XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VIỆT ANH
XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI – 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VIỆT ANH
XỬ LÝ NỢ XẤU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PSG.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trong thời gian qua tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, các đồng nghiệp và gia đình, bè bạn Đặc biệt, tôi xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Lê Thị Thu Thủy - người đã hướng dẫn, định hướng cách thức nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cơ bản của luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, chuyên viên, cán bộ tại Hội sở của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam đã dành thời gian góp ý về hoạt động xử lý nợ xấu, cũng như đã tạo điều kiện, đồng thời cung cấp những tài liệu nghiên cứu, dữ liệu về thực tiễn xử lý nợ xấu tại quý Ngân hàng để tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bè bạn đã động viên, giúp đỡ Mặc
dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm của bản thân về vấn đề nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong quý thầy, cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến
để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Học Viên
Vũ Việt Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại 6 1.2 Khái niệm, đặc điểm về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 11 1.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 12 1.4 Khái niệm, nội dung của pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 17
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ
NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM 19
2.1 Các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu của NHTM 19 2.2 Thực tế thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam 42
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VIỆT NAM 54
3.1 Định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 54 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam 56 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam 69
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMC Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản
DATC Debt and Assets Trading Company - Công ty mua bán
nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp - Bộ tài chính
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
HĐKD Hoạt động kinh doanh
NHTM Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN Ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
TSBĐ Tài sản bảo đảm
VIB Vietnam International Bank – Ngân hàng THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN Quốc tế Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã và đang có những bước phát triển vượt bậc không những phát triển kinh tế nội địa mà chúng ta đã thực sự quan tâm đến giao lưu, phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Đánh giá nền kinh tế nước ta trong 15 năm trở lại đây để có thể thấy được sự phát triển này.Về
cơ chế xử lý nợ xấu, hiện Việt Nam chưa có thị trường mua bán nợ phát triển, đến nay những đơn vị được tham gia mua nợ chủ yếu là DATC, VAMC và các AMC của TCTD Ngoài ra, chưa có đơn vị nào được cấp đăng ký kinh doanh mua bán nợ theo quy định tại Luật Đầu tư 2014 và Luật số 69/2014/QH13 của Quốc hội về quản
lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, dẫn đến VAMC mua nợ xấu từ các TCTD nhưng không thể bán nợ cho các đơn vị khác ngoài DATC và AMC của các TCTD Cũng do những quy định tại Luật Đầu tư
2014, Luật 69/2014/QH13, nhà đầu tư nước ngoài chưa thể tham gia hoạt động xử
lý nợ xấu tại Việt Nam Ngày 21/6/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Nghị quyết này
có hiệu lực trong 05 năm từ ngày 15/8/2017 Nghị quyết 42/2017/QH14 cho phép
áp dụng nhiều chính sách mới (so với pháp luật hiện hành) về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc
xử lý nợ xấu Nghị quyết này được ban hành hứa hẹn mang lại những bước chuyển mới trong xử lý nợ xấu tại Việt Nam hiện nay.Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Xử
lý nợ xấu theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng thương mại cổ phần Quốc
tế Việt Nam (VIB)” làm đề tài Luận văn thạc sĩ luật học của mình Việc triển khai nghiên cứu đề tài để làm sáng tỏ hơn nữa một số vấn đề về lý luận và thực tiễn việc
xử lý nợ xấu, cụ thể là ở ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam để từ
đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hơn trong thực tiễn áp dụng các quy định này về xử lý nợ xấu ở Việt Nam hiện nay
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu về pháp luật xử lý nợ xấu như:
“So sánh pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ về xử lý nợ quá hạn tại các Ngân hàng TCMP” của học viên Đỗ Thị Xuân Phương – Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà
Nội; “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình” của học viên Nguyễn Tiến Đức – Học viện
hành chính quốc gia; “Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai” của học viên Nguyễn Thị Thu
Hiền – Đại học Đà Nẵng; “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng Agribank chi nhánh
Phù Yên – tỉnh Sơn La’’ của học viên Nguyễn Tuấn Anh – Học viện Hàn lâm
KHXH; … có thể thấy các công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn đề sau:
Thứ nhất, các công trình đã đưa ra được khái niệm pháp luật về xử lý nợ
xấu trong hoạt động tín dụng qua thực tiễn tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Ở góc độ nhất định cũng đã nêu và phân tích được các đặc điểm về
xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Thứ hai, các công trình đã phần nào phân tích làm rõ được các quy định
pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng, qua thực tiễn tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Thứ ba, các công trình nghiên cứu ở mức độ nhất định cũng phân tích về
pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng, qua thực tiễn tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, qua đó chỉ ra thực trạng và đề xuất giải pháp để giải quyết nợ xấu tại Việt Nam hiện nay Do vậy, trong quá trình nghiên cứu
đề tài luận văn, tác giả sẽ có sự tiếp thu, kế thừa những thành quả, các giá trị
mà các nghiên cứu đã chỉ ra làm nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu đề tài của mình của về lý luận cũng như thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu và đánh giá thực trạng
Trang 8pháp luật về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam,
từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của Ngân hàng Thương mại và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xử lý nợ xấu tại ngân
hàng thương mại cổ phần, như làm rõ khái niệm, đặc điểm, các biện pháp xử
lý nợ xấu của ngân hàng thương mại, nội dung của pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành
và thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng, qua thực tiễn tại VIB theo pháp luật Việt Nam, từ đó làm rõ những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng, qua thực tiễn tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu
của ngân hàng thương mại và biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về xử lý nợ xấu tại VIB
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật Việt Nam về
xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại và thực tiễn thực thi các quy định này tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến xử lý
