1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam

108 909 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, bình luận và đánh giá thực tiễn việc thực hiện hợp đồng loại này, để từ đó có cơ sở xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật thương mại hiện hành về mua bán hàng hóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ KIỀU TRANG

THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ KIỀU TRANG

THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thanh Thủy

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Kiều Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 2

3.1 Mục tiêu tổng quát 2

3.2 Mục tiêu cụ thể 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài 3

7 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4

1.1 Khát quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam 4

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa 4

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2 Cấu trúc của hợp đồng mua bán hàng hóa 15

1.3 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 16

1.3.1 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 16

1.3.2 Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 17

1.4 Những yếu tố cơ bản cấu thành nên hợp đồng mua bán hàng hóa 20

1.4.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa 20

Trang 5

1.4.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa 22

1.4.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 25

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 35

2.1 Thực hiện đúng đủ về đối tượng hàng hóa và thực tiễn thi hành pháp luật 35

2.1.1 Quy định của pháp luật về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa 35

2.1.2 Thực tiễn thi hành pháp luật 39

2.2 Giá cả, phương thức thanh toán 41

2.2.1 Giá cả 41

2.2.2 Phương thức thanh toán 41

2.2.3 Tình hình thực thi pháp luật 42

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên 50

2.3.1 Nghĩa vụ của người bán 50

2.3.2 Nghĩa vụ của người mua 53

2.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng 55

2.4.1 Khái niệm 55

2.4.2 Các hình thức trách nhiệm pháp lý 55

2.4.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm 61

2.5 Các nội dung khác của hợp đồng mua bán hàng hóa 62

2.5.1 Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa 62

2.5.2 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng 63

2.5.3 Chuyển rủi ro và chuyển quyền sở hữu 63

2.5.4 Rủi ro đối với hàng hóa 68

2.5.5 Giải quyết tranh chấp 70

2.6 Đánh giá về thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp 75

2.6.1 Tình hình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 75

2.6.2 Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam 77

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 82

Trang 6

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 83 3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật thương mại hiện hành về mua bán hàng hóa thống nhất trong luật pháp quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc

tế 83 3.1.2 Tăng cường các cơ chế hỗ trợ ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 87 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 88 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa hiện hành trong nước 88 3.2.2 Tham gia điều ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa 91 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc ký kết và thực thi hợp đồng mua bán hàng hóa 94 KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

1) KÝ HIỆU QUỐC TẾ

TT Kí hiệu viết

tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

1 ASEAN Association of Southeast

Asia Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

2 APEC Asia-Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn Kinh tế Châu Á – Thái

Bình Dương

3 EU European Union Liên minh Châu Âu

4 PICC Principles of International

Commercial Contracts

Bô ̣ nguyên tắc của Unidroit (Viê ̣n thống nhất về tư pháp quốc tế) về

hơ ̣p đồng thương ma ̣i quốc tế 2004

5 IMF International Monetary

Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

6 WTO World Trade Organizaton Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

5 LTM Luật Thương mại

6 PL HĐKT Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ % số vụ tranh chấp HĐMBHH trong tổng thể

các loại hình tranh chấp KDTM khác 83

Bảng 2.1

Số vụ án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

so với các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại khác qua các năm 2011, 2012, 2013 của Tòa án hai cấp tại thành phố Đà Nẵng

83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay, hoạt động thương mại đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới cũng như ở Việt Nam (VN) Đặc biệt, khi VN đang ngày càng phát triển và trở thành thành viên của Tổ chức Thương Mại Quốc tế (WTO) thì càng tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, cũng như thúc đẩy hoạt động thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ… Hoạt động này đòi hỏi phải sử dụng các công cụ pháp lý điều chỉnh khác nhau, đó là những hợp đồng thương mại: hợp đồng mua bán hàng hoá (HĐMBHH), hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hợp đồng cung cấp các loại dịch vụ…

Trong các chế định trên, có lẽ chế định HĐMBHH được chú ý nhiều nhất bởi vai trò quan trọng của nó Có thể thấy, trải qua nhiều thế kỷ, trao đổi hàng hóa là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, không chỉ giới hạn ở phạm vi mỗi quốc gia mà còn mở rộng ra các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi và hiệu quả Tuy nhiên, một thực tế là còn khá nhiều thương nhân trong nước tỏ ra lúng túng khi thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá, từ

đó dẫn đến những tranh chấp đáng tiếc xảy ra giữa các thương nhân với nhau trong

quan hệ mua bán hàng hoá Đó cũng là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Thực

hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu vấn đề về thực hiện HĐMBHH theo những khía cạnh khác nhau như khóa luận tốt

nghiệp “Pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa trong nước: lý luận và thực tiễn” của tác giả Phan Trần Duy Khiêm – Đại học Cần Thơ; luận văn “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH IPC” của

Trang 10

tác giả Phạm Thị Lan Phương – Đại học Kinh tế Quốc dân; luận văn“Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex”của tác giả Vũ Phương Huyền; Luận văn “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Dương Bảo Trân – Đại

học Cần Thơ Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về thực hiện HĐMBHH Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập trung đánh giá thực tiễn việc thực hiện hợp đồng này cũng như chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc ký kết cũng như thực thi HĐMBHH Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về viê ̣c thực hiê ̣n HĐMBHH Đồng thời, bình luận và đánh giá thực tiễn việc thực hiện hợp đồng loại này, để từ đó có cơ sở xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật thương mại hiện hành về mua bán hàng hóa thống nhất trong luật pháp quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế

Cuối cùng, kiến nghị một vài giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về HĐMBHH

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện hành

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp luận học so sánh

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và

thực tiễn về thực hiện HĐMBHH Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam” tương đối là mới Đề tài sẽ hệ

thống hóa, làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc của việc thực hiện HĐMBHH, qua đó góp phần làm luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc thực hiện hợp đồng này

7 Kết cấu của luận văn

Với những mục tiêu trên đây, luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam Chương 2:Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1 Khát quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Quan niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam

Hàng hóa theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã hội Nhu cầu của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hóa luôn phát triển phong phú và đa dạng Theo định nghĩa của pháp luật thương mại hiện hành VN thì “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả bất động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”(Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại (LTM))

Tại Điều 428 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 có đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Trong khi đó, Điều 3 LTM 2005 định nghĩa: “mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo đúng thỏa thuận” Đều là định nghĩa về HĐMBHH, nhưng hai định nghĩa trên có sự khác biệt lớn về một vấn đề pháp lý quan trọng BLDS 2005 không đề cập tới nghĩa vụ của người bán chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người mua mà chỉ đề cập tới nghĩa vụ của người bán giao tài sản cho người mua Trong khi đó, LTM 2005 đề cập tới nghĩa vụ của người bán giao hàng hóa và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua Có thể thấy rằng, hợp đồng mua bán tài sản và HĐMBHH có thể khác nhau về đối tượng, song không thể khác nhau về bản chất mua bán Tại Điều 463 và Điều 465 BLDS

2005 có các định nghĩa như sau: “Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa

Trang 13

các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau” và “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” Hợp đồng trao đổi tài sản khác biệt với hợp đồng mua bán ở chỗ thay vì nhận một khoản tiền khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản, người chuyển giao nhận một tài sản khác Còn đối với hợp đồng tặng cho thì thay vì nhận một lợi ích khi chuyển giao quyền sở hữu một tài sản, người chuyển giao không nhận gì Vậy là trong hai loại hợp đồng này nhà làm luật VN đã đề cập đầy đủ việc giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản và

đã phân biệt dứt khoát giữa “giao tài sản” và “chuyển quyền sở hữu tài sản” Bản thân BLDS 2005, ngay sau định nghĩa hợp đồng mua bán, có quy định: nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ, còn nếu đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của người bán [Điều 429 BLDS] và thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tài sản mua bán là thời điểm giao tài sản Như vậy, quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý

là HĐMBHH HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán

Dù là mua bán tài sản trong dân sự hay mua bán hàng hóa trong thương mại thì bản chất của nó cũng không có gì đổi khác mà vẫn có nội dung là: Người bán phải giao đối tượng được bán và quyền sở hữu đối tượng đó cho người mua và nhận tiền, còn người mua thì nhận đối tượng được mua và trả tiền Mặc dù, LTM năm 2005 không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể xác định bản chất pháp lý của HĐMBHH trong thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản

Từ đó, có thể khẳng định HĐMBHH trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Một hợp đồng mua bán chính là sự thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa ở hiện tại hoặc mua bán hàng hóa sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng

Trang 14

hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo đúng thỏa thuận Bất cứ khi nào, một người mua hàng hóa bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hóa thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1.2 Quan niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Quốc tế

Theo nguyên tắc, hợp đồng thương mại quốc tế có nội dung tương tự nội dung của hợp đồng thương mại nội địa cùng loại Có nghĩa là, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT) có nội dung tương tự HĐMBHH theo quy định của LTM hay BLDS… LTM 2005 không đưa ra khái niệm hay định nghĩa HĐMBHHQT mà chỉ quy định các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế Theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, mua bán hàng hóa quốc tế là mua bán hàng hóa được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu[34, tr.16] Có thể thấy rằng, LTM 2005 chưa đưa ra dấu hiệu

để xác định tính quốc tế của HĐMBHHQT nhưng đã quy định các hình thức của nó hay nói cách khác là chưa trả lời cho người đọc câu hỏi: Thế nào là HĐMBHHQT Tuy nhiên, một cách gián tiếp thông qua các quy định tại Điều 28, 29 có thể tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi đó Khoản 1 Điều 29 quy định rằng, xuất khẩu hàng hóa

là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ của VN được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Từ những quy định tại các Điều 28, 29 LTM

2005 có thể hiểu rằng, HĐMBHH được ký kết giữa doanh nghiệp (DN) hoạt động trên lãnh thổ VN với DN hoạt động trên lãnh thổ nước ngoài hoặc DN nằm trong khu vực đặc biệt dành riêng cho hải quan nằm trên lãnh thổ VN theo pháp luật VN

là HĐMBHHQT

Khác với quy định của LTM 1997 và LTM 2005 của VN, pháp luật của nhiều nước cũng như các văn bản pháp lý của quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng thương mại quốc tế xác định tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ, hay nói chính xác hơn là địa điểm hoạt động thương mại (Place

of Business) của thương nhân Khoa học pháp lý cũng như pháp luật của nhiều nước hiện nay cũng ủng hộ quan điểm này, theo đó hợp đồng thương mại quốc tế là hợp

Trang 15

đồng thương mại được ký kết bởi các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau

Theo Công ước La Haye năm 1964 về luâ ̣t thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế (Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods ) thì HĐMBHHQT là HĐMBHH đươ ̣c ký kết giữa các bên có tru ̣ sở thương ma ̣i đóng trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau nếu có thêm mô ̣t trong các điều kiê ̣n sau :

 Thứ nhất, hợp đồng liên quan đến vâ ̣t mà trong thời gian ký kết hợp đồng vâ ̣t đó được chuyên chở hoă ̣c phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;

 Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;

 Thứ ba, viê ̣c giao hàng được thực hiê ̣n trên lãnh thổ của mô ̣t quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoă ̣c hành vi chấp nhâ ̣n chào hàng[Điều 1 PL HĐKT]

Khác với Công ước L a Haye 1964, Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về HĐMBHHQT (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods ) không đưa ra định nghĩa nào về HĐMBHHQT, mà chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để khẳng đi ̣nh tính quốc tế c ủa HĐMBHHQT Điều 1 Công ước qui

đi ̣nh: “1 Công ước này áp du ̣ng cho các HĐMBHH giữa các bên có tru ̣ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:

 Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoă ̣c ,

 Khi theo các quy t ắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này

2 Sự kiê ̣n các bên có tru ̣ sở thương ma ̣i ta ̣i các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng , từ các mối quan hê ̣ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên

Trang 16

3 Quốc tịch của các bên , quy chế dân sự hoă ̣c thương ma ̣i của ho ̣ , tính chất dân sự hay thương ma ̣i của hợp đồng không được xét tới khi xác đi ̣nh pha ̣m vi áp dụng của Công ước này”

Như vâ ̣y, qua Điều 1 Công ước Viên 1980, ta có thể hiểu rằng , chủ thể của

hơ ̣p đồng là các bên có tru ̣ sở ở các nước khác nhau được coi là dấu hi ệu xác định yếu tố nước ngoài trong quan hê ̣ hợp đồng Tiếp tu ̣c làm rõ hơn vấn đề này , Điều 10 Công ước quy đi ̣nh , nếu mô ̣t bên có hơn mô ̣t tru ̣ sở thương ma ̣i trở lên thì tru ̣ sở thương ma ̣i của ho ̣ sẽ là tru ̣ sở nào có mối quan hê ̣ chă ̣t chẽ nhất đối với hợp đồng

và đối với việc thực hiện hợp đồng đó , có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoă ̣c đều dự đoán được vào bất kỳ lúc nào trước hoă ̣c vào thời điểm hợp đồng Trong trường hợp các bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của ho ̣ làm căn cứ xác đi ̣nh

Tương tự, Bô ̣ nguyên tắc của Unidroit (Viê ̣n thống nhất về tư pháp quốc tế ) về hơ ̣p đồng thương ma ̣i quốc tế 2004 (Principles of International Commercial Contracts - viết tắt là PICC ) không đưa ra quy đi ̣nh trực tiếp về HĐMBHHQT, nhưng phần bình luâ ̣n về lời mở đầu của PICC (phần bình luâ ̣n cũng là mô ̣t phần của Bộ nguyên tắc hoàn chỉnh ) đã chỉ rõ rằng tính chất quốc tế (yếu tố nước ngoài ) của một hợp đồng có thể được xác định bằng nhiều cách : pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đã và đang đưa ra nhiều giải pháp để xác định tính chất quốc tế của hợp đồ ng như dựa vào tru ̣ sở hay nơi thường trú của các bên ta ̣i các quốc gia khác nhau, áp dụng những tiêu chí mang tính chất tổng quát như hợp đồng có “các mối liên hê ̣ mâ ̣t thiết với hơn mô ̣t quốc gia” , hợp đồng “đòi hỏi có sự lựa cho ̣n giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau” , hơ ̣p đồng “có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương ma ̣i quốc tế” PICC không nhấn ma ̣nh bất cứ tiêu chí nào trong số các tiêu chí trên, tuy nhiên quan niê ̣m về tính quốc tế của hợp đồng cần phải được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể , chỉ không coi là hợp đồng có tính quốc tế nếu nó không có bất kỳ mô ̣t yếu tố quốc tế nào - nghĩa là tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến mô ̣t quốc gia duy nhất

Trang 17

Theo quan điểm của Pháp , khi xác đi ̣nh yếu tố quốc tế của HĐMBHHQT, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý Theo tiêu chuẩn kinh tế, mô ̣t hợp đồng quốc tế là hợp đồng ta ̣o nê n sự di chuyển qua la ̣i biên giới các giá tri ̣ trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiê ̣n quyền lợi của thương mại quốc tế Theo tiêu chuẩn pháp lý, mô ̣t hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu

nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiê ̣n nghĩa vu ̣ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán…

Đối với Việt Nam , HĐMBHHQT đươ ̣c biết đến trong nhiều văn bản với các tên go ̣i khác nhau như hợp đồng mua bán ngoa ̣i thương (được ghi nhâ ̣n trong Quy chế ta ̣m thời số 4794/TN-XNK ngày 31/07/1991 của Bộ Thương Nghiệp - nay là Bô ̣ Công Thương), HĐMBHH với thương nhân nước ngoài (ghi nhâ ̣n trong LTM 1997), hợp đồng xuất nhâ ̣p khẩu hàng hóa, HĐMBHH [LTM 2005]

Trước thời điểm ban hành LTM 1997, khái niệm hợp đồng mua bán ngoại thương đươ ̣c ghi nhâ ̣n trong Quy chế ta ̣m thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn viê ̣c

ký kết hợp đồng mua bán ng oại thương do Bộ Thương Nghiệp (nay là Bô ̣ Công Thương) ban hành ngày 31/07/1991: “hợp đồng mua bán ngoa ̣i thương là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau : thứ nhất, chủ thể của hợp đồng

là những pháp nhân có quốc ti ̣ch khác nhau ; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đươ ̣c di ̣ch chuyển từ nước này sang nước khác ; thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hơ ̣p đồng là ngoa ̣i tê ̣ đối với mô ̣t bên hoă ̣c cả hai bên ký kết hợp đồ ng

Đến thời kỳ ra đời và vâ ̣n hành LTM 1997, thì lại xuất hiện tên gọi

“HĐMBHH với thương nhân nước ngoài” Theo quy đi ̣nh của Điểm 1 Khoản 1 Điều 81 LTM 1997, HĐMBHH với thương nhân nước ngoài là HĐMBHH được ký kết giữa mô ̣t bên là thương nhân V N với mô ̣t bên là thương nhân nước ngoài Qua khái niệm trên có thể thấy rằng , LTM 1997 đã xác đi ̣nh tính quốc tế của HĐMBHHQT dựa trên dấu hiê ̣u quốc ti ̣ch của thương nhân Với cách hiểu này thì

mô ̣t loa ̣t các HĐMBHHQT khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 1997 như HĐMBHHQT giữa các thương nhân Viê ̣t Nam với nhau nhưng viê ̣c ký kết đươ ̣c tiến hành ở nước ngoài , HĐMBHH giữa thương nhân nước ngoài với nhau ở

Trang 18

Viê ̣t Nam… Điều này khôn g chỉ đă ̣t ra những vấn đề khó giải thích về lý luâ ̣n mà còn cả sự khó khăn đối với việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Và thực tế là khi

ký kết và thực hiện HĐMBHHQT viê ̣c xác đi ̣nh tính quốc tế dựa trên dấu hiê ̣u quốc tịch của thương nhân gặp rất nhiều khó khăn , phức ta ̣p và trong mô ̣t số trường hợp

là không thể được, bởi vì:

 Thứ nhất, pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của

pháp nhân không giống nhau Viê ̣c xác đi ̣nh quốc ti ̣ch của pháp nhân ở các quốc gia khác nhau dựa trên các học thuyết khác nhau Chẳng hạn ; đối với Anh , Mỹ, các quốc gia thuô ̣c hê ̣ thống pháp luâ ̣t Anh Mỹ và mô ̣t số quốc gia thuô ̣c Liên Xô cũ thì xác

đi ̣nh quốc tịch của pháp nhân dựa trên “thuyết nơi đăng ký”; đối vớ i các quốc gia thuô ̣c

hê ̣ thống pháp luâ ̣t Châu Âu Lu ̣c Đi ̣a như Pháp, Đức, Balan và Ukraina thì la ̣i áp du ̣ng

“thuyết đi ̣a điểm thường trú của pháp nhân” Vì có nhiều cách xác đi ̣nh quốc ti ̣ch như

vâ ̣y nên xác đi ̣nh tính quốc tế của hợp đồng không phải là viê ̣c đơn giản

 Thứ hai, nếu xác đi ̣nh tính quốc tế của hợp đồng dựa trên dấu hiê ̣u quốc ti ̣ch

trong mô ̣t số trường hợp sẽ gă ̣p khó khăn trong viê ̣c xác đi ̣nh luâ ̣t áp du ̣ng

Hiê ̣n nay , HĐMBHHQT được quy đi ̣nh trong LTM 2005 và Nghị Định 12/2006/NĐ-CP củ a Chính phủ ngày 23/01/2006 qui đi ̣nh chi tiết thi hành LTM về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Khoản 1 Điều 27 LTM 2005 quy đi ̣nh rằng, mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu , nhâ ̣p khẩu, tạm nhâ ̣p tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu Có thể thấy rằng , LTM 2005 chưa đưa ra dấu hiê ̣u để xác đi ̣nh tính quốc tế của HĐMBHHQT nhưng đã quy đi ̣nh các hình thức của nó

Qua tất cả những luâ ̣n điểm trên , có thể thấy rằng , viê ̣c xây dựng khái niê ̣m HĐMBHHQT dựa trên yếu tố lãnh thổ cho phép xác đi ̣nh yếu tố quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn Cụ thể là , khi thực hiê ̣n HĐMBHHQT, hàng hóa sẽ đươ ̣c luân chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác , như vậy hàng hóa đã di chuyển vươ ̣t ra ngoài pha ̣m vi lãnh thổ mô ̣t quốc gia , mă ̣t khác “có tru ̣ sở thương

Trang 19

mại ở các nước khác nhau” dẫn đến việc có thể áp dụng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Như vâ ̣y có thể đưa ra khái niê ̣m về HĐMBHHQT như sau:

HĐMBHHQT là hợp đồng được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại (địa điểm kinh doanh ) nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau , trong đó quy

đi ̣nh bên bán phải cung cấp hàng hóa , chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa , bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhâ ̣n hàng theo thỏa thuận

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Có thể xem xét HĐMBHH trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự theo nguyên lí của mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung [30, tr18] Nhiều vấn

đề về HĐMBHH được điểu chỉnh bởi pháp luật không có sự khác biệt với các hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự, như: giao kết hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu… Bên cạnh đó, để phù hợp với bản chất thương mại của HĐMBHH, một số vấn đề như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa, chế tài và giải quyết tranh chấp HĐMBHH… được quy định trong pháp luật thương mại có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về hợp đồng mua bán tài sản Với tư cách là hình thức pháp lí của quan hệ mua bán hàng hóa, HĐMBHH có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa

1.1.2.1 Chủ thể

HĐMBHH được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân Theo quy định của

LTM 2005 thì “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (Khoản 1 Điều 6 LTM) Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm

mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh sẽ được coi là thương nhân Thương nhân là chủ thể HĐMBHH có thể là thương nhân VN hoặc thương nhân nước ngoài (trong HĐMBHHQT)

Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐMBHH Khác với bên là thương nhân,

Trang 20

bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật Theo Khoản

1 Điều 3 LTM thì hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng này

1.1.2.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa

Đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa [34, tr20] Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 LTM năm 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và cả vật gắn liền với đất đai Tuy nhiên khái niệm này vẫn còn hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ… chưa được thừa nhận là hàng hóa Trong khi BLDS, Luật đất đai năm 2003 quy định người có quyền sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp… thậm chí thừa nhận trên thực tế sàn giao dịch về quyền sử dụng đất Và đối tượng là yếu tố đặc thù để phân biệt HĐMBHH với các hợp đồng thương mại khác

1.1.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hình thức của HĐMBHH là cách thức thể hiện ý chí thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng Nó có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập HĐMBHH dưới hình thức văn bản LTM năm 2005 cũng quy định: “HĐMBHH được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại HĐMBHH mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”[Điều 24 LTM]

Riêng HĐMBHHQT phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương [34, tr19] Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Trang 21

Những quy định của LTM VN phù hợp với pháp luật quốc tế về mua bán hàng hóa, đã tạo điều kiện cho sự hội nhập khi các chủ thể có quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế Có thể nói hình thức của HĐMBHH trong LTM 2005 là phù hợp với Công ước Viên 1980 bởi Điều 11 Công ước Viên 1980 quy định

“Không yêu cầu hợp đồng mua bán phải được ký hoặc phải được xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ mọi yêu cầu nào đó về mặt hình thức Có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đó”

Như vậy, LTM 2005 đã vượt ra và khắc phục được hạn chế về hình thức hợp đồng do các văn bản pháp luật trước đó quy định như pháp luật Hợp đồng kinh tế

HĐMBHH là sự thỏa thuận giữa các bên với nhau, dưới góc độ pháp lý việc tuân thủ hình thức của hợp đồng sẽ là bắt buộc một khi pháp luật có sự ghi nhận về vấn

đề đó với mục đích hạn chế các rủi ro cho các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng

1.1.2.4 Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa

Ở nước ta, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh các quan hệ thương mại nhằm mục đích lợi nhuận và do vậy một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động mang tính chất kinh doanh thương mại đó Nền kinh tế thị trường có những giao dịch thương mại giữa các thương nhân, điều đó đòi hỏi cần phải có quy định pháp lý phù hợp Chính từ những yêu cầu của xã hội, LTM 2005 ra đời để thỏa mãn quá trình công nghiệp hóa của đất nước Trong các hành vi thương mại được quy định trong LTM thì hành vi mua bán hàng hóa được xem là quan trọng hơn cả bởi nó có vai trò lớn trong đời sống kinh tế xã hội và nó cũng chi phối những hành vi thương mại khác Khi đó các cá nhân, tổ chức, phải xác lập các mối quan hệ với nhau, các mối quan hệ được thể hiện thông qua sự trao đổi, thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên trong phạm vi các mối quan hệ về dân sự, kinh tế, lao động thì

sự trao đổi, thỏa thuận được coi là “Giao dịch” Dưới góc độ pháp lý thì giao dịch nói trên luôn được thể hiện bằng hình thức “Hợp đồng” Hay nói một cách khác

“hợp đồng” là một hình thức pháp lý của “giao dịch” Căn cứ vào mục đích của việc

Trang 22

ký kết hợp đồng có hay không có lợi nhuận mà có thể giúp phân biệt được hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh doanh – thương mại Theo đó, mục đích giao dịch của hợp đồng kinh doanh – thương mại nói chung, HĐMBHH nói riêng thì yếu tố quan trọng chính là mục đích lợi nhuận Đối với hai bên chủ thể là thương nhân với nhau thì mục đích là lợi nhuận Ví dụ Công ty A mua nguyên liệu của cá nhân B kinh doanh nguyên liệu về để sản xuất, vậy thì cả Công ty A, cá nhân B đều có mục đích lợi nhuận khi giao dịch Trong HĐMBHH ngoài chủ thể là thương nhân thì còn có các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân, trong trường hợp này mục đích của việc thực hiện HĐMBHH là dành cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động của các cơ quan tổ chức

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa

Theo đặc điểm của các giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mại có thể chia thành ba loại cơ bản như sau:

1.1.3.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (nội địa):

Là HĐMBHH mà các bên chủ thể của hợp đồng thực hiện các giao dịch về mua bán hàng hóa với nhau trên lãnh thổ VN mà đối tượng là hàng hóa được quy định tại Điều 3 LTM 2005 bao gồm cả động sản và bất động sản gắn liền với đất đai

1.1.3.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Là HĐMBHH có thêm yếu tố quốc tế - là yếu tố vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia Tại Điều 27 LTM quy định: "Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu"

HĐMBHH là một hình thức pháp lý của quan hệ thương mại quốc tế, cụ thể là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Do vậy, pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này tương đối phức tạp, bao gồm các điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế, các tập quán quốc tế về thương mại và pháp luật của các quốc gia

1.1.3.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết thông qua Sở giao dịch hàng hóa:

Quy định về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là một hoạt động thương mại mới được bổ sung tại LTM năm 2005, đây là một hoạt động phổ biến

Trang 23

trong thực tiễn thương mại quốc tế nhằm bảo hiểm các rủi ro do việc biến động giá

cả trên thị trường

Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo

đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa, với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai [Điều 63 LTM]

Theo Điều 64 LTM, HĐMBHH qua Sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng

kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn:

 Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua

cam kết nhận hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng

 Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền) Bên mua quyền có quyền

chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó

1.2 Cấu trúc của hợp đồng mua bán hàng hóa

HĐMBHH là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập quyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán Do đó, nội dung của HĐMBHH trước hết là những điều khoản do các bên thỏa thuận Các bên có quyền quyết định nội dung của hợp đồng Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận đó Vì vậy mà các bên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng càng rõ ràng bao nhiêu thì càng thuận lợi trong việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên thỏa thuận với nhau Pháp luật chỉ quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng hoặc các điều khoản mang tính khuyến nghị để định hướng cho các bên trong việc thỏa thuận

Trang 24

Nội dung của hợp đồng trước hết là những điều khoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau Điều 402 BLDS năm 2005 cũng chỉ quy định các bên “có thể thỏa thuận” mà không đòi hỏi phải thỏa thuận những nội dung chủ yếu nào Mặc dù nội dung chủ yếu của HĐMBHH có thể xác định được dựa trên những quy định mang tính “khuyến nghị”, “định hướng” của pháp luật, thói quen và tập quán thương mại, nhưng trong điều kiện nhận thức của nhà kinh doanh còn nhiều hạn chế, thì điều này tiềm ẩn những nguy cơ pháp lý, những tranh chấp trong hoạt động mua bán hàng hóa Đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiện nay Trên cơ sở các quy định của BLDS và LTM, xuất phát từ tính chất của quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của HĐMBHH bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng

Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan

hệ hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Ví dụ, các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về điều khoản bồi thường thiệt hại cho nhau khi một bên vi phạm hợp đồng, nhưng bên vi phạm hợp đồng vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường nếu việc vi phạm đó gây thiệt hại cho bên đối tác Như vậy, cấu trúc của HĐMBHH không chỉ

là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện

1.3 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3.1 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Bản thân hợp đồng không phải là luậ t pháp, nhưng hợp đồng được thành lâ ̣p theo luâ ̣t pháp thì nó sẽ phát sinh hiê ̣u lực pháp lý giữa các bên đương sự Miễn sao cho hơ ̣p đồng được hợp pháp (legal) và có hiệu lực (effective), nó ắt sẽ có sức ràng buô ̣c giữa các bên đương sự Do đó, thực hiê ̣n hợp đồng mô ̣t cách chính xác là điều rất quan tro ̣ng đối với các bên đương sự , nếu không sẽ dẫn đến hành đô ̣ng vi pha ̣m

hơ ̣p đồng và người vi pha ̣m sẽ phải gánh chi ̣u trách nhiê ̣m pháp lý

Trang 25

Hiện tại, pháp luật VN không có định nghĩa về thực hiện hợp đồng nhưng có thể xem xét về khái niệm này một cách gián tiếp thông qua suy luận Khoản 12 Điều 3, LTM 2005 định nghĩa “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Do đó, có thể mặc nhiên hiểu rằng thực hiê ̣n hợp đồng là vi ệc các bên phải thực hiê ̣n đúng và đ ầy đủ những nghĩa vu ̣ được cam kết trong hợp đồng (contractual obligations ) để từ đó làm cho bên kia được hưởng quyền lợi trong hợp đồng (contractual rights) Nếu mô ̣t bên không thể thực hiê ̣n toàn bô ̣ hoă ̣c mô ̣t phần nghĩa vu ̣ hợp đồng của mình , tất nhiên sẽ làm tổn ha ̣i quyền lơ ̣i của đương sự bên kia Nếu xảy ra tình tra ̣ng như thế thì luâ ̣t pháp go ̣i là vi phạm hợp đồng Miễn là hợp đồng này hợp pháp và có hiê ̣u lực , phía bị thiệt hại sẽ tùy theo mỗi tình huống mà đòi hỏi bên kia phải tôn trọng quyề n lơ ̣i của mình Do đó, thực hiê ̣n HĐMBHH là mô ̣t đòi hỏi pháp lý bắt buộc mà các bên phải tuân thủ

1.3.2 Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Hơ ̣p đồng được giao kết hợp pháp trở thành “luâ ̣t” đối với các bên , làm phát sinh các nghĩa vu ̣ cu ̣ thể cho mỗi bên và ho ̣ phải thực hiê ̣n đầy đủ các nghĩa vu ̣ đó thì mới đảm bảo quyền lợi cho bên kia và đảm bảo lợi ích chung mà cả hai bên cùng hướng đến Nếu hợp đồng không được thực hiê ̣n hoă ̣c thực hiê ̣n không đầy đủ thì sẽ gây thiê ̣t ha ̣i cho cả hai bên hoă ̣c cho bên bi ̣ vi pha ̣m Trên thực tế, hợp đồng không đươ ̣c thực hiê ̣n không những ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong hợp đồng

mà còn gây ra những hậu quả xấu tr ong quan hê ̣ giữa các quốc gia hữu quan Có thể thấy rằng , viê ̣c thỏa thuâ ̣n và ký kết hợp đồng mới chỉ là công viê ̣c khởi đầu còn thực hiê ̣n hợp đồng mới là giai đoa ̣n quan tro ̣ng , then chốt đem la ̣i quyền lợi hợp pháp cho cá c bên trên thực tế Cũng chính vì vậy mà pháp luật đã quy định các nguyên tắc thực hiê ̣n hợp đồng như sau:

1.3.2.1 Nguyên tắc thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng

Nguyên tắc này đòi hỏi các bên thực hiê ̣n đúng điều khoản đối tư ợng là hàng hóa của hợp đồng Không được thay đổi hàng hóa mà các bên đã thỏa thuận trong

hơ ̣p đồng bằng mô ̣t hàng hóa khác nếu không được sự đồng ý của bên kia Có thực

Trang 26

hiê ̣n đúng điều khoản này , các bên mới đạt được mục đích củ a HĐMBHHQT Nếu hàng hóa không được giao đúng như đã thỏa thuận , thì có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh buôn bán của cả hai bên

1.3.2.2 Nguyên tắc thực hiện đúng và đầy đủ

Nguyên tắc thực hiê ̣n đúng đòi hỏi các bên phải thự c hiê ̣n đúng và đầy đủ tất

cả các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng , tức là tất cả các quyền và nghĩa vu ̣ phát sinh từ quan hệ hợp đồng đều phải được thực hiện đầy đủ Cụ thể là thực hiện đúng đối tượng, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng số lượng, đúng phương thức thanh toán và các thỏa thuâ ̣n khác trong hợp đồng

Nguyên tắc thực hiê ̣n đúng có pha ̣m vi rô ̣ng hơn , bao hàm cả viê ̣c thực hiê ̣n đúng đối tượng của hợp đồng Nhưng do tí nh chất quan tro ̣ng của điều khoản này

mà từ trước đến nay, viê ̣c thực hiê ̣n đúng đối tượng được đưa thành mô ̣t nguyên tắc riêng là nguyên tắc thực hiê ̣n đúng đối tượng của hợp đồng như trên đã trình bày

1.3.2.3 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực, thiện chí theo tinh thần hợp tác và cùng có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau

Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh

tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Khi HĐMBHH đã được xác lập thì phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải xử lý Sự bình đẳng được đề cập ở đây là sự bình đẳng pháp lý, sự bình đẳng trước pháp luật chứ không phải là sự bình đẳng về mặt kinh tế giữa các chủ thể

Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải hợp tác chă ̣t chẽ với nhau , thường xuyên theo dõi và giúp đỡ nhau để thực hiê ̣n đúng và nghiêm chỉ nh mo ̣i điều khoản của

hơ ̣p đồng, giúp nhau khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng Nếu hơ ̣p đồng có thể bi ̣ vi pha ̣m , phải kịp thời thông báo cho nhau biết để tránh hoă ̣c ha ̣n chế thiê ̣t ha ̣i có thể xảy r a hoă ̣c khi đã có vi pha ̣m hợp đồng , đã có thiê ̣t hại xảy ra thì phải tìm mọi cách để hạn chế thiệt hại đó Trong trường hợp mô ̣t bên

vi pha ̣m hợp đồng có thể gây thiê ̣t ha ̣i cho bên kia , bên bi ̣ thiê ̣t ha ̣i có khả năng ha ̣n

Trang 27

chế thiê ̣t ha ̣i, nhưng đã không thực hiê ̣n biê ̣n pháp ngăn chă ̣n , cứ để mă ̣c cho thiê ̣t hại xảy ra thì cũng sẽ phải chịu trách nhiệm một phần Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể không buô ̣c bên vi pha ̣m đền bù toàn bô ̣ thiê ̣t ha ̣i cho bên bi ̣ vi pha ̣m

Dựa trên cơ sở tự nguyện cùng nhau giao kết hợp đồng nhưng nếu giữa các bên không có thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thì việc xác lập hợp đồng này không mang lại lợi ích tối đa cho các bên trong quan hệ hợp đồng Thêm vào đó trong giao kết hợp đồng các bên phải thể hiện sự trung thực, ngay thẳng thì mới có thể trở thành đối tác lâu dài của nhau trong quan hệ mua bán hàng hóa cũng như các quan hệ dân sự

Có thể thấy , thực hiê ̣n hợp đồng tr ên tinh thần hợp tác , trung thực, thiê ̣n chí, tôn tro ̣ng lợi ích của nhau là mô ̣t nguyên tắc được thừa nhâ ̣n rô ̣ng rãi trong pháp luâ ̣t của các quốc gia cũng như trong tập quán thương mại quốc tế, nó vừa là một nguyên tắc pháp lý vừa là đạo lý của các thương nhân trong nền kinh tế thị trường

1.3.2.4 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng không vi phạm pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Đây là nguyên tắc rất quan tro ̣ng khi tham gia vào hợp đồng nói chung và HĐMBHHQT nói riêng HĐMBHHQT góp phần vào việc lưu thông hàng hóa quốc tế, phát triển sản xuất và đi xa hơn làm ổn định các chính sách kinh tế xã hội ở các quốc gia Vì vậy, trâ ̣t tự kỷ cương tron g các quan hê ̣ hợp đồng là yếu tố cần thiết Trong khuôn khổ quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ở các nước , các doanh nghiệp có quyền tham gia ký kết và thực hiê ̣n các HĐMBHHQT; điều này mô ̣t mă ̣t nói lên sự thừa nhâ ̣n của các quốc gia về quyền tự do kinh doanh , quyền bình đẳng trước pháp luâ ̣t ,

mă ̣t khác pháp luâ ̣t đòi hỏi các DN tham gia HĐMBHHQT không được vi pha ̣m những điều cấm của pháp luâ ̣t , đồng thời cũng không được xâm pha ̣m đến lợi ích

hơ ̣p pháp của người khác

Trang 28

1.4 Những yếu tố cơ bản cấu thành nên hợp đồng mua bán hàng hóa

1.4.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.4.1.1 Thương nhân

Để xác định một thỏa thuận có phải là một HĐMBHH hay không thì việc trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là thương nhân hay không, sau đó mới xét đến đối tượng của hợp đồng Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng ký kinh doanh

LTM 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiện đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng đối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi là thương nhân không Những quy định này lại có phần không rõ ràng vì nó không giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại Vì vậy, một tổ chức, cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không nhằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như với thương nhân

Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy được thừa nhận là chủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, cá thể trong hộ gia đình, tổ hợp tác không phải là tổ chức kinh tế, cũng chẳng phải là cá nhân Thương nhân gồm có thương nhân VN và thương nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác Việc xác định tư cách thương nhân nước ngoài phải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận [Khoản 1, Điều 16 LTM 2005]

- Thương nhân là cá nhân Để được công nhận là thương nhân thì một cá

nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt

Trang 29

động thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cả khi hoạt động thương mại một cách độc lập

thường xuyên như một nghề nghiệp mà chưa đăng ký kinh doanh

Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: Cá nhân kinh doanh; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh

Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây sẽ không được công nhận là thương nhân; Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Người đang

bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang phải chấp hành hình phạt tù; Người đang trong thời gian bị Tòa án tước quyền nghề vì các tội, buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép và các tội khác theo quy định của pháp luật

- Thương nhân là tổ chức Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương

nhân là tổ chức, chủ yếu là HĐMBHH Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng

ký kinh doanh sẽ được coi là thương nhân Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 BLDS 2005 Không phải tất cả những tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thành lập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là thương nhân gồm: DN Nhà nước; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; DN có vốn đầu tư nước ngoài; Các

tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo quy định là thương nhân Theo quy định của LTM năm 2005, các hộ kinh doanh về mặt khoa học pháp lý rất khó xếp loại là thương nhân là tổ chức hay cá nhân, tuy nhiên pháp luật VN coi họ là các thương nhân đặc biệt theo quy định tại Điều 49, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 về miễn đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể, hộ gia

đình Theo đó:

1 Hộ gia đình do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử

Trang 30

dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh

2 Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập

thấp áp dụng trên phạm vi địa phương

3 Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi

sang hoạt động theo hình thức DN

1.4.1.2 Các chủ thể không phải là thương nhân

Nếu căn cứ vào mục đích sinh lời, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không

có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên như một nghề

1.4.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa

HĐMBHH có đối tượng là hàng hóa Hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hóa

là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong luật pháp các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông thương mại Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng Dựa vào tính chất pháp

lý, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình hoặc các quyền về tài sản…

Trang 31

Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán bao gồm tất cả các loại tài sản được phép tự do lưu thông và không nằm trong danh mục bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật BLDS năm 2005 [Điều 163, 174] giải thích rõ rằng tài sản bao gồm là vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản Vật gồm có động sản và bất động sản, Bất động sản là các tài sản bao gồm:

- Đất đai

- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kế cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

- Các tài sản khác do pháp luật quy định (ví dụ: các công trình xây dựng ở thềm lục địa )

Động sản là những tài sản không phải là bất động sản, như tiền, giấy tờ có giá như sách, bút, ti vi, tủ lạnh…có thể trao đổi mua bán được Nếu đối tượng hợp đồng mua bán là vật thì vật đó phải được xác định rõ, ví dụ tính chất của vật là vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ hay vật tươi sống; kích thước, màu sắc, số lượng, trọng lượng, thể tích của vật BLDS năm 2005 cũng nhấn mạnh tới một loại đối tượng đặc biệt, còn gọi là hàng hóa đặc biệt của hợp đồng mua bán, đó là quyền tài sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ [Điều 181] Quyền tài sản bao gồm:

- Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, ví dụ như quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính…;

- Quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu công nghiệp, ví dụ như quyền tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp….;

- Quyền tài sản phát sinh từ quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong DN, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản hợp pháp khác;

- Quyền sử dụng đất;

Trang 32

- Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề;

HĐMBHH trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản là hai khái niệm có nhiều nét tương đồng Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng mua bán tài sản có phạm vi rộng hơn khái niệm HĐMBHH Quan hệ mua bán hàng hóa là một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng Vì vậy, HĐMBHH trong thương mại chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự

Theo pháp luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế (như Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung Châu Âu, Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa…), hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: Có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Công ước Viên năm 1980 chỉ loại trừ (không áp dụng) đối với việc mua bán một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường hàng không, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu… Theo pháp luật Hoa Kì, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển được (quyền sở hữu) vào thời gian xác định theo HĐMBHH; hàng hóa có thể là hàng hóa đã có ở hiện tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai

Như vậy, trước khi có LTM năm 2005, đối tượng được coi là hàng hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán Khái niệm hàng hóa theo cách hiểu này có phạm vi hẹp hơn so với quan niệm phổ biến trên thế giới Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất thương mại ở VN không chỉ dừng lại ở đối tượng là các hàng hóa này Khắc phục

sự bất cập của LTM năm 1997 về khái niệm hàng hóa, Khoản 2 điều 3 LTM năm

2005 đã mở rộng hơn quy định hàng hóa Theo đó, hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; và các vật gắn liền với đất đai Tuy nhiên, khái niệm về hàng hóa vẫn còn có sự hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa dường như bao gồm các loại tài sản hữu hình Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, hay đối với bất động

Trang 33

sản hình thành trong tương lai như nhà cửa, công trình xây dựng đang hình thành ở thời điểm mua hoặc chưa được giao tận tay người mua…vẫn chưa được thừa nhận

là hàng hóa

Như vậy, chúng ta có thể hiểu hàng hóa trong HĐMBHH bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai Và các vật gắn liền với đất đai, tuy nhiên, khi các chủ thể tham gia vào quan hệ HĐMBHH cần phải xem hàng hóa

mà mình mua hoặc bán là cái gì, nó có thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc hàng kinh doanh có điều kiện hay không? Những hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện như: Vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ thuật chuyên dùng của các lực lượng vũ trang; Chất ma túy; Một số hóa chất có tính độc hại mạnh; Các hiện vật thuộc di tích lịch

sử, văn hóa, bảo tàng; Các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục nhân cách; Thuốc lá điếu, sản xuất tại nước ngoài; Các loại pháo; Các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người và gia súc thuốc bảo vệ thực vật và các trang thiết bị, dụng cụ y tế chưa được phép sử dụng tại VN… Những hàng hóa, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh như: Hàng hóa có chứa chất phóng xạ, thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế sử dụng tại VN… Những hàng hóa, dịch vụ thương mại có điều kiện gồm các loại như: Hóa chất độc hại và sản phẩm có hóa chất độc hại; Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, các loại vắc xin, sinh phẩm, trang thiết bị, dụng cụ y tế[2]

1.4.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Pháp luật các nước có những cách khác nhau trong quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán, theo đó các bên phải thỏa thuận để giao kết hợp đồng [30, tr23] Các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mĩ về cơ bản chỉ bắt buộc thỏa thuận về điều khoản đối tượng và giá cả của hợp đồng mua bán; những nội dung khác, nếu các bên không thỏa thuận cụ thể, có thể được viện dẫn tập quán thương mại để xác định Trong khi đó, theo pháp luật các nước thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa mà Cộng hòa Pháp là một ví dụ điển hình, thông thường hợp đồng mua bán cần phải thỏa thuận rõ về đối tượng, chất lượng và giá cả Công ước Viên năm 1980

Trang 34

về HĐMBHHQT không quy định HĐMBHH có những nội dung nào Luật của một quốc gia thành viên Công ước được chọn áp dụng có quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán thì bên phải tuân thủ những quy định đó[34, tr23]

Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng mua bán, có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận những nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đồng thời phòng ngừa những tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên thỏa thuận với nhau Pháp luật chỉ quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng hoặc các điều khoản mang tính khuyến nghị để định hướng cho các bên trong việc thỏa thuận

Nội dung của hợp đồng trước hết là những điều khoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau Điều 402 BLDS cũng chỉ quy định các bên “có thể thỏa thuận”mà không đòi hỏi phải thỏa thuận những nội dung chủ yếu nào Mặc dù nội dung chủ yếu của HĐMBHH có thể xác định được dựa trên những quy định mang tính “khuyến nghị”, “định hướng” của pháp luật, thói quen và tập quán thương mại, nhưng trong điều kiện nhận thức của nhà kinh doanh còn nhiều hạn chế, thì điều này tiềm ẩn những nguy cơ pháp lý, những tranh chấp trong hoạt động mua bán hàng hóa Đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiện nay Trên cơ sở các quy định của BLDS và LTM, xuất phát từ tính chất của quan hệ HĐMBHH trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của HĐMBHH bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng

Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan

hệ hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Ví dụ, các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về điều khoản bồi thường thiệt hại cho nhau khi một bên vi phạm hợp đồng, nhưng bên vi phạm hợp đồng vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường nếu việc vi phạm đó gây thiệt hại cho bên đối tác Như vậy, nội dung của HĐMBHH không chỉ

là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều

Trang 35

khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện

Nội dung của hợp đồng có thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa khác nhau: điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi

- Điều khoản chủ yếu: Các điều khoản chủ yếu nêu lên những quyền và nghĩa

vụ chủ yếu của các bên, làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa được coi là đã được xác lập

