàng hoá đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy người sản xuất hàng hoá nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lí hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm… nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt cànglàm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống

• Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người lao động thành người giàu người nghèo

+ Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hoá theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động và trở thành ông chủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao đông

xã hội cần thiết, khi bán hàng hoá sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phásản, trở thành lao động

Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, nhà nước cần có những biện pháp

để phát huy tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

• Ý nghĩa thực tiễn - Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt độngrộng lớn, lâu dài của quy luạt gía trịtrong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay - Cần vận dụng tốt cơ chế thịtrường có sự quản lí của nhà nước để phát huy vai tròtích cực của cơ chế thịtrường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển,đảm bảo sự công bằng xã hội

Câu 7 Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư?

• Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trịthặng dư

- Mục đích của sx TBCN ko phải là giá trị sd mà là giá trị, hơn nữa, cũng ko phải giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư

Trang 12

Nhưng để sản xuất giá trịthặng dư, trước hết nhà tư bản phải tổ chức sản xuất ra những hàng hóa cú giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư.

Vậy quá trình sx TBCN là sựu thống nhất giwaux quá trình sx giá trị sử dụng và quá trình sx ra giá trị thặng dư

- Quá trình sx trong xí nghiệp tư bản đồng thời là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động và tư liệu sản xuất mad nhà tư bản đã mua, có đặc điểm:

+ Một là công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà TB, lao động của anh ta thuộc về nahf TB giống như những yếu tố khác của sx và được nhà tư bản sử dụng cho hiệu quả cao nhất

+ Hai là sp là do lao động của người công nhân tạo ra, nhưng nó ko thuộc về công nhân mà thuộc sở hữu của nhà tư bản

- Qua quá trình nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư ta có kết luận:

+ Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không

+ngày lao động của công nhân bao giờ cũng chia thành 2 phần: phần ngày lao động

mà công nhân tạo ra 1 lượng giá trị ngang vs giá trị slđ của mình gọi là thời gian lao động tất yếu và lao động trong khoảng thời gian đó gọi là lao động tất yếu Phàn còn lại của ngày lao động gọi alf thời gian lao động thặng dư và lao động trong khaongr thời gian đó gọi là lao động thặng dư

+ sau khi nghiên cứu quá trình sx giá trị thặng dư nhận thấy mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản đã được giải quyết: việc chuyển hóa của tiền thành tư bản diễn ra trong lưu thông, mà đồng thời ko diễn ra trong lĩnh vực đó Chỉ có trong lưu thông nhà TB mới mua được một thứ hàng hóa đặc biệt đó là hàng hóa slđ Sau đó nhà tư bản sử dụng hàng hóa đặc biệt đó trong sx để sx ra gái trị thặng dư cho nhà TB

nghiên cứu giá trị thặng dư được sx ra như thế nào vạch rõ bản chất bóc lột của CNTB>

• Bản chất của tư bản; sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến

- Bản chất của tư bản:

+ Các nhà kinh tế học tư sản cho rằng, công cụ lao động, tư liệu sản xuất đều là tư bản; thực ra công cụ lao động, tư liệu sản xuất là những yếu tố cơ bản của sản xuất vật chất trongbất kỳ phương thức sản xuất nào; chúng chỉ là tư bản khi trở thành tài sản của nhà tư bản và được dùng để bóc lột người lao động làm thuê Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không + công của người lao động làm thuê Bản chất của tư bảnlà phản ánh quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng

dư do giai cấp công nhân sản xuất ra

• Tư bản bất biến, tư bản khả biến:

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiến ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa

là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư

Trang 13

+ Bộ phận tư bản biến thành TLSX mà giá trị được bảo taonf và chuyển hóa vào sản phẩm tức không thay đổi về lượng giá trị của nó đưuọc gọi là tư bản bất biến ( ký hiệu c)

+ Bộ phân TB dùng để mua SLĐ thì lại khác Một là giá trị nó biến thành các tư liệu sinh hoạt của ngườicông nhân và biến đi trong tiêu dùng của người công nhân Mặt khác trong quá trình lao động bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị lướn hơn gái trị của bản thân slđ nó bằng gái trị SLĐ cộng vs gái trị thặng dư > bộ phận TB dùng để mua slđ đx ko ngừng chuyển hóa từ đại lượng bất biến thành địa lượng khả biến ( tăng lên về số lượng trong quá trình sx)

+ Bộ phận tư bản bất biến thành slđ ko tái hiện ra nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê tăng lên tức là biến đổi về lwuongj được gọi là tư bản khả biến

==> tư bản bất biến là điều kiện cần thiết ko thể thiếu để sx ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính là bộ phạn tư bản đã lướn lên

+ Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sx hàng hóa chính là chiếc chìa khóa đểxác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến

• Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

- Tỷ suất giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó

Nếu ký hiệu m' là tỷ suất giá trị thặng dư, thì m' được xác định bằng công thức:

m' = m/v * 100%

- Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra, thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu Tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất Do đó, có thể biểu thị tỷ suất giá trị thặng dư theo một công thức khác:

m' =( thời gian lao động thặng dư/thời gian lao động tất yếu)*100%

Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nahf tư bản vs công nhân làm thuê, nó chứ nói rõ quy mô bóc lột

- Khối lượng giá trị thặng dư:

+ Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến đã được sử dụng Nếu ký hiệu M là khối lượng giá trị thặng dư, thì M được xác định bằng công thức: M = m' x V hay M=(m/v)*V trong đó V là tổng số tư bản khả biến mà nhà tư bản sử dụng, v là tư bản khả biến đại biểu cho 1 slđ Khối lượng giá trị thặng dư phảnánh quy mô bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ bóc lột sức lao động càng tăng

• Hai phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch

- Sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối:

Ngày đăng: 11/07/2016, 11:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w