YRC Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt NamYRC Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt NamYRC Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt NamYRC Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt NamYRC Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Trang 1Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phảiquan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việcxây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.
Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp Có
nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của mộtdoanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãnhiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp,hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tốquan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêudùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy(cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướngdương–sunflower,ánhdương–sunlight…)
Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, thế nhưng vẫn còn có rấtnhiều trướng hợp các doanh nghiệp mắc phải sai sót trong việc giải quyết các vấn đềliên quan đến nhãn hiệu Trong công trình ghiên cứu dưới đây, chúng tôi sẽ đi sâuphân tích và giải quyết các vấn đề liên quan đến “ nhãn hiệu”,đặc biệt là việc chuyểngiao và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1 Những vấn đề cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Như chúng ta đã biết, lao động sang tạo là một trong những đặc tính của loàingười , con người muốn tồn tại vào phát triển thì phải gắn liền với lao động vàtrong quá trình lao động đó hoạt động sáng tạo là điều không thể thiếu Bởi lẽcon người luôn muốn tìm mọi cách để tối thiểu hóa sức lao động và chi phí tạo
ra thành phẩm đồng thời cũng muốn tạo ra những sản phẩm ngày càng hoànthiện hơn Nếu như các nền kinh tế truyền thống chủ yếu dựa vào sức lao động
và một nguồn sẵn có là tài nguyên thiên nhiên thì trong nền kinh tế tri thứchiện nay, khoa học công nghệ lại là yếu tố quyết định đối với đà tăng trưởngkinh tế của một quốc gia trong dài hạn , hay nói cách khác khoa học công nghệ
là yếu tố quan trọng tạo ra sự thịnh vượng và cung cấp nguồn năng lượng cho
sự phát triển của một đất nước Mặt khác, những sản phẩm khoa học công nghệ
mà con người sáng tạo ra lại không giống với những vật phẩm khác Đó lànhững vật phẩm vô hình mà bản thân người sang tạo ra nó không thế chiếmhữu riêng cho bản thân mình , chúng rất dễ bị chiếm đoạt sử dụng Đó cũng làmột trong những nguyên nhân cho luật sở hữu trí tuệ ra đời nhằm bảo vệ thànhquả của các hoạt động sang tạo con người và quyền sở hữu công nghiệp là một
bộ phận của luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người hoạtđộng trong lĩnh vực đặc biệt có ý nghĩa xã hôi và kinh tế quan trọng này
Trang 2Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, kiểu dángcộng nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại,chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh.
Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí , nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lýđược pháp luật bảo hộ bằng văn bằng bảo hộ
Trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu là đốitượng được quan tâm nhiều nhất Việc sản phẩm của một doanh nghiệp có bánchạy được không, có được sự ưa chuộng của người tiêu dùng hay không phụthuộc rất nhiều vào độ tin cậy của nhãn hiệu đó Khác với các tài sản hữu hình,khi chủ sở hữu khai thác và sử dụng chúng thì một hệ quả tất yếu kéo theo là
sự tiêu hao và cạn kiệt thì tài sản sang tạo trí tuệ khi được khai thác và sử dụngthì không những không bị giảm sút về số lượng và chất lượng mà giá trị của tàisản đó còn được nâng cao
Đặc biệt, với nhãn hiệu thì một nhãn hiệu sẽ càng trở nên nổi tiếng và có giá trịkhi phạm vi sử dụng của nó được mở rộng
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về nhãn hiệu trong nội dung quyền sở hữucông nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị
trường và thương mai quốc tế Nhãn hiệu ngoài chức năng chính là phân biệthàng hóa dịch vụ của các nhà sản xuất khác nhau trên thị trường, cung cấpnhững thông tin về sản phẩm cho người tiêu dung trong việc lựa chọn còn làbiểu tượng cho hình ảnh và danh tiếng của doanh nghiệp, là yếu tố quyết địnhtính cạnh tranh của hàng hóa , dịch vụ trên thị trường và là một tài sản kinhdoanh có giá trị đặc biệt
Theo khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để hânbiệt hàng hóa dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
Nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một từ, ngữ (một cụm từ), hình ảnh,biểu tượng, lô gô, hoặc sự kết hợp các yếu tố này được sử dụng trên hàng hóa
Trang 3hoặc dịch vụ để giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các sản phẩm, dịch
vụ khác nhau trên thị trường
Nhãn hiệu thuộc các đối tượng sở hữu công nghiệp là các chỉ dẫn thương mạiNhãn hiệu cũng thuộc các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xáclập trên cơ sở đăng ký
Đối với nhãn hiệu, chủ thể nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ lần đầu chỉ trongmột thời hạn nhất định nhưng về bản chất pháp luật có thể bảo hộ vô thời hạncho nhãn hiệu nếu chủ sở hữu có nộp đơn yêu cầu gia hạn và nhãn hiệu đó vẫnđáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ
1.2 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu
Theo Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ, “nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đượccác điều kiện sau đây: 1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, đượcthể hiện bằng một hay nhiều màu sắc; 2 Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”
Theo quy định của pháp luật, đặc điểm thứ nhất của nhãn hiệu là các dấu hiệu
có thể nhìn thấy được, có nghĩa là con người chỉ có thể nhận thức được, nắmbắt được về chúng qua khả năng thị giác của con người Người tiêu dung quaquan sát nhìn ngắm để phát hiện ra loại hàng hóa, dịch vụ có gắn với nhãn hiệu
đó để lựa chọn Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPs cũng quy định: “…Cácthành viên có thể quy định như là điều kiện để được đăng kí rằng các dấu hiệuphải là dấu hiệu nhìn thấy được” Đối với một số nước trên thế giới, pháp luậtcủa họ còn quy định việc bảo hộ đối với nhãn hiệu còn được áp dụng cả vớicác loại nhãn hiệu là những dấu hiệu âm thanh như âm nhạc, tiệt nhạc mà conngười có thể nhận biết được qua thính giác hoặc nhãn hiệu là mùi hương màcon người có thể nhận biết thông qua khứu giác hay nhãn hiệu hàng hóa chỉđơn thuần được thể hiện thông qua một màu sắc nhất định Yếu tố màu sắc làkhông thể thiếu đối với nhãn hiệu hàng hóa bởi ưu điểm gây ấn tượng với thịgiác con người, qua đó nó giúp cho nhãn hiệu thực hiện được chức năng phânbiệt của mình
Trang 4Các dấu hiệu bị loại trừ khi xem xét để cấp văn bằng bảo hộ được quy định tạiĐiều 73, Luật sở hữu trí tuệ, các dấu hiệu sau không được bảo hộ dưới danhnghĩa nhãn hiệu:
x Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kì, quốchuy của các nước, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hôi – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơquan tổ chức đó cho phép Ví dụ như tên viết tắt của tổ chức thương mại thếgiới WTO sẽ không được dùng để làm nhãn hiệu , tên thật, biệt hiệu, biệt danh,hình ảnh của lãnh tụ, anh hung dân tộc, danh nhân của Việt Nam và của nướcngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổchức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức nàyđăng kí các dấu hiệu đó làm nhãn hiệu chứng nhận
Về tiêu chí bảo hộ thứ hai, nhãn hiệu có khả năng phân biệt là nhãn hiệu baogồm các yếu tố đủ để tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả nănglưu giữ trong trí nhớ hay tiềm thức con người, bất kì ai khi tiếp xúc với chúngđều dễ dàng nhận thức và dễ ghi nhớ về chúng khi đặt bên cạnh các nhãn hiệukhác Có thể có nhiều yếu tố độc đáo không giống những cái đã có nhưng lạiquá nhiều chi tiết phức tạp hoặc quá nhiều hình vẽ rắc rối khiến cho người tiếpcận khó nắm bắt và không thể ghi nhớ được nội dung cấu trúc cuả nó
x Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu là cáchình học đơn giản không có khả năng phân biệt và gây ấn tượng cho thị giáchoặc quá phức tạp gồm nhiều đường nét rắc rối; hay là các chữ số, chữ cái, chữthuộc các ngôn ngữ thông dụng được hiểu là bất kì ngôn ngữ không thôngdụng Hiện nay, một số dấu hiệu sẽ có khả năng được đăng kí tại Cục sở hữutrí tuê nếu dấu hiệu này thuộc ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng TrungQuốc, tiếng Pháp và tiếng Nga
Tuy nhiên cũng có ngoại lệ đối với những trường hợp nêu trên, đó là trườnghợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãivới danh nghĩa là một nhãn hiệu
Trang 5Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệutrùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu của hàng hóa,dịch vụ trùng hoặc tương tự trong các trường hợp:
x nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cáchrộng rãi từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đướchưởng quyền ưu tiên
x nhãn hiệu mà giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu đó đã hết hiệu lực hoặc bịđình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đìnhchỉ hiệu lực chưa quá 5 năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì lí do nhãnhiệu không được sử dụng
x nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng, thậm chí trong cả trường hợp nhãnhiệu nổi tiếng đó được đăng kí cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự nếu việc
sử dụng dấu hiệu đó có khả năng làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt củanhãn hiệu nổi tiếng Ví dụ, một người muốn nộp đơn xin đăng kí nhãn hiệuCoca Cola cho sản phẩm kem đánh răng không được chấp nhận mặc dù nókhông trùng hay tương tụ với các sản phẩm đồ uống của nhãn hiệu Coca Cola.Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu như nhãn hiệu đó là dấuhiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp như: tên
thương mại đang được sử dụng của người khác mà việc sử dụng có thể gâynhầm lẫn, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộtrên cơ sở đơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưutiên sớm hơn
1.3 Phân loại nhãn hiệu: có rất nhiều cách để phân loại nhãn hiệu , căn cứvào những cơ sở khác nhau
x Dựa vào dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu thì có 3 loại nhãn hiệu:
x Nhãn hiệu chữ: bao gồm các chữ cái (có thể kèm theo cả chữ số), từ, (cónghĩa hoặc không có nghĩa, có thể là tên goi, từ tự đặt ), ngữ (một cụm từ cóthể là một khẩu hiệu trong kinh doanh…)…
Trang 6x Nhãn hiệu hình: bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối (hìnhkhông gian ba chiều)
x Nhãn hiệu kết hợp: kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh
Những nhãn hiệu này có thể được thể hiện đen trắng hoặc kết hợp cả màu sắc
x Căn cứ những quy định về nhãn hiệu thì nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệthàng hóa và dịch vụ của các cá nhân và tổ chức kinh doanh khác nhau Nhưvậy có thể nói nhãn hiệu gồm 2 loại cơ bản là nhãn hiệu dung cho hàng hóa vànhãn hiệu dung cho dịch vụ
x Nhãn hiệu dùng cho hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa củacác chủ thể khác nhau, nó chủ yếu trả lời cho câu hỏi ai là người sản xuất ranhững loại hàng hóa , chứ không phải trả lời hàng hóa đó là cái gì Nhãn hiệudung cho hàng hóa có thể được gắn ngay trên chính hàng hóa hay trên bao bìcủa hàng hóa đó Hàng hóa được hiểu là những vật phẩm có nguồn gốc tựnhiên hay được sản xuất, chế tạo để bán
x Nhãn hiệu dung cho dịch vụ là những dấu hiệu để phân biệt dịch vụ củanhững chủ thể khác nhau Dịch vụ được hiểu là các hoạt động thực tế, đượcthực hiện theo yêu cầu hay vì lợi ích của bên thuê dịch vụ Khái niệm dịch vụđược hiểu là những dịch vụ độc lập, bao gồm một hành vi cụ thể để thực hiệnmột yêu cầu nhất định qua đó mang lại lợi ích cho chủ thể phía bên kia Trongtrường hợp công ty thực hiện hoạt động bảo hành sau khi hoàn thành khâu muabán cho khách hàng thì đó không được gọi là hoạt động dịch vụ Nhãn hiệudịch vụ thường được gắn trên các bảng hiệu dịch vụ để người có nhu cầuhưởng thụ dịch vụ có thể dễ dàng nhận biết
Trên cơ sở của hai loại nhãn hiệu chính và cơ bản là nhãn hiệu dung cho hànghóa và nhãn hiệu dùng cho dịch vụ thì có thể chia ra các loại nhãn hiệu cụ thểkhác với các đặc điểm riêng biệt như: nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng Các nhãn hiệu này đều thuộc về nhãnhiệu hàng hóa cũng như thuộc về nhãn hiệu dịch vụ
Trang 7x Nhãn hiệu tập thể (collective marks) là nhãn hiệu dùng để phận biệt hànghóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó vóihàng hóa dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác không phải làthành viên của tổ chức đó Nhãn hiệu tập thể là nãh hiệu của tập thể các nhàsản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty ) trong đó tổ chứctập thể xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể (như các chỉtiêu chung về chất lượng, nguồn gốc, phương pháp sản xuất ) và các thànhviên có quyền sử dụng nhãn hiệu nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng đượccác tiêu chuẩn đó Nhãn hiệu tập thể có thể xem là một hình thức liên kết hiệuquả trong việc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của một nhóm doanh nghiệp Đặctrưng của nhãn hiệu tập thể là nhiều chủ thể đều có quyền sử dụng nó nhưngcũng cần lưu ý là khi một tập thể sử dụng nhãn hiệu nhân danh tập thể thì nhãnhiệu này không được coi là nhãn hiệu tập thể mà sẽ chỉ là nhãn hiệu bìnhthường vì nhãn hiệu chỉ do một chủ thể sử dụng.
Ví dụ cho nhãn hiệu tập thể là: Rượu Bàu Đá của Bình Định do chủ sở hữu làHiệp hôi sản xuất và kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định; nhãn hiệu “nướcmắm Phú Yên” hiện nay có 33 cơ sở sản xuất nước mắm ở tỉnh Phú Yên được
sử dụng nhãn hiệu
x Nhãn hiệu chứng nhận (certification marks) là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãnhiệu cho phép tổ chức cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổchức, cá nhân đó để chứng nhận đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cáchthức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác,
độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Nhãnhiệu chứng nhận do các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chấtlượng, đặc tính của hàng hóa, dịch vụ đăng ký sau đó tổ chức này có quyền cấpphép sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu hàng hóa dịch
vụ của họ đáp ứng được các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhậnđặt ra Trong khi nhãn hiệu tập thể chỉ do các thành viên của tập thể sử dụngthì nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai có sản phẩm dịch
Trang 8vụ đáp ứng được yêu cầu định sẵn Tiêu chuẩn ISO 9000 được công nhận trêntoàn thế giới, nhãn hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dung bìnhchọn là ví dụ cho loại nhãn hiệu chứng nhận.
Ví dụ một số nhãn hiệu được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ như: nhãnhiệu Bình Thuận Dragon Fruit của Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận,nhãn hiệu Catba Archipelago Biosphere Reserve Haiphong – Vietnam của SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng…
x Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặctương tự nhau dùng cho sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại hoăc tương tự nhauhoặc có lien quan đến nhau Việc đăng ký nhãn hiệu lien kết mang lại nhiều lợiích cho chủ sở hữu nhãn hiệu Chủ sở hữu các nhãn hiệu lien kết được độcquyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ Nhãn hiệu liên kết tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng khi lựa chọn sảnphẩm hay dịch vụ mới bởi họ biết được về nguồn gốc, xuất xứ hay mỗi liên kếtvới các sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã dung trước đây
x Nhãn hiệu nổi tiếng là loại nhãn hiệu luôn thu hút được sự quan tâm của hầuhết mọi người từ các chủ thể kinh doanh tới người tiêu dung Thuật ngữ “nhãnhiệu nổi tiếng” đã từng được đề cập trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữucông nghiệp và tiếp tục được ghi nhận sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn trong Hiệpđịnh TRIPs Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãnhiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”, ví dụnhư nhãn hiệu Trung Nguyên cho sản phẩm và dịch vụ bán cà phê, Biti’s chogiầy dép, Vietnam Airline cho dịch vụ vận chuyển hàng không…
Quy định nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập thông qua thủ tục công nhận của cơquan nhà nước thẩm quyền chứ không phải thông qua việc nộp đơn đăng kýnhãn hiệu như các loại nhãn hiệu thông thường khác
x Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn
sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký
Trang 9x Theo Luật Sở hữu trí tuệ, các tiêu chí sau đước xem xét khi tiến hành thủ tụccông nhận một nhãn hiệu nổi tiếng
x Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua các hoạtđộng chủ yếu như: mua bán, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ; việc tiếp cận vớinhãn hiệu qua hoạt động quảng cáo của chủ nhãn hiệu
x Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa , dịch vụ mang nhãn hiệu lưu hành,
x Doanh số hoặc số lượng của việc bán hàng hóa,hay cung cấp dịch vụ mangnhãn hiệu
x Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu
x Uy tín rộng rãi của của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
x Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu
x Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng
x Giá trị của nhãn hiệu dưới hình thức dưới hình thức chuyển nhượng quyền sởhữu, chuyển giao quyền sử dụng, góp vốn đầu tư
Nhãn hiệu nổi tiếng khác với các nhãn hiệu thông thường ở danh tiếng củanhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan, vì vậy nó cũng có cơ chếbảo hộ chống lại việc đăng ký và sử dụng bất hơp pháp bởi các chủ thể khác
x Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực các giấy chứngnhận đăng ký nhãn hiệu hoặc đăng ký quốc tế đối với các nhãn hiệu trùng hoặctương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình kể cả trong trường hợp nhãnhiệu đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không trùng hoặc không tương tự nếu việc
sử dụng dấu hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dung về nguồngôc hàng hóa, dịch vụ, có khả năng ảnh hưởng đến sự phân biệt của nhãn hiệunổi tiếng hoặc làm giảm danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng
x Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
áp dụng biện pháp chống lại các hành vi như sau: sử dụng dấu hiệu trùng hoặctương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, sử dụng dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên
âm từ nhãn hiệu đó cho hàng hóa dịch vụ không cùng loại, không tương tự vàkhông lien quan tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nếu việc sử
Trang 10dụng đó có khả năng nhầm lẫn về nguôn gốc hàng hóa, dịch vụ, hoặc gây ấntượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu với chủ thể có nhãnhiệu được công nhận là nổi tiếng.
Trang 112 Những vấn đề cơ bản về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệpđối với nhãn hiệu
Trong bối cảnh thương mại hiện đại, quyền sở hữu đối tượng sở hữu côngnghiệp là loại tài sản có giá trị kinh tế to lớn Chủ sở hữu các đối tượng này cóquyền tiến hành các hành vi để trực tiếp sử dụng, khai thác sang tạo trí tuệ củamình hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho chủ thể khác Hiện nay,việc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng này là rất phổ biến và quan trọng,đặc biệt trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì chuyển giaonhãn hiệu là diễn ra nhiều nhất và cũng chính ở lĩnh vực này xảy ra nhiều tranhchấp nhất trong quá trình chuyển giao
Để hợp pháp hóa việc chuyển giao nhãn hiệu thì việc giao kết và thực hiện hợpđồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là điều tất yêúTheo Điều 753, Bộ luật Dân sự quy định: “ Quyền sở hữu công nghiệp đối vớisang chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mậtkinh doanh, nhãn hiệu, quyền đối giống cây trồng có thể được chuyển giaotoàn bộ hoặc một phần theo hợp đồng hoặc để thừa kế, kế thừa”
Những quy định về chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu cũng dựa trên nhữngquy định về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trong pháp luật Việt Nam.Luật sở hữu trí tuệ quy định hai phương thức chuyển giao quyền sở hữu côngnghiệp cở bản là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp Tương tự như vậy đối với việc chuyểngiao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng có hai phương thức làchuyển nhượng nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu(li-xăng nhãnhiệu) Việc chuyển nhượng nhãn hiệu hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệuphải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản
Sự khác nhau cơ bản giữa chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng là đối vớichuyển nhượng nghĩa là chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao vĩnh viễn quyền sởhữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của mình cho người khác, trong khi đóchuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc cho phép chủ thể khác ( cá nhân haytổi chức) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu trong phạm vi
Trang 12quyền sử dụng của mình Nếu chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu thông quahợp đồng chuyển nhượng thì chủ sở hữu sẽ thu được một khoản vật chất nhấtđịnh nhưng đồng thời quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đó sẽ chấm dứt Còn đốivới hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thì chủ sở hữu cũng vẫn thuđược một khoản lợi ích vật chất nhất định và đồng thời bảo lưu được quyền sởhữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chuyển nhượng nhãn hiệu chỉ phù hợp khi chủ sở hữu không có nhu cầu sửdụng và khai thác, hoặc do thiếu vốn, hoặc không đủ điều kiện để tiếp tục kinhdoanh sản xuất hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc các lý do khác.Thay vì chuyển giao hết quyền sở hữu công nghiệp chủ sở hữu có thể lựa chọncách chuyển quyền , và trên thực tế, việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu diễn
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là sự thỏa thuận giữa haibên, theo đó một bên (gọi là bên chuyển nhượng) chuyển quyền sở hữu độcquyền sở hữu công nghiệp sang cho bên kia (gọi lầ bên được chuyển giao), cònbên được chuyển giao phải thanh toán tiền cho bên chuyển giao theo thỏathuận
Tương tự như vậy, hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu là văn bản ghi nhận sựthỏa thuận của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc chuyển giao toàn bộ quyền sở
Trang 13nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu kể từ thời điểm hợp đồng được đăng kýtại cơ quan nhà nước có thẩm quyển và có nghĩa vụ trả phí chuyển nhượng.Nhãn hiệu là tài sản phi vật chất mà ít ai nhận biết được giá trị của chúng nếukhông có sự hiểu biết sâu rộng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp Để địnhgiá đúng và chính xác giá trị của nhãn hiệu không những phải xem xét hệ thống
sổ sách rõ ràng mà còn phải thực hiện các nghiên cứu và đánh giá thị trườngmột cách nghiêm túc, bài bản Vì vậy khi thự c hiện ký kết hợp đồng các bênchuyển nhượng cần phải nghiên cứu kĩ các điều khoản để việc chuyển nhượngnhãn hiệu diễn ra một cách công bằng, chính xác; đảm bảo việc chuyển nhượngdiễn ra đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định qua đó thỏa mãn mục đíchcủa các bên tham gia
2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu
x Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu nói riêng hay hợp đồng chuyển nhượngquyền sở hữu công nghiệp nói chung là loại hợp đồng mua bán đặc thù (muabán quyền tài sản), do vậy phải tuân thủ theo quy định của hợp đồng mua bánnói chung Tuy nhiên do đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng là nhãn hiệu(độc quyền sở hữu công nghiệp) nên hợp đồng này cũng phải tuân thủ theo cácquy định riêng của quyền sở hữu trí tuệ
x Hậu quả pháp lý của hợp đồng: chấm dứt hoàn toàn quyên của chủ văn bằngbảo hộ đối với bên chuyển giao, bên nhận chuyển nhượng sẽ trở thành chủ sởhữu nhãn hiệu kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại Cục sởhữu trí tuệ Mọi quyền và nghĩa vụ đang tồn tại đối với người thứ ba cũng sẽđược chuyển cho bên được chuyển giao, sang cho bên nhận chuyển nhượng vớiđiều kiện điều đó phải được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng
x Chỉ được chuyển nhượng trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Trang 14x Bên được chuyển nhượng là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng, khaithác nhãn hiệu Thông qua hợp đồng chuyển nhượng thì bên được chuyểnnhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu, và có các quyền của chủ sở hữu theoquy định của pháp luật Đối với việc chuyển nhượng nhãn hiệu, bên đượcchuyển nhượng phải đáp ứng các yêu cầu nộp đơn mà pháp luật quy định đốivới từng loại nhãn hiệu tương ứng.
2.1.4 Đối tƣợng của hợp đồng
Về đối tượng của hợp đồng là nhãn hiệu, việc chuyển nhượng quyền sở hữucông nghiệp đối với nhãn hiệu không được gây nên sự nhầm lẫn về nguồn gốc,đặc tính của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Đối với việc doanh nghiệp cónhãn hiệu trùng với tên thương mại của mình thì việc chuyển nhượng riêngnhãn hiệu có thể bi từ chối đăng ký bởi lẽ việc chuyển nhượng riêng đó có thểkhiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm mangnhãn hiệu Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu liên kết chỉ được thựchiên đồng thời với tất cả nhãn hiệu lien kết Việc chuyển nhượng quyền sở hữunhãn hiệu nổi tiếng phải đảm bảo duy trì uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang
Trang 15nhãn hiệu nổi tiếng đó Luật pháp một số quốc gia chỉ cho phép việc chuyểnnhượng nhãn hiệu cùng với việc chuyển nhượng cả danh tiếng và cơ sở sảnxuất, kinh doanh gắn với nhãn hiệu đó với lập luận rằng việc chỉ chuyển
nhượng nhãn hiệu sẽ gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dung Tuy nhiên xuhướng phổ biến là cho phép tự do chuyển nhượng nhãn hiệu miễn là bên đượcchuyển nhượng vẫn bảo đảm chất lượng ổn định của sản phẩm hoặc dịch vụ sửdụng nhãn hiệu
2.1.5 Nội dung của hợp đồng
Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải có các nội dung chủ yếu sau:
x Tên (họ tên) và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyểnnhượng
x Căn cứ chuyển nhượng: văn bằng bảo hộ mà bên chuyển nhượng là chủ vănbằng, ở đây văn bằng bảo hộ là giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
x Đối tượng chuyển nhượng: nhãn hiệu Các bên có thể thỏa thuận đối tượngcủa hợp đồng chuyển nhượng là toàn bộ quyền sở hữu đối với toàn bộ khốilượng bảo hộ dối tượng sở hữu công nghiệp hoặc một phần khối lượng bảo hộ Các bên có thể thỏa thuận đồng thời nhiều đối tượng có lien quan đến nhau, ví
dụ như chuyển đổi kiểu dáng công nghiệp cùng với nhãn hiệu hàng hóa gắntrên sản phẩm được sản xuất trên nhãn hiệu tương ứng
x Giá chuyển nhượng: giá cả chuyển nhượng được các bên thỏa thuận Trongtrường hợp bên chuyển nhượng là tổ chức nhà nước hoặc có vốn do nhà nướcgóp lien doanh thì giá chuyển nhượng không thấp hơn mức tối thiểu Trongtrường hợp bên nhận chuyển nhượng là tổ chức nhà nước hoặc có vốn do nhànước góp liên doanh thì giá cả chuyển nhượng không được cao hơn mức tối đa.Các mức tối đa và tổi thiểu này do Bộ Tài chính cùng với Bộ Khoa học vàCông nghệ ấn định
Trang 16x Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên:
x Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng: Đăng ký hợp đồng, trừ trường hợp cácbên thỏa thuận rằng việc đăng ký do bên nhận chuyển nhượng đảm nhiệm, nộpthuế chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật về thuế, giải quyết cáctranh chấp với người thứ ba nếu việc chuyển nhượng gây nên tranh chấp đó
x Nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng: Đăng ký hợp đồng nếu có thỏathuận, trả tiền chuyển nhượng của bên chuyển nhượng theo mức và theo cáchthức do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp chuyển nhượng không đền bù (tặngcho quyển sở hữu công nghiệp) Với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu: bênnhận chuyển nhượng phải chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa mang nhãnhiệu được chuyển nhượng nếu điều đó là cần thiết và phải đảm bảo chất lượnghàng hóa như hàng hóa do bên chuyển nhượng sản xuất Hơn nữa, bên nhậnchuyển nhượng phải cam kết bảo đảm hàng sản xuất ra có gắn nhãn hiệu sẽ cóchất lượng không kém với chất lượng của hàng hóa gắn nhãn hiệu trước đó.Cam kết này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho những người tiêu dung đangđặt niềm tin vào nhãn hiệu đó
x Người thứ ba trong hợp đồng chuyển nhượng có thể là các chủ thể đã đượccấp li-xăng đối với nhãn hiệu đó Khi đó hai bên có thể thỏa thuận rằng cácquyền và nghĩa vụ của hợp đồng li-xăng đang tồn tại sẽ được chuyển giao chosang cho bên nhận chuyển nhượng Khi đó hợp đồng li-xăng vẫn tiếp tục cóhiệu lực cho đến hết hạn
Ngoài ra hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu còn bao gồm điều kiện sửa đổi,chấm dứt, vô hiệu hợp đồng; cách thức giải quyết khiếu nại tranh chấp; ngày vànơi ký kết hợp đồng; chữ ký của các bên hoặc đại diện có thẩm quyền của cácbên kèm theo họ tên, chức vụ của người ký và xác nhận chữ ký
2.1.6 Hình thức của hợp đồng
Trang 17Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải được lập dưới hình thức bằng vănbản Mọi thỏa thuận miệng, công văn, thư từ, điện báo đều không được coi làhợp đồng chuyển nhượng và không có giá trị pháp lý.
2.1.7 Đăng ký hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu
Để hoàn tất việc chuyển nhượng nhãn hiệu các bên phải tiến hành thủ tục đăng
ký hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu theo quy định của pháp luật tại Cục sởhữu trí tuệ mới có hiệu lực Yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký, thủ thục đăng kýhợp đồng chuyển nhượng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định,khi các bên muốn thay đổi hay bổ sung nội dung hợp đồng thì thỏa thuận thayđổi hay bổ sung đó cũng phải được đăng ký
Hồ sở đề nghị đăng ký bao gồm: tờ khai đề nghị đăng ký hợp đồng chuyểnnhượng (làm 2 bản theo mẫu của Cục sở hữu trí tuệ); bản gốc hoặc bản sao hợpđồng ( nếu hợp đồng làm bằng ngôn ngữ khác tiếng việt phải kèm theo bandịch hợp đồng); bản gốc văn bằng bảo hô nhãn hiệu; văn bản đồng ý chuyểnnhượng nhãn hiệu( nếu quyền sở hữu nhãn hiệu là sở hữu chung); giấy phépkinh doanh của bên nhận chuyển nhượng; giấy ủy quyền(nếu nộp hồ sơ thôngqua đại diện); quyết định phê duyệt hợp đồng của Bộ trưởng bộ khoa học côngnghệ; chứng từ nộp lệ phí
Thời gian ghi nhận chuyển nhượng: 02 tháng
2.2 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
2.2.1 Khái niệm
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là thỏa thuận về việc chuyển quyền
sử dụng nhãn hiệu phải được xác lập thông qua hình thức hợp đồng văn bản,thường được gọi là hợp đồng li-xăng nhãn hiệu Theo nghĩa tiếng Anh, li-xăngđược dịch ra bởi từ “licence” có nghĩa là sự cho phép Vì vậy tổ chức, cá nhânmuốn sử dụng nhãn hiệu đang được bảo hộ phải được chủ sở hữu cho phép sửdụng dưới hình thức hợp đồng sử dụng nhãn hiệu Thông qua hợp đồng này,
Trang 18những chủ sở hữu khác không phải là chủ sở hữu của nhãn hiệu cũng có thể sửdụng, khai thác một cách hợp pháp nhãn hiệu đó trong phạm vi và thời hạn cácbên thỏa thuận Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại cơ quan nhànước có thẩm quyền Việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không những đemlại lợi nhuận cho doanh nghiệp, mặt khác có thể giúp họ nhanh chóng thâmnhập thị trường trong nước hoặc nước ngoài thông qua bên sử dụng nhãn hiệunếu doanh nghiệp đó không thể thâm nhập vào thị trường này do các điều kiện
về thị trường, thuế, chi phí vận chuyển hoặc do quy định của pháp luât Việccho phép chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu giúp làm tăng sự có mặt của doanhnghiệp trên thị trường dồng thời làm tăng danh tiếng thông qua sự công nhậnnhãn hiệu sản phẩm Bên nhận quyền sử dụng có thể thu được những lợi íchvật chất lớn từ việc chuyển quyền sử dụng, không cần chi phí cho việc đầu tư,nghiên cứu và phát triển sang tạo trí tuệ đó, tránh được các rủi ro và dễ dàng cóđược một vị trí trên thương trường Đây cũng là cách thức cơ bản để các doanhnghiệp nội địa được sử dụng nhãn hiệu của các công ty nước ngoài, đặc biệt làcác nước đang phát triển được nhận li-xăng từ các nước phát triển
2.2.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
x Là hợp đồng chuyển quyền sử dụng, nhưng có tính chất khác với hợp đồngchuyển quyền sử dụng tài sản thông thường như hợp đồng thuê tài sản Tronghợp đồng thuê tài sản, bên cho thuê được chuyển giao tài sản cho bên thuê để
sử dụng trong một thời hạn và bên thuê được sử dụng một cách tuyệt đối, bêncho thuê không có khả năng sử dụng, khai thác tài sản này.Còn đối với hợpđồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp,bên chuyền quyền
có thể vừa khai thác đối tượng này đồng thời cho người khác cùng sử dụng
x Quyền sử dụng được chuyển giao bị giới hạn về không gian và thời gianThời hạn của hợp đồng có thể do các bên thỏa thuận nhưng luôn bị giới hạn bởithời hạn bảo hộ nhãn hiệu Trong hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu côngnghiệp nói chung luôn có điều khoản về lãnh thổ, nhằm xác định giới hạn về
Trang 19mặt không gian bảo hộ trong đó bên được chuyển quyền được phép tiến hànhviệc sử dụng nhãn hiệu.
2.2.3 Chủ thể của hợp đồng
x Bên chuyển quyền: là chủ sở hữu nhãn hiệu – người được cơ quan nhà nướccấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc được chuyển giao quyền sở hữu hợp phápnhãn hiệu đó Bên chuyển quyền cũng có thể là người được chủ sở hữu nhãnhiệu chuyển quyền sử dụng độc quyền nhãn hiệu và được phép chuyển giaoquyền sử dụng cho bên thứ ba
x Bên được chuyển quyền là tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu.thông qua hợp đồng, bên được chuyển quyền được phép sử dụng nhãn hiệutrong phạm vi, thời hạn mà các bên thỏa thuận, đồng thời có nghĩa vụ trả phínếu thỏa thuận
Các bên trong hợp đồng có thể ủy quyền cho cá tổ chức dịch vụ đại diện thaymặt mình tham gia giao kết và thực hiện các thủ tục liên quan đến việc đăng kýhợp đồng sử dụng nhãn hiệu
Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hànghóa, bao bì hàng hóa về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụngnhãn hiệu
2.2.4 Đối tƣợng của hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng nhãn hiệu tuy nhiên ngoại trừ nhãnhiệu tập thể không thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thànhviên của tổ chức tập thể đó
2.2.5 Nội dung của hợp đồng
Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải có cácnội dung chủ yếu sau: tên và địa chỉ đầy đủ của các bên, căn cứ chuyển giaoquyền sử dụng, dạng hợp đồng, phạm vị chuyển giao (giớ hạn quyền sử dụng, 20
Trang 20giới hạn lãnh thổ), thời hạn hợp đồng, giá chuyển giao, quyền và nghĩa vụ củacác bên.
x Đối tượng của hợp đồng: quyền sử dụng nhãn hiệu
Các bên có thể thỏa thuận bên được chuyển quyền được sử dụng nhãn hiệu chotoàn bộ hoặc chỉ một số hàng hóa hoặc dịch vụ được đăng ký kèm theo…Cácbên có thể thỏa thuận về giới hạn hành vi sử dụng mà bên được chuyển quyềnđược phép thực hiện: được thực thiên một số hành vi sử dụng thuộc độc quyềncủa bên giao hay được được thực hiện tất cả các hành vi sử dụng
x Căn cứ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Hợp đồng li-xăng chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý nếu bên chuyển quyền có tưcách chuyển quyền sử dụng Nếu bên chuyển quyền là chủ sở hữu thi hợp đồngphải xác định rõ văn bằng bảo hộ thuộc sở hữu của bên chuyển quyền (tên vănbằng bảo hộ, số văn bằng, ngày cấp, thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ)
x Phạm vi chuyển quyền sử dụng
Điều khoản về phạm vi chuyển giao chỉ rõ: điều kiện giới hạn quyền sử dụngcủa bên được chuyển quyền (dạng sử dụng độc quyền hay không độc quyền);phạm vi đối tượng mà bên được chuyển quyền được sử dụng (toàn bộ hay mộtphần khối lượng bảo hộ được xác lập thep văn bằng bảo hộ); giới hạn hành vi
sử dụng của bên được chuyển quyền (được thực hiện toàn bô hay một số hành
Trang 21x Thời hạn hợp đồng:
Thời hạn hợp đồng phải thuốc thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hoặc nếu hợp đồng sửdụng nhãn hiệu thứ cấp thì thời hạn của nó phải trong thời hạn của hợp đồngcấp trên
x Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng
x Nghĩa vụ của bên chuyển quyền:
Chỉ được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc độc quyền trong phạm viđược pháp luật bảo hộ và trong thời hạn bảo hộ
Bảo đảm việc chuyển quyền sử dụng không gây tranh chấp với bên thứ ba, nếutranh chấp xảy ra phải giải quyết vì lợi ích của bên được chuyển quyền
Bên chuyển quyền không được đưa ra những điều khoản hạn chế bất hợp lýquyền của bên được chuyển quyền Ví dụ như hạn chế bên được chuyển quyềnxuất khẩu sản phẩm mang nhãn hiệu sang các vùng lãnh thổ không phải là nơi
mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền sở hữu nhãn hiệu tương ứng, hoặc có độcquyền nhập khẩu hàng hóa đó; buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộhoặc một tỷ lệ nhất định các linh kiện, nguyên liệu hoặc thiết bị của bên
chuyển quyền hoặc bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằmmục đích bảo đảm chất lượng sản phẩm do bên được chuyển quyền sản xuấthoặc cung cấp; cấm bên được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của vă bằngbảo hộ nhãn hiệu hoặc quyền chuyển giao của bên chuyển quyền Các điềukhoản như vậy nếu tồn tại thì hợp đồng mặc nhiên bị coi là vô hiệu
Đăng ký hợp đồng nếu bên được chuyển quyền không có nghĩa vụ này
Nộp thuế chuyển quyền sử dụng thep pháp luật về thuế
x Quyền của bên chuyển quyền:
Nhận phí chuyển giao theo mức và cách do các bên thỏa thuận.’
Trang 22Có quyền hạn chế bên được chuyển quyền không chuyển quyền sử dụng chobên thứ ba, trừ hợp đồng sử dụng độc quyền.
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thì bên chuyên giao có quyền kiểmtra chất lượng hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhận để đảm bảo hàng hóasản xuất co chất lượng như hàng hóa do mình sản xuất Bên giao thực hiệnquyền này nhằm bảo vệ uy tín của nhãn hiệu ngăn chặn bên được chuyển giaolợi dụng uy tín của nhãn hiệu để bán hàng hóa kém chất lượng, gây thiệt hạicho người tiêu dùng và cho chính chủ sở hữu nhãn hiệu
x Nghĩa vụ của bên được chuyển quyền
Đăng ký hợp đồng (nếu bên chuyển quyền không có nghĩa vụ này); trả phí xăng theo mức và phương tiên thanh toán đã thỏa thuận; ghi chỉ dẫn trên bảo bìsản phẩm về việc được sản xuất theo li-xăng do bên chuyển quyền cấp
li-x Quyền của bên được chuyển quyền:
Sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi, thời hạn và điều kiện ghi trong hợp đồng
x Giá chuyển giao quyền sử dụng và phương thức thanh toán
x Sửa đổi, đình chỉ , vô hiệu hợp đồng
Hợp đồng chuyển quyền mặc nhiên bị đình chỉ nếu quyền sở hữu công nghiệpcủa bên chuyển quyền bị đình chỉ hoặc xảy ra sự kiện bất khả kháng làm chohợp đồng không thể được thực hiện Hợp đồng mặc nhiên bị vô hiệu nếu quyền
sở hữu công nghiệp của bên chuyển quyền bị huy bỏ
xGiải quyết tranh chấp hợp đồng
Các bên thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp hợp đồng theo phương thức
tự thương lượng, thông qua trọng tài hoặc giải quyết ở tòa án hoặc kết hợp cácphương thức trên
Trang 23Trong chiến lược giao kết sử dụng nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu của các đốitác nước ngoài thì các đối tác Việt Nam cần chú ý xem xét các yêu tố quantrọng như sau: nguy cơ phải chia sẻ thị trường với các đối thủ cạnh tranh kháctrong trường hợp nhận li-xăng không độc quyền, tác động đến doanh thu và lợinhuận kỳ vọng của dòng hàng hóa nhập khẩu song song, sự gia tăng giá trịnhãn hiệu cho đối tác nước ngoài từ các nỗ lực tiếp thị, quảng bá của đối tácViệt Nam.
2.2.6 Hình thức của hợp đồng
Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải được lập bằng văn bản vớithỏa thuận của các bên, mọi hình thức giao kết khác đều không có giá trị pháplý
2.2.7 Thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn
hiệuHợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có hiệu lực theo thỏa thuận của cácbên nhưng chỉ có giái trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tạiCục sở hữu trí tuệ và sẽ mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu côngnghiệp của bên giao bị chấm dứt
Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu gồm các nội dungchính sau:
x tên đây đủ và địa chỉ của bên giao li-xăng và bên nhận li-xăng
x thông tin chi tiết về nhãn hiệu được chuyển giao
x phạm vi li-xăng trong đó ghi rõ dạng hợp đồng là độc quyền hay không độcquyền
x đối tượng của hợp đồng
xphạm vi lãnh thổ của hợp đồng
Trang 24x thời hạn của hợp đồng
Mọi thay đổi như sửa đổi, bổ sung , chấm dứt, gia hạn hiệu lực đối với hợpđồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đã được đăng ký phải được các bên kýkết bằng văn bản dưới hình thức hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu côngnghiệp sửa đổi, bổ sung và phải đăng ký như đối với hợp đồng chính mới cógiá trị pháp lý đối với bên thứ ba; việc dịch chuyển của mỗi bên theo hợp đồng
đã ký cho bên thứ ba cũng phải được đăng ký
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO NHÃN HIỆU
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Giao kết hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
1.1 Hợp đồng dân sự
1.1.1 Khái niệm
x Khái niệm hợp đồng dân sựTheo Bộ luật Dân Sự 2005, Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên vềviệc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Hợp đồng dân sự chính là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi
ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền
và nghĩa vụ nhất định
Theo nghĩa khách quan (rộng): hợp đồng là 1 chế định pháp luật bao gồm hệthống quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trên thỏa thuận, làmphát sinh một hậu quả pháp lý
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiềumối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những
Trang 25quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với
mọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không
phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất)
không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ
được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể C.Mác nói rằng:
"Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được
Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối
xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó"
Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia
chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc
chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Do đó, chỉ khi
nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích
vật chất mới được hình thành Quan hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự Như
vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thoả thuận bằng
ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật
(chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý
chí của Nhà nước Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng nhưng
sự "tự do" ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích
chung của xã hội và trật tự công cộng Nếu để các bên tự do vô hạn thì hợp
đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là
nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn
đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các "quan hệ pháp luật tư", các
việc dân sự không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can
Khi ý chí của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước thì hợp
đồng dân sự có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết Nghĩa là, từ lúc
đó, các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lí nhất định Sự "can
Trang 26thiệp" của nhà nước không những là việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng
phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực
hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thoả thuận Theo nội dung đã
cam kết, dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện đối với nhau các
Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diện
khác nhau Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là do các quy
phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với
nhau
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong
đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Theo phương diện này,
hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng
khái quát Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì "hợp đồng dân sự là sự thoả
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc
hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một
hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng" (Điều 1 Pháp lệnh
hợp đồng dân sự năm 1991) Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũng rơi vào tình trạng
không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các
hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, BLDS đã định nghĩa nó ở dạng khái quát
hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ Luật Dân Sự 2005)
Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao
tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để
thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và
pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng
Trang 27được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để thoả mãn nhu cầu trao đổi
trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là
yêu cầu của nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó Các bộ cổ luật đã từng
tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy
định riêng về hợp đồng Nghĩa là, trong các thời kì đó, ở Việt Nam chưa có
“luật riêng” về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều
quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau Các quy định của hợp đồng
không nhiều, chủ yếu quy định về mua bán cho vay, ngoài ra, các nguyên tắc
chung về giao kết thực hiện hợp đồng được quy định xen kẽ trong các quy định
hình sự Hành vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm pháp luật, cho nên người
Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệt giữa
một hợp đồng dân sự với một hợp đồng kinh tế nếu nội dung của chúng đều là
Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần
kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay
đổi theo Hợp đồng thương mại trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích
kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau càng
làm mờ nhạt ranh giới giữa nó với hợp đồng dân sự Có những quy định của
pháp luật là cơ sở pháp lí để áp dụng chung cho cả hai loại hợp đồng này mặc,
dù chúng thuộc đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật khác nhau
Tuy nhiên, yêu cầu của quá trình tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các
tranh chấp từ hợp đồng, đòi hỏi cần phải có sự phân biệt rạch ròi giữa một hợp
đồng thương mại với một hợp đồng dân sự Có thể nói rằng hợp đồng thương
mại và hợp đồng dân sự như một cặp song sinh Vì vậy, trong thực tế có rất
nhiều hợp đồng không thể phân biệt được là hợp đồng thương mại hay hợp
đồng dân sự Để có thể phân biệt được hai loại hợp đồng này phải xác định
Trang 28được cụ thể mục đích của từng loại hợp đồng Nếu các bên chủ thể (hoặc ítnhất có một bên) tham gia hợp đồng với mục đích thoả mãn nhu cầu sinh hoạttiêu dùng thì hợp đồng đó được xác định là hợp đồng dân sự Vì vậy, chỉ đượccoi là hợp đồng thương mại khi các bên chủ thể tham gia đều nhằm mục đíchkinh doanh Tuy nhiên, mục đích tham gia cũng chỉ là một cơ sở mang tínhtương đối trong việc phân biệt giữa hai loại hợp đồng vì rằng có những hợpđồng cả hai bên đều mang mục đích kinh doanh nhưng không thể coi đó là hợpđồng thương mại được nếu có một bên chủ thể là cá nhân không có đăng kíkinh doanh.
x Đặc điểm
Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự thì hợp đồng dân
sự có hai nét cơ bản đó là : Sự thỏa thuận giữa các bên và làm phát sinh quyền vànghĩa vụ pháp lý
Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứađựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên Việcgiao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiệnchí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không đượctrái với pháp luật và đạo đức xã hội
Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sựphải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý đơnphương, song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồngđều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của phápluật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phảiđáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…)
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi hoặcchấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Trang 29x Hình thức của hợp đồng dân sự
Những điều khoản mà các bên đã cam kết thoả thuận phải được thể hiện ra bênngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác, hình thức của hợpđồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tùythuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tintưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việcgiao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể Tại Điều 401,BLDS đã quy định:
1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằnghành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phảiđược giao kết bằng một hình thức nhất định
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằngvăn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc phải xin phép thìphải tuân theo các quy định đó
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác
x Nội dung hợp đồng dân sự
o Đối tượng của hợp đồng
o Số lượng, chất lượng
o Giá, phương thức thanh toán
o Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
o Quyền, nghĩa vụ các bên
o Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
o Phạt vi phạm hợp đồng
o Các nội dung khác
Trang 30Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà ở hợp đồng nàycác bên không cần thoả thuận nhưng ở một hợp đồng khác, các bên lại buộcphải thoả thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác, ngoài nhữngnội dung cụ thể này, các bên còn có thể thoả thuận để xác định với nhau thêmmột số nội dung khác Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội dungcủa hợp đồng thành ba loại sau:
a Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng Đó là nhữngđiều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng Nếu không thoảthuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được Điềukhoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do phápluật quy định Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đốitượng, giá cả, địa điểm Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơbản, vì không thoả thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng Chẳng hạn,điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua bán tàisản Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bảnnhưng các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đó mới giao kết hợpđồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽgiao kết
b Điều khoản thông thường
Là những điều khoản được pháp luật quy định trước Nếu khi giao kết hợpđồng, các bên không thoả thuận những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên
đã mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định Khácvới điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tớiquá trình giao kết hợp đồng Để giảm bớt những công việc không cần thiết
Trang 31vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng cácbên vẫn phải thực hiện những điều khoản đó Vì vậy, nếu có tranh chấp vềnhững nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Ví dụ: Địa điểm giao tài sản động sản(đối tượng của hợp đồng mua bán) là tại nơi cư trú của người mua nếu ngườimua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thoả thuận về địa điểm giaotài sản
c Điều khoản tùy nghi
Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và nhữngđiều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn
có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nộidung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trongquá trình thực hiện hợp đồng Các điều khoản này được gọi là điều khoản tùynghi
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợpđồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân
sự của các bên Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựachọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao chothuận lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia
Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản cơbản, có thể là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùynghi Chẳng hạn, địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điềukhoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thoả thuận cụ thể về nơi giao vật.Ngược lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thoả thuận màmặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật Mặt khác, địađiểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thoả
Trang 32thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thựchiện nghĩa vụ giao vật.