- Điều khoản thường lệ: Là điều khoản đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Dù các điều khoản này không được ghi vào hợp đồng nhưng các bên mặc nhiên thừa nhận và phải thực hiện đúng như pháp luật đã quy định

- Điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên, căn cứ vào khả năng, nhu cầu của các bên để xác định thêm một số điều khoản khác Trong khuôn khổ của pháp luật, các bên có quyền lựa chọn

và thỏa thuận về những hành vi cụ thể Điều đó nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng, tránh sự hiểu lầm trong quan hệ hợp đồng

Nội dung của HĐMBHH cần chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản như sau

1.4.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua

 Nghĩa vụ của bên bán

Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy định của hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Điều 35 LTM quy định bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu có thỏa thuận khác [Điều 38 LTM]

Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 LTM Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm và bằng hình thức đã thỏa thuận

Trang 36

Một trong các nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng Bên bán phải chịu những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua [Khoản 5 Điều 44 LTM]

Bên bán còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa Theo đó, bên bán phải bảo đảm: (1) quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba; (2) hàng hóa đó phải hợp pháp; (3) việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp

Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ [Điều

46 LTM] Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận và phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [Điều 49 LTM]

 Quyền của bên bán

Bên bán có quyền nhận tiền bán hàng theo thỏa thuận trong HĐMBHH Nếu bên bán chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán có quyền áp dụng các biện pháp do LTM quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình

Điều 306 LTM quy định bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ngoài ra bên bán có thể áp dụng các hình thức chế tài theo quy định của LTM

1.4.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên mua

 Nghĩa vụ của bên mua

Điều 50, Điều 55 LTM quy định bên mua có nghĩa vụ:

- Thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận

Trang 37

- Tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật

- Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hóa được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba [Điều 45, Điều 46 - Khoản 1 LTM]

 Quyền của bên mua

Bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp: (1) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; (3) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó

1.4.3.3 Đối tượng của hợp đồng

Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóa nhất định Đây là điều khoản cơ bản của một HĐMBHH, mà khi thiếu nó thì hợp đồng này không thể hình thành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi cái gì Đối tượng của HĐMBHH được xác định thông qua tên gọi của hàng hóa Trong HĐMBHH, các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại để tránh sự hiểu sai lệch về đối tượng của hợp đồng

Trang 38

1.4.3.4 Số lượng hàng hóa

Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định về mặt lượng đối với đối tượng của hợp đồng Các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng về một số lượng hàng hóa cụ thể hoặc số lượng được xác định bằng đơn vị đo lường theo tập quán thương mại như chiếc, bộ, tá, mét, mét vuông, mét khối hay bằng một đơn vị nào

khác tùy theo tính chất của hàng hóa

1.4.3.5 Chất lượng hàng hóa

Chất lượng hàng hoá là vấn đề quan tâm của các bên khi ký kết HĐMBHH Hàng đúng chất lượng phải đảm bảo khả năng sử dụng, bảo đảm đúng phẩm chất, bao bì đóng gói, quy cách, chủng loại của sản phẩm theo tiêu chuẩn hoặc theo sự thoả thuận của các bên Chất lượng hàng hóa giúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận những yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy cách, kích thước, công suất, hiệu quả… Xác định cụ thể chất lượng của sản phẩm thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất Trách nhiệm của các bên thường khác nhau tương ứng với mỗi phương pháp xác định chất lượng được thỏa thuận Thông thường có các biện pháp xác định chất lượng như dựa vào mẫu hàng, dựa vào các tiêu chuẩn, dựa vào mô tả tỉ mỉ, dựa vào nhãn hiệu hàng hóa hoặc điều kiện kỹ thuật

Để đảm bảo mục đích của hợp đồng được thực hiện một cách tốt nhất, nếu các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải đảm bảo cho bên mua hoặc đại diện cho bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra Khi đó, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp này phải kiểm tra hàng hoá trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá thì việc kiểm tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Trong trường hợp bên mua hoặc đại diện bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng theo thoả thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng

Trang 39

Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyến của hàng hoá

mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá Nhưng bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua

1.4.3.6 Giá cả hàng hóa

Các bên có quyền thỏa thuận giá cả và phải được ghi cụ thể trong hợp đồng hoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương hướng xác định giá, vì đây là điều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng đi đến ký kết hợp đồng Để mang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau lựa chọn hình thức giảm giá phù hợp ghi trong hợp đồng như giảm giá, giao hàng sớm, do mua số lượng nhiều và quy định rõ mức giá giảm

1.4.3.7 Phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán là cách thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo đó bên mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo một phương thức nhất định Có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn như đã thỏa thuận và không có rủi ro trong thanh toán Việc chọn phương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên khi tham gia quan hệ HĐMBHH Sự lựa chọn phương thức thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức thanh toán và phí tổn cho việc thanh toán

1.4.3.8 Giao nhận hàng hóa

Bên bán phải giao hàng hoá phù hợp với quy định của hợp đồng; trong các HĐMBHH, các bên thường có thoả thuận với nhau về điều kiện kèm theo việc giao hàng thoả thuận về điều kiện giao nhận hàng hoá nhằm mục đích xác định trách nhiệm và chi phí giao hàng của các bên như đối với vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ

Trang 40

tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, gánh chịu rủi ro… Ngoài ra, trong mua bán hàng hoá việc giao hàng còn liên quan đến việc giao nhận cả các chứng từ liên quan đến hàng hoá Nếu các bên không có sự thoả thuận hoặc sự thoả thuận không cụ thể, thì bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan kèm theo

Các bên có thể thoả thuận về địa điểm, thời hạn và phương thức giao hàng tuỳ theo tính chất của các hàng hoá trong hợp đồng khi đã thoả thuận về địa điểm giao hàng thì các bên phải tôn trọng thoả thuận và phải thực hiện đúng thoả thuận

đó Bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng, bên mua phải có nghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đã thoả thuận

Trong trường hợp không thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xác định như sau: Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vấn đề chuyển hàng hoá thì bên ngoài có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó Vì giao hàng là một nghĩa vụ chủ yếu của bên bán, nên bên bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng Hàng hoá được coi là không phù hợp hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong những trường hợp tại Khoản 1 Điều 39 LTM 2005 Không phù hợp với mục đích sử dụng của hàng hoá cùng chủng loại vẫn thường được sử dụng; Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời gian giao kết hợp đồng; Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng mà bên bán đã giao cho bên mua; Không được bảo quản đóng gói theo cách thức thông thường với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường Trong trường hợp không phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng, thì bên bán có quyền từ chối nhận hàng, người bán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về

Ngày đăng: 16/07/2015, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số vụ án về tranh chấp HĐMBHH so với các vụ án tranh chấp kinh - Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam
Bảng 2.1 Số vụ án về tranh chấp HĐMBHH so với các vụ án tranh chấp kinh (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN