1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn thi môn Chính trị Lịch sử Đảng

26 748 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 212,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn thi môn Chính trị Lịch sử Đảng Câu 1: Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đối với tiến trình cánh mạng Việt Nam. Nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị lần thứ nhất của Đảng cộng sản Việt Nam? 1. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam 1.1. Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam a. Tình hình đất nước những năm đầu thế kỷ XX

Trang 1

Câu 1: Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đối với tiến trình cánh mạng Việt Nam Nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị lần thứ nhất của Đảng cộng sản Việt Nam?

1 Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam

1.1 Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

a Tình hình đất nước những năm đầu thế kỷ XX

Nửa đầu thế kỷ XX, Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất dưới quyền cai quản của

triều đại phong kiến nhà Nguyễn Ngày 01-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và từng bước

thôn tính Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp và đi đến đầu hàng hoàn toàn.Chính sách bóc lột, cai trị của thực dân Pháp đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam:

Về chính trị: thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu

nước của nhân dân; tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa đồng thời vẫn duy trìchính quyền phong kiến bản xứ làm công cụ tay sai Thực hiện chính sách “chia để trị”: Chia ViệtNam thành ba kỳ với các chế độ chính trị khác nhau, nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc.Tước đoạt tất cả các quyền tự do của nhân dân Xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchiatrên bản đồ chính trị thế giới, lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp

Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi: từ xã hội phong kiến độc lập chuyển thành xã hội thuộc địa

- phong kiến

Về văn hoá - xã hội: Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị, xây dựng nhà tù

nhiều hơn trường học (trên 90% dân số mù chữ); du nhập văn hoá đồi truỵ, tuyên truyền tư tưởngkhai hoá văn minh, nước "đại Pháp"… nhằm tạo tâm lý phục Pháp và sợ Pháp; khuyến khích tệnạn xã hội, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc thế hệ trẻ Việt Nam

Về kinh tế: thực dân Pháp đã tiến hành kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)

và lần thứ hai (1919-1929) nhằm ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của ngườibản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khoá nặng nề Biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nóichung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính quốc

Sự chuyển biến các giai tầng trong xã hội Việt Nam: Chính sách thống trị của thực dân Pháp

không chỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như địa chủ phong kiến vànông dân, mà còn làm xuất hiện các giai cấp mới, như giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và cáctầng lớp mới ra đời Các giai cấp này có địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chínhtrị khác nhau trước vấn đề dân tộc

b Các phong trào yêu nước trước khi có Đảng và sự khủng khoảng bế tắc về đường lối cứu nước

Khi thực dân Pháp xâm lược, hàng trăm cuộc đấu tranh thể hiện tinh thần quật cường bảo vệnền độc lập của nhân dân ta chống lại sự xâm lược của ngoại bang Nhưng với ngọn cờ phongkiến lúc đó đều thất bại

Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam có những chuyển biến mới Đặcbiệt Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) với khẩu hiệu "không thành công thì thành nhân" đãnhanh chóng thất bại, thể hiện khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản không đáp ứng được yêucầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trang 2

Như vậy, rõ ràng là vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước, bấtkhuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sảncủa nhân dân ta diễn ra rất sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đều không thành công Việt Nam lâm vàokhủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêu nướcđương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn đểgiải phóng dân tộc.

1.2 Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với quá trình vận động thành lập Đảng

Với nhiệt huyết cứu nước, với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén và được kế thừa các giátrị truyền thống của dân tộc Việt Nam, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thànhquyết định ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Nguyễn Tất Thành sang Pháp, Mỹ, Anh

và nhiều nước thuộc địa của đế quốc, thực dân Sau khi đến nhiều nước trên thế giới và trải quanhiều nghề lao động khác nhau, Người đã rút ra một kết luận quan trọng: ở đâu bọn đế quốcthực dân cũng tàn bạo độc ác, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột dã man

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn

đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đã đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư

tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lậptrường cộng sản Từ đây Người tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng

thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bị các tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ở Việt Nam

Về tư tưởng: Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tố cáo, lên án bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối

với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng

Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức “chỉ

có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ cóthể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” Cách mạng giải phóng dântộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Cách mạng giải phóngdân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ chonhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trướccách mạng chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc

Lý luận về Đảng Cộng sản, Người khẳng định: Cách mạng muốn giành được thắng lợi: Trướchết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dântộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng nhưngười cầm lái có vững thuyền mới chạy

Về tổ chức: Tháng 6-1925, thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Về tổ chức gồm 5

cấp: Tổng bộ, Xứ (kì) bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ Thành phần lúc đầu gồm 90% là trí thứctiểu tư sản, chỉ có 10% là công nông, về sau trí thức chiếm 40%

Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dântộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền

đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam - đẩy bánh xe lịch

sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử

1.3 Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Tháng 6-1929, các tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ họp, quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng; Kỳ bộ Nam Kỳ quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng (tháng 11-1929); tại Trung Kỳ,

Trang 3

Tân Việt cách mạng Đảng thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, vào tháng 1-1930 Sự ra đời

ba tổ chức cộng sản đã khẳng định bước tiến về chất của phong trào công nhân và phong trào yêunước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản Tuy nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở bamiền không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước

Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái viên củaQuốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập Hội nghịhợp nhất các tổ chức cộng sản lại thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam , lấy tên là

Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

2.1 Nội dung cơ bản của Cương lĩnh

Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành

lập Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sáchlược của cách mạng Việt Nam

Chánh cương vắn tắt của Đảng phân tích, đánh giá khái quát đặc điểm cơ bản nhất của kinh

tế - xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến Đặc biệt phân tích tính chất độcquyền khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, gây nên hậu quả kìm hãm sự phát triển kinh tế của

Việt Nam Chánh cương xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam "chủ trương

làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" Như vậy, mụctiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạngthuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản, chính là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhândân tiến lên chủ nghĩa xã hội Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội gắn liềnmật thiết với nhau thể hiện ở mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Về nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể, chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: "Đánh đổ đế quốc

chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến", "Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập" Đây là vấn đề căncốt của cách mạng Việt Nam lúc này Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến lànhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giànhđộc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu Để sau đó: "Dựng ra chính phủ công nông binh", "Thâuhết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v ) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp đểgiao cho Chính phủ công nông binh quản lý" Trong đó, trước hết là "Thâu hết ruộng đất của đế quốcchủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo"

Về lực lượng cách mạng: Xác định lực lượng cách mạng phải đoàn kết công nhân, nông dân

-đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất

cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai Đây là cơ

sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi các giaicấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước,cách mạng, trên cơ sở đánh giáđúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam,

Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh khẳng định phải bằng

con đường bạo lực cách mạng chứ không thể là con đường cải lương thoả hiệp "không khi nàonhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp" Có sách lược đấu tranh

cách mạng thích hợp để lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, còn "bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ"

Trang 4

Cương lĩnh cũng nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cáchmạng vô sản thế giới

Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho

được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng Đảng làđội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủnăng lực lãnh đạo quần chúng

2.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Giá trị lý luận của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:

Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua, đã phản ánh một cách súc tích cácluận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ,sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trongnhững năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Namlúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụgiải phóng dân tộc Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách của cách mạngViệt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng củacách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra

Những nội dung cơ bản ấy đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bảncương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhucầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiếnlược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam

Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn,sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến Đóchính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: Kết hợp đúngđắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; Kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng củanhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủnghĩa quốc tế trong sáng; Đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, đặc điểm thựctiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại Vận dụngchủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và cóphát triển trong điều kiện lịch sử mới

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cương lĩnh ấy rấtphù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta Vì vậy, Đảng đã đoàn kết đượcnhững lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình Còn các đảng phái của các giai cấpkhác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấpcông nhân - không ngừng củng cố và tăng cường" Chính vì vậy, con đường cách mạng vô sản màCương lĩnh đã khẳng định là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ năm 1930 Trong bốicảnh những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa

xã hội hiện thực trên thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định con đường cáchmạng mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã lựa chọn: "Đối với nước ta, không còn con đường nàokhác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh rằng đây là

sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta"

Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam:

Trang 5

Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của

lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên CNXH của dân tộc ta từ khiĐảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt hơn 8 thập kỷ qua dân tộc Việt Nam đã thay đổi cảvận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế Khi đánh giá quá trình cách mạng Việt Nam hơn 80 năm thực hiện Cương

lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ( bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhận định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam

do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranhcách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắnglợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân,phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độclập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sửĐiện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủnghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.”

Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên củaĐảng, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do,phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thànhngười làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém pháttriển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngàycàng quan trọng trong khu vực và trên thế giới

Tóm lại thực hiện đường lối chiến lược trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, ViệtNam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theocon đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủđất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọngtrong khu vực và trên thế giới

Trang 6

Câu 2: Nêu bối cảnh trước khi Đại hội Đảng VI Trình bày những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới Nêu khái quát kết quả của 25 năm đổi mới Liên hệ thực tiễn tại địa phương

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-12-1986

Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng Đến dự Đạihội có 32 đoàn đại biểu quốc tế

- Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Uỷ viên Bộ Chính trị đọc diễn văn khai mạc Đại hội

- Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đọc Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trungương Đảng

- Đồng chí Võ Văn Kiệt - Uỷ viên Bộ Chính trị đọc Báo cáo về phương hướng, mục tiêuchủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (1986-1990)

Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cáchmạng và khoa học

1 Bối cảnh VN trước ĐH6

Trước ĐH6, đặc biệt là giai đoạn 1980-1985, là một đoạn đường đầy thử thách đối vớiĐảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhữngthuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu

do Đại hội thứ V đề ra, nhân dân ta đã anh dũng phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọngtrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấubảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm;hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớntrong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đờisống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mụctiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn địnhđời sống nhân dân

Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về cácmặt kinh tế, xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trongviệc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa

và quản lý kinh tế” “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủtrương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủquan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận

Từ thực tiễn, chúng ta nhận thức được những bài học quan trọng Một là, trong toàn bộ hoạtđộng của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làmchủ của nhân dân lao động Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hànhđộng theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan làđiều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộcvới sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụchính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổimới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới

2 Nội dung cơ bản của ĐLĐM

Nội dung đường lối đổi mới :

Trang 7

- Đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn xây dựng chủ nghia xã hội đòi hỏi phải nhận thức rõ hơn

những đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ, những quy luật khách quan, những hình thức, bước đicủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Khắc phục những biểu hiện chủ quan, duy ýchí, nóng vội, làm trái quy luật trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới.Nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan phù hợp với thực tiễn đất nước là điều kiệnđảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

- Đổi mới cơ cấu kinh tế Khẳng định chính sách phát triển “nền kinh tế có cơ cấu nhiều

thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”1 Các thành phần kinh tế bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể); kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể);

kinh tế tư bàn tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình thức cao nhất làcông tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ởTây Nguyên và các vùng núi cao khác

Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: đổi mới tư duy lý luận chính là nhận thức rõ quan điểm của V.I.Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ, nhận thức vàvận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ, của CNXH trong đó có quy luậtquan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao

cấp chuyển sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa phát triển nền kinh tế hàng hóa, sử dụngđúng đắn quan hệ hàng hóa-tiền tệ Thực chất cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóatheo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

- Đổi mới vai trò quản lý điều hành của Nhà nước, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế, chủ quan, duy ý chí Nhấn mạnh chức năng quản lý nhà nước về kinh tế-xã hội trên cơ sở hoàn

thiện hệ thống chính sách, pháp luật Nhà nước quản lý đất nước, xã hội bằng chính sách và phápluật Hoàn thiện bộ máy chính quyền Nhà nước các cấp phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội

- Đổi mới chính sách đối ngoại, hợp tác với các nước Củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các

nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng hợp tác với các nước khác, kể cả các nước tư bàn chủ nghĩa Cóchính sách để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, động viên Việt kiều đầu tư vào trong nước

- Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là phong cách lãnh đạo và làm việc Nâng cao trình độ

trí tuệ, 1ý luận, nắm vững và vận dụng quy luật khách quan, khắc phục tình trạng lạc hậu về lýluận Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ, nâng cao trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thựctiễn của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới

Sau Đại hội VI, Đảng và Nhà nước không ngừng cụ thể hóa, thể chế hóa, bổ sung và pháttriển đường lối đổi mới Nhiều quyết định, nghị quyết, chính sách mới được ban hành và tổ chức

thực hiện Quyết định 217-HĐBT ngày 14-11-1987 về quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế quốc doanh trong sản xuất kinh doanh Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội Khóa VIII thông qua, có hiệu lực từ ngày 1-1-1988 Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị ngày 5-4-1988 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân Cuối năm 1988,

xóa bỏ chế độ phân phối bao cấp theo tem phiếu

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2006, tập 47, trang 389-390

Trang 8

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam sớm đề ra nhữngnguyên tắc chỉ đạo Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (3-1989) đã

nêu rõ những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới:

“- Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác

Hồ, của Đảng ta Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy

được thực hiện có hiệu quả bằng những hình thức, bước đi và giải pháp thích hợp

- Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không

đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo

và phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin

- Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vaitrò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cónghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệthống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn

- Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc XHCN của nhân dân ta Phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp sự lãnh đạocủa Đảng, đồng thời lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến trung thực, phê bình những khuyết điểmtrong sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng

- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh

vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH Dân chủ

phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị

những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội

- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kếthợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”2

Vượt qua những khó khăn, thách thức trong nước và thế giới, đến năm 1991, tình hình chínhtrị của đất nước ổn định Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.Lạm phát năm 1990 giảm xuống còn 67,4% Năm 1989 đã xuất khẩu gạo 1,4 triệu tấn, đứng thứ 3thế giới, sinh hoạt dân chủ trong xã hội được phát huy Quốc phòng, an ninh được giữ vững Hoạtđộng đối ngoại mở rộng, đẩy lùi tình trạng bị bao vây, cấm vận Đời sống nhân dân được cảithiện, lòng tin của nhân dân được khôi phục và củng cố

3 Thành tựu 25 năm đổi mới:

*Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðạihội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sứcquan trọng Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, tập 49, trang 590-592

Trang 9

* Về phát triển kinh tế

Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh

Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Chủ trương phát triểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển Việc thực hiệntốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuấtkhẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đây được đánh giá làthành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầutiên Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản

lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giải phóngđược lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới

Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái Nền kinh tếtiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, tốc

độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức.Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã ra khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vữngchắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tếthời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù cùng chịu tác động củakhủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy raliên tiếp, đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách khốc liệt, tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trìđược tốc độ tăng trưởng khá

Giai đoạn 2001 - 2005: Sự nghiệp đổi mới ở giai đoạn này đi vào chiều sâu, việc triển khaiChiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 mà Đại hội IXcủa Đảng thông qua đã đạt được những kết quả nhất định Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khácao, theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhậpkhẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thếgiới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặthàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo đảm sự ổn địnhchính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được nhiều lợi thế của đất nước, củatừng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sáchquản lý và hệ thống điều hành; cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính,tiền tệ; phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ;…

Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mônền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập thấp đãtrở thành nước có thu nhập trung bình (thấp) GDP bình quân 5 năm đạt 7% Mặc dù bị tác độngcủa khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốnđầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao

Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rấtchậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% -8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực (8)

Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nói chung;

Trang 10

quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001

-2011 bình quân đạt 7,14%/năm) (9)

Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mức tăngtrưởng hợp lý Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính tăng 3,4% so với năm 2011;công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011 Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81% Đầu tư pháttriển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3% (10).Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so vớiGDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kếtđạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD (11)

Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó sựphát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lươngthực quốc gia; sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại,chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nềnkinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư pháttriển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổnđịnh Sự phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vững chắc để quá trình thực hiện

kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) trong những năm sau đạt kết quả vững chắc hơn

Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sảnxuất với thị trường

Về cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọngnông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1986 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%; cơcấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất

và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăngnhanh và liên tục với thiết bị, công nghệ ngày càng hiện đại: năm 1988 là 21,6%, năm 2005 lên 41%

Tỷ trọng khu vực dịch vụ đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm 2005

Nông nghiệp có sự biến đổi quan trọng, đã chuyển từ độc canh lúa, năng suất thấp và thiếuhụt lớn, sang không những đủ dùng trong nước, còn xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứhai thế giới, góp phần vào an ninh lương thực quốc tế; xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu,thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới

Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sảnxuất và đời sống: ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh; các ngành dịch

vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý; có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả

Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngàycàng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế

Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơnvào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Cơ chế quản lý doanhnghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hìnhcông ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh Kinh tế tưnhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, làmột động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Năm 2005, khu vực kinh tế

tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăngtrưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là

Trang 11

cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngânsách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành, kinh tế vĩ

mô cơ bản ổn định

Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ Hoạt động củacác loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nướcđược đổi mới một bước quan trọng Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng ViệtNam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết về Khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập Tổchức Thương mại thế giới (WTO), Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra mộtbước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoànthiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hóa thành luật pháp, cơ chế,chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu

tố thị trường và các loại thị trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần cóbước phát triển mạnh

Việc kiện toàn các tổng công ty, thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đạt một số kếtquả Giai đoạn 2006 - 2010, số doanh nghiệp tăng hơn 2,3 lần, số vốn tăng 7,3 lần so với giai đoạn

2001 - 2005 Doanh nghiệp cổ phần trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến

* Về phát triển các mặt xã hội

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệtThành công nổi bật, đầy ấn tượng qua hơn 25 năm thực hiện đổi mới, đầu tiên phải kể đến việcchúng ta đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh cho mọi thành phần kinh tế, mọitầng lớp dân cư, khuyến khích, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân

Trong lĩnh vực lao động và việc làm: Từ năm 1991 đến năm 2000, trung bình mỗi năm cảnước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động có công ăn việc làm; những năm 2001 -

2005, mức giải quyết việc làm trung bình hằng năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; tế với phát triểnvăn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; các cơ hội phát triển được mở rộng những năm 2006

- 2010, con số đó lại tăng lên đến 1,6 triệu người Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phầnđưa tỷ lệ lao động qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 (13)

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộđói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010 Còn theo chuẩn do Ngânhàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cảnghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993xuống 29% năm 2002 và còn khoảng 17% năm 2008 Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớmhơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên

kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra (14) Tại cuộc Hội thảo quốc tế với tiêu đề Xóa đói, giảmnghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu Á do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại HàNội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhấtkhu vực Đông Nam Á (15)

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp

từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù

Trang 12

chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩnphổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuốinhững năm 1980 lên 90,3% năm 2007 Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô đàotạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4% Năm 2009, trên 1,3 triệusinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học.

Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận Đội ngũ cán bộ khoa học vàcông nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) đã góp phần cung cấpluận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhànước; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài, nhất là trongcác lĩnh vực thông tin - truyền thông, lai tạo một số giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao,thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng cầu, đóng tàu biển có trọng tải lớn, sản xuất vắc-xinphòng dịch, và bước đầu có một số sáng tạo về công nghệ tin học

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Bảo hiểm y tế được mở rộng đến khoảnggần 60% dân số Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi

đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 28% năm 2010; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng đã giảm tương ứng từ 50% xuống còn khoảng 20% Công tác tiêm chủng mở rộng đượcthực hiện, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trước đây đã được thanh toán hoặc khống chế Tuổi thọtrung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 72 tuổi hiện nay

Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ qua: từ 0,561năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690 năm 2000; 0,715 năm 2005

và 0,725 năm 2007 (16) Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạngHDI của Việt Nam năm 2007 vượt lên 13 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số

182 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 116/182 Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xãhội của nước ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam Nhưvậy, tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã đạt được ba sự vượt trội:chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về HDI tăng lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổithọ và học vấn cao hơn chỉ số về kinh tế

Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn,toàn diện Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt: chính trị,

xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định Trong đó có những thành tựu rất đángkhích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, pháttriển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ Thành tựu đó ngày càngkhẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới, khích

lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn.Thành tựu này được các nước trong khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừanhận và xem đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

4 Liên hệ về bài học kinh nghiệm và thực tế tại địa phương

* Bài học kinh nghiệm:

Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã đúc rút được một số kinh nghiệm chủ yếu:

Trang 13

Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện đổi mới toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng,

an ninh, đối ngoại Lấy nhiệm vụ đổi mới kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt Đổimới kinh tế đồng thời từng bước đổi mới chính trị Đổi mới hệ thống chính trị phải thận trọng,vững chắc, vì chính trị là lĩnh vực rất nhạy cảm, phải giữ vững ổn định chính trị

Cùng với phát triển đường lối đổi mới, Đảng đã chú trọng xây dựng, bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội dựa trên những thành quả tổng kết lý

luận và thực tiễn Cương lĩnh, đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp và hệthống pháp luật phù hợp với quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Hai là, phải thật sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Để bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, khắc phục những hạn chế, yếu kémcủa nền kinh tế, cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơcấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; chú trọng phát triển kinh tế tri thức.Cần thiết phải thực hiện các khâu đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao,xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội.

Trong tiến trình đổi mới, nhiều vấn đề xã hội và chính sách xã hội đã được đặt ra và thựchiện có kết quả tất cả vì cuộc sống tốt đẹp của con người, phát huy nhân tố con người Những vấn

đề về an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội đã được thực hiện đồng bộ, kịp thời

Điểm thành công nổi bật là thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo Đã giảm tỷ lệ đóinghèo từ 58% năm 1993 xuống 30% (1999), 22% (2005) và 9,6% (2010) Liên hợp quốc, trongHội nghị tổng kết 10 năm thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ (2010) đã đánh giá Việt Nam là mộttrong những nước thành công nhất trong thực hiện xóa đói giảm nghèo

Kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là kinh nghiệm thànhcông trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Đồng thời cũng thể hiện bản chất của chế độ và tráchnhiệm của Đảng, Nhà nước

Bốn là, đặc biệt chăm lo, củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Xây dựng Đảng về chính trị trước hết là xây dựng, bổ sung phát triển đường lối đổi mới,Cương lĩnh xây dựng đất nước phù hợp với mục tiêu và yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Bảođảm cho đất nước không đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, không sai lầm về đường lối Về tưtưởng, lý luận, trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh Không ngừng tổng kết thực tiễn làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam.Chú trọng đổi mới và chỉnh đốn Đảng về tổ chức, coi trọng công tác cán bộ, đảng viên Khôngngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị Sự

Ngày đăng: 14/01/2015, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w