1.1.2 Giao kết
Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo nhữngnguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa
vụ dân sự
a Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Theo quy định tại Điều 390 BLDS, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải tuântheo các nguyên tắc sau đây:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thoả mãn được các nhu cầu về đời sống vậtchất cũng như tinh thần, BLDS cho phép mọi chủ thể được quyền "tự do giaokết hợp đồng" Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cáchchủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì một hợp đồng dân sự nào, nếu họmuốn mà không ai có quyền ngăn cản Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể
có quyền giao kết những hợp đồng dân sự đã được pháp luật quy định cụ thểcũng như những hợp đồng dân sự khác dù rằng pháp luật chưa quy định Tuynhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnhviệc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảmquyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, tự docủa mỗi chủ thể phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội Nằm trong mối liên
hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền "tự dogiao kết hợp đồng" vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợiích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi
là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng
Trang 33dân sự nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi nói chung của họ.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không chophép các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng dân sự thànhphương tiện bóc lột
- Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ dân sự Quy luật giá trị đòi hỏicác bên khi thiết lập các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau Không một
ai được lấy lí do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo,hoàn cảnh kinh tế v.v để làm biến dạng các quan hệ dân sự Mặt khác, chỉ khinào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồngthì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm Vì vậy, theo nguyêntắc trên, những hợp đồng được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tựnguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đánh giámột hợp đồng có phải là ý chí tự nguyện của các bên hay không là một côngviệc tương đối phức tạp và khó khăn trong thực tế
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia Vìthế, muốn xem xét các chủ thể có tự nguyện trong giao kết hợp đồng haykhông, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: Ý chí và
sự bảy tỏ ý chí Như chúng ta đã biết, ý chí là mong muốn chủ quan bên trongcủa mỗi một chủ thể Nó phải được bày tỏ ra bên ngoài thông qua một hìnhthức nhất định Ý chí và sự bày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề, chúng luôn
có quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít với nhau
Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhất giữa ý muốn chủ quan bên trong và sựbày tỏ ý chí đó ra bên ngoài Vì vậy, để xác định một hợp đồng dân sự có tuântheo nguyên tắc tự nguyện hay không cần phải dựa vào sự thống nhất ý chí của
Trang 34người giao kết hợp đồng và sự thể hiện (bày tỏ) ý chí đó trong nội dung củahợp đồng mà người đó đã giao kết Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánhmột cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giaokết thì việc giao kết đó mới được coi là tự nguyện.
Như vậy, tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc
đe dọa đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khigiao kết Và vì thế, nó sẽ bị coi là vô hiệu (xem thêm Điều 131, Điều 132BLDS)
b Trình tự giao kết hợp đồng
Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bảy tỏ ýchí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc cùngnhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau Thực chất, đó
là quá trình mà hai bên "mặc cả" về những điều khoản trong nội dung của hợpđồng Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
* Đề nghị giao kết hợp đồng
Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải thể hiện
ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định Chỉ có như vậy, phía đối tác mới
có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kếthợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mìnhtrước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giaokết với người đó một hợp đồng dân sự
Để người mà mình muốn giao kết hợp đồng với họ có thể hình dung được hợpđồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp
Trang 35hiện bằng nhiều cách khác nhau Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) vớingười được đề nghị để trao đổi, thoả thuận hoặc có thể thông qua điện thoạiv.v Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là một khoảng thời gian dohai bên thoả thuận ấn định Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thựchiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện Trong nhữngtrường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định.
Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, Điều 390 BLDS đã quy định:
"Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu ró thời hạn trả lời, nếubên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được
đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà khôngđược giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh"
Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã cótính chất ràng buộc đối với người đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thểthay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau:
- Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị
- Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điềukiện đó đã đến
Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được
đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận
* Chấp nhận giao kết hợp đồng
Là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kếthợp đồng với người đã đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lờingay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Trong những trường
Trang 36hợp, cần phải có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên
đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó.Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giaokết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bênchậm trả lời
Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu của bưuđiện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghịxác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định
Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉchấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kếthợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra Nghĩa
là trong những trường hợp này, người được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thayđổi nội dung mà người đề nghị đã đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở thành người đề nghịmới và người đã đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị Người đềnghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sựhoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thoảthuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thứcgiao kết hợp đồng
1.1.3 Thực hiện
Thực hiện hợp đồng dân sự là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi bên thamgia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của bênkia Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự, các bên phải tuân theo các nguyên tắcnhư thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thờihạn, phương thức và các thoả thuận khác Thực hiện một cách trung thực, theo tinhthần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau Không được xâmphạm đến công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác
Trang 37o Nội dung thực hiện hợp đồng dân sự
Khi thực hiện hợp đồng dân sự ngoài việc tuân thủ các quy tắc đã được quy định thìviệc thực hiện hợp đồng còn phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định đối với từngloại hợp đồng cụ thể như sau:
Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoảthuận; chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý
Đối với hợp đồng song vụ: Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thờihạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn;không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình,Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì cácbên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiệnđồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phảiđược thực hiện trước
Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗicủa bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mìnhhoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
o Sửa đổi hợp đồng
Sửa đổi hợp đồng dân sự là việc các bên đã tham gia giao kết hợp đồng bằng ý chí tựnguyện của mình thỏa thuận với nhau để phủ nhận (làm thay đổi) một số điều khoảntrong nội dung của hợp đồng đã giao kết
Sau khi hợp đồng đã được sửa đổi, các bên thực hiện hợp đồng theo những phầnkhông bị sửa đổi trong nội dung của hợp đồng trước đó cùng với những nội dung mớiđược sửa đổi đồng thời cùng nhau giải quyết những hậu quả khác của việc sửa đổihợp đồng
Điều 423 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc sửa đổi hợp đồng dân sự như sau:
Trang 381 Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việcsửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2 Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng,chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuântheo hình thức đó
sự thỏa thuận nói trên
Và chủ thể giao kết hợp đồng không tồn tại tại thời điểm đó Trường hợp này hợpđồng không có một bên hoặc nhiều bên để thực hiện Ví dụ: Người giao kết hợp đồngchết, tổ chức giải tán, chấm dứt hoạt động…
1.2 Hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu
1.2.1 Hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu
Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữucông nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.Việc chuyển nhượng quyền này phải thực hiện bởi hình thức hợp đồng bằngvăn bản gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
Trang 39Có một số hạn chế trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp như:Chỉ được chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp trong phạm vi được bảohộ.
Quyền sử dụng chỉ dẫn điạ lý không được chuyển nhượng
Quyền sở hữu tên thương mại chỉ được chuyển nhượng kèm theo toàn bộ cơ sởkinh doanh và hoạt động kinh doanh với tên thương mại đó
Quyền sở hữu nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng nếu không gây sự nhầm lẫn
về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó Quyền đốivới nhãn hiệu chỉ được chuyển giao cho tổ chức cá nhân đáp ứng điều kiện đốivói người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó (Điều 138, Điều139 Luật SHTT).Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hóa là văn bản ghi nhận sự thỏathuận của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữucủa mình đối với nhãn hiệu hàng hóa đó cho tổ chức, cá nhân khác
Nhãn hiệu hàng hóa là tài sản phi vật chất mà ít ai nhận biết được giá trị củachúng nếu không có sự hiểu biết sâu rộng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công
nghiệp Để định giá đúng và chính xác giá trị nhãn hiệu, không những phảixem xét hệ thống sổ sách rõ ràng và minh bạch, mà còn phải thực hiện cácnghiên cứu và đánh giá thị trường một cách nghiêm túc và bài bản Chính vìvậy, khi thực hiện ký kết hợp đồng các bên chuyển nhượng cần nghiên cứu kĩcác điều khoản Chuyển nhượng nhãn hiệu được diễn ra một cách công bằng,chính xác giá trị thực có của nhãn hiệu; đảm bảo việc chuyển nhượng diễn rađúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định qua đó thỏa mãn mục đích của cácbên tham gia
Để hoàn tất việc chuyển nhượng thương hiệu, nhãn hiệu, các bên phải tiếnhành thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
x Hình thức hợp đồng