Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (tt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THÚY DUNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIÊT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Nguyên Khánh
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Vân
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trọng tài thương mại từ lâu đã là một phương thức phổ biến trên thế giới dùng để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các doanh nghiệp, tổ chức với nhau Việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài được đánh giá là phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận tiện, thủ tục linh hoạt, nhanh chóng; có tính chung thẩm; giữ được bí mật kinh doanh cũng như uy tín trên thương trường, đồng thời tiết kiệm thời gian cho các bên tranh chấp hơn so với việc giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 tổ chức trọng tài thường trực như: Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Tòa án trọng tài Quốc tế LonDon (LCIA), Hiệp hội Trọng tài Singapore (SIAC), Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA), Phòng Thương mại Stockholm (SCC)
Ngày 17/6/2010, Quốc Hội chính thức thông qua Luật Trọng tài thương mại, so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) 2003, Luật TTTM 2010 được soạn thảo với ý tưởng tiếp thu các thực tiễn quốc tế nhằm thúc đẩy việc sử dụng trọng tài thương mại và chia sẻ gánh nặng với hệ thống Toà án đang quá tải của Việt Nam; Luật TTTM 2010 được đánh giá là một bước tiến tích cực nhằm xây dựng cơ chế trọng tài thương mại tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế và khu vực nhằm phát triển kinh tế cũng như nâng cao đời sống của người dân Việc ký kết
và tham gia các Hiệp định thương mại đa phương như TPP hay Hiệp định Thương mại tự do Châu Âu và Việt Nam (Free Trade
Trang 42
Agreement between the European Union and the Socialist Republic
of Vietnam on Trade Relations - EVFTA)…sẽ giúp các hoạt động hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước không ngừng gia tăng Cùng với đó, các tranh chấp về thương mại, đầu tư, đặc biệt là tranh chấp giữa NĐTNN và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng sẽ xuất hiện nhiều hơn
Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề khó, điều này đòi hỏi vừa để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư nước ngoài, vừa để đảm bảo lợi ích của nhà nước Xuất phát từ tầm
quan trọng và tính chất thời sự của vấn đề, tác giả chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các học giả Việt Nam cũng đã có bình luận về cơ chế giải
quyết tranh chấp giữa NĐTNN và NTNĐT như: Cơ chế và thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư của Trung tâm giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế của tác giả Đỗ Hoàng Tùng (Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 4/2008); Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện của
Đỗ Thị Ngọc… Các bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những đặc điểm về cơ chế giải quyết tranh chấp và cung cấp một số kiến giải cho việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa NĐTNN và NTNĐT Tuy nhiên, ta có thể thấy các nghiên cứu này đều là các công trình được thực hiện từ lâu, các số liệu cũng như tài liệu tham khảo dẫn chiếu đều là các luật cũ, các Hiệp định xúc tiến
Trang 53
và bảo hộ đầu tư được ký kết từ lâu, do đó, không có tính thời sự và
so sánh bị giới hạn
Đối với riêng vấn đề giải quyết tranh chấp đầu tư bằng
trọng tài, có các đề tài Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài Việt Nam (Trần Minh Ngọc, Luận văn thạc sỹ); Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài và tòa án dưới góc độ so sánh (Cao Thị Thanh Thủy, Luận văn thạc
sỹ)…
Qua việc tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu này cho thấy, hầu hết, các tài liệu chỉ đi vào nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng con đường trọng tài, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) và nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là nhà nước Việt Nam) bằng con đường trọng tài thương mại
3 M c đ ch và nhiệ v n hi n cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại; để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 64
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và và quốc gia tiếp nhận đầu tư;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn về giải quyết tranh chấp đầu
tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước CHXHCN Việt Nam thông qua các Hiệp định tự do thương mại thế
hệ mới mà Việt Nam tham gia ký kết thời gian gần đây (như TPP, EVFTA…), đối chiếu với các quy định này trog Luật Trọng tài thường mại 2010 về cơ chế này Bên cạnh, tác giả liên hệ với thực tiễn trong quá trình giải quyết các tranh chấp này tại Việt Nam, từ đó rút ra các vấn đề pháp luật cần phải sửa đổi hoàn thiện
Phạm vi của luận văn là sự đánh giá toàn diện công tác giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước Việt Nam trong thời gian qua trên phương diện quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, qua đó, rút ra những điểm tích cực và hạn chế của các quy định này tại Việt Nam
5 Phươn pháp luận và phươn pháp n hi n cứu
Trang 75
Để nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã vận dụng các kiến thức được tích lũy trong quá trình sưu tầm, tổng hợp các tài liệu liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư nói chung và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng Song song với đó, tác giả xem xét, đánh giá, chọn lọc các vụ tranh chấp đầu tư tiêu biểu tại Việt Nam đã thu thập được để phân tích và làm rõ vấn đề nghiên cứu
Tác giả đã kết hợp sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích; phương pháp so sánh đối chiếu; phương pháp logic; phương pháp tổng hợp…để đạt được mục tiêu nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
6 Ý n hĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu khoa học sẽ làm rõ cơ chế giải quyết tranh chấp giữa NĐTNN và nhà nước Việt Nam bằng trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp cũng như cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi hàng loạt Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực thi hành
Nghiên cứu về việc vận dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN và NTNĐT là cả một hệ thống các vấn đề
lý luận trên cơ sở phân tích, so sánh đi tìm các điểm tương đồng và khác biệt, các mặt thuận lợi và khó khăn khi áp dụng cơ chế ISDS tại Việt Nam so với các quốc gia khác trên thế giới Từ đó, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của đất nước là nội dung quan trọng, cần thiết Việc hiểu đúng, hiểu đủ có thể vận dụng để phòng tránh và bảo vệ sự an toàn của môi trường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Trang 86
Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các sinh viên, các nhà nghiên cứu và những nhà hoạt động thực tiễn trong việc nghiên cứu và áp dụng các quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam nhằm giải quyết tranh chấp có thể phát sinh trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh
chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài
và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại
Trang 97
Chươn 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NƯỚC TIẾP NHẬN
ĐẦU TƯ
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư (Investor – State Dispute settlement – ISDS) này đã xuất hiện từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XIX Với công cuộc hợp tác quốc tế, những hiệp định hợp tác kinh tế thế
hệ mới được đàm phán, ký kết giữa các quốc gia trên khắp thế giới ngày càng nhiều, kéo theo đó là những tranh chấp về đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) và nước tiếp nhận đầu tư (NTNĐT) gia tăng về số lượng các vụ tranh chấp với tính chất, mức độ khác nhau
1.1 Khái niệm Giải quyết tranh chấp đầu tư iữa Nhà đầu tư nước n oài và nước tiếp nhận đầu tư
1.1.1 Định nghĩa Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Tại tại Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế của Thủ tướng Chính phủ năm 2014, giải thích: “Tranh chấp đầu tư quốc tế là tranh chấp phát sinh từ việc NĐTNN kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước) dựa trên
Trang 101.1.2 Đặc điểm cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Chủ thể tranh chấp
Chủ thể trong tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN và NTNĐT được xác định rõ ràng ngay trong tên gọi, bao gồm: nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là công dân hoặc tổ chức của một quốc gia tiến hành hoạt động đầu tư tại một quốc gia khác
Theo Luật Đầu tư năm 2014 “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”
Bên còn lại trong tranh chấp – nước tiếp nhận đầu tư – là các cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước, đó là các cá nhân, cơ quan được cơ quan Nhà nước (CQNN) giao quyền, có chức năng và nhiệm
Trang 119
vụ để thay mặt chính phủ nước tiếp nhận đầu tư của NĐTNN khi họ đầu tư vào nước mình
Nội dung giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp sẽ phải tiến tới giải quyết triệt để vấn đề tranh chấp giữa các bên Theo đó, hoặc các bên tự thương lượng, hòa giải để chấm dứt tranh chấp, hoặc sẽ thông qua cơ quan tài phán (trọng tài) đưa ra một phán quyết về xử lý tranh chấp giữa các bên Kể cả khi các bên tự thương lượng, hòa giải hay việc tranh chấp được chấm dứt bằng một phán quyết thì về nội dung, việc giải quyết tranh chấp sẽ hướng tới việc đảm bảo quyền của các bên, bên
có hành vi gây tổn hại tới bên còn lại phải bồi thường
Đối tượng giải quyết tranh chấp
Đối tượng giải quyết tranh chấp là những vấn đề phát sinh
từ hoặc có liên quan đến các quan hệ đầu tư giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài Phạm vi các đối tượng tranh chấp cụ thể được quy định trong các Hiệp định/Thỏa thuận thương mại và/hoặc đầu tư liên quan hoặc pháp luật nội địa trong trường hợp chưa có Hiệp định/Thỏa thuận nói trên
Phạm vi giải quyết tranh chấp
Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư là tranh chấp có yếu tố quốc tế vì những tranh chấp này phát sinh giữa một bên là cơ quan nhà nước của một quốc gia – nước nhận đầu tư (với tư cách là một chủ thể công) – với một bên là nhà đầu tư nước ngoài (chủ thể tư), tức là các doanh nghiệp của nước khác Tranh chấp này sẽ làm nảy sinh các mối quan hệ giữa một quốc gia với doanh nghiệp ở một quốc gia khác và những quan hệ này thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế
Trang 12và tòa án)
1.2.1 Thương lượng
Thương lượng là phương thức mà theo đó, các bên đàm phán với nhau để giải quyết một hoặc nhiều tranh chấp phát sinh giữa các bên Trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư, đặc biệt giữa NĐTNN và nước tiếp nhận đầu tư, thương lượng là phương thức được chú trọng và là ưu tiên hàng đầu
1.2.2 Hòa giải – Trung gian
Phương hòa giải và trung gian ít khi được vận dụng riêng lẻ trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp đầu
tư nói riêng Các phương thức giải quyết tranh chấp này thường được kết hợp với các phương thức giải quyết tranh chấp khác (như thương lượng, trọng tài, tòa án) nhằm đảm bảo đáp ứng được mong muốn của các bên khi giải quyết tranh chấp
Hòa giải
Điều 1 Luật Mẫu của UNCITRAL về Hoà giải thương mại quốc
tế năm 2002 nhận định: Hòa giải là quá trình trong đó bên thứ ba, do các bên tranh chấp chỉ định, hỗ trợ các bên tranh chấp giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ hợp đồng hoặc quan hệ pháp lý giữa các bên Với sự hỗ trợ hòa giải của các hòa giải viên các bên sẽ trình bày quan điểm, lập luận cũng như nguyện vọng
Trang 1311
của mình nhằm giải quyết tranh chấp Từ đó, các bên có thể tìm được một giải pháp có lợi cho cả hai bên trên cơ sở sự thỏa hiệp của cả hai
Trung gian
Tương tự như hoà giải, trung gian là phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên thoả thuận giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới hợp đồng giữa các bên với sự hỗ trợ của bên thứ ba Điểm khác biệt giữa trung gian và hoà giải đó là nếu như hoà giải viên không đưa ra giải pháp giải quyết tranh chấp thì người trung gian, với tư cách là một cá nhân trung lập, sẽ đưa ra giải pháp để các bên xem xét và chấp thuận
1.2.3 Trọng tài
Trọng tài thực chất là phương thức giải quyết tranh chấp tư, được các bên tranh chấp lực chọn như là cách thức để chấm dứt xung đột giữa họ mà không cần viện đến tòa án Phương thức trọng tài được thực hành tại nhiều nước với những đặc tính về pháp lý và văn hóa khác nhau, và dưới các hình thức vô cùng đa dạng, không theo quy chuẩn cụ thể nào
1.2.4 Tòa án
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét
xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Tòa án thường được các bên lựa chọn như một phương thức cuối cùng khi tất cả các phương thức trên không thể áp dụng đi tới kết quả