nợ xấu của ngân hàng thương mại, qua thực tiễn lại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam Đặc biệt, luận văn tập trung vào các biện pháp xử lý nợ xấu như mua bán nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm, cơ cấu các khoản nợ xấu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên
Trang 95.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật và những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ đổi
mới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của pháp luật, các số liệu,
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau, tập trung chủ yếu ở chương
2 của luận văn
- Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng tất cả các chương của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp thống kê,
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn đã nghiên cứu, đánh giá pháp luật về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam và cụ thể là ngân hàng thương mại cổ phần Quốc
tế Việt Nam Qua đó, luận văn đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu gắn với thực tiễn tại ngân hàng thương mại nói chung
và ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam nói riêng Các giải pháp được đưa ra tập trung vào nhóm vấn đề: chủ thể xử lý nợ xấu, định giá các khoản nợ xấu, mua bán nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu Thông qua các định hướng, giải pháp này, đề tài mong muốn phần nào đóng góp vào
Trang 10việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu ở nước ta hiện nay và thực
tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý
nợ xấu của NHTM
Chương 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu của NHTM
và thực tiễn thực thi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại
“Nợ xấu” thường được nhắc đến với các thuật ngữ “ bad debt”, “ performing loan” (NPL), “doubtful del debt”.Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì “nợ xấu” là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản [20] Theo Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS), trong các hướng dẫn về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không
non-có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân
hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi, người vay đã quá hạn 90 ngày [1]Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay mà người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ trong tương lai hoặc các khoản cho vay
đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ [7]
Theo pháp luật Việt Nam (Khoản 3 Điều 3 Quy định về phân loại tài sản
có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủ ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ban hành kèm theo Thông tư 09/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của thống đốc ngân hàng nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm nợ 3,4,5 Cụ thể, đây là các khoản nợ dưới tiêu
Trang 12chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn
Vậy theo quy định nêu trên của pháp luật Việt Nam cũng khẳng định nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ mà khách hàng vẫn bị nghi ngờ về khả năng trả nợ
Nguyên nhân của nợ xấu tại ngân hàng thương mại
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh
doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm
Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao
Những tác động tiêu cực này khiến cho Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu
chậm lại, trong 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng kinh tế ước chỉ đạt 4,38%
so với cùng kỳ năm 2011 Các chỉ số tiêu dùng (Gồm cả chỉ số tiêu thụ của
ngành công nghiệp và chỉ số tiêu dùng cá nhân) tăng chậm so với cùng kỳ các năm trước Trong khi đó, tại các doanh nghiệp chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao so với cùng kỳ các năm trước, tại thời điểm 01/6/2012, chỉ số hàng
tồn kho của ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng kỳ năm 2011 Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng
nợ xấu của các TCTD Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng nhanh: Năm 2011 có 79.014 doanh nghiệp và tính từ đầu năm đến ngày 21/6/2012 có khoảng 25.250 doanh nghiệp, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2011 (23.358 doanh nghiệp bị phá sản trong 6 tháng đầu năm 2011)
Trang 13Thứ hai, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ngân hàng là do năng lực quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng còn kém
Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của TCTD mang tính chất chủ quan Các ngân hàng chưa xây dựng được thước đo lượng hóa rủi
ro nên chưa tính toán chính xác được yếu tố này dẫn đến quyết định cho vay, phân loại nợ chưa chính xác Bên cạnh đó, về phía các doanh nghiệp – đối tượng giải ngân vốn quan trọng của các TCTD, theo nghiên cứu hiện có đến 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không ít doanh nghiệp có báo cáo tài chính không chính xác, trong khi phần lớn các báo cáo tài chính này lại không được kiểm toán Ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn được kiểm toán thì sự chậm chễ trong việc công bố báo cáo cũng như chất lượng kiểm toán cũng gây không ít khó khăn cho ngân hàng
Thứ ba, do đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng và khách hàng kém dẫn đến tình trạng thông đồng rút ruột ngân hàng
Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa trên sự tin cậy và mức
độ tín nhiệm thì đạo đức phải được đặt lên hàng đầu và ở khía cạnh nào đó còn mang tính bắt buộc Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ ngân hàng đã thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy đã có chi nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên do cấu kết với nhau rút ruột ngân hàng Ngoài ra, nợ xấu còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp.” Khoản nợ này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn tại trên sổ sách của con nợ và chủ nợ
Thứ tư, do tình trạng sở hữu chéo
Một nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố về
sở hữu chéo giữa Ngân hàng với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan
Trang 14hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự
án đầu tư chưa minh bạch Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân hàng thương mại Chưa kể, các Ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các Ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ đầu
tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu trên 5% tại các Ngân hàng Thương mại cổ phần và các doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính Tình trạng
sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ xấu của các ngân hàng Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành
“sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những
dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Việc cho vay
dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu
sẽ dẫn đến nợ xấu Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong thời gian gần đây
Thứ năm, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là quy định pháp luật nhằm hạn chế, giải quyết tình trạng nợ xấu đã có nhưng chưa minh bạch, chưa hợp lý
Có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã có những khung pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như giải quyết nợ xấu của các TCTD như: quy định về phân loại nợ; quy định về trích lập dự phòng rủi ro; quy định về xử lý tài sản đảm bảo nợ; quy định về quyền khởi kiện yêu cầu các tổ chức cá nhân hoàn trả
Trang 15vốn vay; quy định về hoạt động mua bán nợ…Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các quy định khi đi vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy được hiệu quả trong việc giải quyết nợ xấu, dẫn đến tình trạng nợ xấu không được cải thiện mà còn có xu hướng tăng lên
Nguyên nhân từ phía khách hàng, doanh nghiệp
Trong quá trình kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã phán đoán không chính xác xu hướng phát triển của thị trường, dẫn đến mở rộng quy mô sản xuất trong các ngành đang phát triển quá nóng mà không có sự đánh giá kỹ lưỡng Hậu quả là sự mất cân bằng trong cung và cầu Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn lại chia nhỏ dự án để tìm tài trợ từ nhiều ngân hàng khác nhau, qua đó giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc vay vốn từ các ngân hàng cũng như giảm bớt sự kiểm soát của ngân hàng Chính những yếu tố này làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm soát các khoản cho vay, dẫn đến tình trạng nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Nguyên nhân từ cơ chế xử lý nợ của ngân hàng thương mại
Nợ xấu của ngân hàng thương mại đã tồn tại từ lâu nhưng quá trình xử
lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại lại thiếu hiệu quả, nguyên nhân là do cơ chế xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại chưa thực sự hợp lý, còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế
Hệ quả của nợ xấu của ngân hàng thương mại
Một là, nợ xấu của ngân hàng thương mại gia tăng tạo ra gánh nặng ngân
sách trong vấn đề xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Hai là, khi nợ xấu của ngân hàng thương mại gia tăng gây đình trệ nền
kinh tế
Ba là, nợ xấu của ngân hàng thương mại đe doạ an toàn hoạt động của
cả hệ thống ngân hàng
Trang 161.2 Khái niệm, đặc điểm về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại là quá trình được thực hiện bởi các chủ thể và áp dụng các biện pháp khác nhau để thông qua đó, ngân hàng thương mại có thể thu hồi các khoản nợ mà ngân hàng thương mại đã cho khách hàng vay
Đặc điểm xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại:
Thứ nhất, về chủ thể xử lý nợ xấu: Có thể chính là ngân hàng thương mại, hoặc ngân hàng thương mại bán cho AMC là công ty quản lý và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại, hoặc ngân ngân hàng thương mại bán cho VAMC, DATC, hoặc các công ty mua bán nợ khác được thành lập hợp pháp
Thứ hai, đối tượng trong hoạt động xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại chính là các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại mà các khách hàng
nợ không có khả năng thanh toán trong tương lai
Thứ ba, các biện pháp xử lý nợ xấu: các biện pháp xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại rất đa dạng, có thể là mua bán nợ, cơ cấu lại khoản nợ xấu, khởi kiện khách hàng ra trước tòa án nhân dân có thẩm quyền đề thu hồi nợ hoặc các cơ quan tài phán khác,… Mỗi biện pháp xử lý nợ xấu lại có những quy trình thực hiện khác nhau
Thứ tư, xử lý nợ xấu được quy định bởi rất nhiều các văn bản và có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tỉ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại luôn dưới 3% [21]
Thứ năm, xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:
- Bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán,
xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Trang 17- Phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống
- Không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
1.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Về nguyên tắc, biện pháp xử lý nợ xấu cần được áp dụng từ nhiều phía, trong đó có biện pháp từ cơ quan quản lý nhà nước nhưng trách nhiệm chính trong việc thu hồi nợ xấu là chủ nợ (tổ chức tín dụng) và con nợ ( tổ chức, cá nhân vay vốn) Bởi lẽ nợ xấu là vấn đề không chỉ của chủ thể kinh doanh đặc thù là tổ chức tín dụng mà còn là vấn đề của nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp Về phía các doanh nghiệp, cá nhân – con
nợ giải quyết các khoản nợ xấu thương mại là nghĩa vụ hiển nhiên Vì vậy, các con nợ này phải tìm mọi nguồn có thể để trả nợ, thương lượng với các chủ nợ
để cơ cấu lại nợ, rà soát các dự án dể điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, tập trung vào các hoạt động có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí và sự lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, tăng khả năng quản trị rủi ro, khả năng tự đổi mới
và phản ứng thị trường của mình
Tiếp cận trên phương diện các cách thức xử lý nợ xấu của TCTD, tác giả tập trung vào các biện pháp xử lý nợ của các TCTD bao gồm:
Thứ nhất, phương thức trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu:
Việc kinh doanh tiền tệ luôn gặp phải những rủi ro bất ngờ, do đó quy định về trích, lập và sử dụng nguồn quỹ dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các TCTD là cần thiết
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD [16] là khả năng
xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết và theo
Trang 18hợp đồng tín dụng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự phòng chung
Sử dụng dự phòng là việc TCTD sử dụng dự phòng rủi ro để bù đắp tổn
thất đối với các khoản nợ
Trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu được xem là một thông lệ tốt trên thế giới trong hoạt động ngân hàng Tại Việt Nam, phương thức này được
sử dụng như một biện pháp tích cực nhằm hạn chế mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Theo đó, sau khi thực hiện việc phân loại nợ theo từng nhóm nợ theo quy định tại Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của NHNN các TCTD phải thực hiện việc trích lập đầy đủ quỹ dự phòng rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho cả hệ thống Một khi có nợ xấu phát sinh, các TCTD
sẽ dùng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp cho khoản nợ xấu theo đúng quy định pháp luật Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ít hay nhiều sẽ tác động đến hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông trong việc hưởng lợi nhuận cuối cùng của ngân hàng Song các TCTD không thể chỉ biết
có lãi để chia cho các cổ đông mà bỏ qua việc tuân thủ thực hiện quy chế đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng
Thứ hai, phương thức thu hồi trực tiếp và thông qua phát mại tài sản bảo
đảm nợ vay
Hiện nay, một trong những biện pháp được các ngân hàng thương mại sử dụng để thu hồi nợ chủ yếu là thu hồi trực tiếp và phát mại tài sản bảo đảm nợ vay Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện xử lý nợ xấu, nhất là nợ nhóm 5, thông qua việc xử lý tài sản đảm bảo nợ gặp không ít khó khăn, tiến trình xử lý mất rất nhiều thời gian và thủ tục, giá trị thu hồi thấp do nhiều nguyên nhân Tình trạng phổ biến
Trang 19hiện nay là nhiều giá trị tài sản đảm bảo nợ đã giảm rất mạnh so với thời điểm vay vốn, ví dụ như giá trị các cổ phiếu, giá trị bất động sản giảm mạnh hoặc là những tài sản trên đất như nhà xưởng, dây chuyền máy móc trên các khu công nghiệp… Điều này khiến các ngân hàng rất khó xử lý tài sản đảm bảo nợ, nếu xử lý thì chỉ thu hồi được một phần nợ Ngoài ra, một khó khăn khác mà ngân hàng thường gặp phải là khi tài sản bảo đảm được thanh lý thì số tiền thu được lại được ưu tiên chi trả trước cho những khoản nợ phân chia theo thứ tự ưu tiên Điều này dẫn đến việc thực hiện xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản đảm bảo nợ thường kéo dài, tốn kém về tài chính
Thứ ba, phương thức mua bán nợ
Mua bán nợ là một hoạt động còn mới ở Việt Nam trong những năm gần đây Bên bán nợ thường là các chủ nợ, bên mua nợ là các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp và đối tượng của các hoạt động này là khoản nợ Việc bán nợ này cũng được xem là phương án xử lý nợ nhanh nhất, giúp chủ nợ thu hồi một phần vốn kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu và các cơ hội kinh doanh mới nhằm cải thiện tình hình tài chính Tuy nhiên, việc ra đời của các hoạt động công ty mua bán nợ cũng không đơn giản Các cơ quan có thẩm quyền phải định rõ cơ chế pháp lý hoạt động của công ty, định giá đúng các khoản nợ xấu hợp lý để nó thực sự đạt được mục tiêu hình thành
Thứ tư, phương thức xử lý nợ thông qua con đường khởi kiện tại Tòa án
hoặc Trọng tài
Đây là các biện pháp mà các ngân hàng thương mại áp dụng cuối cùng Sau khi các biện pháp khác đã được áp dụng nhưng không có hiệu quả trong việc thu hồi nợ, cần thiết có sự hỗ trợ của các cơ quan pháp luật như tòa án, cơ quan thi hành án nhằm giúp ngân hàng thu hồi nợ vay Việc đưa các cá nhân, doanh nghiệp ra Tòa án, phát mại tài sản sẽ tốn nhiều chi phí phát sinh, mất nhiều thời gian, rườm rà về thủ tục và lợi ích thu về chưa chắc đã đạt được như
Trang 20mong muốn Chính vì vậy, các ngân hàng không còn cách thức nào nữa mới sử dụng phương thức này
Thứ năm, phương thức xử lý nợ bằng biện pháp cơ cấu lại nợ, xóa nợ
Cơ cấu lại nợ là biện pháp được sử dụng khi một khoản nợ đến kì hạn trả
nợ nhưng ngân hàng đánh giá khách hàng khó có khả năng trả nợ cho ngân hàng theo lịch trả nợ đã ký trước đó do khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu ngân hàng thực hiện việc cơ cấu lại thời gian trả nợ (bao gồm gia hạn nợ và điều chỉnh kì hạn trả nợ) thì khách hàng hoàn toàn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn Ngân hàng thương mại cần chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả
nợ và xem xét giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời, có chiều hướng cải thiện sản xuất kinh doanh tích cực và được đánh giá là có khả năng trả nợ theo thời gian cơ cấu lại
Xóa nợ là việc xóa bỏ các khoản nợ có vấn đề ra khỏi bảng cân đối dự toán, nhằm loại bỏ các khoản nợ còn tồn đọng tại ngân hàng thương mại Biện pháp này được áp dụng khi cơ cấu lại nợ không có hiệu quả Biện pháp xóa nợ chỉ áp dụng đối với khách hàng thuộc các đối tượng: (i) thành phần kinh tế gặp nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, cháy nổ … dẫn đến không có khả năng trả nợ cho ngân hàng; (ii) doanh nghiệp nhà nước đã có quyết định phá sản của Tòa án hoặc quyết định giải thể, không còn khả năng trả nợ ngân hàng; (iii) khách hàng là cá nhân bị tòa án tuyên bố là đã chết hoặc tuyên bố mất tích theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 mà không còn người thừa kế theo quy định của pháp luật
Thứ sáu, phương thức xử lý nợ xấu bằng biện pháp giảm miễn lãi
Biện pháp này được áp dụng nhằm giảm bớt khó khăn về tài chính cho khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích khách hàng trả một phần hoặc toàn bộ nợ xấu còn lại của ngân hàng Hầu hết các ngân hàng khi nhận thấy các doanh nghiệp còn có
Trang 21phương án sản xuất kinh doanh để có thể trả nợ thường sẽ hỗ trợ doanh nghiệp khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất Đây là cách thức giúp con nợ phục hồi trở lại, phát triển và trả nợ dần trong tương lai
Ngoài ra, có thể kể đến một số biện pháp khác:
Bên cạnh những biện pháp xử lý nợ xấu quen thuộc trên đây, hiện nay cũng có rất nhiều những biện pháp xử lý nợ khác mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng Có thể kể đến các biện pháp như: chuyển nợ vay thành vốn góp cổ phần vào doanh nghiệp, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu; các doanh nghiệp giảm giá hàng bán, tăng cường các hoạt động bán hàng, kết hợp sự hỗ trợ từ cơ quan nhà nước, ngân hàng để doanh nghiệp có thể quay vòng vốn nhanh nhất, từ đó giải quyết các khoản nợ đối với ngân hàng…
Ngoài ra, tái cơ cấu các TSCĐ là một trong các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu Theo Đề án “ Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 của Thủ tướng Chính phủ, được cụ thể hóa trong Thông tư số 36/2015/TT – NHNN ngày 31/12/2015 quy định việc tổ chức lại TCTD, các TCTD thực hiện cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị của các TCTD theo các hình thức, biện pháp và lộ trình thích hợp Các TCTD có mức độ rủi ro cao sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt để đảm bảo an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng Đặc biệt, tái cơ cấu TCTD gắn với việc xử lý nợ xấu của TCTD Nếu TCTD tái cơ cấu tốt sẽ nâng cao được năng lực quản trị điều hành, lành mạnh hóa hoạt động tài chính, trên cơ sở đó nợ xấu sẽ giảm
Tại Việt Nam, giải quyết nợ xấu của các TCTD là công việc thường xuyên, lâu dài và cần các TCTD quan tâm đặc biệt Để đạt được mục tiêu tỷ lệ
nợ xấu luôn kiềm chế ở mức thấp nhất thì các TCTD Việt Nam cần có những chính sách kiểm soát sự gia tăng của nợ xấu bên cạnh việc áp dụng giải pháp, học hỏi những kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới để áp dụng
có chọn lọc theo điều kiện đặc thù ở Việt Nam Tùy thuộc vào điều kiện thực
Trang 22tế, mỗi ngân hàng có thể chọn cho mình một hoặc kết hợp các biện pháp xử lý
nợ xấu sao cho có hiệu quả cao nhất trong việc xóa bỏ các khoản nợ xấu, làm trong sạch bảng cân đối kế toán, tăng năng lực tài chính cho các ngân hàng và năng lực cạnh tranh trong xu hướng mở cửa ngày càng sâu rộng thị trường dịch
vụ tài chính theo cam kết gia nhập WTO
1.4 Khái niệm, nội dung của pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Nợ xấu là vấn đề luôn tiềm ẩn từ trong giai đoạn ban đầu của hoạt động cấp tín dụng, do vậy xử lý nợ xấu nếu chỉ bắt đầu từ khi nợ xấu phát sinh thì “e rằng” quá muộn, việc xử lý nợ xấu phải bắt đầu ngay từ giai đoạn phòng ngừa, ngăn chặn không cho nợ xấu xảy ra Chính vì lẽ đó, hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu
ở Việt Nam có thể được hiểu bao gồm các chế định pháp luật điều chỉnh từ giai đoạn nợ xấu chưa phát sinh đến giai đoạn xử lý nợ xấu, điều này đồng nghĩa với việc các quy định pháp luật về nợ xấu bao gồm cả nhóm quy định mang tính phòng ngừa, ngăn chặn và nhóm quy định xử lý nợ xấu
Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại là là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Nhìn chung, pháp luật về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại có những nội dung sau:
Thứ nhất, chủ thể tham gia xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Thứ hai, các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại bao gồm: mua bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, cơ cấu lại các khoản nợ, trích lập dự phòng rủi do, khởi kiện khách hàng ra tòa án nhân dân có thẩm quyền
Thứ ba, quy trình xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại
Thứ tư, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình
Trang 23xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này tác giả không đi sâu vào phân tích về quy trình xử lý nợ xấu và xử lý vi phạm cũng như giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình xử lý nợ xấu
Tiểu kết chương 1
Chương I của luận văn đã bước đầu phân tích những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại; khái niệm, đặc điểm về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại; các biện pháp xử lý
nợ xấu của ngân hàng thương mại và khái niệm, nội dung của pháp luật về xử
lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Từ các vấn đề lý luận đã nêu ra tại Chương
I, tác giả đã có những cơ sở để phân tích rõ hơn các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu, qua thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam trong Chương 2 của luận văn
Trang 24Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM
2.1 Các quy định pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu của NHTM
2.1.1 Chủ thể xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng từ trước đến nay Bên cạnh các yếu tố thị trường chi phối chủ yếu đến các giao dịch cần phát huy tối đa vai trò chủ đạo của Nhà nước để định hướng, dẫn dắt và điều chỉnh thị trường nợ xấu có hiệu quả cao nhất Chủ thể xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại chủ yếu là DATC, VAMC và các AMC của TCTD Ngoài ra, TCTD cũng có thể thành phập các trung tâm, phòng ban chuyên trách phục vụ công tác xử lý nợ xấu Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn có hạn, nên tác giả chỉ đi sâu vào phân tích các chức năng, nhiệm vụ, quy định pháp luật của VAMC
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng là một hiện tượng phổ biến của các ngân hàng thương mại trên thế giới và vấn đề là cần xác định độ lớn của khoản
nợ, nguyên nhân xuất hiện, mức độ biến động và phương thức xử lý Điều kiện tiên quyết là cần xác định chính xác các khoản nợ, chủ nợ, con nợ, các cam kết
để hiểu rõ địa chỉ của khoản nợ và chủ sở hữu khoản nợ, các tổ chức và cá nhân liên đới
Đối với các khoản nợ của cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức với ngân hàng không có yếu tố ngân sách nhà nước trực tiếp, có thể xử lý thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Do tính chất quốc gia của các khoản nợ và liên quan
Trang 25đến tài sản của dân cư và tài sản quốc gia, cơ chế mua - bán cần phải thận trọng
và việc mua - bán nợ phải trên nguyên tắc công khai, giảm thiểu những đổ vỡ của hệ thống cũng như thất thoát tài sản Công ty VAMC có hai chức năng cơ bản là mua nợ và bán nợ mà mô hình này đã được Hoa Kỳ áp dụng thành công Các khoản nợ được mua giá rẻ trong điều kiện kinh tế suy thoái và bán lại với giá cao đã làm lợi cho ngân sách liên bang hàng trăm tỷ đô la và không bị nước ngoài thâu tóm [10]
Mô hình VAMC là phương thức phù hợp để thay đổi chủ sở hữu khoản
nợ xấu thông qua mua - bán, có thể áp dụng có hiệu quả tại Việt Nam nhưng cần tính đến các khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc thành lập Công ty VAMC để xử lý nợ xấu của hệ thống
ngân hàng Việt Nam là một bước tiến quan trọng về nhận thức và hành động
xử lý các khoản nợ xấu theo các nguyên tắc thị trường Đây là mô hình lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam và tạo nền tảng quan trọng để vận hành lâu dài Đây
là cách thức để “cứu” hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp một cách công khai Đây cũng là cách thức để Chính phủ quản lý dòng di chuyển của các khoản nợ
và theo đó, giám sát, theo dõi và quản lý các khoản nợ và tài sản của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức và tài sản quốc gia
Thứ hai, VAMC là một doanh nghiệp nhà nước cho nên cần nhân danh
Nhà nước để thực hiện việc mua - bán nợ kể cả nợ công, nợ tư nhân thậm chí
cả các khoản nợ nước ngoài tư nhân Công ty chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ để có thể kết nối với cả hệ thống ngân hàng, ngân sách nhà nước, doanh nghiệp thuộc các thành phần và các giao dịch có yếu tố nước ngoài cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật
Thứ ba, việc mua - bán tiến hành công khai và tự nguyện hoàn toàn theo
nguyên tắc thị trường Các chủ nợ và con nợ sau khi không thể thoả thuận được các điều kiện để dàn xếp các khoản nợ, có thể bán khoản nợ này cho VAMC Điều này nhằm giảm thiểu tính chất mệnh lệnh của việc xử lý nợ và tăng khả năng tự
Trang 26chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ nợ và con nợ Chẳng hạn, các khoản nợ có tài sản đảm bảo có thể bán lại cho VAMC theo mức giá thị trường tại thời điểm giao dịch và Công ty VAMC có thể tiến hành phát mại tài sản, thu lại khoản nợ vào ngân sách nhà nước Cho nên việc Nhà nước sử dụng tiền ngân sách mua lại nợ
và bán lại để thu về cũng là một cách thức phát huy vai trò của Nhà nước Nếu cực đoan khẳng định tuyệt đối không sử dụng ngân sách nhà nước vào công việc này thì mô hình sẽ khô vận hành trong giai đoạn đầu thành lập và hoạt động Các khoản nợ bị lỗ, có thể sử dụng phương thức đấu giá bán nợ để giảm thiểu khoản
lỗ và hạn chế khoản hỗ trợ từ ngân sách Các khoản nợ bất động sản có thể giải quyết thông qua cơ chế mua - bán, cho thuê, góp vốn hoặc phá sản có thông qua VAMC hoặc không
Thứ tư, việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cần thận trọng, đặc biệt là
trong thời điểm giá tài sản đang xuống rất thấp, có thể không cho phép người nước ngoài tham gia để hạn chế đến mức cao nhất việc thất thoát tài sản quốc gia và cá nhân, tổ chức Việt Nam, đặc biệt là ngân hàng và các tổ chức tín dụng, cũng như
dữ liệu về khách hàng vào tay nước ngoài Khi cơ chế thử nghiệm VAMC đã thuần thục, có thể vươn ra thị trường nước ngoài, có thể cho phép người nước ngoài tham gia mua bán nợ theo mô hình AMC Thậm chí cho phép các cá nhân,
tổ chức thành lập các AMC để mua - bán nợ như là những định chế tài chính trung gian tham gia vào phân đoạn thị trường nợ xấu
Thứ năm, các khoản nợ xấu khác nếu không tham gia cơ chế AMC, các
bên sẽ tự thoả thuận giải quyết theo cơ chế quan hệ dân sự thông thường và nếu
có những yếu tố hình sự cấu thành thì thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự với sự vào cuộc của các cơ quan bảo vệ pháp luật Nhưng đây nên được coi là lựa chọn cuối cùng khi vẫn còn các khả năng áp dụng các giải pháp khác
VAMC là một trong những công cụ đặc biệt của nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý nền kinh
Trang 27tế VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu
Các ngân hàng sẽ “chuyển giao” giá trị sổ sách nợ xấu sang VAMC Đổi lại VAMC sẽ phát hành trái phiếu đặc biệt với lãi suất thấp cho ngân hàng
Theo điều 12 Nghị định 53/2013NĐ-CP [4] quy định công ty quản lý tài sản được thực hiện theo các hoạt động sau:
“a) Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
b) Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm;
c) Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay;
d) Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được công ty quản lý tài sản thu nợ;
đ) Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm
có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản
nợ xấu và bảo đảm tiền vay;
e) Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
g) Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần;
h) Tổ chức bán đấu giá tài sản;
i) Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng;
k) Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của công ty quản
lý tài sản sau khi được thống đốc ngân hàng nhà nước cho phép”
Ngoài ra công ty quản lý tài sản được ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán
nợ thực hiện các hoạt động được quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 điều
12 Nghị định 53/2013NĐ-CP
Theo điều 17, 18, 19 Nghị định 53/2013NĐ-CP quy định công ty tài sản
sẽ xử lý các khoản nợ xấu như: Cơ cấu lại nợ xấu, xử lý tài sản đảm bảo công
ty đã mua, xử lý tiền thu hồi những khoản nợ được mua bằng trái phiếu đặc biệt
Trang 28với từng biện pháp, cụ thể như sau:
Tại điều 17 Nghị định 53/2013NĐ-CP này quy định biện pháp cơ cấu lại
nợ xấu, hỗ trợ khách hàng vay của công ty quản lý tài sản như sau:
“1 Công ty quản lý tài sản thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ nhằm
hỗ trợ khách hàng vay sau đây:
a) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời hạn trả nợ phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của khách hàng vay;
b) Áp dụng lãi suất của khoản nợ đã mua phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay và điều kiện thị trường;
c) Giảm một phần hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa có khả năng trả nợ
2 Ngân hàng nhà nước hướng dẫn cụ thể việc cơ cấu lại nợ của công ty quản lý tài sản quy định tại khoản 1 điều này
3 Trong trường hợp đánh giá khách hàng vay có khả năng phục hồi tốt, công ty quản lý tài sản xem xét, đầu tư, cung cấp tài chính để hỗ trợ khách hàng vay xử lý khó khăn tài chính tạm thời và phục hồi sản xuất kinh doanh
4 Công ty quản lý tài sản thực hiện bảo lãnh cho khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng trong trường hợp đánh giá khách hàng có khả năng phục hồi tốt hoặc có dự án mới có hiệu quả đảm bảo trả được nợ vay”
2.1.2 Hoạt động mua bán nợ xấu
2.1.2.1 Khái niệm mua bán nợ xấu
Mua bán nợ xấu là việc bên bán nợ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ
quyền đòi nợ và các quyền khác liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ và bên mua nợ trả tiền cho bên bán nợ [27]
Hoạt động mua bán nợ xấu chính là việc ngân hàng thương mại chuyển nhượng khoản nợ xấu cho các tổ chức có quyền mua, bán nợ theo luật định Thông qua đó, khoản nợ được chuyển nhượng quyền sở hữu và bên mua nợ trở thành chủ sở hữu hợp pháp của khoản nợ đó
Trang 29Hoạt động mua, bán nợ xấu được thực hiện bới các chủ thể như VAMC; AMC của chính các tổ chức tín dụng, DATC,…
2.1.2.2 Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ xấu
Hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung qui định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã kí kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên
án tái cơ cấu đã được được phê duyệt
Trường hợp bán nợ thì không phải xin phép Ngân hàng Nhà nước
Bên bán nợ không mua lại các khoản nợ đã bán
Tổ chức tín dụng không được bán nợ cho công ty con của chính tô chức tín dụng đó, trừ trường hợp bán nợ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng mẹ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là công ty con của tổ chức tín dụng chỉ được mua nợ của tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi tổ chức tín dụng mẹ có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt
Trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, thì bên bán nợ và các bên mua nợ thỏa thuận với nhau về tỉ lệ tham gia, phương thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phân chia giá trị tài sản đảm bảo (nếu có) cho phần nợ được mua, bán và các nội dung cụ thể khác tại hợp đồng mua, bán nợ đảm bảo phù hợp với qui định của pháp luật
Các khoản nợ được mua, bán nợ phải được theo dõi, hạch toán kế toán
Trang 30và báo cáo thống kê theo qui định của pháp luật
Lâu nay, việc mua bán nợ chủ yếu diễn ra giữa các tổ chức tín dụng với VAMC, DATC, mà thiếu vắng giao dịch giữa các tổ chức tín dụng với nhau, đặc biệt là chưa có sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài, dẫn đến chưa thể hình thành thị trường mua bán nợ chính thức [12]
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), từ 15/8/2017 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử lý được 236.800
tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42/2017 của Quốc hội (không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản nợ bán cho Công ty Quản lý tài sản của các TCTD - VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt)
Về khuôn khổ pháp lý, đã có Nghị định 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua - bán nợ, nhưng theo các chuyên gia kinh tế, hướng dẫn triển khai nghị định này rất sơ sài và chưa có đầu mối tạo lập, phát triển thị trường giao dịch mua bán nợ, thiếu một hành lang pháp lý để thị trường mua bán nợ hoạt động
“Nếu chỉ có bên mua, bên bán thì chưa đủ, mà cần có hạ tầng kỹ thuật, nhất là cơ chế pháp lý thông thoáng Có như vậy thì thị trường mua bán nợ mới sôi động được”, TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế nhấn mạnh
Tại Quyết định 1058 phê duyệt Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử
lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động mua bán nợ của các doanh nghiệp, về hình thành, phát triển và quản lý thị trường mua bán nợ, nhưng đến nay thị trường mua bán nợ xấu vẫn chưa phát triển
2.1.2.4 Bất cập trong pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu của NHTM Thứ nhất, Nghị định số 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành tạo cơ
chế mở cho các tổ chức tư nhân kinh doanh hoạt động mua bán nợ và Nghị quyết số: 42/2017/QH14 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu của của các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 15/8/2017 đã tạo lập thị trường mua bán nợ và các
Trang 31công ty mua, bán nợ chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn khi nhiều tổ chức tư
nhân (hơn 30 Công ty mua bán nợ được thành lập), cá nhân tham gia hoạt động
mua bán nợ
Các nhà đầu tư, các đối tượng mua nợ hiện nay một mặt được mua nợ trực tiếp từ ngân hàng, mặt khác lại không bị ràng buộc về điều kiện và giới hạn số nợ được xóa cho khách nợ như VAMC, vì vậy các Công ty mua, bán nợ này có quyền xóa nợ trực tiếp cho khách nợ khi đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của VAMC trên thị trường mua bán nợ [23];
Thứ hai, quy định về phương thức bán nợ: Khi bán nợ, VAMC phải tuân
thủ tuần tự qua nhiều công đoạn “thẩm định giá, bán đấu giá, bán chào bán cạnh tranh, rồi mới bán thỏa thuận”
Quy định về phương thức bán nợ không linh hoạt này làm tăng chi phí
và thời gian xử lý nợ, dẫn đến ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như quy mô xử lý
nợ của VAMC Trong khi đó các chủ thể kinh doanh mua bán nợ khác là tổ chức tư nhân hay cá nhân không phải thực hiện quy định này, nên việc xử lý
nợ rất linh hoạt và hiệu quả hơn VAMC
Thứ ba, Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc Hội về thí điểm xử lý
nợ xấu của của các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 15/8/2017 Theo đó, Công
ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) và tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm, quyền nhận thế chấp bổ sung tài sản bảo đảm, đặc biệt là bất động sản Hiện nay, VAMC và tổ chức tín dụng đang áp dụng giải pháp bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, nếu không thành mới chuyển sang bán nợ
Tuy là nợ xấu nhưng đều chào giá với mức giá khởi điểm 100% cả gốc và lãi, mức giá VAMC không thể xử lý được, do vậy làm kéo dài quá trình đàm phán mua bán nợ của VAMC, giảm hiệu quả của phương án xử lý nợ của VAMC;
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo
Trang 32quy định tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC (Thông tư 19) Thông tư 19
có hiệu lực từ ngày 15/9/2013 Thông tư 19 cùng với Nghị định
53/2013/NĐ-CP, Thông tư 20/2013/TT-NHNN về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động mua bán,
xử lý nợ xấu của công ty VAMC Sau khi Thông tư 19 có hiệu lực, thời gian vừa qua, VAMC đã tiến hành mua các khoản nợ xấu đầu tiên từ một số ngân hàng thương mại Tác giả xin phân tích về cơ chế mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC theo quy định tại Thông tư 19 với những vấn đề sau:
Theo quy định của Thông tư 19, việc mua bán nợ xấu của VAMC được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: (i) Công khai, minh bạch; (ii) Tuân thủ đúng quy định của pháp luật và hợp đồng mua, bán nợ; (iii) Hạn chế rủi ro và chi phí trong mua, bán nợ xấu; (iv) Việc mua, bán nợ xấu được thực hiện đối với từng khoản nợ xấu hoặc theo từng khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay có nhiều khoản nợ xấu tại một tổ chức tín dụng hoặc theo từng nhóm khách hàng vay trong trường hợp một tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu của nhiều khách hàng tại một tổ chức tín dụng hoặc theo hình thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật
Ngoài ra, Thông tư 19 cũng quy định rõ khi thực hiện mua bán nợ xấu giữa VAMC và TCTD, toàn bộ các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cho khoản nợ xấu được bên bán nợ giữ nguyên hiện trạng và chuyển giao cho bên mua nợ theo hợp đồng mua bán
nợ
Về quyền xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của VAMC
Theo quy định Thông tư 19, VAMC được thực hiện nhiều biện pháp xử
lý nợ xấu, tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cụ thể như sau:
Bán nợ xấu đã mua
Trang 33Theo Thông tư 19, việc bán nợ xấu đã mua của VAMC được thực hiện theo các nguyên tắc sau: (i) Bảo đảm sự công khai, minh bạch; (ii) Bảo đảm sự thỏa thuận và tự nguyện; (iii) Bán khoản nợ xấu theo hình thức đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh với sự tham gia của ít nhất 03 người mua không phải là người mua có liên quan với nhau theo quy định của pháp luật Trường hợp không thể bán khoản nợ xấu theo hình thức đấu giá, chào giá cạnh tranh thì VAMC bán khoản nợ xấu trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ; (iv) Giá bán nợ là mức giá hợp lý nhất trên cơ sở so sánh với các mức giá chào mua của khoản nợ xấu đó hoặc tham khảo mức giá của khoản nợ xấu có chất lượng tương đương hoặc giá trị khoản nợ xấu do VAMC hay tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định để giảm tổn thất trong xử lý nợ xấu
Riêng đối với việc bán khoản nợ xấu được VAMC được mua bằng TPĐB, VAMC thống nhất với TCTD bán nợ về điều kiện bán khoản nợ xấu trong đó bao gồm giá khởi điểm (trong trường hợp bán nợ theo phương thức đấu giá) và giá bán (trong trường hợp bán nợ theo thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ) Trường hợp TPĐB chưa đến hạn thanh toán, VAMC được bán lại khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB cho TCTD đã bán khoản nợ xấu đó cho VAMC theo nguyên tắc thoả thuận về điều kiện và giá mua, bán nợ
2.1.3 Xử lý tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu
Như chúng ta đã biết, xử lý tài sản bảo đảm là một trong những nội dung rất quan trọng trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức, cá nhân với ngân hàng (hay còn gọi là các tổ chức tín dụng) Việc xử lý tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng thường phát sinh khi bên vay là tổ chức, cá nhân vi phạm nghĩa vụ của mình trong việc trả tiền gốc hoặc lãi hay nói cách khác là đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Hiện nay, các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm được thể hiện trong các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 163/2006/NĐ-
Trang 34CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT- BTP - BTNMT- NHNN ngày 06/06/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm
Tại Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là từ Điều từ 303 đến 308 của Bộ luật quy định về xử lý tài sản bảo đảm Tuy nhiên, để các quy định này đi vào cuộc sống cần có những hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo sự thuận lợi, công bằng và hợp lý trong xử lý tài sản bảo đảm nói chung và trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng nói riêng Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm: (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định
Cũng theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc xử lý đối với tài sản cầm cố, thế chấp (gọi tắt là tài sản bảo đảm) bao gồm: (i) Bán đấu giá tài sản; (ii) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (iii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (iv)Phương thức khác Đây là các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 303, tuy nhiên thì ngoài các phương thức trên, các bên có thể thỏa thuận các phương thức khác để phù hợp với tính chất của nghĩa vụ như cho thuê tài sản, sử dụng tài sản trong một thời hạn phù hợp để thực hiện giao dịch bảo đảm
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự, có bốn phương thức để xử
lý tài sản bảo đảm cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận đó là:
Trang 35bán tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba Ngoài ra, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận bất kỳ một phương pháp xử lý tài sản bảo đảm khác Đối với các doanh nghiệp là bên bảo đảm thì điều quan trọng hơn cả là tài sản bảo đảm cần được bán ở mức giá cao nhất hoặc hợp lý về mặt thương mại để bên bảo đảm có cơ hội nhận được tiền sau khi đã trả nợ cho bên nhận bảo đảm và thanh toán các khoản được ưu tiên khác Riêng đối với việc xử lý nợ xấu thì theo quy định tại Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016: Đối với những tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật
Ở Việt Nam các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại các ngân hàng chủ yếu là bất động sản và phương tiện vận tải Trong đó hơn 60% khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản như nhà đất, dự án Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về đăng ký biến động quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khi xử lý tải sản thế chấp được qui định trong các văn bản: Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai năm 2013; có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, Thông tư
số 24/2014/TTBTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính; có hiệu lực từ ngày 05/7/2014, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; có hiệu lực từ ngày 05/7/2014 và Quyết định số 1839/QĐ-BTNMT ngày 27/08/2014 về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường…Về cơ bản, các văn bản này đã đề cập đến việc đăng ký biến động đất
Trang 36đai trong trường hợp xử lý nợ hợp đồng thế chấp Bộ Tài nguyên & Môi trường
và Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và thủ tục chuyển quyền
16/2014/TTLT-sở hữu, quyền sử dụng tài sản sau khi xử lý tài sản bảo đảm Thông tư quy định phương thức xử lý tài sản bảo đảm trong một số trường hợp đáng chú ý sau:
Thứ nhất, xử lý tài sản là hàng hóa luân chuyển do bên thế chấp bán, thay
thế mà không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp
Bên nhận thế chấp có thể lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện quyền thu hồi tài sản Nếu thu hồi tài sản, bên nhận thế chấp gửi cho bên nhận chuyển nhượng thông báo về việc thu hồi tài sản kèm theo (01) bản chính hợp đồng bảo đảm đã được công chứng, chứng thực hoặc (01) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm Trường hợp bên nhận chuyển nhượng đồng ý giao lại tài sản, các bên lập biên bản bàn giao có chữ ký, con dấu của các bên Trường hợp bên nhận chuyển nhượng không giao lại tài sản, bên nhận thế chấp có thể thu giữ tài sản theo Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về tài sản bảo đảm hoặc khởi kiện vụ án Nếu không thu hồi tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp có quyền (i) yêu cầu bên thế chấp thanh toán đầy đủ giá trị tài sản nếu tài sản bị bán; hoặc (ii) thu giữ tài sản, xử lý tài sản thay thế và số tiền thanh toán giá trị
chênh lệch nếu tài sản bị thay thế
Thứ hai, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi
hợp đồng thế chấp đã được đăng ký trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật Nếu có thỏa thuận về việc bên nhận thế chấp có quyền nhận tiền bồi thường, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp theo quy định của pháp luật đất đai và giao dịch bảo đảm sau khi có văn bản đề nghị của bên nhận thế chấp và đã gửi thông báo cho bên thế chấp về việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp Trường hợp không có thỏa thuận về việc bên nhận thế chấp
Trang 37nhận số tiền bồi thường, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chỉ thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp sau khi có văn bản đồng ý của bên thế chấp Nếu bên thế chấp không đồng ý, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chuyển số tiền bồi thường vào tài khoản do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập tại ngân hàng và thực hiện việc chi trả sau khi có bản án, quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền
Thứ ba, xử lý tài sản thế chấp là quyền đòi nợ Bên có nghĩa vụ trả nợ
phải thực hiện thanh toán cho bên nhận thế chấp trong thời hạn (07) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của bên nhận thế chấp Nếu bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, theo quyết định của mình, bên nhận thế chấp có quyền (i) thu giữ tài sản để xử lý theo Điều 63 Nghị định sô 163/2006/NĐ-CP; hoặc (ii) yêu cầu bên có nghĩa vụ trả số tiền gốc, lãi và lãi quá hạn; hoặc (iii) yêu cầu bên thế chấp tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo đảm; hoặc (iv) khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
Thứ tư, xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai:
Nếu tài sản bị xử lý là nhà ở thương mại, bên nhận thế chấp sẽ nhận chính tài sản thế chấp trong trường hợp chủ đầu tư chưa bàn giao nhà cho bên thế chấp hoặc nếu chủ đầu tư đã bàn giao nhà cho bên thế chấp, cơ quan có thẩm quyền
sẽ cấp giấy chứng nhận cho bên mua nhà khi nhà ở đó được bán để thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm Nếu tài sản bị xử lý là nhà ở xã hội, bên nhận thế chấp phối hợp với chủ đầu tư chấm dứt hợp đồng với bên thế chấp để bán lại nhà ở đó cho đối tượng được mua nhà ở xã hội nếu chủ đầu tư đã bàn giao nhà cho bên thế chấp hoặc nếu chủ đầu tư chưa bàn giao nhà, bên nhận thế chấp phối hợp với chủ đầu tư bán lại nhà ở đó cho đối tượng được mua nhà ở xã hội theo quy định pháp luật
Do vậy, xử lý tài sản bảo đảm là một trong những quy phạm pháp luật
Trang 38được các bên trong giao dịch dân sự đặc biệt là trong hợp đồng tín dụng đặc biệt quan tâm Với những quy định khác nhau của pháp luật sẽ gây không ít khó khăn cho các bên Do vậy, để đảm bảo lợi ích thì các bên có thể phải thỏa thuận rõ nội dung, thời điểm cũng như phương thức xử lý tài sản đảm trong các hợp đồng tín dụng
Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
Điều 299, Bộ luật dân sự 2015 quy định các trường hợp mà bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm Các trường hợp này bao gồm: (1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (2) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật (3) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định
Như vậy, một mặt, điều luật này đưa ra các nguyên tắc mang tính mặc định về quyền xử lý bảo đảm của ngân hàng (nhất là trong trường hợp các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm); mặt khác, nó cũng cho phép các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm của mình về các trường hợp xử lý bảo đảm khác, đồng thời ghi nhận các trường hợp xử lý bảo đảm bắt buộc theo quy định tại một văn bản luật cụ thể
Trường hợp xử lý bảo đảm đầu tiên nêu ở trên là trường hợp thông thường khi có vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm
Trường hợp thứ hai thường xảy ra khi ngân hàng thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khi một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ (khoản 3, Điều 296, Bộ luật dân sự 2015) hay trước khi tuyên bố bên có nghĩa vụ phá sản (điểm b, khoản 1, Điều 53, Luật phá sản
số 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014)
Một văn bản luật cũng có thể quy định về trường hợp xử lý bảo đảm Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 90, Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12
Trang 39ngày 14 tháng 11 năm 2008, được bổ sung, sửa đổi năm 2014 (Luật thi hành dân sự), trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản
đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận về một số trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khác, như khi bên vay vi phạm một nghĩa vụ nào đó của hợp đồng vay hay bên bảo đảm vi phạm một nghĩa vụ nào đó nêu trong hợp đồng bảo đảm
Các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
Nguyên tắc chung - Theo quy định tại khoản 1, Điều 303, các bên có thể thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây: (1) Bán đấu giá tài sản; (2) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (3)Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (4) Phương thức khác
Đây là một danh sách mở bởi vì điều luật này cũng quy định khả năng các bên có thể thỏa thuận về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác, ngoài
ba phương thức đã được liệt kê
Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về việc đưa tài sản bảo đảm vào khai thác hay cho thuê và số tiền thu được từ việc khai thác hay cho thuê sẽ được sử dụng vào việc thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm
Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản sẽ được bán đấu giá (khoản 2, Điều 303)
Cũng cần lưu ý trong một số trường hợp pháp luật có thể ấn định phương thức xử lý tài sản bảo đảm Chẳng hạn, theo quy định tại khoản 2, Điều 149, Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014, việc xử lý tài sản thế chấp là dự án đầu tư xây dựng nhà ở chỉ có thể được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng dự án cho một bên đủ điều kiện làm chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở
Trang 40Bán đấu giá tài sản - Điều dễ nhận thấy là nhà làm luật đã chính thức công nhận việc bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm về việc bán đấu giá tài sản để xử lý tài sản bảo đảm Như vậy, phương thức bán đấu giá tài sản có thể được sử dụng để xử lý tài sản bảo đảm trong ba trường hợp chính, đó là (i) nếu các bên có thỏa thuận sử dụng phương thức xử lý bảo đảm này, (ii) bán tài sản đã kê biên là động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng và bất động sản (Điều 101, Luật thi hành án dân sự), (iii) trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm (khoản 2, Điều 303, Bộ luật dân sự 2015)
Việc bán đấu giá tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về bản đấu giá tài sản Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về bán đấu giá tài sản được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 về bán đấu giá tài sản và Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tư pháp
Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản - Điều 195, Bộ luật dân sự 2015 quy định “người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật” Điểm b, khoản 1, Điều 303 đã mở ra một ngoại lệ cho bên nhận bảo đảm là người không phải chủ sở hữu của tài sản bảo đảm - được tự bán tài sản bảo đảm
Như vậy, để ngân hàng được tự mình bán tài sản cầm cố hay thế chấp, chỉ cần các bên có thỏa thuận về phương thức xử lý bảo đảm này, mà không cần có ủy quyền của bên bảo đảm cho ngân hàng vì mục đích này Đây là một quy định mới và được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngân hàng trong việc xử lý bảo đảm
Bộ luật dân sự 2015 không đề cập thời điểm mà các bên có thể thỏa thuận
về việc ngân hàng tự bán tài sản bảo đảm Có thể hiểu, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc vào thời điểm xử lý tài sản bảo đảm
Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ -