1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

sang kien kinh nghiem 2015 2016

27 618 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 367,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng tiến trình dạy học chuyên đề một số kiến thức Vật lí theo LTKT kết hợp với kĩ thuật dạy học hiện đại, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh trung học phổ thông (THPT). Áp dụng tiến trình nêu trên trong tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO KẾT HỢP KĨ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ VẬT LÍ THPT 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 5

1.2.1 Quan niệm về kiến tạo trong dạy học 5

1.2.2 Một số luận điểm cơ bản của LTKT trong dạy học 5

1.2.3 Cách tiếp cận lý thuyết kiến tạo trong dạy học 7

1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo 8

1.2.5 Vận dụng LTKT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông 9

1.2.5.1 Đặc thù của môn Vật lí ở trường phổ thông 9

1.2.5.2 Điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT 9

1.3 Kĩ thuật dạy học hiện đại 11

1.3.1 Kĩ thuật dạy học khăn phủ bàn 11

1.3.2 Kĩ thuật dạy học mảnh ghép 12

Kết luận chương 1 14

Chương 2: ĐỀ XUẤT TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ MỘT SỐ KIẾN THỨC VẬT LÝ THPT THEO LÍ THUYẾT KIẾN TẠO KẾT HỢP KĨ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI 15

2.1 Đề xuất tiến trình dạy học tổng quát các kiến thức Vật lí THPT theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD 15

2.2 Đề xuất tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 theo LTKTvới sự hỗ trợ của BĐTD 19

Kết luận chương 2 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn sáng kiến

Đổi mới phương pháp giáo dục là một trong những mục tiêu lớn đượcngành giáo dục - đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay Điều 28.2 Luật giáo

dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm;…”.

Vật lí là một trong những môn khoa học mà kiến thức của nó được ứngdụng nhiều trong đời sống thực tiễn, gắn liền với thế giới tự nhiên Vì vậy, đa

số các kiến thức mà học sinh (HS) sẽ học, các em ít nhiều đã có những quanniệm sẵn có Căn cứ vào quan niệm ban đầu ấy của HS để tổ chức hoạt độngdạy học là một trong những hướng dạy học có hiệu quả Lấy quan niệm banđầu của HS làm căn cứ để xây dựng tri thức chính là đặc trưng của dạy họctheo lý thuyết kiến tạo (LTKT) Ở đây, các quan niệm ban đầu của HS có thểsai hoặc đúng nhưng chắc chắn chưa đầy đủ, cần thiết giáo viên (GV) phải khơigợi để HS bộc lộ các quan niệm đó và thấy được các quan niệm đó có thể chưaphù hợp với thực tế khách quan, từ đó nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề mới ở

HS Trên cơ sở đó, GV sẽ giúp đỡ để HS kiến tạo tri thức một cách tích cực,dẫn đến HS sẽ tự thay đổi quan niệm ban đầu, điều chỉnh, hoàn thiện nhữngquan niệm đó và lĩnh hội được kiến thức khoa học một cách chính xác

Thực tế hiện nay, hầu như các GV khi dạy học chưa chú trọng khai tháccác quan niệm ban đầu của HS mà chỉ áp đặt theo một logic đã chuẩn bị sẵn Vìthế, sau khi học xong, nhiều kiến thức mà HS tiếp thu được không bền vữngcòn các quan niệm ban đầu vẫn hằn sâu trong mỗi HS

Với những lí do trên, tôi chọn sáng kiến: “Sử dụng lí thuyết kiến tạo kết

hợp kĩ thuật dạy học hiện đại vào dạy học theo chuyên đề Vật lí THPT”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng tiến trình dạy học chuyên đề một số kiến thức Vật lí 10 theoLTKT kết hợp với kĩ thuật dạy học hiện đại, nhằm góp phần phát huy tính tíchcực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh trung học phổ thông (THPT)

Áp dụng tiến trình nêu trên trong tổ chức dạy học một số kiến thức chương

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học của GV, HS về một số kiến thức chương “Động lựchọc chất điểm” Vật lí 10 theo LTKT kết hợp với kĩ thuật dạy học hiện đại

4 Giả thuyết khoa học

Nếu dựa trên cơ sở lí luận về dạy học theo LTKT, kĩ thuật dạy học hiệnđại, đồng thời nghiên cứu và phân tích nội dung kiến thức khoa học để xâydựng tiến trình và tổ chức dạy học một số chuyên đề trong chương “Động lựchọc chất điểm” Vật lí 10 theo LTKT kết hợp kĩ thuật dạy học hiện đại, thì cóthể góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinhTHPT

5 Phạn vi nghiên cứu

- Một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10

- Địa bàn nghiên cứu: huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về:

- Lý thuyết kiến tạo

- Kĩ thuật dạy học hiện đại

Trang 5

6.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về dạy học theo LTKT kết hợp kĩ thuậtdạy học hiện đại tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

6.3 Đề xuất tiến trình dạy học tổng quát theo LTKT kết hợp kĩ thuật dạy họchiện đại, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức chohọc sinh THPT

6.4 Đề xuất tiến trình dạy học một số chuyên đề trong chương “Độnglực học chất điểm” Vật lí 10 theo LTKT kết hợp kĩ thuật dạy học hiện đại,nhằm góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho họcsinh THPT

6.5 Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy thực nghiệm tại trườngTHPT Hồng Đức, huyện Ninh Giang – tingr Hải Dương

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Những đóng góp của sáng kiến

- Xây dựng tiến trình dạy học theo chủ đề tổng quát theo LTKT kết hợp

kĩ thuật dạy học hiện đại Từ đó, vận dụng để xây dựng tiến trình dạy học và tổchức dạy học theo chuyên đề một số kiến thức chương “Động lực học chấtđiểm” Vật lí 10 nhằm góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiếnthức cho học sinh THPT

- Có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Vật lí THPT

Trang 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO KẾT HỢP KĨ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI VÀO

DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ VẬT LÍ THPT 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Lý thuyết kiến tạo ra đời từ cuối thế kỉ XVIII, người đầu tiên nghiên cứu

để phát triển tư tưởng kiến tạo một cách rõ ràng và áp dụng vào việc dạy học làJ.Piaget Theo ông, nền tảng của việc học là khám phá và các cấu trúc nhậnthức phải có lịch sử phát sinh và phát triển nằm trong một quá trình kép: Đồnghóa và điều ứng

Cho đến nay, ở Việt Nam, LTKT đã được vận dụng để tiến hành dạy họcmột số nội dung trong chương trình Vật lí, toán học,… và cũng đã có một sốthực nghiệm sư phạm chứng minh khả năng của quan điểm mới này trong việctích cực hóa vai trò của chủ thể người học Có thể nêu ra một số công trình

nghiên cứu của một số tác giả như: “Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một

số khái niệm, định luật trong chương trình vật lý 10 THPT theo quan điểm kiến tạo” - Dương Bạch Dương - Luận án tiến sĩ giáo dục học - 2002; “Nghiên cứu,

tổ chức quá trình dạy học một số kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lí lớp 10-Nâng cao) theo quan điểm kiến tạo” - Nguyễn Thu Thương -

Luận văn thạc sĩ - ĐHSP Thái Nguyên - 2008;…

Việc vận dụng LTKT kết hợp kĩ thuật dạy học hiện đại trong dạy họctheo chuyên đề chắc chắn sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực sángtạo của HS trong hoạt động dạy học Vì vậy, trong sáng kiến kinh nghiệm củamình, tôi kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trước đây, đồng thời sẽ tậptrung vào nghiên cứu việc vận dụng LTKT kết hợp kĩ thuật dạy học hiện đạivào soạn giảng một số chuyên đề thuộc chương “Động lực học chất điểm” Vật

lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh

Trang 7

1.2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học

1.2.1 Quan niệm về kiến tạo trong dạy học

Có một số quan điểm sau đây:

- Kiến tạo trong dạy học còn khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nênnhững hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trongnhững cái mà họ đã có trước đó

- Lý thuyết kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc

“học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân sẽ trở nênvững chắc hơn rất nhiều so với việc nhận được từ người khác

- Người học tạo nên kiến thức cho bản thân bằng cách điều khiểnnhững ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã

Như vậy, dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy họcnhưng các quan điểm đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của HS trong quátrình học tập và cách thức họ thu nhận các tri thức đó cho bản thân Theonhững quan điểm này, HS không học bằng cách tiếp nhận những tri thức dongười khác truyền cho một cách áp đặt mà bằng cách đặt mình vào môi trườnghọc tập từ đó họ tích cực, chủ động đồng hoá và điều ứng các kiến thức và kĩnăng đã có để phát hiện và giải quyết vấn đề để xây dựng nên những hiểu biếtmới cho bản thân

1.2.2 Một số luận điểm cơ bản của LTKT trong dạy học

Luận điểm 1: Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận

thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài

Luận điểm này khẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trìnhhọc tập, nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức Chẳng hạn trẻ em tập đibằng cách “đi”, việc “đi” của nó lúc đầu có thể rất khó khăn và luôn vấp ngã,nhưng qua thực tiễn đó chúng sẽ đi được đồng thời rút ra được các kiến thức và

Trang 8

kinh nghiệm để đi sao cho không ngã Như vậy, đứa trẻ “tập đi” bằng cách “đi”chứ không phải bằng cách được dạy những qui tắc để đi và thực hành chúng.

Luận điểm 2: Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới

quan của chính mỗi người.Nhận thức không phải là quá trình khám phá một thếgiới mà chủ thể nhận thức chưa từng biết tới

Luận điểm này nhằm trả lời câu hỏi “nhận thức là gì?” Theo đó, nhậnthức không phải là quá trình học sinh thụ động thu nhận những chân lí do ngườikhác áp đặt mà họ được đặt trong một môi trường có dụng ý sư phạm, ở đó họđược khuyến khích vận dụng những tri thức và kĩ năng đã có để thích nghi vớinhững đòi hỏi của môi trường mới, từ đó hình thành nên tri thức mới Như vậy,luận điểm này hoàn toàn phù hợp với quy luật nhận thức của loài người

Luận điểm 3: Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó HS dần tự

hoà mình vào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh Trong lớphọc mang tính kiến tạo HS không chỉ tham gia vào việc khám phá, phát minh

mà còn tham gia vào cả quá trình xã hội bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàmphán và đánh giá

Luận điểm này khẳng định vai trò của sự tương tác giữa các cá nhântrong quá trình học tập Quá trình học tập không chỉ là quá trình diễn ratrong đầu óc của mỗi cá nhân mà nó còn luôn có xu hướng vượt ra ngoài tạonên sự xung đột giữa các cá nhân trong quá trình nhận thức, đó là động lựcquan trọng thúc đẩy quá trình học tập của học sinh

Luận điểm 4: Những tri thức mới của mỗi cá nhân nhận được từ việc

điều chỉnh lại thế giới quan của họ cần phải đáp ứng được những yêu cầu mà tựnhiên và thực trạng xã hội đặt ra

Luận điểm này định hướng cho việc dạy học theo quan điểm kiến tạokhông chệch khỏi mục tiêu của giáo dục phổ thông, tránh tình trạng học sinhphát triển một cách quá tự do để dẫn đến hoặc là tri thức học sinh thu đượctrong quá trình học tập là quá lạc hậu, hoặc là quá xa vời với tri thức khoa học

Trang 9

phổ thông, không phù hợp với lứa tuổi, không phù hợp với những đòi hỏi củathực tiễn.

Luận điểm 5: Học sinh đạt được tri thức mới do chu trình: Tri thức đã có

 Dự đoán  Kiểm nghiệm  Thất bại  Thích nghi  Tri thức mới

Đây có thể coi là chu trình học tập mang tính đặc thù của LTKT, nó thểhiện vai trò chủ động, tích cực và phản ánh sự sáng tạo không ngừng của họcsinh trong quá trình học tập Những kiến thức tiếp cận học sinh là những “kinhnghiệm” có trong bản thân mỗi học sinh, và hệ thống kiến thức đó sẽ đượcchính bản thân học sinh xây dựng lên bằng quá trình đồng hóa và điều ứng Vìvậy, tri thức mà mỗi người có được là không hoàn toàn giống nhau, thậm chí cóthể quá xa vời hay lạc hậu so với tri thức khoa học phổ thông, so với lứa tuổihay thực tiễn cuộc sống Tuy nhiên, với cách học như thế này, học sinh có thể

“thỏa sức” tìm tòi, thể hiện sự sáng tạo không ngừng trong quá trình kiến tạonên tri thức cho bản thân.Và trên cơ sở đó thì trong dạy học, giáo viên cần thiết

kế các hoạt động tổ chức, chỉ đạo để giúp cho chu trình kiến tạo tri thức củahọc sinh được diễn ra một cách thuận lợi hơn

1.2.3 Cách tiếp cận lý thuyết kiến tạo trong dạy học

Có thể trình bày cách tiếp cận của mô hình dạy học kiến tạo (gọi tắt làcách tiếp cận kiến tạo) như sau:

Mục đích của dạy học không phải chỉ truyền thụ kiến thức mà chủ yếu làbiến đổi nhận thức của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức,thông qua đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách Muốn làm biến đổi nhận thứccủa học sinh, giáo viên cần phải tổ chức dạy học sao cho học sinh nắm bắtđược vấn đề, tạo ra được những mâu thuẫn nhận thức giữa quan niệm cũ vốn cótrong suy nghĩ của học sinh với thực tiễn quan sát và từ đó kiến tạo kiến thức

Cách tiếp cận kiến tạo trong dạy học nhấn mạnh đến mối liên tưởng kiếnthức vốn có với những kiến thức cần học, đòi hỏi người GV phải tạo ra đượcmôi trường học tập thúc đẩy sự biến đổi nhận thức, có nghĩa là: tạo cơ hội để

Trang 10

học sinh trình bày, thể hiện những kiến thức vốn có; cung cấp tình huống cóvấn đề có ý nghĩa (liên quan đến kiến thức vốn có của HS); tạo cơ hội cho HSsuy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề; động viên HS thể hiện, trình bày kiếnthức mới Như vậy, trong quá trình dạy học, GV không được đơn thuần truyềnthụ kiến thức mà phải là người động viên HS tham gia vào quá trình kiến tạokiến thức.

1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo

1.2.4.1 Vai trò của giáo viên

- Tạo không khí dạy học

- Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ quan niệm riêng

- Tổ chức cho học sinh tranh luận về những quan niệm của mình

- Là trọng tài điều khiển học sinh tranh luận ý kiến

- Tạo điều kiện và giúp học sinh nhận ra các quan niệm sai lệch của mình

và tự giác khắc phục chúng

- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học

- Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức thu nhận

1.2.4.2 Vai trò của học sinh

Trong dạy học kiến tạo, người học được hoạt động rất nhiều Họ thực sự

có vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học Cụ thể:

- HS phải chủ động và tích cực trong việc đón nhận tình huống học tậpmới, chủ động trong việc huy động những kiến thức, kỹ năng đã có vào khámphá tình huống học tập mới

- HS phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn củamình khi đứng trước tình huống học tập mới

- HS phải chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao đổi thông tinvới bạn học và với GV Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính

HS trong việc tìm những biện pháp để giải quyết những tình huống học tập mới

Trang 11

hoặc khám phá sâu hơn những tình huống đó.

- Người học phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi đã lĩnhhội được các tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống học tập

1.2.5 Vận dụng LTKT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

1.2.5.1 Đặc thù của môn Vật lí ở trường phổ thông

Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu về các quy luật vận động của

tự nhiên, từ tầm vi mô (các hạt cấu tạo nên vật chất) cho đến tầm vĩ mô (cáchành tinh, thiên hà và vũ trụ) Đối tượng nghiên cứu chính của Vật lí hiện naybao gồm vật chất, năng lượng, không gian và thời gian Ngoài ra, Vật lí cònđược xem là ngành khoa học cơ bản bởi vì các định luật Vật lí chi phối hầunhư tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác

Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nênnhiều kiến thức Vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học,tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh Vật lí học còn là cơ sở

lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất

Vì vậy, việc nghiên cứu, giảng dạy Vật lí cần trực quan, cho HS quan sátthí nghiệm Ngoài ra, việc giảng dạy Vật lí còn yêu cầu HS giải quyết đượcnhững bài toán liên quan đến thực tế, giải thích được những hiện tượng thực tế.Trước những hiện tượng ấy, HS có rất nhiều quan niệm khác nhau, trong đó cónhững quan niệm sai lầm Trong quá trình giảng dạy, giáo viên sử dụng nhữnglập luận khoa học, những thí nghiệm,… giúp HS có những nhận thức, hiểu biếtđúng đắn về những hiểu biết sai lầm mà họ thường gặp, và đây cũng chính làđặc trưng của dạy học kiến tạo

1.2.5.2 Điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT

* Xác định rõ mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh

Muốn thực hiện các tư tưởng của dạy học kiến tạo, người GV phải xâydựng mối quan hệ thầy trò phù hợp Mặc dù giáo viên là người vạch kế hoạchnhưng phải khéo léo để HS không cảm thấy mình bị điều khiển, HS sẽ hăng say

Trang 12

học tập hơn Vì hoạt động của HS là do động cơ thúc đẩy từ bên trong, nhu cầucủa chính mình, chứ không phải do sự cưỡng ép từ bên ngoài.

* Xác định đúng quan hệ của giáo viên và học sinh đối với tri thức khoa học

Quá trình dạy học là quá trình tác động của GV và HS đến một đối tượngchung là tri thức khoa học, thể hiện ở các mặt sau:

+ Việc lựa chọn tri thức: dựa vào sách giáo khoa làm chuẩn và dựa vàotrình độ học sinh Việc lựa chọn tri thức cho một giờ dạy rất quan trọng vì nóliên quan đến mục tiêu và phương pháp dạy học

+ Cách tác động đến tri thức: GV “chuyển” tri thức cho HS thông quatạo tình huống có vấn đề, nêu cho học sinh những câu hỏi để họcsinh tư duy,tìm cách phát hiện và giải quyết vấn đề Đối với HS “tiếp nhận” các tri thức đóthông qua việc phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV, qua

đó xây dựng tri thức mới cho bản thân, đồng thời củng cố kiến thức và kỹ năngsẵn có

* Tạo được nhu cầu hứng thú học tập cho học sinh

Khả năng HS tự phát hiện ra vấn đề và mong muốn được giải quyết vấn

đề là rất ít Do đó, GV phải giúp đỡ HS tạo ra nhu cầu nhận thức và hứng thúhọc tập

Để HS có được nhu cầu nhận thức thì bắt buộc phải có tình huống có vấn

đề, tình huống này sẽ đưa chủ thể vào một trạng thái tâm lý đặc biệt, mongmuốn giải quyết vấn đề và lúc đó hoạt động tư duy diễn ra Lúc bấy giờ động

cơ học tập là tự giác từ bên trong HS, do nhu cầu học hỏi của các em, không hề

có sự áp đặt nào từ phía bên ngoài nên các em rất có hứng thú trong học tập.Hứng thú học tập thể hiện ở chỗ chủ thể huy động toàn bộ vốn kiến thức vàkinh nghiệm của mình (điều ứng) để sàng lọc những phần liên quan đến tìnhhuống cần giải quyết Sau đó đề xuất giả thuyết, tìm cách kiểm tra giả thuyết(bằng hành động và tư duy) và cuối cùng là chủ thể chọn cách giải quyết tối ưunhất, xây dựng kiến thức đúng đắn nhất

Trang 13

Trong dạy học kiến tạo, các kiến thức, kỹ năng sẵn có của HS là một trongcác tiền đề quan trọng để giúp GV lựa chọn tri thức và phương pháp phù hợp.Tuy nhiên, nếu câu hỏi đặt ra đã có trong vốn kinh nghiệm của HS thì hoạt động

tư duy không diễn ra Nghĩa là khi câu hỏi đặt ra, HS trả lời dễ dàng thì hoạtđộng tư duy không phát triển Còn nếu câu hỏi đặt ra là quá khó, HS nỗ lực hếtsức nhưng vẫn không trả lời được, HS sẽ cảm thấy chán nản và quá trình tư duy

có thể diễn ra nhưng không đạt hiệu quả Như vậy không đạt được mục tiêu củaquá trình dạy học Vì vậy phải đặt câu hỏi có vấn đề nằm trong “vùng phát triểngần nhất” của HS Nghĩa là câu hỏi đặt ra cao hơn trình độ hiện tại của HSnhưng chúng vẫn cảm thấy vừa sức (nếu có sự giúp đỡ của GV và bạn bè cùngvới sự nỗ lực của cá nhân thì có thể tìm được câu trả lời)

* Điều kiện trang thiết bị phải đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của học sinh

Trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo, HS phải tự kiến tạokiến thức cho bản thân dưới sự hỗ trợ của GV nên con đường đi tìm tri thứcVật lí của HS cũng giống như các nhà khoa học HS cũng tự mày mò để thiết

kế các phương án thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm với các dụng cụ có sẵn đểgiải quyết các mâu thuẫn nhận thức hay giải quyết các vấn đề đã đặt ra

1.3 Kĩ thuật dạy học hiện đại

1.3.1 Kĩ thuật dạy học khăn phủ bàn

a Vai trò

Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữahoạt động của cá nhân và nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh

- Phát triển mô hình có sự hợp tác giữa học sinh với học sinh

b Cách tiến hành

Theo mô hình sau:

Ngày đăng: 09/07/2016, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w