Cùng với tư tưởng đổi mới nhất quán trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, những năm 1986 trở đi cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn hóa, văn chương và nền văn học t
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như một lẽ tự nhiên, thời điểm sau năm 1975, kết thúc một thời kì lịch
sử, văn học cũng bước vào một chặng đường mới Đặc biệt là sau đại hội Đảng lần thứ VI, năm 1986, văn học thực sự đã được “cởi trói” Văn học lúc này đứng trước một tình thế vô cùng thuận lợi cho sự phát triển, đặc biệt là trong thời kì đổi mới tư duy, tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển mạnh mẽ Công cuộc đổi mới, phương pháp tư duy đã ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của văn học nói chung, của tiểu thuyết nói riêng Nền văn học thời kì đổi mới đã có điều kiện để phản ánh một cách toàn diện hơn cái hiện thực hào hùng nhưng rất gian lao và khốc liệt của những năm chiến tranh Ngoài ra văn học thời kì này còn đi sâu hơn vào những mâu thuẫn nội bộ nhân dân, vào những vấn đề xã hội của cuộc sống bình thường hàng ngày của con người, vào số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân
Trên thực tế, văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những tiến bộ đáng kể Thống kê của giáo sư Phan Cự Đệ trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã đưa ra một con số kỷ lục: nếu tính tác giả viết ba cuốn trở lên thì
từ năm 1980 đến năm 1996, các nhà văn xuôi trong Hội nhà văn Việt Nam đã cho ra mắt bạn đọc trên 360 cuốn tiểu thuyết Khoan nói về chất lượng của những cuốn tiểu thuyết này thì con số vừa nêu quả là một thành tựu đáng khâm phục Một đặc điểm dễ nhận thấy của văn học thời kỳ này là quá trình đổi mới diễn ra có phần sôi động hơn trong văn xuôi, nhất là ở thể loại tiểu thuyết Sở dĩ có hiện tượng ấy là vì thể loại này có khả năng đáp ứng được một cách rộng rãi nhu cầu thể hiện nội dung tư tưởng của thời đại Mặt khác, tiểu thuyết cũng là thể loại có ưu thế về khả năng tiếp xúc trực tiếp với hiện thực, mô tả hiện thực một cách kỹ lưỡng và đầy đủ nhất Đồng thời, cũng không thể phủ nhận sự cố gắng của các nhà tiểu thuyết Bên cạnh những cây
Trang 2bút tiểu thuyết mới xuất hiện mang đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, lớp các nhà tiểu thuyết đã từng sáng tác trong thời kỳ trước cũng không ngừng tìm tòi và
tự đổi mới Họ đã nhìn thẳng vào yêu cầu của thời đại mới và đối diện với thực tại Bản lĩnh của những nhà văn từng trải và giàu kinh nghiệm đã giúp họ đứng vững và tiếp tục cống hiến cho nền văn học nước nhà Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải… Ma Văn Kháng thuộc số những nhà văn mở đường cho công cuộc đổi mới văn học
Ma Văn Kháng là nhà văn có tên tuổi và vững vàng trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam Ông được đánh giá là “một cây bút văn xuôi lực lưỡng, sung sức, một đời văn sáng tạo” của nền văn học Việt Nam đương đại
Trong sự nghiệp văn chương của mình, ông đã đóng góp cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX 17 tập truyện ngắn và hơn 13 cuốn tiểu thuyết Ma Văn Kháng luôn khao khát kiếm tìm cái mới, không tự bằng lòng với chính mình, ông đã đổi mới về đề tài, cách tân táo bạo về tư duy nghệ thuật và đã tạo cho mình một phong cách mới, độc đáo trong đời văn của mình Ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý
Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Trong đó
có những tác phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế và được dịch ra
tiếng nước ngoài như: Truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì (không có giải nhất)
trong cuộc thi truyện ngắn của tuần báo văn nghệ 1967 - 1968, tập truyện
ngắn Trăng soi sân nhỏ giải thưởng hội nhà văn Việt Nam năm 1995 Ngoài
Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng hội nhà văn năm 1984, Ma Văn
Kháng còn vinh dự nhận được giải thưởng văn học về nghệ thuật (2001) Với những thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại
Trang 3Cùng với tư tưởng đổi mới nhất quán trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, những năm 1986 trở đi cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn hóa, văn chương và nền văn học thời kì này có bước chuyển biến đáng ghi nhận
ở hầu hết các thể loại trong đó có tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo bạn đọc đương đại
Trong sự vận hành chung của thể loại, tiểu thuyết đã thực sự bộc lộ ưu thế của mình trên con đường dân chủ hoá nội dung nghệ thuật Có lẽ chưa bao giờ những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại dân chủ như lúc này Giá trị của tác phẩm vẫn tiếp tục được khẳng định trên nhiều phương diện: thể loại, kết cấu, quan niệm nghệ thuật về con người, ngôn ngữ nghệ thuật Trong đó không gian và thời gian nghệ thuật được xem như là yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật trong tác phẩm nên việc nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới là rất cần thiết để từ đó có thể thấy được một trong những phương diện quan trọng tạo nên mô hình thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới
Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Không gian và
thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới làm
đề tài nghiên cứu của mình Việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ vị thế của các yếu tố nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Từ đó khẳng định đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng về phương diện sáng tạo nghệ thuật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, đồng thời đề tài cũng góp phần làm tư liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và những người yêu thích văn học Việt Nam hiện đại
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chúng ta có thể nhận thấy Ma Văn Kháng thành công ở cả thể loại truyện ngắn lẫn tiểu thuyết Song hành cùng với chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, các tác phẩm của nhà văn ngày càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học Số lượng các công trình chọn sự nghiệp sáng tác của
Ma Văn Kháng đã tăng lên rất nhiều Ở loại hình nghệ thuật nào nhà văn cũng được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao và có những thành tựu nổi bật như:
Bài viết của tác giả Phạm Duy Nghĩa,“Phong cách văn xuôi miền núi
của Ma Văn Kháng” (8/2009) Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam Theo tác
giả: “Ma Văn Kháng là nhà văn có phong cách rõ nét, ổn định, không lẫn với mọi cây bút khác” Nét nổi bật nhất của ông khi viết về miền núi là cảm hứng trước vẻ phồn thực, cường tráng, bản tính hồn nhiên cùng sự phân cực sâu sắc của con người và cuộc đời trần thế Ở bài viết này người viết mới chỉ đi sâu tìm hiểu vẻ đẹp con người được thể hiện trong những tác phẩm của Ma Văn
Kháng trong tập Trốn nợ mà chưa có điều kiện tìm hiểu trên nhiều khía cạnh
khác của tập truyện
Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 696 ra ngày 3/2009, tác giả Nguyễn Thanh Tú có bài viết: “Vốn sống, tài năng và tâm huyết” (từ trường hợp nhà văn Ma Văn Kháng với tập Trốn nợ - NXB phụ nữ 2008) Bài viết là sự đánh
giá bản lĩnh nghệ sĩ của một nhà văn lão thành với tài quan sát, chiêm nghiệm, cách kể, tả, dựng cảnh Bên cạnh đó tác giả bài viết cũng tìm ra một
số điểm yếu của nhà văn trong quá trình thuyết lý lộ liễu gây cảm giác nặng
nề với người đọc
Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện “Tiểu thuyết về đề tài dân tộc miền núi
của Ma Văn Kháng” (Phong cách và đời văn, NXB Khoa học xã hội, HN
2005 tr 229 - 239) Bài viết cho ta thấy mảng đề tài này đã bổ sung cho nhận
Trang 5thức hướng tới cái chân thật và đúng đắn về cái nhìn đối với đời sống và con người miền núi ở nước ta ngay từ trước cách mạng tháng tám 1945 Cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ còn nhiều hoang dã của Tây Bắc hoặc Tây Nam Bộ, những con người của các dân tộc sống cực khổ, tăm tối, nhưng tính cách thật thà hồn nhiên, bộc trực qua dáng điệu ngôn ngữ… Dưới ngòi bút ấm áp tình cảm, ông đã vạch lên những đường cày đầu tiên xới lật một trong những nguồn mạch phong phú của đời sống hiện thực, chứa đựng những nét đặc sắc của văn học dân tộc
Nói về cái nhìn của Ma Văn kháng trong tiểu thuyết Đám cưới không
có giấy giá thú, trong bài viết: Đọc Đám cưới không có giấy giá thú của Lê
Ngọc Y, tác giả đã nhận thấy “Bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động” Từ đó, tác giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng “đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị cái xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ”
Trong bài viết: Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn, Nguyễn Văn Lưu
đã nhận xét: “Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tìm câu trả lời trong sự
khám phá mối quan hệ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, mối quan hệ
cá nhân - gia đình - xã hội Nhà văn tái hiện lại đời sống trong mỗi gia đình Việt Nam hiện nay, đặt ra những vấn đề bức thiết, mỗi con người, mỗi gia đình, phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm trở lại như thế nào” [44]
Hoàng Thị Huế - Nguyễn Thị Khánh Thu trong bài: Hình tượng người kể
chuyện trong tiểu thuyết mới của Ma Văn Kháng (Diễn đàn Văn nghệ Việt
Nam số 11/2010, tr 25-27) thì cho rằng các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng mang khuynh hướng tự truyện giúp người đọc không chỉ giải mã con người
Trang 6tác giả và thời đại qua những chi tiết gắn với tiểu sử, cuộc đời thật, qua những trải nghiệm sống và tự thú chân thành
Hình tượng người kể chuyện trong Một mình một ngựa có nhiều điểm
đặc sắc Tác phẩm được thực hiện bởi kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thể trần
thuật, một đặc tính mới của tiểu thuyết hiện đại Một mình một ngựa có giọng
kể quán xuyến tác phẩm của người kể chuyện khách quan từ nhân vật Toàn Tác phẩm còn khắc họa cuộc sống, bức tranh cảnh vật, con người mảnh đất
miền núi xa xôi một thời kỳ đã qua Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng
đã thực sự đem lại những đóng góp cho việc đa dạng hóa thể tài văn xuôi Việt Nam đương đại
Gần đây có những công trình nghiên cứu về nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng như luận văn thạc sĩ của Lê Minh Hùng (2006)- Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 - 1989); Lê Minh Chung (2007) - Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới; Đỗ Thanh Quỳnh (2006) - Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng…
Mỗi người có một cách nói, cách phê bình đánh giá, song nhìn chung các tác giả đều xuất phát từ cái nhìn biện chứng, từ bản chất văn học Những
ý kiến, những nhận định của họ rất khoa học, thỏa đáng cả về mặt được lẫn mặt còn chưa được của ngòi bút Ma Văn Kháng Đây là tư liệu vô cùng quý giá và hữu ích để người viết luận văn hiểu thêm về văn chương của Ma Văn Kháng
Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma Văn Kháng ở từng khía cạnh cụ thể có liên quan đến những vấn đề mà luận văn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về lĩnh vực tiểu thuyết thì trọng tâm khai thác chủ yếu là ở phương diện nội dung như khai thác về nhân vật trí thức, về cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng… có chăng chỉ là
Trang 7đánh giá chung, khái quát về tài năng nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết của ông Trong phạm vi nhất định, luận văn đi sâu khai thác
Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Như trên đã nói, Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học, và đổi mới tư duy nghệ thuật của ông đã được bộc lộ trên nhiều phương diện Trong phạm vi cho phép, người viết chỉ đi vào
nghiên cứu, tìm hiểu Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới trên một số bình diện sau:
- Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
- Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
- Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới
Phạm vi nghiên cứu là các tiểu thuyết : Mùa lá rụng trong vườn (1985),
Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1999)và Một mình một ngựa (2009) Tuy nhiên trong quá trình phân tích, chúng tôi sẽ đặt
những sáng tác của ông trong toàn bộ hệ thống tiểu thuyết Ma Văn Kháng để thấy được những điểm chung nhất về nghệ thuật tạo dựng không gian và thời gian
Mốc thời gian của văn học thời kỳ Đổi mới mà chúng tôi nhắc đến ở luận văn mang tính ước lệ tương đối Lâu nay chúng ta vẫn tính thời gian bắt đầu cho thời kỳ Đổi mới là năm 1986, sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhưng đối với văn học sự đổi mới có thể bắt đầu từ sớm hơn Quá trình đổi mới của văn học đã
Trang 8manh nha từ những năm đầu thập niên 80 với sự xuất hiện một loạt các tác phẩm
khác nhau như: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải); Thời
Xa Vắng (Lê Lựu) Cù Lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn)…
Đối với Ma Văn Kháng, dấu hiệu của sự đổi mới có thể được tính từ Mưa
mùa hạ (1982), nhưng chúng tôi chọn Mùa Lá rụng trong vườn (1985) làm
điểm mốc vì ở tác phẩm này sự đổi mới trong tiểu thuyết của ông đã thực sự trở nên rõ rệt
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề hoàn thành nhiệm cụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn được đóng góp một phần nào đó vào việc đánh giá sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu thuyết Ma Văn Kháng nói riêng Cụ thể là:
Góp thêm tiếng nói về phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới
Khẳng định những thành tựu và đóng góp to lớn về yếu tố không gian
và thời gian nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong nền Văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới
Ở mức độ nào đó, luận văn sẽ làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trong trường THPT và Đại học cũng như người yêu thích văn học Việt Nam
Trang 97 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được triển
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI CẢNH CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1.1 Diện mạo chung của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại thuộc phương thức tự sự Mặc dù ra đời muộn song tiểu thuyết lại được coi là “máy cái của văn học” bởi nó luôn giữ
vị trí then chốt trong đời sống văn học của toàn nhân loại Tuy nhiên tiểu thuyết là một cấu trúc ngôn từ “động”, không hoàn kết, không đứng yên, một thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định hình Vì vậy, việc đưa ra những định nghĩa có tính chất quy phạm cho thể loại này là không hề đơn giản Mỗi người tuỳ cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân cùng với những quan niệm riêng của môi trường và xã hội mà đưa ra những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về tiểu thuyết
Trong bàn về tiểu thuyết, nhà văn Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết
là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kì đủ làm cho người đọc hứng thú”, hay nói cách khác
đó là một truyện bịa đặt thú vị” [65, tr.10] Định nghĩa này một thời đã đặt nền tảng quan niệm cho cả người sáng tác lẫn giới phê bình văn học Nói tới tiểu thuyết, người ta nghĩ ngay tới một tác phẩm văn xuôi kể lại một câu chuyện lí thú bằng cách hư cấu để phản ánh hiện thực, miêu tả các sự kiện, biến cố, phong tục tập quán, phân tích tâm lí, tình cảm…
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa: Tiểu thuyết là một “tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn của không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời,
Trang 11những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [53, tr.328]
Điểm chung gặp gỡ của các quan điểm là đều khẳng định tính chất đặc biệt của tiểu thuyết: Phản ánh bức tranh hiện thực với quy mô lớn trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người
Định nghĩa của các tác giả trong cuốn Lí luận văn học có lẽ mang tính
chất tổng quát hơn cả về thể loại này: “Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội” [12]
Nếu truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, khả năng bao quát hiện thực đời sống, thể hiện số phận cá nhân chỉ giới hạn trong một phạm vi nào
đó, ít thể hiện trong quá trình vận động mà chủ yếu thể hiện như một lát cắt, một khoảnh khắc, quan tâm đến cái chốc lát thì tiểu thuyết là một dòng chảy theo chiều dọc số phận con người Tuy nhiên, tiểu thuyết luôn phát triển và biến đổi, nó có khả năng “tung hoành” vô bờ, có “sức chứa” và “sức chở” hiện thực rất lớn Tiểu thuyết mô tả hiện thực đời sống ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Xác định nội hàm khái niệm tiểu thuyết giúp ta nhận được những đặc điểm thi pháp cơ bản của thể loại Trên cơ sở đó, khám phá và quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ cũng như cách thức kiến tạo các yếu tố thời gian
và không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học Đồng thời hiểu được quy luật vận động và phát triển của thể loại văn học đặc biệt này
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết
Trong mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết là một thể loại
có dung lượng phản ánh hiện thực, “sức chứa” hiện thực lớn: Không chỉ có
Trang 12khả năng bao quát hiện thực rộng lớn theo xu thế “hướng ngoại”, tiểu thuyết còn “hướng nội” - tập trung khám phá những bí ẩn, phức tạp, đa chiều trong đời sống tâm hồn con người - đây thực sự là yếu tố cốt tuỷ tạo nên sức hấp dẫn bền vững của thể loại này
Tiểu thuyết nổi bật ở khả năng phản ánh một cách “toàn vẹn và sinh
động” bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống Đây là một trong
những đặc trưng cơ bản, là ưu thế lớn tạo nên tầm vóc, quy mô hiện thực cho thể loại tiểu thuyết Là một thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều
dài của thời gian Tuy nhiên, khuynh hướng chủ yếu của tiểu thuyết là tiếp
cận đời sống ở góc nhìn đời tư Đây là điều khác biệt với thể loại sử thi (quan
tâm đến vấn đề dân tộc, cộng đồng, ít đề cập đến số phận cá nhân) Nói như
nhà phê bình Pôxpêlôp: “tiểu thuyết là tác phẩm tự sự mà nhân vật chính của
nó, một con người cá nhân riêng biệt trong một giai đoạn nào đó đã bộc lộ sự phát triển tính cách do mâu thuẫn giữa lợi ích với địa vị hay lợi ích với chuẩn mực đời sống xã hội ” [55] Các nhà tiểu thuyết cảm nhận, miêu tả hình ảnh
con người trong mối quan hệ xã hội, gia đình và bản thân một cách đa chiều với những trạng thái tâm lí, tình cảm phức tạp nhằm khắc hoạ một bức tranh hiện thực chân thật và sống động
Tiểu thuyết có xu hướng dần xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật với đối tượng trần thuật Trong tiểu thuyết khoảng cách giữa người trần thuật
và nhân vật được rút ngắn, thậm chí xoá bỏ Chính đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ Nhà văn có thể thâm nhập vào đời sống bên trong của con người để khám phá, miêu tả và lí giải Đối tượng phản ánh
vì vậy luôn bao quát hơn Nhân vật cũng có thể ngồi ngang hàng với tác giả,
“đối thoại với tác giả” ở đó chân lí thuộc về tất cả, không ai có quyền phán xét hay sắp đặt Từ đây xuất hiện loại ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết
Trang 13Đây cũng chính là “tính đa thanh phức điệu” mà M.bakhtin từng gọi là “cái thần tình của thể loại”
Nếu thành phần chính của truyện ngắn và truyện vừa là cốt truyện và
tính cách nhân vật thì tiểu thuyết còn quan tâm đến việc miêu tả về suy tư của
nhân vật trước thế giới và đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm,
trình bày tường tận về tiểu sử nhân vật Tiểu thuyết có khả năng đi sâu khai
thác từng mảnh đời, từng góc khuất trong sâu thẳm tâm hồn con người “Chúng
ta tiếp thu các hình thức tiểu thuyết chính là để trở về xem xét con người Việt Nam một cách sáng tỏ để đào xới về nó sâu hơn” (Nguyễn Minh Châu)
Tiểu thuyết là một thể loại có cấu trúc hết sức linh hoạt “Ưu thế của
thể loại không chỉ bộc lộ ở khả năng mở rộng đường biên hiện thực mà còn ở khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật, sự kiện vào một khoảng không gian ngắn, thời gian hẹp,…để tạo nên bức tranh hiện thực có quy mô vừa và nhỏ Trên nền của những bức tranh đời sống đã được thu hẹp đó, nhà văn thuận lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ riêng của nhân vật”[12, tr.193] Các
sáng tác của các nhà văn hiện thực như: Sống mòn (Nam Cao), Tắt đèn (Ngô Tất Tố)… Và sáng tác của các nhà văn thời kì đổi mới như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Mùa lá rụng
trong vườn (Ma Văn Kháng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)… đã thể hiện rất rõ
điều đó
Ngoài khả năng tạo dựng bức tranh rộng lớn, tiểu thuyết còn có khả
năng phản ánh những vấn đề về số phận cá nhân và con người Có thể cho
rằng: tài năng lớn nhất của nhà văn cũng như sức ám ảnh lớn nhất của tiểu thuyết là thuộc về nhân vật Nhân vật trong tiểu thuyết thường là “những con người nếm trải” Đó là những con người luôn day dứt, suy nghĩ, đấu tranh nội tâm trước những thử thách của cuộc đời Có thể tìm thấy những con người biết suy tư, trăn trở, tự ý thức về bản thân mình để vươn lên sống hoàn thiện
Trang 14hơn, thiên lương hơn trong những sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam…
Ngoài ra tiểu thuyết còn là một thể loại mang bản chất tổng hợp Có sự
pha trộn đa dạng trong tiểu thuyết những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ, kịch, kí… và các thủ pháp nghệ thuật của các loại
hình gần gũi như: điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc “Tiểu thuyết là thể
loại sinh sau, đẻ muộn, vì vậy nó tiếp thu những cái tốt đẹp mà các thể loại đã
có (anh hùng ca, thơ, kịch…), sáng tạo nên những yếu tố mới (…”) “ Như một đứa con lai” nó khỏe, nó đẹp, nó đầy sức sống” [41, tr.18] Trong nhiều
trường đoạn khác nhau, người viết tiểu thuyết có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức: trữ tình, tự sự, kịch Là một “thể loại đa thể loại”(Lưu Liên), tiểu thuyết có thể khai thác ưu thế của điện ảnh, điêu khắc,
âm nhạc, hội hoạ trong việc lắp ghép các mảng không gian, đặc tả chi tiết, tạo hình nhân vật, phối âm, hoà sắc… Ở mỗi giai đoạn, thời kì, ở từng tác giả, tiểu thuyết lại “lột xác” để tìm kiếm cho mình những nét mới đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng văn chương: Gorki với tiểu thuyết thế sự- trữ tình; Tônxtôi với tiểu thuyết sử thi - tâm lí, Đôtxtôiépxki với tiểu thuyết- kịch, Mác-két với tiểu thuyết huyền thoại… điều này đã minh chứng tiểu thuyết là “thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” (Bakhtin)
Ngày nay, cùng với sự xuất hiện và “lên ngôi” của thi pháp học (cụ thể
là thi pháp thể loại và tự sự học) thì không gian và thời gian nghệ thuật là
những yếu tố quan trọng được các nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu về tiểu thuyết bởi lẽ trong những cách tân nghệ thuật gần đây, phạm trù không – thời gian nghệ thuật được thừa nhận là yếu tố mang đến cho tiểu thuyết tính hiện đại
Trang 15Tìm hiểu khái niệm và đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết là cơ sở để tìm hiểu và khám phá về tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới nói chung và tiểu thuyết Ma Văn Kháng nói riêng
1.2 Một số tìm tòi về phương diện thi pháp thể loại
Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi năm 1975 đã đưa đất nước ta vào một kỷ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Lịch sử dân tộc thực sự sang trang Một giai đoạn văn học mới cũng đã hình thành Đặc biệt nghị quyết đại hội Đảng VI (1986) đã thổi một luồng gió mới vào lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có văn học Công cuộc đổi mới với tinh
thần dân chủ với khẩu hiệu: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và nói
đúng sự thật” đã đáp ứng nhu cầu sáng tác và “cởi trói” cho người cầm bút
Mặt khác, cuộc sống thời hậu chiến với bao biến động, thay đổi, con người có một độ lùi thời gian đáng kể để kiểm nghiệm giá trị của một số tác phẩm văn học mà ở giai đoạn trước còn bị nhìn nhận đánh giá khắt khe
Ngoài ra cũng phải kể đến vai trò của sự giao lưu văn hoá với các nước khác trong khu vực và trên thế giới cũng tác động đến quá trình sáng tác của các nhà văn Đó là nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa đến sự chuyển đổi trong tư duy của nhà văn thời hậu chiến nói riêng và của văn xuôi tiểu thuyết nói chung
Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt nam đã trải qua ba chặng đường nối tiếp, liên tục: Từ 1975 – 1985 là thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi thời
kì chiến tranh sang văn học thời hậu chiến; từ năm 1985 đến đầu thập kỉ 90 là thời kì văn học có sự đổi mới mạnh mẽ, gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước Từ những năm 90 tới nay, văn xuôi hướng sự quan tâm nhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật
Trang 16Quá trình đổi mới tiểu thuyết sau năm 1975 bắt đầu khá sớm nhưng thầm lặng với những tín hiệu có tính dự báo qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh
Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới tiếp nối dòng cảm hứng sử thi của văn học giai đoạn 1945 – 1975 song ở thời kì này, tiểu thuyết đã khắc phục cái nhìn lý tưởng hoá; từ cảm hứng tự hào ngợi ca, khâm phục trở thành cảm hứng chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư Về mặt cấu trúc, chuyển đổi từ cấu trúc lịch sử sự kiện thành cấu trúc lịch sử tâm hồn Tiểu thuyết giai đoạn này thực sự đổi mới trên nhiều phương diện: tư duy, nghệ thuật, cảm hứng,
sáng tạo, kết cấu…” “Chưa bao giờ dân tộc ta có nền văn hoá phát triển toàn
diện và sâu sắc như ngày nay Các thể loại đều được các nhà văn sử dụng và trên bất cứ những thể loại nào cũng có đỉnh cao” [66, tr.13] và dĩ nhiên trong
đó có tiểu thuyết Sắc thái đặc biệt của xã hội Việt Nam chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với tất cả sự phong phú của nó đã tìm thấy ở tiểu thuyết một sự tương hợp Chất “đời tư”, “thế sự” của tiểu thuyết lấn át yếu tố
sử thi vốn là đặc điểm của tiểu thuyết giai đọan trước năm 1975 Đặc biệt từ sau năm 1986, văn học phát triển theo khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Nhìn cuộc đời trên bình diện thế sự, Ma Văn Kháng trăn trở về sự mất còn của những giá trị đạo đức tốt đẹp, sự lên ngôi của những giá trị phản văn hoá trong xã hội Nhìn con người ở góc độ đời tư, nhà văn đi vào những ngõ khuất sâu kín, vào cả miền tâm linh, tâm cảm của con người Cảm hứng thế sự đời tư in đậm trong hàng
loạt các tác phẩm sáng tác sau này của nhà văn: Mưa mùa hạ (1982,), Mùa lá
rụng trong vườn (1985), Trăng soi sân nhỏ (1995)… Bên cạnh đó còn có
những tác giả như: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường… đã tạo nên sự khởi sắc trong quá trình đổi mới văn học thời kì này
Trang 17Các nhà tiểu thuyết sau năm 1975 có những cách tân về hình thức nghệ thuật Điều này được thể hiện rõ trong phương diện: dung lượng, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, cách kiến tạo không gian
và thời gian nghệ thuật đặc biệt từ năm 1986 trở đi, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã có nhiều sự đột phá trong hành trình cách tân nghệ thuật
Trước hết, về dung lượng, tiểu thuyết thời kì đổi mới xuất hiện kiểu tiểu thuyết tiểu ngắn, nói cách khác tiểu thuyết ngắn đang có xu thế “bành trướng”, áp đảo tiểu thuyết trường thiên trong văn học truyền thống Cùng với dung lượng ngắn thì số lượng nhân vật cũng ít đi, thậm chí đôi khi chỉ xoay quanh một sự kiện, một số nhân vật nào đó Nó chống lại lối kể chuyện truyền thống “bám mãi vào cốt truyện” Tiểu thuyết thời kì này đi sâu vào phản ánh thân phận con người trên cuộc hành trình đầy nhọc nhằn của kiếp người, thậm chí đi sâu vào bóc tách từng lớp thế giới nội tâm của con người để phân tích
và lí giải những diễn biến tâm hồn phức tạp của nhân vật, những “nếp gấp”,
“góc khuất” tâm lí được các nhà tiểu thuyết quan tâm Các biến cố, sự kiện tham gia vào diễn biến cốt truyện được giản lược Nhiều khi cốt truyện chẳng
có gì để tóm tắt Có nhiều tiểu thuyết mang dung lượng ngắn như Thiên sứ (1989) của Phạm Thị Hoài- 180 trang, Bến không chồng (2004) của Dương Hướng – 281 trang, Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh – 125 trang,
Thân phận tình yêu của Bảo Ninh – 338 trang, Bóng đêm (2011) của Ma
Văn Kháng – 318 trang… Thực ra độ dài của số trang mới chỉ là tiêu chí có tính chất hình thức thể loại, quan trọng hơn phải xét đến yếu tố chiều sâu tư tưởng của tác phẩm Với dung lượng ngắn, song các nhà tiểu thuyết đã truyền đến được cho bạn đọc những vấn đề mang ý nghĩa xã hội và nhân sinh sâu sắc, điều này đồng nghĩa với một nỗ lực tìm kiếm, các phương tiện, phương thức kĩ thuật tối ưu nhằm truyền đạt được những vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm, tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” cuả Tạ Duy Anh là một ví dụ
Trang 18Độ dài của tác phẩm chỉ có 125 trang và cũng chỉ có một nhân vật chính – đứa trẻ trong bụng mẹ; “Chỉ còn 72 giờ nữa tôi sẽ hết giai đoạn bào thai Sau
đó chỉ còn một việc là giãi đạp, gào thét mà chui ra, thế là thành người” Cuộc
“đấu tranh nội tâm” rất cam go của đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ không kém gì một người trưởng thành ở giữa cuộc đời Nhưng cuối cùng đứa trẻ
(chưa ra đời) chấp nhận: “nhưng tôi chấp nhận một cuộc sống, còn bởi một sự
thật ngàn lần đáng tin hơn: Con người chẳng làm được gì ngoài sự chuẩn bị cho cái chết của mình Vì thế họ phải chuẩn bị đến nơi, đến chốn” [3, tr.131]
Qua nhân vật này, nhà văn muốn bày tỏ một quan niệm: Trên hành trình đi tìm chân lý, con người phải trải qua biết bao sự đau khổ, dù đó chỉ là lão già
đau khổ (Lão khổ) hay đứa bé nằm trong bụng mẹ
Bên cạnh sự cách tân về dung lượng là sự đổi mới trong kết cấu bởi kết cấu chính là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật Kết cấu tác phẩm không những thiết lập được nội dung giá trị tư tưởng cho một sáng tạo nghệ thuật mà nó còn cải biến và đào sâu hàm nghĩa những cái được mô
tả Mạch vận động trong lối kết cấu truyền thống thường theo kiểu chương, hồi, có nút thắt, cao trào, mở nút… Hầu hết các tác phẩm đều kết cấu theo trình tự không gian, thời gian, kết thúc thường có hậu, phù hợp với đạo lý ở đời và thoả mãn thị hiếu của người đọc Sang giai đoạn 1930 – 1945 xuất hiện kiểu kết cấu vòng tròn – đầu cuối tưng ứng, đến giai đoạn văn học cách mạng
1945 – 1975 xuất hiện kiểu kết cấu sử thi – chủ yếu một chiều, lấy trục thời gian và sự kiện làm cơ sở
Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt sau năm 1986 có nhiều kiểu kết cấu đa dạng, nhiều tầng lớp, đan cài giữa quá khứ và hiện tại: Kết cấu phân mảnh, lắp ghép; kết cấu mở… cho phép nhà văn mở rộng dung lượng và phạm vi phản ánh hiện thực Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng Có những kết cấu cốt truyện rõ ràng, mạch
Trang 19lạc, có mở đầu, có kết thúc, cũng có những tiểu thuyết cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở Song những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là những cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn Có đoạn kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết Tất cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại Cốt truyện tiểu thuyết từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hoá một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại
Trong đội ngũ những người viết tiểu thuyết có không ít tác giả đã cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm một hướng đi mới trong sáng tạo thể loại:
Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo Những cây bút kể trên đã cố gắng cách tân trong sáng tạo với những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện thực Tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có trước, có sau mà các yếu tố sự kiện, tình tiết nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang
vận động, biến chuyển, không khép kín (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài, Thoạt kỳ
thuỷ - Nguyễn Bình Phương, Cơn giông - Lê Văn Thảo)
Trang 20Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể đến của thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống Tiểu thuyết hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo
ý đồ của tác giả, tạo ra “truyện trong truyện” Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự qui ước
vừa chặt chẽ, vừa co giãn của cấu trúc thể loại (Cõi người rung chuông tận
thế - Hồ Anh Thái, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Đi tìm nhân vật - Tạ
Duy Anh)
Có thể xem Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng là sáng tạo của
nghệ thuật lắp ghép Là một nhà văn dồi dào năng lực sáng tạo, ở mỗi một tiểu thuyết, Ma Văn Kháng đều cố gắng làm mới bút pháp Với tiểu thuyết
Ngược dòng nước lũ, Ma Văn Kháng đã bộc bạch: “Tôi thực hiện một bút
pháp phóng túng hơn, tạo điều kiện cho ngẫu hứng, cái tự nhiên của đời thường và thế giới tâm linh, cái thực của tâm trạng con người ùa vào những trang viết nhìn ngoài tưởng như xô bồ, lỏng lẻo”(2) Một trong những mạch chính của tiểu thuyết là mối tình ghềnh thác, trắc trở của Khiêm và Hoan Xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật là những vấn đề của đạo đức nhân sinh được viết một cách đầy ngẫu hứng sáng tạo, đan xen tài tình giữa hư và thực, giấc mơ và hiện tại, ý thức và tiềm thức, hiện thực và lãng mạn, ngợi ca và phê phán tạo nên hiệu quả nghệ thuật của tiểu thuyết Sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết cũng là một nhân tố làm co giãn cốt truyện Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó: nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, “tham luận khoa học” huyền thoại, điển tích, cổ tích Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới
Trang 21rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn (Lời nguyền hai trăm năm – Khôi
Vũ, Người đi vắng – Nguyễn Bình Phương, Ngược dòng nước lũ – Ma Văn Kháng, Cơ hội của Chúa – Nguyễn Việt Hà, Cơn giông – Lê Văn Thảo,
Người sông Mê – Châu Diên
Như vậy kết cấu cốt truyện tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn
có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng
là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả
Trong những cách tân về hình thức của tiểu thuyết thì nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng có những đổi mới đáng kể Trong tiểu thuyết nói riêng và trong văn học nói chung, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là nơi tập chung nhất quan niệm, tư tưởng, cách nhìn của nhà văn về con người và cuộc đời Do vậy quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật thể hiện, gắn với đời sống văn học của mỗi một giai đoạn lịch sử
Do sự chi phối của quy luật chiến tranh, đặc điểm thi pháp của giai đoạn 1945-1975 cũng chi phối cách nhìn về con người giai đoạn này Con người trong giai đoạn cách mạng và kháng chiến là con người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng Con người quen sống giữa đám đông, hoà mình với tập thể ít có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình: Con người được nhìn trong sự toàn diện, đa chiều và thậm chí là đa sự
Con người trong tiểu thuyết được mô tả là những biểu tượng đối nghịch
mà thống nhất: thiên thần – ác quỷ, rồng phượng – rắn rết, cao quý – thấp hèn… Song, các nhà tiểu thuyết luôn gửi gắm niềm tin đối với cuộc sống qua những hình tượng nghệ thuật Con người luôn vươn lên chiếm lĩnh những giá trị muôn đời của cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ Nhà văn không mô tả theo xu hướng lý tưởng hoá như giai đoạn trước mà khắc hoạ chân dung con người
Trang 22chân thật và sống động hơn, đó là kiểu “con người này” (chữ của hêghen) mà
ta có thể bắt gặp trong cuộc sống hiện thực
Nhà văn quan tâm mô tả nỗi niêm tâm sự, những bất hạnh, bi kịch, những hạnh phúc ngọt ngào trong cá nhân con người, trong một bối cảnh không gian thu hẹp Chính hiện thực cuộc sống phong phú, bộn bề, phức tạp
đã thực sự trở thành một mảnh đất mầu mỡ để tài năng của các nhà văn được thoả sức khai hoang Tư duy được “cởi trói”, các nhà văn được quyền tự do sáng tạo, không chỉ ca ngợi những chiến công chói lọi, những vòng nguyệt quế lung linh, mà còn cảm nhận được mặt trái của tấm huân chương, góc tối của vinh quang, chiến thắng Những bi kịch của số phận cá nhân con người được hiện lên đầy ám ảnh qua những trang văn của nhà văn Chu Lai (Ăn mày
dĩ vãng), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh)… Những cảm hứng về con người
và thân phận của cá nhân là đầu mối quan tâm của các nhà tiểu thuyết
Đi sâu vào phản ánh thân phận con người, tiểu thuyết sau năm 1975 đã bộc lộ cảm hứng phê phán Hiện thực cuộc sống ngổn ngang, phức tạp với sự trộn lẫn giữa bóng tối và ánh sáng, “màu đỏ và mầu đen” (Chữ Nguyễn Khải) khiến cho con người cần phải có chính kiến để đánh giá, nhìn nhận, phân tích một cách khách quan để có cách giải quyết thoả đáng Trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường,… cảm hứng phê phán được biểu hiện qua việc phản ánh kẻ thực dụng, mưu đồ, tha hoá nhân cách đạo đức, về
sự lộng hành của cái ác, sự tồn tại mặc nhiên của những mối thù truyền kiếp giữa các gia đình, các dòng họ nơi làng xã
Phê phán phủ nhận các xấu, cái ác trên tinh thần nhân bản nhân văn, các tác giả như muốn gửi tới người đọc một thông điệp: “hãy thức tỉnh nhân tính con người!” Không hề né tránh hiện thực, trái lại các nhà tiểu thuyết luôn luôn đối diện và săn đuổi hiện thực, sáng tạo những hình tượng nghệ thuật bằng cả tài năng, trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút chân chính
Trang 23Chiêm nghiệm suy tư về quá khứ cũng là những cảm hứng nổi bật trong tiểu thuyết thời kì đổi mới Tuy vậy, hồi cố không phải để nuối tiếc hay đào xới quá khứ mà để nhìn thẳng vào đó, vươn tới lẽ sống tốt đẹp hơn trong hiện tại và tương lai Và dù viết về hiện tại hay quá khứ, các tác phẩm đều gửi gắm hoàn cảnh để tìm kiếm chính mình Như vậy, mạch chính của tiểu thuyết
từ cao trào đổi mới văn xuôi trở đi đã diễn đạt những trăn trở, bức xúc về con người trong niềm khao khát tác động vào xã hội, thay đổi hoàn cảnh sống để
có được mặt bằng văn hoá cao hơn, điều kiện vật chất tốt hơn cho sự phát triển tính người lành mạnh
Văn học thời đổi mới là giai đoạn chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhậy và sắc bén Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn thể hiện cái nhìn dân chủ đối với sự phức tạp của cá tính người Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận những con người bình thường với những bi kịch của đời họ
Bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa thanh lọc và tha hoá, giữa nhân bản và phi nhân bản
Ở bất kỳ thời đại nào con người cũng là trung tâm của văn học nhưng phải trải qua quá trình lịch sử con người cá nhân mới ra đời Quan niệm con người cá nhân trong văn học là sự nhìn nhận giá trị tự thân của con người, là ý thức của con người về cái tôi, là cách nhận thức con người như một thực thể riêng tư Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong những môi trường đời sống bình thường Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết
dập xoá trên thân thể trong tâm hồn”: Cơn giông (Lê Văn Thảo), Cánh đồng
lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Dòng sông mía
Trang 24(Đào Thắng) Tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư Khi con người trở về với cuộc sống đời thường, trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Bắc Sơn, Dương Hướng
đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội
Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ Các nhà văn đã cố gắng thoát ra khỏi kiểu “phản ánh hiện thực” được hiểu một cách thông tục của tiểu thuyết trước đây Với quan niệm nghệ thuật mới, họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểu đạt Ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên
trong con người” (Chim én bay – Nguyễn Trí Huân, Góc tăm tối cuối cùng – Khuất Quang Thụy, Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Người đi vắng – Nguyễn Bình Phương, Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng, Cõi người rung chuông tận
thế – Hồ Anh Thái
Ở giai đoạn lịch sử mới, người viết có những chuyển hướng trong nhận thức, tư duy về bản thể con người Các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đa diện hơn
và vì thế sâu sắc hơn về con người
Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là con người trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp
Trang 25hèn, ý thức và vô thức Thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con người chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa đối lập vừa hoà đồng, vừa chối
bỏ lại vừa chung sống với nhau, bởi: “Con người không bao giờ trùng khít với chính nó” (Bakhtin) Con người gục ngã hay đứng dậy cũng chính từ trạng thái lưỡng hoá trong tính cách
Thực ra loại nhân vật này đã đạt đến đỉnh cao thành tựu với nhân vật
Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao Nhân vật của ông đã luôn sống
trong sự giằng xé nội tâm, tự lên án, tự kết tội mình, là nhân vật tự nhận thức
về mình Trải qua một thời gian dài đến những năm gần đây, cảm hứng tự nhận thức với những nhân vật lưỡng hoá được khơi dậy mạnh mẽ trong nhiều
cuốn tiểu thuyết Đặc biệt với nhân vật Sài (Thời xa vắng – Lê Lựu), Khiêm (Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Khoái (Tiễn biệt những ngày buồn – Trung
Trung Đỉnh) là những mẫu người đứng trước sự thử thách và lựa chọn trên các cực đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại trong dòng chảy của cuộc đời
Tiểu thuyết thời kì đổi mới còn biến chuyển cả về đề tài, cảm hứng, giọng điệu Trước năm 1975, cảm hứng chủ đạo là cảm hứng sử thi mang giọng điệu gợi ca, ngưỡng vọng, thành kính (phù hợp với đề tài phản ánh), bởi vậy ngôn ngữ trang trọng và thanh cao Văn học sau 1975 khơi sâu vào mảng đề tài đời tư Tình yêu, hạnh phúc, gia đình, số phận con người sau chiến tranh là những điểm tựa hiện thực để nhà văn đặt ra vấn đề đạo đức, thế
sự, vì thế ngôn ngữ có vẻ thô ráp, mộc mạc, mang hơi thở nồng của cuộc sống Hiện thực phồn tạp, đa đoan, đa sự, con người phức tạp, đổi thay, méo
mó về nhân cách ồn ào đi vào trong văn học Ở giai đoạn bề sâu, khi viết về những đề tài cũ, văn xuôi sau năm 1975 có xu hướng “phá vỡ khuôn khổ đề tài” Viết về người lính và cuộc chiến tranh đã qua, văn học bớt đi phần lý
Trang 26tưởng, phóng đại, đem vào đó những trăn trở khắc khoải, đánh giá lại nó bằng nhiều thang bậc giá trị khác nhau Từ sự cách tân đó, có thể thấy rằng văn học sau năm 1975 có sự phong phú, đa dạng đề tài, đào sâu vào đề tài đời tư mới
mẻ và đổi mới trong cách khai thác đề tài cũ Vọng từ đây những vấn đề nhức nhối của cuộc sống, thế sự nhân sinh Đó là vấn đề số phận, vai trò trách nhiệm của mỗi con người trong cuộc sống hôm nay
Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật của văn học thời kỳ đổi mới đã chi phối cách kiến tạo không gian và thời gian trong tác phẩm Vì thế ta có thể thấy tiểu thuyết sau năm 1975 xuất hiện nhiều dạng thức, mô hình không gian
và thời gian khác nhau Sự đổi mới hình thức nghệ thuật luôn luôn gắn liền với sự cách tân cấu trúc không gian – thời gian Nếu văn học giai đoạn trước chủ yếu là không gian – thời gian một chiều theo tuyến tính lịch sử - sự kiện thì sau năm 1975, thời gian được tổ chức một cách đa tuyến, nhiều chiều Thời gian chuyển đổi liên tục theo sự phát triển của thời gian tâm trạng Sự đan sen đồng hiện giữa quá khứ - hiện tại – tương lai là xu hướng chủ yếu của
tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Có thể thấy rõ điều này qua “ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường… Không
gian tiểu thuyết sau đổi mới cũng là không gian đa chiều: Có không gian lịch
sử - sự kiện, không gian tâm tưởng, không gian “nếp gấp”… Ý thức và sự thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật đã biến đổi mạnh mẽ hơn trước Không gian được miêu tả là không gian sử thi rộng lớn mang tính chất cộng động mà là không gian đời thường gắn liền với sinh hoạt đời tư cá nhân Đó là không gian hẹp, không gian gia đình nơi bản chất các mối quan hệ mâu thuẫn, xung đột bộc lộ một cách rõ nét Và trong dạng thức không gian này, tính cách tâm lí nhân vật sẽ được nhà văn phân tích, lí giải, mổ sẻ một cách tỉ mỉ,
Trang 27chi tiết Sáng tác của Lê Lựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng là những minh chứng cho điều này
Tóm lại, bức tranh tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đa diện, nhiều mầu sắc với những cách tân cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Đặc biệt từ năm 1986 văn chương được quan tâm nhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật Điều này đánh dấu một bước phát triển mới của văn học, tạo nên bước đột phá lớn trong dòng chảy của tiểu thuyết đương đại Trong lộ trình cách tân ấy Ma Văn Kháng không chỉ tự hào là nhà văn có đóng góp đáng kể mà ông còn là một cây bút sáng tạo của nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới Cùng với sự chuyển biến của bức tranh chung về tiểu thuyết sau năm
1975, sáng tác của Ma Văn Kháng đã đi sâu khám phá những vấn đề đời tư, thế sự và giá trị truyền thống trong xã hội hiện đại Mỗi tác phẩm như một luận đề mà nhà văn rút ra được qua trải nghiệm cuộc đời Những luận đề ấy làm trăn trở bao trái tim bạn đọc ngày hôm nay Với cách thể hiện riêng Ma Văn kháng đã tạo được phông nền không gian – thời gian nghệ thuật để làm nổi bật những tư tưởng, những băn khoăn, trăn trở ấy
1.3 Ma Văn Kháng - một tác giả tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn sinh ngày 1/12/1936 tại phường Kim Liên, quận Đống Đa (nay là quận Ba Đình) - Hà Nội Ông sinh ra và lớn từ làng ven thành Đồng Lầm vùng đất chân lấm tay bùn, nghèo khổ và lam lũ thích hợp với việc thả rau muống bè Nơi đây ruộng đất ít ỏi nên dân trong làng chỉ còn cách kiếm sống bằng mấy nghề vặt như nhuộm vải, cắt tóc dạo, vài người buôn bán lặt vặt Sau khi tốt nghiệp Đại học
sư phạm Hà Nội, ông xung phong lên Tây Bắc “đi theo tiếng gọi của Đan cô,
Pa ven corsaghin xung phong đi đến những vùng khó khăn của đất nước, đi như viên đạn thẳng đầu” Hơn hai mươi năm sống và làm việc ở vùng miền
Trang 28núi ấy, ông đã cố gắng hòa nhập với môi trường mới, gắn bó và làm việc hết khả năng và coi đây là quê hương thứ hai của mình Cái tên Ma Văn Kháng vừa là tên gọi hàng ngày, dùng trong các giấy tờ, vừa là bút danh đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của tác giả đối với miền đất này Nhiều người đã nghĩ ông
là người dân tộc nhưng ông cho biết thực chất Kháng là bí danh “Một lần bị
ốm nặng, được ông Nho Chủ tịch huyện đã tận tình chăm sóc như một người anh, một người cha, đích thân ông Nho cõng đi tìm thầy thuốc cứu chữa Thoát trận ốm đó ông quyết định kết nghĩa anh em” Cái tên Đinh Trọng Đoàn được lấy họ Ma và ghép lại thành Ma Văn Kháng để tỏ lòng biết ơn người đã cứu mình Hơn hai mươi hai năm công tác ở miền núi (Từ 1954 đến 1976) là quãng đời trẻ trung, sôi nổi nhất của ông Như một người cán bộ thực thụ, ông trực tiếp tham gia, trải qua những đợt tiểu phỉ, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư kí, làm báo, nhà văn Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi trong giai đoạn gian khổ nhất Có thể thấy thời trai trẻ của nhà văn là sự dấn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cước khi là chiến sĩ quân đội, lúc là ông giáo, anh cán bộ, nhà báo, “đi như một viên đạn thẳng đầu vào đời bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy” Và cũng chính sự sôi nổi nhiệt tình, say mê làm việc ấy mà nhà văn đã tích lũy được nhiều tư liệu quý giá
Là chàng trai Hà thành chính hiệu, nhưng Ma Văn Kháng có một thời gian khá dài sống ở miền núi Tây Bắc Suốt 20 năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng qúa hiểu lối sống, phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số Bút danh Ma Văn Kháng phần nào nói lên tình yêu ông dành cho vùng đất giầu tình nghĩa ấy Ông đã từng bộc bạch: “sống cùng đồng bào dân tộc, tôi thấm dần lịch sử đau đớn, trầm luân, khổ ải cùng khát vọng mãnh liệt
và sức mạnh tiềm ẩn muốn vươn lên tự giải phóng ra khỏi mọi ràng buộc áp bức của họ Trong cuộc đấu tranh quyết liệt đó có những bi kịch, những lầm
Trang 29lạc của cả một đời người, của cả một cộng đồng” [11, tr 414] Những năm tháng “ba cùng của nhà văn với đồng bào dân tộc đã cung cấp chất liệu để ông
viết lên hàng loạt truyện ngắn và tiểu thuyết về đề tài miền núi như: Đồng bạc
trắng hoa xoè, Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn… Người đọc biết đến ông
như một nhà văn chuyên viết về miền núi, thậm chí không ít người đinh ninh,
Ma Văn Kháng là nhà văn dân tộc ít người
Chính sự gắn bó ruột thịt với miền núi như vậy đã khiến nhiều người ngờ rằng sau khi chuyển công tác về Hà Nội, Ma Văn Kháng khó có thể hoà nhập vào cuộc sống nơi thành thị Bản thân nhà văn cũng phải thừa nhận, phải mất đến dăm sáu năm ông mới làm quen được với lớp ngôn ngữ mới và tạo
lập được cảm xúc mới [12, tr 415] Bắt đầu từ tiểu thuyết Mưa mùa hạ, rồi đến Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú và hàng loạt
truyện ngắn, Ma Văn Kháng đã dần khẳng định mình ở một đề tài mới – đề tài
về cuộc sống đô thị
Như vậy nhìn một cách tổng quát, quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước chủ yếu viết về cuộc sống, phong tục của người dân miền núi; giai đoạn sau viết về những đa đoan, phức tạp của đời sống thị thành thời hậu chiến Cùng với sự thay đổi về đề tài sáng tác, Ma Văn Kháng cũng có những thay đổi đáng kể, những bước đột phá về
tư duy nghệ thuật Nếu như những trang viết của Ma Văn Kháng trước những thập kỉ 80 thể hiện cái nhìn mang hơi hướng sử thi thì ở giai đoạn sau đã chuyển sang cái nhìn thế sự và sắc xảo Cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của ông giờ đây không còn đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều chiều cái xấu xen lẫn cái tốt, ma quỷ chen lẫn với thần thánh Ông quan tâm đến thân phận con người trong nhiều quan hệ, nhiều hoàn cảnh khác nhau và cố gắng thể hiện con người một cách đầy đủ nhất trong tính đa dạng, toàn vẹn như nó vốn có…
Trang 30Có thể thấy, chủ yếu các sáng tác của Ma Văn Kháng về cuộc sống đô thị nằm trong dòng chảy của văn học thời kỳ đổi mới Cuộc sống đương thời nơi đô thị diễn ra với một tốc độ nhanh đến chóng mặt và đầy biến động, về
cả hai phía tích cực và tiêu cực Xã hội Việt Nam đang đứng trước một cuộc chuyển giao lịch sử với những bước đệm dữ dội và tính cách con người đang trải qua những bước ngoặt, những thăng trầm của số phận Hiện thực phong phú nhưng lại có phần phức tạp làm thế nào để theo kịp những bước chuyển lớn lao đó? Làm thế nào để nắm bắt được mọi khía cạnh của cuộc sống và lột
tả đến tận cùng bản chất cuộc sống ấy? Đó là thách thức đối với tất cả các nhà văn, kể cả các nhà văn luôn gắn mình với đô thị Thách thức đó còn lớn hơn đối với những nhà văn có thời gian lâu dài sống xa nơi phố phường, đô thị như Ma Văn Kháng Nhưng Ma Văn Kháng bằng ngòi bút nhạy cảm của mình đã cùng các nhà văn khác như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải thổi vào văn học Việt Nam thời kì đổi mới một luồng sinh khí mới Nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã khẳng định: “Trước khi làn sóng đổi mới dâng lên mạnh
mẽ trong đời sống tinh thần dân tộc, trong những điều kiện cực kì khó khăn của đất nước, sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn… đã đốt lên nhiệt tình chân lí, hứa hẹn khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam, khi nó sòng phẳng với quá khứ, bất chấp mọi thế lực ngăn cản” ( Nguyễn Minh Châu – Con người và tác phẩm)
Viết văn cũng là một sự lao động, một sự lao động nghệ thuật chân chính Nó chỉ dung nạp những người lao động thật sự nghiêm túc và say mê với nghề Trước cả tài năng nghệ thuật lẫn tầm vóc tư tưởng lớn lao, thì sự cần mẫn, say mê, mới chính là bí quyết để Ma Văn Kháng cũng như tất cả những nhà văn chân chính khác có thể “bám trụ”, khẳng định tên tuổi và thành danh với đời
Trang 31Ở Ma Văn Kháng, ta nhận thấy sự cần mẫn và nghiêm túc trong lao động sáng tạo nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên khi những trang viết về đồng bào miền biên ải của Ma Văn Kháng có một chất men riêng say lòng
người Không phải ngẫu nhiên khi đọc Gió rừng, Đồng bạc trắng hoa xòe,
Vùng biên ải… nhiều người lầm tưởng đó là sáng tác của một cây bút miền
núi đích thực Sự nhầm lẫn ấy không chỉ đến từ bút danh đậm sắc dân tộc, mà quan trọng hơn, bắt nguồn từ bề rộng và chiều sâu của những vốn sống, sự hiểu biết về vùng đất và con người nơi đây mà nhà văn đã phô diễn trong tác
phẩm của mình Đó là kết quả của hàng chục năm trời “hăm hở, lặng lẽ kiếm
tìm, lặng lẽ ghi chép”, như lời nhà văn, trong bài “ Viết tiểu thuyết là cả một cuộc đi săn hổ dữ”, đã trực tiếp thổ lộ:
“ Ngày tháng trôi qua, và bắt tay vào công việc chuẩn bị thật âm thầm, nhẫn nại: sưu tầm tài liệu May mắn, lúc này, lịch sử địa lý nhân văn ở đây vẫn còn giữ nguyên nét vẽ thời sự của nó Nó là một bảo tàng còn lưu giữ đầy đủ hiện vật, sự kiện, con người Tình hình đó kích thích tôi hăm hở, lặng
lẽ tìm kiếm, lặng lẽ ghi chép Cả mấy chục năm, sổ tay đầy kín các sự việc làm cơ sở cho chất liệu văn học sau này” [ tr.217]
Viết văn không phải là việc “tùy hứng” hay một cuộc dạo chơi mà đó là
sự cần mẫn và nghiêm túc trong nghệ thuật sáng tạo Do đó, Ma Văn Kháng luôn trăn trở không ngừng về bản thân nghề viết Không chỉ nhận thức về cuộc sống, mỗi tác phẩm văn học còn là kết quả sự đeo đuổi theo cách riêng của nhà văn về chính con người và công việc của mình Ma Văn Kháng, trong suốt cuộc đời cầm bút, đã hình thành cho mình một hệ thống quan điểm riêng
về nghề viết, về sáng tạo nghệ thuật, mà cụ thể là những suy nghĩ về những thể loại văn chương ông chuyên chú, sở trường: Truyện ngắn, tiểu thuyết và hồi ký
Trang 32Ở thời kì đầu của quá trình sáng tác, các tiểu thuyết sử thi như: Đồng
bạc trắng hoa sòe và Vùng biên ải đều khai thác những mảng đề tài độc tôn
của văn học cách mạng Viết về hiện thực đã hoàn kết, cái quá khứ một đi không trở lại, tiểu thuyết sử thi Ma Văn Kháng được khơi nguồn từ bối cảnh lịch sử vĩ đại hào hùng của dân tộc miền núi Vừa ghi nhận hiện thực lớn lao, vừa phải thể hiện được cái riêng của cuộc sống và con người nơi đây Bởi thế,
cả hai tiểu thuyết vẫn có nét riêng trong dòng chung của văn học cách mạng
Cùng với sự chuyển biến lớn của đất nước, cuộc sống của nhà văn cũng
có thay đổi lớn góp phần tạo nên sự chuyển biến trong sáng tác của ông Năm
1976, nhà văn được chuyển công tác từ miền núi về Hà Nội Sau hai mươi hai năm sống làm việc, gắn bó mật thiết với núi rừng, con người miền núi - quê hương thứ hai, ông được trở về nơi mình sinh ra - Thủ đô Hà Nội Nhà văn tâm sự: “Chả bao giờ tôi nghĩ sẽ viết về Hà Nội, dù quê quán mình là đấy Hai mươi hai năm ở miền núi, hầu như đã tuyệt vọng được chuyển vùng về xuôi” Khi bước chân trở lại nơi chôn rau cắt rốn thì mọi vật đã hoàn toàn mới mẻ,
xa lạ Con người đã hoàn toàn đổi khác Ông phải làm quen dần với tất cả những cái mới từ lớp từ ngữ của tầng lớp thị dân, lối sống, hành xử, sự việc đang diễn ra thường nhật Nhưng nhà văn đã nhanh chóng nhập cuộc, gặt hái được nhiều thành công với một loạt truyện ngắn, tiểu thuyết nóng hổi tính thời sự, đào sâu mọi ngóc ngách trong mỗi con người, trong quan hệ đồng nghiệp, gia đình cha mẹ con cái, anh em, làng xóm Những mâu thuẫn trong các mối quan hệ được lật tung lên để lộ ra bản chất biến dị, méo mó của con người trong thời buổi kinh tế thị trường Bên cạnh đó, sự từng trải, dày dặn cả
về kinh nghiệm sống, bản lĩnh lẫn sự vững trãi điêu luyện về tay nghề, sự không ngừng học hỏi rèn luyện, thực tế tìm tòi nghiên cứu đã góp phần làm cho ngòi bút của nhà văn ngày càng sắc bén, có sự bứt phá lớn của chính mình góp phần tạo nên sự chuyển biến của cả giai đoạn văn học như lời bộc
Trang 33bạch của ông: Theo tôi, viết văn là một công việc lớn, một việc cực khó Văn chương phải làm được việc khơi nguồn những cảm xúc của người đọc về trạng thái nhân thế Tự nhiên và sâu sắc là hai đức tính quan trọng nhất của tác phẩm Nhà văn có tài là tài trên hai phương diện: trình độ tư tưởng thẩm
mĩ và sử dụng ngôn ngữ Sau tài năng cần có sự từng trải, nếu muốn trở thành nhà văn thực sự Phải khâm phục bản lĩnh và tài năng của Ma Văn Kháng bởi ông đã nhanh chóng hòa nhập được với thời cuộc, nắm bắt được tình hình đất nước đang chuyển đổi và nhanh chóng đưa những vấn đề thời sự nóng hổi ấy vào trong tác phẩm của mình Từ vùng rừng núi yên bình, cuộc sống con người hiền hòa theo tự nhiên, không bon chen, lường gạt, mưu mô, hiểm độc, nay trở lại chốn đô thị trong thời buổi mới đầy rẫy thói hư tật xấu nên ông thấy chướng tai gai mắt khiến ông phải lật xới, lộn tung hết lên Qủa đúng như vậy, đối với những nhà văn có tâm huyết với nghề, có lòng nhân văn, nhân đạo, luôn thấy mình phải có trách nhiệm đối với con người, với cộng đồng xã hội như ông thì không thể khoanh tay đứng nhìn Bạn bè ông vẫn đùa rằng: “Ở cuốn sách nào anh cũng phải lôi ra cho được ít nhất một kẻ thù để đánh” Tuy nhiên để có được những tác phẩm dám đánh thẳng, đánh mạnh vào sự thật cuộc sống như ông không nhiều, không phải ai cũng làm được
Một thời đại hào hùng trong văn học, trong lịch sử văn học đi qua, sau năm 1975, một hơi hướng mới đã nổi lên trong văn học Không thể vui mãi với chiến thắng, ôn mãi chuyện chiến trận vẻ vang, văn học trở về cái thường nhật của đời người Cùng với sự thay đổi địa bàn sáng tác, Ma Văn Kháng là một trong số các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khải… đón trước tinh thần đổi mới, có sự vận động trong tư duy nghệ thuật và bút pháp thể hiện Sau nhiều năm gắn bó với đề tài miền núi, lựa chọn “điểm rơi” cho ngòi bút về đề tài thành thị là biểu hiện đầu tiên trong
sự đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn Nếu như ở giai đoạn tiểu thuyết sử
Trang 34thi, hiện thực được miêu tả là cuộc sống đã hoàn kết, ngưng đọng những giá trị không thể biện giải lại, thì ở tiểu thuyết thế sự đời tư, hiện thực là cuộc sống phức tạp, với những giá trị không ngừng được sắp xếp, biện giải lại Cuộc sống thị thành bon chen kéo con người vào guồng quay của nó, làm cho con người thoái hóa chóng mặt, đó là nét chung tìm thấy trong các tiểu thuyết
như: Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Viết về
cuộc sống thành thị trong sự đổi mới mạnh mẽ của đất nước sau chiến tranh,
Ma Văn Kháng nhận ra bao nhiêu cái xấu xa, cái băng hoại đang gặm nhấm tâm hồn con người, phá hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp Nó như là cơn gió thổi tung tất cả những gì thiêng liêng trong mảnh vườn gia đình ( Mùa lá rụng trong vườn ), nó làm băng hoại tình thầy trò, làm mờ đi nhân cách của người thầy ( Đám cưới không có giấy giá thú ), làm cho số phận nhỏ nhoi cứ “ Côi cút giữa mảnh đời” Sự tha hóa đã lan rộng từ một con đê bao quanh thành phố, đi vào trong từng ngõ ngách gia đình, len chân vào cả ngôi trường nơi ươm mầm nhân cách… ngòi bút của nhà văn sục sạo mọi khuất khúc của cuộc sống với những vấn đề nóng hổi: Vấn đề nhân cách của con người, vấn đề mối quan hệ của con người, vấn đề giữ gìn, bảo vệ những giá trị chân chính của cuộc sống con người
Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng là hành trình của một cây bút luôn có ý thức đào sâu, đổi mới Đối với tiểu thuyết là hành trình làm mới thể loại, đưa nhà văn trở thành một cây bút tiểu thuyết lực lưỡng trong nền tiểu thuyết hiện đại Xác định có sự vận động, biến chuyển trên con đường nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng, là xác định sự chi phối của nó trên các cấp
độ nghiên cứu Trong đó, thời gian và không gian nghệ thuật là một bình diện quan trọng, có tính hữu dụng cao, thông qua đó mà sự thay đổi trong toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn được biểu hiện rõ nét nhất
Trang 35CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Giới thuyết về không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật nào ngoài không gian, không có nhân vật nào tồn tại mà không trong một nền cảnh đó Người kể chuyện luôn phải tìm cho mình một điểm nhìn để mô tả sự vật, sự kiện Không thể đồng nhất không gian trong nghệ thuật với không gian địa lí hay không gian vật lí vì không gian trong tác phẩm nghệ thuật là một sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Trong tác phẩm, người ta thường bắt gặp sự mô tả con đường, căn nhà, dòng sông… Nhưng bản chất của những sự vật ấy chưa phải là không gian mang tính nghệ thuật Chúng được xem là không gian mang tính nghệ thuật trong chừng mực biểu hiện mô hình thế giới của con người Chẳng hạn, Đèo Ngang
là một vị trí địa lí, nhưng “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan thì nó lại là một nơi phân định ranh giới giữa triều đại cũ và triều đại mới, là nơi tận cùng của xứ này và là nơi bắt đầu của xứ khác mà việc bước qua nó có ý nghĩa đạo đức, chính trị quan đối với con người Và như vậy, nó chính là một
mô hình không gian
Ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn văn học có nhiều quan niệm riêng về con người và thế giới, bởi vậy, mô hình, dạng thức không gian và thời gian nghệ thuật ở mỗi giai đoạn là không giống nhau
Không gian nghệ thuật là không gian mang tính chủ quan để biểu đạt cảm nhận riêng của nhà văn về con người và thế giới Mỗi một tác giả có một cách xây dưng và kiến tạo thế giới theo cách riêng của mình, không gian nghệ thuật rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào sở trường cũng như cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn
Trang 36Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng Nếu không gian vật thể là thế giới bên ngoài thì không gian tâm tưởng là không gian diễn
ra bên trong tâm hồn nhân vật Nó có tác dụng khắc sâu thêm thế giới bên trong tâm hồn con người Giữa không gian tâm tưởng và không gian vật thể thường có tác động qua lại lẫn nhau, hoặc là không gian vật thể tác động vào không gian tâm tưởng, hoặc là không gian tâm tưởng chi phối không gian vật thể Nói như Nguyễn Du thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh
có vui đâu bao giờ” Qua không gian tâm tưởng, người ta có thẻ hiểu rõ thêm
về con người, xã hội và thời đại mà nhà văn mô tả trong tác phẩm
I.U.M lotman từng nói: “Những nguyên tắc thể hiện không gian nhiều chiều vô hạn của hiện thực trong một không gian hai chiều và có giới hạn của một bức tranh trở thành ngôn ngữ đặc thù của nó… Tính chất đặc biệt của sự tri giác thế giới, phẩm chất đặc biệt của con người và kết quả là các đối tượng không gian nhìn thấy vào đó đã dẫn đến việc tri giác cụ thể các mô hình ngôn ngữ [41] Bởi vậy, ngoài sự hiện hữu của không gian thực đã có sự xuất hiện của không gian ảo (không gian tâm linh) – mang tính ước lệ, tượng trưng (chẳng hạn trong truyện cổ tích và văn học trung đại, ta thường thấy sự xuất hiện của dạng thức không gian này qua những hình tượng nghệ thuật như cõi tiên, cõi trời, cõi âm ) Trong văn học đương đại, không gian ảo xuất hiện với
tần số vô cùng đậm nét Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh… là những ví dụ Điều này có thể lí giải một phần do
cuộc sống hiện đại với những lo toan xô bồ, ồn ã đã hướng các nhà văn tìm kiếm một thế giới nghệ thuật siêu thực Mặt khác, nhu cầu mở rộng hiện thực phản ánh trở thành một tín hiệu hữu ích hối thúc các nhà tiểu thuyết tìm kiếm một không gian đặc biệt khác
Trang 37Không gian nghệ thuật trong tác phẩm mang tính biểu trưng và tính quan niệm Thơ văn cổ nhìn không gian theo con mắt siêu cá thể, thể hiện
không gian theo cái hiểu chứ không theo cái thấy Truyện Kiều của Nguyễn
Du lấy bối cảnh ở triều “ Gia Tĩnh triều Minh “, ở ngoài không gian xa xôi, ở
vùng Lâm Tri, Vô Tích của nước Tàu Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu cũng mượn chuyện “Tây Minh” để nói chuyện đời nay Bối cảnh không gian (và thời gian) trong truyện thường cách xa người đọc, tạo ra một khoảng cách xa vời cần thiết cho việc thể hiện giấc mơ về khát vọng công lí cũng như lý tưởng hóa nhân vật của các nhà thơ trung đại
Trong sáng tác văn học, các biểu tượng như con đường, ngã ba, ga tàu… đều có thể là hình tượng không gian giàu ý nghĩa Dù là không gian thần thoại, không gian sử thi, không gian truyện ngắn hay tiểu thuyết… thì không gian nghệ thuật vẫn là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật
Tóm lại, không gian là một trong những yếu tố nghệ thuật bao gồm không gian bối cảnh, tự nhiên, tâm lí Cũng như thời gian, không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố không thể thiếu của thi pháp học Nghiên cứu
về yếu tố không gian, chúng ta có thể hình dung toàn bộ bối cảnh xã hội, đi sâu vào tâm lí nhân vật để tìm hiểu những tầng nghĩa khác nhau của tác phẩm văn học
2.2 Các dạng thức không gian nghệ thuật
2.2.1 Không gian bối cảnh xã hội
Trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện, nhà nghiên cứu Nguyễn
Thái Hòa cho rằng: Không gian bối cảnh là “môi trường hoạt động của nhân vật, một địa điểm có tên riêng hay không có tên riêng, trong đó có đủ cả thiên nhiên, xã hội, con người Nó là điều kiện cần thiết cho mọi sự kiện, mọi hoạt động, mọi phạm vi thế giới không thể thiếu… Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống của những tầng lớp người và cá nhân này với cá nhân khác Có khi đó là
Trang 38những tập quán, phong tục, luật lệ ở một địa phương, có khi là những quan hệ
“có vấn đề” giữa cá nhân này với cá nhân khác hoặc được biểu hiện cụ thể, hoặc được che giấu kín đáo” [16, tr.88-89] Không gian xã hội trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng có khi là cả một là không gian rộng của tỉnh miền núi biên giới Lao Cai hỗn loạn, phức tạp, có lúc đó là không gian thành thị được thu hẹp nơi trường học, nơi công sở, cơ quan nhà nước… Không gian
xã hội giúp nhà văn thể hiện con người trong những mối quan hệ rộng hơn Đồng thời qua đó người đọc cũng có thể nắm bắt được không khí xã hội ở thời điểm bắt đầu nền kinh tế thị trường
Văn chương là tấm gương phản ánh hiện thực Nhưng vấn đề là hiện thực nào, con người nào sẽ được phản ánh trong văn học Viết về hiện thực cùng thời song mỗi nhà văn đều có cách nhìn nhận, đánh giá về xã hội khác nhau Đến với tiểu thuyết của Lê Lựu, người đọc dễ dàng nhận thấy một không gian xã hội nông thôn nghèo khổ, lam lũ, tăm tối trong Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội… Phản ánh không gian hiện thực nông thôn một thời, Lê Lựu khơi sâu vào bi kịch của con người là nạn nhân của những tập quán lạc hậu, đồng thời nhà văn cũng gióng lên một thông điệp về tương lai: cần phải xóa bỏ những hủ tục để xã hội tiến bộ, đem lại giá trị nhân văn cho cuộc sống con người Song đến với Ma Văn Kháng, ông miêu tả không gian xã hội trong thời kỳ đổi mới có phần nhạy cảm hơn Không gian xã hội trong những tiểu thuyết của ông không phải là sự tù túng, ngột ngạt ở một làng quê nghèo đói,
mà đó là sự bon chen, đố kị, tranh giành quyền lợi ở mọi lúc, mọi nơi trong thời buổi kinh tế thị trường Đời sống của nền kinh tế thị trường lúc này là một thứ thuốc thử về năng lực và phẩm hạnh con người Con người phải đứng trước những thử thách nghiệt ngã của cuộc sống mà cuộc đấu tranh với chính bản thân là cuộc đấu tranh nhiều cam go nhất Thử thách này không chỉ diễn
ra với đại bộ phận người dân mà còn diễn ra ngay trong bộ máy chính quyền,
Trang 39quản lý Nhà nước Trước thực tế, không ít những kẻ được Đảng và nhà nước giao trách nhiệm quản lý, giúp đỡ nhân dân đã thừa cơ hội "đục nước béo ò", đục khoét của Nhà nước, chèn ép, hành hạ những người dân lương thiện, Ma Văn Kháng đã nhanh chóng đưa hiện tượng đó lên từng trang sách của mình Với cái nhìn sắc sảo và mới mẻ, nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc sống ở tầm vĩ
mô để phát hiện nguyên nhân của sự thật đau lòng, đó chính là sự bất cập trong việc lựa chọn cán bộ chủ chốt ở từng cơ quan, công sở, trường học Nhà văn đã đưa ra ánh sáng sự ấu trĩ của xã hội ta một thời, đó là lí lịch hóa trong việc lựa chọn lãnh đạo Hơn thế, Ma Văn Kháng còn nhìn thấu hiện thực xã hội bấy giờ Để leo lên được vị trí, để có được chức quyền, không ít người đã dùng thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn trắng trợn, bỉ ổi nhất
Nếu như tiểu thuyết trước 1975 thường xây dựng mô hình không gian nghệ thuật phổ biến là không gian rộng mở, luôn luôn hướng ra bên ngoài, với
sự giao thoa, hòa hợp với những miền không gian khác thì trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ta thấy xuất hiện những không gian nhỏ hẹp Đó là không gian của căn phòng, của ngôi trường, của một khu trung tâm văn hóa, hay cũng có thể là một không gian nhỏ của miền núi phía Bắc khuất xa sự ồn ào của đô thị Song trong thế giới nhỏ bé đó lại chứa đựng biết bao lớp sóng ngầm, gió xoáy, bởi những thói đố kị của con người
`Trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú nhà văn đã tái hiện
một không gian bức bối của một ngôi trường trung học số 5 trong một tháng thi tốt nghiệp trung học Chỉ một tháng mà bao nhiêu con người, cuộc đời, số phận, bao tính cách được bộc lộ Chỉ một tháng mà đội ngũ những người trong nhà trường ấy đã hiện hiện đủ mọi dáng vẻ, trong ấy cả những người còn tâm huyết với giáo dục như thầy giáo Tự, ông Thống; cả những kẻ đội lốt trí thức, tha hóa về nhân cách, lệch lạc về quan điểm, lý luận làm hoen ố tấm gương đạo đức người thầy như: Dương, Thuật và hiệu Trưởng Cẩm Xoay
Trang 40quanh những khuôn mặt “mẫu mực” ấy là những khuôn mặt méo mó trước cám dỗ đời thường như: Xuyến, Trình, Quỳnh Sự tha hóa nhân cách bủa vây lấy nhà trường và xã hội Ma Văn Kháng đã khắc họa một mối quan hệ đồng nghiệp hết sức căng thẳng trong thời buổi đa số đều đặt lợi ích cá nhân lên trên hết Trong mối quan hệ đó luôn luôn diễn ra một sự cạnh tranh không lành mạnh Người ta sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để vượt lên trên người khác Người tốt và sống có lý tưởng, ham mê với công việc chỉ còn là số ít và luôn
bị cô lập Cơ quan đoàn thể không còn có bầu không khí trong sạch, nghiêm túc hăng say làm việc như nó phải vậy Thay vào đó là không khí vẩn đục của những vụ bê bối, những thói tục bon chen đời đường…
Không gian văn phòng trường Trung học cơ sở số 5: “Văn phòng trường Trung học số 5 này nhỏ, lộn xộn không kém gì cảnh ngoài sân trường những ngày cuối năm học Cái cảnh nghèo nàn của nó vào những ngày này hiện lên tang thương hơn bao giờ hết Ba cái tủ gỗ, trừ một cái cũ bằng gỗ lim
là cứng cáp làm chỗ dựa cho hai cái tủ ọp ẹp, xiêu vẹo, cố tạo nên một thế giăng hàng, làm nhiệm vụ chia căn buồng hơn hai chục mét vuông làm đôi, nửa trong là nơi ăn ngủ của ông Thống, thư ký văn phòng, nửa ngoài là phòng làm việc, họp hành tiếp khách Lúc này bừa bộn, ngổn ngang trên mặt bàn họp, dưới gầm bàn của ông thư ký văn phòng , trên nóc tủ, bên rìa tường là những đồ dùng giảng dạy, sách vở cũ, bản đồ rách, các mô hình động vật sứt sẹo, cùng là lưới bóng thủng, vợt cầu lông gãy, vỏ bóng bẹp…” [21, tr 42]
Cảnh phòng họp: “Người đứng, người ngồi chờ đợi phiên họp cuối cùng trước khi bước vào kì thi Ai cũng kêu oi bức, ngột ngạt Thuật đánh cái may ô ngoại cỡ rộng thùng thình, thòi hai chùm lông nách đen sì, đứng ở cửa
sổ sau văn phòng, hóng gió thổi Ngồi soạn hồ sơ thí sinh, hai ống quần ta nhuộm mầu bồ quân của ông Thống xe lên tận gần đầu gối Thảnh từ ngày vào hè, bất chấp yêu cầu mô phạm của nghề nghiệp, biến thành một