1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TRÌNH bày các PHƯƠNG PHÁP THAM vấn

15 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài làm:Nếu các liệu pháp y học nhằm chủ yếu làm thay đổi tiến trình t duy và các hành vi ứng xử bằng cách tác động trực tiếp lên hệ thần kinh thì liệu pháp tâm lý tìm cách làm thay đổi

Trang 1

Bài tập môn: tâm lý học t vấn

đề bài: trình bày các phơng pháp tham vấn.

Sinh viên: Phùng Bích Thuỷ Lớp: Tâm lý K44

Trang 2

Danh mục sách tham khảo

1 Những con đờng của tâm lý học-tập 3 (Jo.Godefroid, nxb Pierre Mardaga

Liege-Bruxelles, 1987)

2 Công tác tham vấn trẻ em Giới thiệu thực hành-tập I (Kathryn Geldard&David

Geldard, Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh, 2000)

3 Tiến trình thành nhân (Carl Rogers; nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992)

4 Jung đã thực sự nói gì (Edward Amstrong Bennet, nxb Văn hóa thông tin- 2002)

5 Tài liệu tập huấn về tham vấn (Bản thảo, Unicef Hà Nội, tháng 6 năm 2000)

6 Nhập môn phân tâm học (Sigmund Freud, nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

7 Thực hành điều trị tâm lý (TS.Võ Văn Bản, nxb Y học, 2002)

Chú thích:

“Điều hữu ích và cần thiết cho các nhà tham vấn là cách ứng phó với sự đau đớn và âu lo ”

[(2); tr.49]

 Trích từ: Công tác tham vấn trẻ em Giới thiệu thực hành-tập I (Kathryn Geldard&David

Geldard, Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh, 2000), trang 49

Trang 3

Bài làm:

Nếu các liệu pháp y học nhằm chủ yếu làm thay đổi tiến trình t duy và các hành vi ứng xử bằng cách tác động trực tiếp lên hệ thần kinh thì liệu pháp tâm lý tìm cách làm thay đổi cách thức hoạt động của con ngời xuất phát từ sự tơng tác giữa ngời đó và nhà trị liệu hoặc một nhóm những ngời có cùng một loại rối nhiễu

Có thể chia các liệu pháp tâm lý thành 2 loại lớn: Các liệu pháp nội tâm và các liệu pháp ứng xử

[(1); chơng 12; tr.33]

I Các trị liệu nội tâm

Các liệu pháp nội tâm dựa vào nguyên lý cho rằng hành vi ứng xử không bình thờng là do sự giải mã sai của con ngời về những tình cảm, nhu cầu, động cơ của mình

Mục đích của trị liệu là giúp tìm ra nguyên nhân khiến chỉnh lý sai đối với thực tế để có thể

làm thay đổi những hành vi ứng xử nhằm thích nghi hơn với cuộc sống

Các trị liệu nội tâm đợc sử dụng nhiều nhất và phủ lên hầu hết các khía cạnh động thái của con ngời Một số trị liệu tìm cách phát hiện ra những động cơ vô thức của con ngời, nền tảng các ứng xử của họ, một số trị liệu khác nhấn mạnh đến nội lực mà con ngời đa ra để giải quyết vấn đề của mình; những trị liệu khác nữa nhằm cho con ngời giác ngộ đợc cách thức giải mã thực tế, cuối cùng một số nhằm làm cho con ngời đó thay đổi cách thức hoạt động trong nhóm hoặc khai thác trong đó những nguồn lực cần thiết để làm thay đổi ứng xử của mình

[(1); Chơng.12; tr.34]

1 Liệu pháp phân tâm

a Sigmund Freud:

Ngời đầu tiên trong số các nhà tiên phong là Sigmund Freud, ngời đã triển khai mô hình phân tâm học trong thời gian từ 1880 đến những năm 1930 Phần lớn phép tâm lý trị liệu phân tâm học cho trẻ em xuất phát từ khám phá của Freud về các quá trình vô thức và của cả các cơ chế bảo vệ đợc sử dụng bởi những ngời lớn có xáo trộn xúc cảm để tự che chở trớc những kinh nghiệm đau buồn và/hoặc không chịu nổi mà họ không đủ sức đối phó (Dale, 1990)

[(2); tr.46]

Mục đích của liệu pháp này là giúp con ngời tìm lại những cội rễ vô thức của các vấn đề của

mình nẩy sinh từ những xung động bị dồn nén, bằng cách là sau khi giải phóng những cảm xúc có liên quan, bản thân con ngời sẽ cấu trúc lại nhân cách của mình trên những cơ sở mới

[(1); Chơng.12; tr.35]

Cách thức: Nhà phân tâm học khuyến khích thân chủ nói thoải mái , tìm sự liên tục của t

t-ởng và cảm nghĩ, xác định các chủ đề rồi diễn giải những lập luận do thân chủ nêu ra Qua quá trình này, thân chủ đợc giúp khám phá và hiểu tại sao mình nghĩ và làm theo cách đang

diễn ra và chỉ rõ ý nghĩa các hành vi hiện tại của thân chủ

[(2); tr.49]

Trang 4

Phơng pháp phân tâm khi đứng trớc những cuộc xung đột phát sinh ra triệu chứng, tìm cách trở về tận nguồn gốc rồi dùng sự ám thị để biến đổi theo ý muốn kết quả của các cuộc xung

đột này

[(6); tr.512] Một số mặt sau trong các lý thuyết của Freud có liên quan nhiều nhất đến các nhà tham vấn:

- Bản năng xung động, bản ngã và siêu ngã

- Các quá trình vô thức

- Cơ chế bảo vệ

- Sự đề kháng và liên tởng thông suốt

- Sự chuyển vai

Khi con ngời không còn đủ khả năng kiểm soát hữu hiệu một số tình huống của cuộc sống, các cơ chế tự vệ sẽ là những chiến lợc cho phép Cái tôi bù trừ sự bất lực của mình một cách vô thức, bằng cách làm giảm thiểu stress và sự lo âu kèm theo Những cơ chế tự vệ này thực

tế nhằm tạo cho con ngời những khoái cảm đôi khi thực tế nhng thờng là tởng tợng hoặc xa vời thực tế hoặc bằng phủ nhận thực tế, các ý nghĩ và các xung lực gây lo âu

[(1); chơng.12; tr 10] Các cơ chế bảo vệ đợc Freud nhận diện và đợc Thompson và Rudolph mô tả (1983) gồm có:

- Sự đè nén

- Sự phóng ngoại

- Sự tạo lập phản ứng

- Sự hợp lý hoá

- Sự khớc từ

- Sự trí tuệ hóa

- Sự thu mình lại

- Sự thoái bộ

- Sự bộc lộ bằng hành động

- Sự bù đắp

- Sự phá bỏ

- Sự mơ mộng

Điều hữu ích và cần thiết cho các nhà tham vấn là nên hiểu biết về các định nghĩa của tất cả các cơ chế tự vệ vì các cơ chế tự vệ đó đợc sử dụng nh là cách ứng phó với sự đau đớn và

âu lo (Thompson và Rudolph, 1983)

[(2); tr.49] Học thuyết của Freud cho ta thấy rằng: Điều quan trọng đối với nhà tham vấn đơng thời làm việc với trẻ em là cần nhận biết rằng khi sự căng thẳng thần kinh xảy ra gây nên âu lo hoặc xung đột nội tâm thì bản năng xung động và siêu ngã rơi vào tình trạng mâu thuẫn

[(2); tr 47]

Đánh giá: Dù học thuyết của Freud rất hữu dụng nhng chúng ta không áp dụng phổ biến

ph-ơng pháp phân tâm học, mà giúp đứa bé đạt sự thấy triệt bằng cách tự khám phá chứ không phải bằng sự giải thích của chúng ta

[(2); tr.51]

b Anna Freud

Anna Freud là con gái của S Freud A Freud tìm kiếm những động cơ vô thức đằng sau trò chơi gợi trí tởng tợng, vẽ đồ hoạvà vẽ tranh, giải thích trò chơi của trẻ cho trẻ khi mối liên hệ

Trang 5

với trẻ đợc thiết lập (Cattanch, 1992) Đợi cho đến khi mối liên hệ với trẻ đợc thiết lập là điều chính yếu theo quan điểm của A Freud Bà chịu lao động vất vả để thiết lập nơi trẻ sự gắn bó chặt chẽ với bà và đa trẻ vào một mối liên hệ thực sự tuỳ thuộc nơi bà Bà tin rằng mối liên hệ

đầy thiện cảm hoặc sự chuyển vai tích cực này với nhà trị liệu là điều kiện tiên quyết trong mọi việc cần phải làm với đứa trẻ (Yorke, 1982)

[(2); tr.51-52] Các ý tởng của A Freud có thể hữu ích trong các trờng hợp trị liệu mở và không hạn định về thời gian Quan niệm của bà không thích hợp với tâm lý trị liệu ngắn hạn hoặc trong thời gian nhất định, trong đó không thể thực hiện mối quan hệ tuỳ thuộc dài hạn với trẻ

[(2); tr.53-54]

c Melanie Klein

Bà triển khai lý thuyết của Freud về cách liên hệ với đối tợng (Klein, 1932) Trong khi A Freud tin rằng điều chính yếu là để cho mối liên hệ nảy nở giữa trẻ em và nhà tham vấn tr ớc khi sử dụng những lời giải thích thì Klein lại nhấn mạnh việc sử dụng ngay lời giải thích mà không đợi sự phát triển mối liên hệ này (Catranach, 1992) Bà nhấn mạnh lý thuyết về các mối liên hệ với đối tợng và ý nghĩ của đối tợng chuyển tiếp

[(2); tr 53-54] Quan điểm trị liệu của Melanie Klein co vẻ thích hợp hơn với trị liệu ngắn hạn hoặc trong một khoảng thời gian nhất định

d Donald Winnicott.

Winnicott tin rằng trẻ em lớn lên và phát triển thông qua việc sử dụng các đối tợng chuyển tiếp và cũng thông qua kinh nghiệm về không gian chuyển tiếp giữa ngời mẹ và đứa con (Cattanach, 1992)

Không gian chuyển tiếp là không gian trong đó ngời mẹ chơi với con trong quá trình giúp con rời xa mẹ để làm thành một thực thể riêng Theo Winnicott, việc trị liệu đối với trẻ giống nh không gian chuyển tiếp

Với một số trẻ em thì các buổi tham vấn và mối liên hệ với ngời điều trị tự nó cũng đủ giúp trẻ vợt qua các vấn đề vô thức

[(2); tr.54]

e Carl Jung.

Theo các tác giả biên soạn (2), phần đóng góp quan trọng nhất trong công trình của Jung là việc ông triển khai ý tởng của Freud về vô thức

Jung (1933) gợi ý là có một vô thức tập thể hình thành từ những động cơ nguyên thuỷ của loài ngời

[(2); tr.55] Không giống vô thức cá nhân, vô thức tập thể không phải là những cái đạt đợc bởi cá nhân Tuy thế, tâm thần của mỗi ngời dờng nh có nhiều đặc điểm không thể phân biệt đợc với tâm thần của những ngời khác bởi vì mọi tâm thần đều có một cơ sở hoặc nền tảng chung

[(4); tr.74] Jung thu nhỏ vai trò của vô thức cá thể vì lợi ích của vô thức tập thể bẩm tính và truyền qua các thế hệ từ hàng triệu năm qua Vô thức tập thể chứa đựng nhất là các mẫu hình cổ sơ là

Trang 6

những hình tợng ban sơ thể hiện chủ yếu trong các giấc mộng đa con ngời đến phản ứng đối với một số tình huống theo cung cách riêng cho tất cả mọi ngời thuộc các nền văn hoá

[(1); chơng.10; tr.32] Theo Jung, sự cân bằng nhân cách chỉ có thể thực hiện đợc sau một quá trình tâm lý đã thành thục mà ông gọi là cá biệt hoá cho phép thực hiện sự nhận biết và sự thống hợp mọi mặt của bản thân chúng ta

[(1); chơng.10; tr.33]

f Margaret Lawenfeld.

Margaret Lawenfeld chịu ảnh hởng bởi t tởng của Jung, năm 1925 bà bắt đầu làm việc với trẻ

em bằng cách dùng các biểu tợng trong khay cát để khuyến khích cách diễn đạt không dùng lời vốn ít bị chi phối bởi t duy duy lý Lawenfeld viết rằng phơng pháp này phát sinh từ các

nỗ lực của bà nhằm tìm cách giúp trẻ nói mà không dùng ngôn ngữ (Schaefer và O’ Conner, 1983) Công trình khay cát là cách giúp trẻ kể chuyện về mình có thể bằng lời hoặc không bằng lời

[(2); tr.55]

g Alfred Adler.

Ban đầu Adler là môn đệ của Freud nhng sau đó ông tách ra để phát triển học thuyết riêng của mình Ông thu hẹp đáng kể tầm quan trọng của nhục dục trong sự phát triển và nhấn mạnh hơn đến “ ý muốn có quyển lực” mà theo ông sẽ trở thành xung năng nền tảng có mặt ở mỗi con ngời từ lúc sinh ra

Nhu cầu quyến rũ bằng mọi giá, những vụ đến muộn có hệ thống hoặc hơn nữa những phàn nàn lặp đi lặp lại về tình trạng sức khoẻ, theo Adler là những “chiến thuật cá nhân” khác mà

đơng sự dùng để có thể tự làm yên lòng mình bằng cách lôi kéo sự chú ý của ng ời khác đến

sự “ quan trọng” của cá nhân mình

[(1); chơng.10; tr.32] Adler tin rằng ngời ta phát triển thành những cá nhân và cũng phát triển bên trong một cấu trúc xã hội, mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào những ngời khác Adler chú ý nhiều tới xã hội rộng lớn

Adler bác bỏ các quan niệm về thởng phạt, trái lại, ông tập trung sự chú ý vào những hậu quả luân lý và tự nhiên

Công trình của Adler có ảnh hởng quan trọng đối với tham vấn trẻ em vì rõ ràng chúng ta cần

lu tâm tới môi trờng rộng lớn của trẻ

[(2); tr.56]

2 Liệu pháp thân chủ trọng tâm.

Carl Roger, ngời sáng lập liệu pháp thân chủ trọng tâm cho rằng con ngời có trong chính mình cái khả năng và xu hớng tiềm ẩn nếu không phải là hiển nhiên tiến tới sự trởng thành

Nó hiển hiện trong cái khả năng con ngời hiểu rõ các phơng diện của đời mình và của chính mình đang làm cho mình đau đớn và bất mãn

Vì Roger tin rằng thân chủ có khả năng tìm ra giải pháp của riêng mình nên ông hoàn toàn không chi phối và sử dụng kỹ thuật nghe tích cực và làm phản hồi lại cho thân chủ điều gì

Trang 7

thân chủ đã nói; Ông cho rằng việc nhà tham vấn giải thích thay cho khách hàng là không thích hợp

[(2); tr.64] Roger nhận ra rằng: “Tôi không thể giúp gì đợc một ngời đang bất an, bằng bất cứ một

ph-ơng pháp nào dựa trên kiến thức, trên sự tập luyện hoặc trên những gì ngời khác dạy tôi Có thể giảng giải cho một ngời về chính ngời đó, phác hoạ những giai đoạn sẽ đa ngời đó tới chỗ trởng thành, huấn luyện ngời đó biết sống một lối sống thoả đáng hơn Nhng nhiều nhất chúng chỉ có thể tạo ra một sự thay đổi tạm thời, sớm tan biến và làm cho ngời đó càng tin vào sự yếu kém của mình hơn nữa”

[(3); tr.51-52]

Thân chủ có thể tìm ra giải pháp của riêng mình trong một môi trờng ở đó có mối quan

hệ tham vấn nồng ấm và đồng cảm

[(2); tr.64] Khi xây dựng đợc mối quan hệ mà trong đó nhà tham vấn có:

- Một sự chân thực và trong suốt

- Một sự nhiệt tình tôn trọng và chấp nhận ngời khác nh một cá nhân riêng biệt

- Một khả năng nhạy cảm để nhìn thế giới của ngời đó và chính ngừơi đó nh ngời đó nhìn họ [(3); tr.59].

sẽ giúp thân chủ tự tổ chức lại nhân cách của mình, cả ở mức ý thức cũng nh vô thức, theo một phơng cách đơng đầu với đời sống một cách xây dựng hơn, sáng tạo hơn Ngời ấy sẽ thay

đổi quan niệm về chính mình, thực tế hơn trong quan điểm về bản thân mình, đánh giá mình cao hơn, tự chủ và tự tin hơn, chấp nhận ngời khác hơn, thấy ngời khác giống mình hơn

[(3); tr.56-57].

Nhà tham vấn không đợc giải thích hoặc gợi ý một giải pháp nào Họ cần phải lắng nghe

và duy nhất đóng vai trò “cái gơng soi” phản chiếu lại và tổ chức lại những ý nghĩ, những cảm xúc mà thân chủ bộc lộ Chính sự phản chiếu này dẫn dắt thân chủ đi đến khám phá nội tâm, nhìn nhận mình một cách hiện thực hơn và hiểu đợc cách nhìn nhận của ngời khác về mình

Thân chủ tự quyết định mình đã đạt đợc mục đích theo đuổi thông qua trị liệu Thân chủ sẽ tự

do trong mọi trờng hợp theo đuổi trị liệu hay ngừng lại

Cũng có thể thấy rằng, với liệu pháp thân chủ trọng tâm, hình nh với những ngời có khả năng bộc lộ những cảm xúc và trình bày vấn đề của mình, kết quả sẽ tốt hơn

[(1); chơng.12; tr.37]

3 Liệu pháp Gestalt.

Fritz Perls (1893-1970) là ngời đề xớng phơng pháp tiếp cận trị liệu Gestalt cho những rối nhiễu tâm trí của con ngời do nhân cách của họ không tạo thành một thể thống hợp, một cấu trúc (Gestalt)

Mục đích của trị liệu đa lại cho con ngời một sự hài hoà sẵn sàng có khả năng đề cập bất kỳ

tình huống nào trong khi biết rõ ràng cái gì mình muốn làm chứ không phải những gì mình phải làm hoặc sẽ phải làm nếu nh Liệu pháp Gestalt muốn trở thành liệu pháp nhằm đạt đến giải phóng và tự chủ của nhân cách

[(1); chơng 12; tr.37]

Trang 8

Perls nghĩ rằng nên dành sự chú ý vào kinh nghiệm hiện tại nhiều hơn là quá khứ của thân chủ và thân chủ nên nhận trách nhiệm về tình trạng hiện tại chứ không phiền trách ngời khác hoặc quá khứ của mình

Bằng cách khuyến khích thân chủ tiếp xúc đầy đủ với kinh nghiệm hiện tại của bản thân

“ngay lúc này và tại đây”, ông tin rằng ông có thể giúp thân chủ hoàn thành “công việc còn

dở dang”, tách lọc mối rối tình cảm, đạt đợc điều mà ngời ta gọi là Gestalt (sự đồng bộ)

[(2); tr 66-67]

Kỹ thuật nền tảng là không giải thích những sự viẹc cho thân chủ biết nhng tốt hơn là cho họ

có cơ hội để tự hiểu mình và tự khám phá ra mình trong tình huống hiện nay để làm nổi lên cái Gestalt “ở đây và bây giờ” Ngời ta dẫn dắt thân chủ đến phát triển nội lực của mình trong quá trình thành thục, nhờ đó học đợc cách đứng vững về mặt cảm xúc

[(1); chơng 12; tr.65] Liệu pháp Gestalt thúc đẩy con ngời sống trong huyễn tởng, đóng vai trò một số nhân vật trong mộng của mình, ý thức đợc những xúc cảm, giọng nói, khám phá những cảm giác cơ thể mà cho đến lúc đó không hay biết, tất cả tìm cách kết nối những yếu tố khác nhau đó lại

và khiến cho con ngời đạt đợc sự ý thức toàn vẹn về bản thân

Đánh giá: Liệu pháp Gestalt giống nh phân tâm, dựa vào sự giác ngộ và giải quyết những

xung đột nội tâm nhng cũng giống nh liệu pháp thân chủ trọng tâm, liệu pháp Gestalt lại còn tìm cách dẫn thân chủ đến đơng đầu với cuộc sống một cách có ý thức và hiệu quả

[(1); chơng 12; tr.37]

4 Liệu pháp trị liệu hành vi nhận thức-RET [Trị liệu hành vi xúc cảm thuần lý(2) hay liệu

pháp xúc cảm hợp lý (1)]

Liệu pháp này do Albert Ellis xây dựng năm 1962

Ellis tin vào việc cho lời khuyên trực tiếp và sự giải thích trực tiếp hành vi của thân chủ

Phơng pháp của ông bao gồm việc đối mặt và thách thức điều mà ông gọi là niềm tin phi lý, thuyết phục thân chủ thay thế những niềm tin khiến thân chủ nghĩ không tốt về bản thân hoặc khiến ngời ấy mang đầy những cảm nghĩ tiêu cực hoặc khó chịu

(2); tr.70]

Mục đích trị liệu của trị liệu hành vi nhận thức là cùng với đơng sự phân tích tình huống phải

đối đầu và rút ra kết luận

Ông khuyến khích thân chủ, thuyết phục, chiều chuộng thúc đẩy hắn tham gia vào các hoạt

động đã làm cho hắn chùn bớc hoặc sợ hãi và khuyến khích hắn tự mình sử dụng kỹ thuật đó

nh là một công cụ để phản truyền chống lại những niềm tin không có cơ sở

[(1); chơng 12; tr.67] Một điểm quan trọng nữa của Trị liệu hành vi nhận thức là nhìn về quá khứ của thân chủ để xác định xem quá khứ ảnh hởng nh thế nào đến nghĩ hoặc hành vi của thân chủ

[(5); tr.148]

Nhiệm vụ của nhà trị liệu nhằm làm sáng tỏ các quá trình t duy của thân chủ làm thân chủ ý

thức đợc điều gì không hợp lý trong đó làm cho thân chủ đi đến tri giác khách quan hợp lý các sự kiện và dẫn tới tìm ra đợc những giải pháp mới có khả năng làm giảm lo âu

[(1); chơng [12; tr.38]

Trang 9

5 Các trị liệu cá nhân khác.

a Trị liệu hiện sinh

Có nguồn gốc phân tâm nhng xu hớng nhân văn và nhận thức nhấn mạnh “tự do ý chí” đa con ngời đến lựa chọn và chịu trách nhiệm Trị liệu này nhằm làm cho con ngời nắm đợc phơng hớng muốn ban cho cuộc sống của mình và ý nghĩa tuỳ từng hành động của mình (Frank, 1961; May, 1967)

[(1); chơng.12; tr.38]

b Liệu pháp thực tế (Reality Therapy-RT)

Liệu pháp này đợc William Glasser (1965) sáng lập, sau này đợc gọi là Phép trị liệu kiềm chế

và ngày nay thì gọi là Pháp trị liệu lựa chọn

Liệu pháp thực tế là liệu pháp nhận thức làm cho thân chủ có khả năng đánh giá hành động

và dự án của mình tuỳ theo các giá trị mà thân chủ bảo vệ và hậu quả các hành động có nguy cơ gây ra cho anh ta

Mục đích của trị liệu chủ yếu đa con ngời đến chịu trách nhiệm bằng “hợp đồng” và thiết tha

với các mục tiêu đã định, một khi chúng đã đợc xây dựng một cách hiện thực

[(1); chơng 12; tr.39] Liệu pháp thực tế rõ ràng là hữu dụng ở thời điểm trong quá trình tham vấn mà trẻ em đạt đợc nhận thức về hành vi của mình và hành vi của ngời khác và đang tìm cách thích ứng để đạt các nhu cầu của mình bằng cách c xử khác đi Liệu pháp thực tế cũng hữu dụng trong việc

đào tạo các kỹ năng xã hội

[(2); tr.74]

c Tâm kịch.

Là một kỹ thuật do Moreno hiệu chỉnh trong tâm kịch, đơng sự đợc mời đóng vai một nhân vật nào đó trong trò chơi có chủ đề tập trung vào vấn đề của mình Nh vậy, thân chủ đợc dẫn

đến giải toả các tình cảm riêng thông qua ứng khẩu do nhà trị liệu chỉ huy, trong đó các kịch

sĩ đợc tập dợt đóng vai các nhân vật quan trọng trong cuộc đời của đơng sự Những ngời khác tham dự đợc chỉ định phải chăm chú theo dõi để đối chiếu những gì đã xảy ra trên sàn diễn với các vấn đề riêng của họ (Moreno, 1965)

Mục đích của trị liệu là làm cho thân chủ có thể tự bộc lộ với mình những xúc cảm sâu kín nhất một cách mạnh mẽ và hiệu quả hơn là chỉ đơn giản nói chúng ra mồm nh trong các trờng hợp trị liệu khác

[(1); chơng.12; tr.39]

d Phân tích giao tiếp.

Ngời sáng lập phơng pháp này là Berne (1961) Phép trị liệu này có nguồn gốc phân tâm nhng khác chủ yếu trên bình diện phơng pháp Berne đã chỉ ra rằng trong mỗi ngời chúng ta có phần của đứa con vốn là chúng ta ngày trớc có phần bố và mẹ chúng ta đã có và phần ngời lớn là chúng ta hiện nay Tất cả các giao tiếp của những ngời khác đều thấm đẫm một trong cá vai trò trên (đứa con, bố mẹ, ngời lớn) Vì là đứa con đôi khi chúng ta nài xin hoặc tìm cách thao túng để đạt đợc mục đích, vì là ngời lớn chúng ta cố gắng đợc thực tế, sáng suốt để

đối mặt với các khó khăn trong cuộc sống

Trang 10

Mục đích của trị liệu là làm cho đơng sự có ý thức hơn về ứng xử của mình để thôi đóng thêm nữa một cách vô thức vai trò ngời bố-mẹ, ngời con Thông qua những đỡng tơng tác bên trong một nhóm nhỏ Từ đó đơng sự sẽ học đợc cách tự chấp nhận mình và nhờ vào một “hợp

đồng” với bản thân học đợc phản ứng một cách ý thức và thực tế hơn trong tơng lai

[(1); chơng12; 39]

e Trị liệu nhóm.

Tham vấn nhóm là một hình thức tham vấn, theo đó các vấn đề của cá nhân sẽ đợc thể hiện trong phạm vi nhóm Các thành viên của nhóm xâu chuỗi các vấn đề, cảm giác, suy nghĩ và kinh ngihệm của mình lại với nhau và nhận sự phản hồi, hỗ trợ từ các thành viên khác của nhóm và từ giảng viên

[(5); tr.180] Tham vấn nhóm dựa trên sự kiện là sự tập hợp nhiểu ngời có cùng vấn đề giống nhau, đa họ

đến nâng đỡ lấn nhau trên bình diện cảm xúc và khuyến khích nhau phát triển những ứng xử mới

[(1); chơng.12; tr.40]

Mục đích tham vấn nhóm:

- Phát triển các quan hệ hài hòa

- Giúp các thành viên giải quyết các vấn đề và các mâu thuẫn trong đời sống của họ

- Giáo dục các thành viên của nhóm

- Mang lại những thay đổi về nhận thức, cảm xúc

- Giúp thành viên phát triển sự tự nhận thức

Mục tiêu của tham vấn nhóm:

- Bồi dỡng ý thức hợp tác và hỗ trợ

- Tạo điều kiện cho quá trình chữa trị

- Tạo điều kiện cho những thay đổi về nhận thức và c xử và sự phát triển tính cách

- Giáo dục học viên

- Hỗ trợ ra quyết định và giải quyết vấn đề

[(5); tr.189-190] Mục đích của liệu pháp nhóm không chỉ làm giảm nhẹ các rối loạn bệnh lý thông qua sự thay

đổi phản ứng cảm xúc đối với các rối loạn mà còn nhằm thiết lập cách ứng xử và nhằm thay

đổi nhận thức cũng nh cách thức giải quyết những khó khăn trong cuộc sống Chính vì vậy

mà mục đích của trị liệu nhóm vừa hớng tới triệu chứng vừa hớng tới làm thay đổi nhân cách

và cách ứng xử

[(7); tr 196]

Đánh giá: sự việc một cá nhân cảm thấy đợc sự nâng đỡ của nhóm hình nh làm họ thực sự dễ

dàng trình bày những tình cảm hoặc những khó khăn của mình hơn Liệu pháp nhóm nh vậy

có thể tạo nên giai đoạn đầu tiên để tái hòa nhập vàp đời sống thực tế vì liệu pháp cho phép

đ-ơng đầu với những ngời khác và đòi hỏi có sự hiểu biết và kính trọng lẫn nhau Tuy nhiên, phơng hớng đặt ra cho nhóm và tác động của liệu pháp tùy thuộc nhiều vào nhân cách của ngời trị liệu, mục đích thực tế đợc theo đuổi một cách hữu thức hay vô thức.

[(1); chơng.12; tr.40-41]

f Tham vấn gia đình.

Ngày đăng: 01/07/2016, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w