ĐẶT VẤN ĐỀBệnh giun sán là bệnh ký sinh trùng gây nhiều tác hại đến sức khỏe conngười và phổ biến trên toàn thế giới.Trong đó các bệnh liên quan đến giunđường ruột là phổ biến hơn cả và
Trang 1ĐẶNG MINH KHOA
§¸NH GI¸ THùC TR¹NG NHIÔM GIUN §¦êNG RUéT Vµ KIÕN THøC - TH¸I §é - THùC HµNH VÒ PHßNG CHèNG BÖNH CñA SINH VI£N KHèI Y2 - §¹I HäC Y Hµ NéI N¡M 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2012 - 2016
HÀ NỘI – 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2§¸NH GI¸ THùC TR¹NG NHIÔM GIUN §¦êNG RUéT Vµ KIÕN THøC - TH¸I §é - THùC HµNH VÒ PHßNG CHèNG BÖNH CñA SINH VI£N KHèI Y2 - §¹I HäC Y Hµ NéI N¡M 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2012 - 2016
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Phan Thị Hương Liên ThS Phạm Ngọc Duấn
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Ngọc Minh và các thầygiáo, cô giáo Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo
Trang 3Văn Toàn đã đóng góp những ý kiến quý báu và giúp đỡ em trong quá trìnhhoàn thiện khóa luận.
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Phan Thị HươngLiên và ThS Phạm Ngọc Duấn, Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y HàNội là những thầy cô trực tiếp tận tình hướng dẫn , tạo điều kiện cho em trongquá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, ủng
hộ, động viên và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoànthành khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2016
Sinh viênĐặng Minh Khoa
Trang 4Em xin cam đoan đây là đề tài do chính em thực hiện Các số liệu, kếtquả trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trên một côngtrình nghiên cứu khoa học nào khác.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 27tháng 5 năm 2016
Sinh viênĐặng Minh Khoa
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đường ruột 3
1.2 Đặc điểm sinh học của giun đường ruột 4
1.2.1 Vị trí ký sinh 4
1.2.2 Đường lây nhiễm và chu kỳ sống 4
1.2.2.1 Chu kỳ sống của giun đũa (Ascaris lumbricoides) 4
1.2.2.2 Chu kỳ sống của giun tóc (Trichuris trichiura) 5
1.2.2.3 Chu kỳ sống của giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/ Necator americanus) 7
1.3 Tác hại của giun 8
1.3.1 Tác hại của giun đũa 9
1.3.1.1 Tác hại do ấu trùng giun đũa gây ra 9
1.3.1.2 Tác hại do giun đũa trưởng thành gây ra 9
1.3.2 Tác hại của giun tóc 11
1.3.2.1 Tác hại tại vị trí kí sinh 11
1.3.2.2 Tác hại toàn thân 11
1.3.3 Tác hại của giun móc/mỏ 12
1.3.3.1 Tác hại do ấu trùng giun móc/mỏ 12
1.3.3.2 Tác hại do giun móc/mỏ trưởng thành 12
1.4 Tình hình nhiễm giun đường ruột trên thế giới và Việt Nam 13
1.4.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình nhiễm giun đường ruột ở Việt Nam 15
1.4.3 Tình hình nhiễm giun trên đối tượng sinh viên 16
CHƯƠNG 2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
Trang 62.3.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 18
2.4.1 Kỹ thuật thu thập thông tin 18
2.4.1.1 Đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành của sinh viên về phòng chống bệnh giun đường ruột 18
2.4.1.2 Đánh giá tình trạng nhiễm giun đường ruột 18
2.4.2 Phân tích và xử lý số liệu 21
2.5 Sai số và cách khắc phục 21
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thực trạng nhiễm giun đường ruột của sinh viên 22
3.1.1 Một số thông tin về đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Thực trạng nhiễm giun của sinh viên 25
3.2 Kiến thức - thái độ - thực hành của sinh viên về phòng chống bệnh giun đường ruột 27
3.2.1 Kiến thức của sinh viên về bệnh giun đường ruột 27
3.2.2 Thái độ của sinh viên về bệnh giun đường ruột 31
3.2.3 Thực hành của sinh viên về bệnh giun đường ruột 32
3.2.4 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột của sinh viên35 CHƯƠNG 4- BÀN LUẬN 36
4.1 Thực trạng nhiễm giun đường ruột của sinh viên 36
4.2 Kiến thức - thái độ - thực hành của sinh viên về phòng chống bệnh giun đường ruột 40
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7CS Cộng sự
KAP Kiến thức - Thái độ - Thực hành
(Knowlegde - Attitude - Pratice)
SR – CT – KST Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Oganization)
Trang 8Bảng 1.1 Ước tính nhiễm giun đường ruột theo vùng trên thế giới 15
Bảng 3.1 Phân bố theo vùng 22
Bảng 3.2 Phân bố theo giới 22
Bảng 3.3 Phân bố nguồn nước sử dụng trong ăn uống của sinh viên 23
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng phân tươi của gia đình các sinh viên 23
Bảng 3.5 Nhà vệ sinh đang sử dụng 24
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm giun của sinh viên theo giới 25
Bảng 3.8 Cường độ nhiễm các loài giun 26
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm một loài và phối hợp nhiều loài 26
Bảng 3.10 Hiểu biết về những loài giun đường ruột 27
Bảng 3.11 Hiểu biết về nguyên nhân có thể gây nhiễm giun 27
Bảng 3.12 Hiểu biết về tác hại của giun đường ruột đối với con người 28
Bảng 3.13 Thái độ của sinh viên về phòng bệnh giun đường ruột 31
Bảng 3.14 Thái độ của sinh viên về thời gian tẩy giun định kỳ 31
Bảng 3.15 Thói quen cắt móng tay của sinh viên 32
Bảng 3.16 Thực hành về cách rửa tay của sinh viên 34
Bảng 3.17 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm giun 35
Trang 9Hình 1.1 Chu kỳ sống của giun đũa 5
Hình 1.2 Chu kỳ sống của giun tóc 6
Hình 1.3 Chu kỳ sống của giun móc/mỏ 8
Hình 1.4 Thực trạng nhiễm giun đường ruột trên toàn cầu 14
Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tình hình tẩy giun của sinh viên 24
Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ nhiễm giun của sinh viên 25
Hình 3.3 Hiểu biết của sinh viên về các cách phòng chống nhiễm giun đường ruột 29
Hình 3.4 Hiểu biết về lây nhiễm giun 30
Hình 3.5 Hiểu biết về bệnh giun 30
Hình 3.6 Thái độ của sinh viên về việc ăn rau sống 32
Hình 3.7 Thói quen rửa tay của sinh viên 33
Hình 3.8 Thực hành về cách rửa rau sống 34
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh giun sán là bệnh ký sinh trùng gây nhiều tác hại đến sức khỏe conngười và phổ biến trên toàn thế giới.Trong đó các bệnh liên quan đến giunđường ruột là phổ biến hơn cả và tập trung chủ yếu ở các nước đang pháttriển, nhất là các nước trong khu vực khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới Tỷ lệnhiễm, cường độ nhiễm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dịch tễ như vị trí địa lí,đặc điểm khí hậu,tập quán ăn uống và điều kiện vệ sinh môi trường sống
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới WHO (2016) thì trên thế giới
có khoảng gần 2 tỉ người nhiễm giun đường ruột trong đó có khoảng 807 triệungười nhiễm giun đũa, 604 triệu người nhiễm giun tóc và giun móc/mỏ là 576triệu người [1]
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩmmưa nhiều là điều kiện rất thuận lợi cho mầm bệnh giun sán phát triển Bêncạnh đó nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với tập quán canh tác lạc hậunhư việc sử dụng phân tươi hoặc phân chưa ủ kĩ để bón ruộng và hoa màu, ýthức vệ sinh của người dân còn kém, môi trường sống bị ô nhiễm (tỷ lệ nguồnnước đạt tiêu chuẩn vệ sinh rất thấp: 14,9%, mức độ nguồn nước bị ô nhiễmphân – các chất hữu cơ khá nghiêm trọng…) [2] Chính những lí do này làmcho tình trạng bệnh giun sán ở nước ta có tỷ lệ nhiễm cao, tuy có khác nhautùy từng vùng và từng địa phương Theo tổ chức Y tế Thế giới (2006) ViệtNam có trên 65 triệu người nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ, bệnh phổbiến ở 64 tỉnh thành trên cả nước [3]
Đã có rất nhiều nghiên cứu về mức độ nhiễm cũng như cường độ nhiễmgiun sán được tiến hành ở nhiều vùng trên cả nước Theo báo cáo tổng kếtcông tác phòng chống giun sán tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 cho thấy
tỷ lệ nhiễm cao chủ yếu ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam có tỷ lệ thấphơn Tuy nhiên, một số nơi vẫn có tỷ lệ nhiễm cao có khi lên tới 100% [4]
Trang 11Nhiễm giun đường ruột tác động một cách âm ỉ, kéo dài làm ảnh hưởngtới sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng, làm giảm sự phát triển về thể chất, tinhthần và trí tuệ con người, ảnh hưởng đến quá trình học tập và làm việc, gâytrở ngại lớn đến phát triển kinh tế - xã hội Trong đó phụ nữ và trẻ em lànhững đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất, tác động trực tiếp đến sự phát triển
cả về thể chất lẫn tinh thần [5]
Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những đối tượng ởvùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp hoặc trên trẻ em, trênnhững đối tượng có trình độ học vấn thì còn ít nghiên cứu Trước đây đã cómột số nghiên cứu tiến hành trên đối tượng sinh viên như ở trường Đại học YThái Bình (tỷ lệ nhiễm giun chung là 55,9%) hay Đại học Tây Nguyên (tỷ lệnhiễm giun chung là 41,3%) Nhưng số lượng nghiên cứu còn hạn chế, đặcbiệt là chưa có nghiên cứu nào trên sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội[6],[7],[8].Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài:
“Đánh giá thực trạng nhiễm giun đường ruột và kiến thức - thái độ
- thực hành về phòng chống bệnh của sinh viên khối Y2 - Đại học Y Hà Nội năm 2016”.
Mục tiêu của đề tài:
1 Mô tả thực trạng nhiễm giun đường ruột của sinh viên Y2 hệ bác sĩ.
2 Mô tả kiến thức - thái độ - thực hành của sinh viên về phòng chống bệnh giun đường ruột.
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đường ruột
Giun sán là những sinh vật có lịch sử phát triển lâu đời, ngay từ nhữngngày đầu sơ khai hình thành nên trái đất và các sinh vật trên trái đất đã thấyxuất hiện giun sán [9]
Theo các y văn cổ, người ta đã nói đến các loài giun sán như sán dây,giun đũa, giun kim và giun chỉ ngay từ thế kỷ XVI Trước Công nguyên Cácnhà khoa học nổi tiếng như Aristote cũng đã sơ bộ phân loại giun sán làm baloại: những loại thân dẹt, những loại thân hình ống và những loại có hình thểgiun đũa Hay như các nhà y học người Hy lạp cũng đã mô tả rất nhiều vềgiun đũa, giun kim hay giun móc/mỏ Tuy nhiên, đến tận thế kỷ 19 người tamới có một cái nhìn tổng thể nhất về giun sán, tài liệu này được Cobbold xuấtbản năm 1879 [9]
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu điều tra giun sán đầu tiên đượcthực hiện bởi những người nước ngoài như Mathis, Leger vào cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, ngay từ thời Hải Thượng Lãn Ông và TuệTĩnh đã có các bài thuốc Đông Y điều trị bệnh giun sán, chứng tỏ rất sớmngười ta đã có những hiểu biết về giun sán [10]
Năm 1936, Đặng Văn Ngữ đã có những công trình điều tra cơ bản vềcác loài giun sán ký sinh và tình hình nhiễm bệnh ở người [11] Ngay sau
đó là một loạt các công trình điều tra, nghiên cứu về hình thể, bệnh học,đặc điểm sinh học, biện pháp phòng chống điều trị được thực hiện bởi cácViện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, các tỉnh, các trường đại học [10],[12]
Trang 131.2 Đặc điểm sinh học của giun đường ruột
1.2.1 Vị trí ký sinh
Giun đường ruột chủ yếu là các loại giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ
kí sinh trong ống tiêu hóa của con người và chiếm sinh chất từ vật chủ Giunđũa kí sinh chủ yếu ở phần đầu và phần giữa ruột non, chiếm sinh chất bằngcách hấp thụ thức ăn ở đây Giun tóc và giun móc/mỏ thì lại hút máu của cơthể vật chủ để sống Nếu giun tóc chỉ cắm đầu vào phần manh tràng thì giunmóc/mỏ lại hút máu từ vùng tá tràng - nơi tập trung nhiều mạch máu của cơthể nên lượng máu bị mất đi khá nhiều [13],[14],[15]
1.2.2 Đường lây nhiễm và chu kỳ sống
1.2.2.1 Chu kỳ sống của giun đũa (Ascaris lumbricoides)
Giun đũa kí sinh ở phần đầu và phần giữa ruột non, đây là nơi giàuchất dinh dưỡng với độ pH thích hợp từ 7,5 - 8,2 Giun đũa là loài có chu
kỳ đơn giản:
Trong chu kỳ phát triển của giun đũa chỉ có 2 mắt xích đơn giản làngười và môi trường nên việc phòng chống bệnh giun đũa trở nên khó khăn.Sau khi giao phối, giun đũa cái đẻ trứng (mỗi ngày để khoảng 20 - 25 vạntrứng), trứng theo phân ra bên ngoài môi trường Ở ngoại cảnh trứng cần đủ 3điều kiện là nhiệt độ, độ ẩm và oxy để phát triển thành trứng có ấu trùng.Người ăn phải trứng có ấu trùng khi vào cơ thể sẽ phát triển thành giun đũatrưởng thành
Tuy nhiên, tính từ lúc ăn phải trứng có ấu trùng đến lúc giun đũa kísinh trong ruột phải mất 60 ngày Trong thời gian đó giun đũa không nằm immột chỗ mà có quá trình chu du trong khắp cơ thể, chính vì thế người ta còngặp một số bệnh do giun đũa gây ra điển hình là hiện tượng lạc chỗ Giun đũa
là loài có đời sống ngắn, thường kéo dài từ 13 - 15 tháng, hết thời gian này
Trang 14giun sẽ bị nhu động ruột đẩy ra ngoài Chính vì vậy bệnh giun đũa có thể tựkhỏi với điều kiện không bị tái nhiễm [13],[14],[15].
Hình 1.1 Chu kỳ sống của giun đũa
(http://www.cdc.gov/parasites/ascariasis/biology.html)
1 Giun đũa trưởng thành ký sinh trong ruột non đẻ trứng
2 Trứng giun đũa theo phân ra ngoài môi trường
3 Trứng được thụ tinh phát triển thành trứng có ấu trùng
4 Người ăn phải trứng chứa ấu trùng bên trong qua thức ăn…
5 Trứng vào ruột non thành ấu trùng và có quá trình chu du trước khi
về ruột kí sinh tại đó
1.2.2.2 Chu kỳ sống của giun tóc (Trichuris trichiura)
Giun tóc có chu kỳ đơn giản và gần giống giun đũa, tuy nhiên điểmkhác biệt lớn nhất đó là không có quá trình chu du trong cơ thể:
Trứng giun tóc sau khi bài xuất ra ngoài cơ thể sẽ cần đủ 3 điều kiện lànhiệt độ, độ ẩm và oxy để phát triển ở ngoại cảnh (mỗi ngày con cái đẻ khoảng
Trang 152000 trứng) Nhiệt độ thích hợp nhất để trứng phát triển thành trứng mang ấutrùng là 25 - 30°C và với nhiệt độ như vậy thì thời gian cần thiết là 17 - 30ngày Sau khi người ăn phải trứng có ấu trùng, trứng sẽ qua ruột xuống dạ dày
và tại đây nhờ sức co bóp lẫn độ acid của dịch vị mà ấu trùng thoát vỏ chui rangoài Ấu trùng di chuyển thẳng xuống ruột già để kí sinh và phát triển thànhgiun trưởng thành Mất khoảng một tháng là ấu trùng trưởng thành và có thểsinh sản Giun tóc cắm sâu phần đầu của mình vào manh tràng và hút máu từvật chủ, đời sống trung bình của chúng khoảng 5 - 6 năm [13],[14],[15]
Hình 1.2 Chu kỳ sống của giun tóc
(http://www.cdc.gov/parasites/whipworm/biology.html)
1 Giun tóc trưởng thành trong ruột già đẻ trứng
2 Trứng giun tóc theo phân ra ngoài
3 Trứng phát triển có ấu trùng bên trong
4 Người ăn phải trứng giun chứa ấu trùng bên trong
5 Trứng vào ruột, nở thành giun trưởng thành và kí sinh tại đó
Trang 161.2.2.3 Chu kỳ sống của giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/ Necator
americanus)
Giun móc/mỏ cũng có chu kì đơn giản như giun đũa gồm 2 mắt xích làngười và ngoại cảnh Tuy cũng có quá trình chu du trong cơ thể nhưng ấutrùng của giun móc/mỏ không đi qua gan:
Giun móc/mỏ để trứng ở trong ruột (giun móc đẻ khoảng 10 - 25 nghìntrứng và giun mỏ khoảng 5 - 10 nghìn trứng 1 ngày), trứng theo phân ra ngoàimôi trường gặp điều kiện thuận lợi sau một ngày đã nở thành ấu trùng giaiđoạn I kích thước từ 0,2 - 0,3 mm Ấu trùng tiếp tục phát triển qua các giaiđoạn II, III và sau 5 ngày ấu trùng đã có đặc tính hướng lên cao, hướng ẩm vàhướng vật chủ Chính đặc tính này tạo nên con đường xâm nhập vào vât chủkhác biệt của giun móc/mỏ Nếu ấu trùng được con người nuốt phải qua quátrình ăn uống thì chúng sẽ ký sinh trực tiếp ở ruột non mà không có quá trìnhchu du trong cơ thể Thời gian hoàn thành chu kỳ của giun móc/mỏ là khoảng
42 - 45 ngày Giun móc có thể sống tới 4 - 5 năm trong khi đời sống của giun
mỏ có thể lên tới 10 - 15 năm [13],[14],[15]
Trang 17Hình 1.3 Chu kỳ sống của giun móc/mỏ
(http://www.cdc.gov/parasites/hookworm/biology.html)
1 Giun móc/mỏ trưởng thành kí sinh trong ruột
2 Trứng giun theo phân ra ngoài môi trường
3 Trứng phát triển và nở ra ấu trùng trong đất
4 Ấu trùng giun móc/mỏ chui qua da vào máu
5 Ấu trùng chu du trong cơ thể, về ruột trưởng thành và kí sinh tại đó
1.3 Tác hại của giun
Giun sán nói chung và giun đường ruột nói riêng đã và đang gây ra ảnhhưởng nghiêm trọng trong cộng đồng nhân dân Giun đường ruột gây ra tìnhtrạng thiếu dinh dưỡng, giảm khả năng tập trung và năng suất lao động đặcbiệt là lứa tuổi trẻ em chúng gây ra tình trạng chậm phát triển cả về thể chấtlẫn tinh thần Tác hại mà giun gây ra phụ thuộc nhiều yếu tố [14]:
Trang 18 Số lượng giun ký sinh.
Thời gian nhiễm giun lâu hay mới
Cơ quan nhiễm
Sức đề kháng của người bị nhiễm
Tình trạng dinh dưỡng của cơ thể
1.3.1 Tác hại của giun đũa
1.3.1.1 Tác hại do ấu trùng giun đũa gây ra
Trong chu kỳ phát triển của giun đũa, ấu trùng giun đũa có quá trìnhchu du trong cơ thể Ấu trùng giun đũa lần lượt đi qua các cơ quan nôi tạngnhưng tổ chức mà có biểu hiện bệnh lý rõ hơn cả là phổi với hội chứngLoeffler [14],[15] Tại đây ấu trùng gây tổn thương phế nang, chảy máu đồngthời gây viêm, dị ứng… làm cho người bệnh có biểu hiện: ho khan, đau ngực
dữ dội, bạch cầu ái toan tăng cao, X quang phổi có nhiều nốt thâm nhiễm rảirác hai phế trường Bệnh hết sau 6 - 7 ngày khi ấu trùng rời phổi lên vùngvòm, hầu miệng [14],[15]
1.3.1.2 Tác hại do giun đũa trưởng thành gây ra
Giun đũa là loài có kích thước lớn nhất trong các loài giun đường ruột,thường ký sinh với số lượng lớn và ngay ở phần đầu ruột non nên tác hạichiếm thức ăn là lớn nhất đặc biệt với đối tượng trẻ em, gây ra tình trạng suydinh dưỡng [16]
Theo thông báo của WHO cứ 20 giun đũa một ngày sử dụng 2,8gcarbohydrat và 0,7mg protein [17] Dựa vào mức độ chiếm thức ăn do giunđũa gây ra, đối chiếu với dân số Việt Nam năm 1989, Đỗ Dương Thái vàHoàng Tân Dân đã ước tính mỗi năm trong cả nước giun đũa tiêu thụ 28.616tấn gạo, 31,8 tấn thịt [18]
Tác giả Tripathy và CS (1971) thấy 7,2% nitrogen và 13,4% chất mỡtrong khẩu phần ăn bị mất do giun khi nghiên cứu trên trẻ em bị nhiễm giunđũa với số lượng trung bình 48 con/trẻ [19]
Trang 19Ngoài việc chiếm thức ăn, giun đũa còn chiếm các sinh chất đặc biệtquan trọng đối với sự phát triển của cơ thể người Vitamin A và D là rất quantrọng đối với con người đặc biệt với sự phát triển của trẻ nhỏ Tình trạngnhiễm giun kéo dài dẫn đến rối loạn tiêu hóa và trẻ em dễ bị suy dinh dưỡng,chậm phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần [20].
Không chỉ gây ra tác hại tại nơi ký sinh, giun đũa là loài có kíchthước lớn, khi bị đói hoặc do số lượng giun quá nhiều, pH của ruột bị thayđổi hoặc cũng có thể do thuốc, người bệnh bị sốt, ăn các chất kích thích…làm cho giun bị kích động Khi đó giun di chuyển trong đường tiêu hóa và
vị trí dễ bị giun chui vào nhất là ống mật, ống tụy Trong quá trình dichuyển giun có thể gây ra viêm đường mật cấp, viêm túi mật cấp, áp xeđường mật [14],[15]
Người ta cũng nghiên cứu có sự tương quan giữa giun chui ống mật vàsỏi mật Yếu tố ứ đọng mật do trứng giun hay một phần xác giun kết hợp vớicác thành phần có trong dịch mật lắng đọng và tạo thành sỏi Theo nghiên cứucủa Nguyễn Công Hoan trên những bệnh nhân mổ sỏi mật tại bệnh viện đakhoa tỉnh Thái Bình cho thấy có tới 26% bệnh nhân tìm thấy xác giun vàtrứng giun trong sỏi mật [21]
Với những người bị giun kí sinh với số lượng lớn và đặc biệt là đốitượng trẻ em, tình trạng tắc ruột dễ dàng bắt gặp Tuy nhiên hiện nay tắc ruột
đã không còn phổ biến như trước kia nữa [14],[15]
Năm 1962, tại bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) đã phải xử lí 115 trườnghợp giun gây tắc ruột, 336 trường hợp giun chui ống mật[14]
Theo thông báo của Lê Văn Hốt và CS (1997), trong một cuộc phẫuthuật ở ổ bụng đã gặp 1 giun đũa dài 15 cm nằm ở hố chậu phải [22]
Trang 201.3.2 Tác hại của giun tóc
1.3.2.1 Tác hại tại vị trí kí sinh
Khi kí sinh, giun tóc cắm sâu phần đầu mảnh như sợi chỉ của mình vàomanh tràng, trực tiếp hút máu làm tổn thương và gây viêm niêm mạc ruột Tạinơi kí sinh thường thấy niêm mạc bị hoại tử và chảy máu Mỗi ngày một congiun tóc hút 0,05 ml máu Trường hợp nhiễm nặng thường thấy thâm nhiễm,viêm, phù niêm mạc, chảy máu, loét và hoại tử Nếu nhiễm nhẹ thì chỉ gâyđau bụng, buồn nôn, khó tiêu và táo bón [14],[15]
Đỗ Dương Thái kiểm tra những người nhiễm giun tóc ở mức độ 200trứng/1 gam phân thì không thấy triệu chứng lâm sàng, mức đô trên 500trứng/1 gam phân mới có biểu hiện lâm sàng Những trường hợp lâm sàngđiển hình có thể đi ngoài 20 - 30 lần/ ngày, nếu kéo dài gây hiện tượng sa trựctràng [14]
Ngoài các hại hại trên, từ tổn thương niêm mạc có thế dẫn tới hậu quảnhiễm khuẩn thứ phát, bội nhiễm vi khuẩn thương hàn, lao, tả, các vi khuẩnsinh mủ Giun tóc có thể vào ruột thừa và có thể là nguyên nhân gây viêmruột thừa, trong nhiều trường hợp mổ tử thi thấy giun tóc trong ruột thừanhưng không thấy hiện tượng viêm [14]
1.3.2.2 Tác hại toàn thân
Giun tóc tuy có hút máu của cơ thể tại vị trí kí sinh nhưng lượng máu
bị mất đi không đáng kể nên những người bị nhiễm một số lượng lớn giuntóc mới có biểu hiện lâm sàng Biểu hiện điển hình nhất là thiếu máu nhượcsắc, hồng cầu dưới 1triệu/mm³ máu, bạch cầu giảm, bạch cầu ái toan tănghoặc không tăng Ngoài ra người nhiễm giun tóc có thể bị nhiễm khuẩn dịứng, tim có tiếng thổi tâm thu và bệnh nhân bị phù nhẹ Theo nghiên cứucủa Graig, Faust và Hoeppli, giun tóc có thể tiết ra những men phân giải tổchức [14]
Trang 211.3.3 Tác hại của giun móc/mỏ
1.3.3.1 Tác hại do ấu trùng giun móc/mỏ
Đường lây truyền của giun móc/mỏ là qua da và niêm mạc, vì thế khixâm nhập vào cơ thể chúng đã gây ra tổn thương tại những cơ quan này trướctiên Ấu trùng giai đoạn III đi qua da (thường là những nơi dễ tiếp xúc như
mu bàn chân, kẽ ngón chân, ngón tay), ấu trùng gây mẩn đỏ, ngứa ngáy, khóchịu Bệnh diễn biến 3 - 5 ngày rồi hết nhưng có thể kéo dài hàng tuần [13],[14],[15]
1.3.3.2 Tác hại do giun móc/mỏ trưởng thành
Giun móc/mỏ ký sinh ở tá tràng và phần đầu ruột non, đây là nơi giàumạch máu, hơn nữa phương thức hút máu của giun móc/mỏ lại rất lãng phí,sau khi hút no máu chúng thải luôn máu ra hậu môn đồng thời tại chỗ hút máutiết ra chất chống đông làm cho máu tại đó tiếp tục chảy khi chúng rời sang vịtrí khác Một giun móc/mỏ trong một ngày hút khoảng 0,07 - 0,26ml máu.Roche có nhận xét với người nhiễm 500 giun móc một ngày có thể mất từ 40
- 80ml máu [14] Trần Thanh Dương cho biết: do bệnh giun, người dân ViệtNam phải mất 1.500.000 lít máu và tốn 15 tấn lương thực mỗi năm
Ngoài tác hại hút máu, giun móc/mỏ tiết ra chất chống đông máu vàchất ức chế cơ quan tạo máu nên gây ra tình trạng thiếu máu nghiêm trọngcho cơ thể vật chủ Thiếu máu do giun móc/mỏ là loại thiếu máu nhược sắc:hồng cầu nhỏ, hồng cầu không đều [23] Ngoài ra còn làm giảm protein, đặcbiệt là gamma - globulin Ở một số vùng nhiệt đới, tình trạng thiếu máu dogiun móc/mỏ kèm theo thiếu axit folic Xét nhiệm thấy hemoglobin giảm còn
40 - 60%, hồng cầu giảm dưới 1triệu/mm³ máu và có hồng cầu dị hình Bạchcầu chủ yếu là bạch cầu axit cũng tăng cao trên 50% lúc mới nhiễm, cũng cóthể giảm ở cơ thể đã suy nhược Fukushima (1952) đã định lượng sắt tronghuyết thanh thấy giun móc/mỏ làm giảm lượng sắt huyết thanh rõ rệt [24]
Trang 22Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề [25] trên 478 người bị nhiễm giun móc/
mỏ (tuổi từ 1 - 70) thấy: hồng cầu giảm 74,6%, hematocrit giảm 3,4%, sắthuyết thanh giảm 12,3%, bạch cầu ái toan tăng 76,1%, hemoglobin giảm ởngười nhiễm giun nhẹ là 51,9% và hemoglobin trung bình là 9,7g/dl, ở ngườinhiễm giun móc nặng là 91% và hemoglobin trung bình là 8,8/dl
Theo nghiên cứu của Cao Bá Lợi và Nguyễn Mạnh Hùng thực hiện ởcác nữ công nhân trên nông trường chè tỉnh Phú Thọ cho thấy hàm lượngferritin của nhóm nữ công nhân nhiễm giun móc/mỏ giảm hơn nhiều so vớinhóm không nhiễm (32,5 ± 22,5 ng/ml so với 65,3 ± 22,9 ng/ml), tỷ lệ thiếumáu do thiếu ferritin chung là 44,3% [26]
Thiếu máu kéo dài dễ dẫn đến tình trạng suy tim, trong số bệnh nhânthiếu máu do nhiễm giun có đến 5 - 9% bệnh nhân suy tim Bệnh nhân cóbiểu hiện khó thở, mạch nhanh, có thể bị phù trước xương chày, mắt cá Triệuchứng tim xuất hiện sớm trên điện tâm đồ rồi đến X quang sau đó mới đếnlâm sàng Tình trạng suy tim chỉ được giải quyết khi điều trị khỏi giunmóc/mỏ [27]
Giun móc/mỏ cũng có thể gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa biểu hiệnsớm như biếng ăn, đau bụng thượng vị không theo giờ giấc, ỉa lỏng Khi nộisoi dạ dày có thể thấy hình ảnh viêm loét, nguyên nhân là do kích thích cơhọc, hóa học tại chỗ làm niêm mạch bị tổn thương Hội chứng viêm loét hành
tá tràng thường gặp ở những người bị nhiễm giun mỏ hơn giun móc, bệnhnhân có thể gầy sút, phân lẫn máu đen [14]
1.4 Tình hình nhiễm giun đường ruột trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO, trên thế giới có hơn 1,5
tỷ người tương đương 24% dân số đang mắc các bệnh giun đường ruột.Nhiễm giun phân bố rộng rãi ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, với tỷ
lệ cao ở châu Phi, châu Mỹ, Trung Quốc và Đông Nam Á [28]
Trang 23Hơn 270 triệu trẻ em mầm non và hơn 600 triệu học sinh đang sống ởnhững nơi có tỷ lệ nhiễm giun cao cần được điều trị và can thiệp phòng ngừa.Theo ước tính trên thế giới có khoảng 807 triệu người nhiễn giun đũa và sốchết do giun đũa gây nên là 60.000 người Số nhiễm giun tóc là 604 triệungười trong đó có khoảng 10.000 người tử vong Nhiễm giun móc/mỏ là 576triệu người,khoảng 65.000 người chết hàng năm [29].
Đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới về thực trạng nhiễm giun trên toàncầu[30]
Hình 1.4 Thực trạng nhiễm giun đường ruột trên toàn cầu
Trang 24Bảng 1.1 Ước tính nhiễm giun đường ruột theo vùng trên thế giới
Ước tính số lượng nhiễm giun đường ruột trên toàn cầu phân theo vùng
(triệu trường hợp nhiễm) [1]
Mỹ la tinh và Caribe
Cận Sahara
Trung
và Bắc Phi
Trung Quốc
1.4.2 Tình hình nhiễm giun đường ruột ở Việt Nam
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở Việt Nam làkhá cao và phân bố trên nhiều vùng của cả nước
Tổng hợp số liệu điều tra của Viện SR - KST - CT Trung ương chothấy tỷ lệ nhiễm chung của các bệnh giun đường ruột ở cộng đồng tại vùngTrung du và miền núi phía Bắc khoảng 65,3%, Đồng bằng sông Hồng là58,2%, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 42,2%, Tây Nguyên là30,2%, Đông Nam Bộ là 29% và Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 12 -14% [4]
Một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm chung tương đối cao như Thanh Hóa năm
2009 là 75%, một số vùng của Thanh Hóa lên tới 100% Trong số đó, nhómđối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh giun đường ruột cao như trẻ em từ 2 - 5 tuổi
và phụ nữ độ tuổi sinh sản có tỷ lệ cao Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở trẻ 2 -5tuổi tại Nghệ An là 77,9%, Thanh Hóa 76,4%, Điện Biên 54%, Lạng Sơn63%, Hà Tĩnh 44,5%, Kon Tum 37%, Lào Cai 26%, Sơn La 23% , tỷ lệnhiễm chung ở các tỉnh điều tra là 34% [4]
Trang 25Tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học đã giảm tương đối tốt tại các địaphương vì đã triển khai điều trị hàng loạt cho các đối tượng này từ năm 2001 -
2005, tuy nhiên tỉ lệ tái nhiễm tương đối cao, tại Thừa Thiên Huế tỷ lệ nhiễmgiun ở học sinh tiểu học trước can thiệp là 70,2% sau can thiệp 2 tuần tỉ lệ24,32%, sau 3 tháng 15,93%, sau 4 tháng 35,27% và sau 6 tháng đã gần trởlại với tỷ lệ ban đầu 68,49% [4]
Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở phụ nữ độ tuổi sinh sản rất cao dựa trênkết quả nghiên cứu của Viện SR - KST - CT Trung ương: tại Yên Bái là75,9%, Sơn La là 68,2%, Nghệ An 40,4%, Thanh Hóa 61,7 - 90,5%, Hà Nội19,5%, Thừa Thiên Huế 67,36%, Trà Vinh 12,9%, Tây Ninh 45,6% [4]
1.4.3 Tình hình nhiễm giun trên đối tượng sinh viên
Theo điều tra của Lê Thị Tuyết [7] trên sinh viên khối Y1 năm học
2005 tại Trường Đại học Y Thái Bình cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung củasinh viên là 55,9%, trong đó nhiễm giun đũa là 46,9%, giun tóc là 35,8%,giun móc/mỏ là 7,5% Cũng tại Trường Đại học Y Thái Bình, Lê Thị Tuyết[6] tiến hành nghiên cứu trên sinh viên khối Y3 năm học 2005, kết quả điềutra cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung là 37,3% trong đó nhiễm giun đũa là34,5%, giun tóc 23,4%, giun móc là 3,6% Nghiên cứu của Nguyễn XuânThao [8] và CS (2002) tiến hành trên sinh viên Khoa Y Đại học Tây Nguyêncho biết tỷ lệ nhiễm giun chung là 43,1% trong đó nhiễm giun đũa là 25,2%,giun móc/mỏ là 22,7% và giun tóc là 3,4% Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm giun trênđối tượng sinh viên thấp hơn so với các đối tượng khác như trẻ em hay ngườidân vùng trồng màu tuy nhiên tỷ lệ này vẫn ở mức cao
Điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới về tình hình nhiễm giun đường ruột
ở Việt Nam [31]
Trang 26Hình 1.5 Mức độ nhiễm giun đường ruột tính theo vùng ở Việt Nam
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 272.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên năm thứ 2 hệ bác sỹ Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2015
- 2016, đã được giải thích rõ và đồng ý tham gia nghiên cứu
Các đối tượng này đều được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi KAP và lấyphân làm xét nghiệm Kato và Kato - Katz tìm trứng giun đũa, giun tóc, giunmóc/mỏ
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Ký sinhtrùng - Trường đại học Y Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 08 năm 2015 đến tháng 05 năm 2016
2.3.Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả với điều tra cắt ngang.
2.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Toàn bộ sinh viên năm thứ 2 hệ bác sỹ Trường Đại học Y Hà Nội, tổng
số là 600 sinh viên
2.4 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
2.4.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
2.4.1.1 Đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành của sinh viên về phòng chống bệnh giun đường ruột
Sử dụng bộ câu hỏi đóng, câu hỏi mở để phỏng vấn trực tiếp (xem phầnphụ lục)
2.4.1.2 Đánh giá tình trạng nhiễm giun đường ruột
Sử dụng kỹ thuật Kato để kiểm tra số lượng mẫu dương tính, sau đóxác định cường độ nhiễm bằng kỹ thuật Kato - Katz
Kỹ thuật Kato
Trang 28 Phương tiện:
Lam kính
Giấy Cellophane có thể ngấm nước và dày khoảng 40 - 50 μm,m,cắt theo kích thước 26 x 28 mm
Dung dịch nhuộm màu giấy Cellophane gồm:
Dung dịch xanh Malachit 3% : 1 phần
Đặt miếng giấy Cellophane đã nhuộm màu lên mẫu phân
Dùng một nút cao su ép lên mặt giấy để dàn phân đều, sao chomặt giấy tương đối phẳng nhẵn
Để tiêu bản trong phòng thí nghiệm 30 phút hoặc ở tủ ấm 37°Ctrong 15 - 20 phút
Sau đó đem soi dưới kính hiển vi tìm trứng giun đũa, giun tóc vàgiun móc/mỏ
Kỹ thuật Kato - Katz
Phương tiện:
Trang 29 Miếng bìa hình chữ nhật kích thước 30 x 40 x 1,37 mm, ở giữa cómột lỗ tròn đường kính 6 mm.
Miếng bìa hình chữ nhật được đặt trên phiến kính có nhãn
Dùng que gạt phần phân đã lọc trên lưới đưa sang lỗ của miếng bìahình chữ nhật sao cho phân đầy lỗ
Nhấc nhẹ miếng bìa ra khỏi phiến kính như vậy còn lại khối phântrên phiến kính
Phủ giấy Cellophane đã nhuộm màu, tiến hành như kỹ thuật Kato
Tính số lượng trứng trong 1 gam: biết rằng số lượng phân chứatrong lỗ tròn tương đương 41,56 mg Như vậy số trứng trong 1gam phân chính là số trứng đếm được trên tiêu bản nhân với hệ
số là 24
2.4.2 Phân tích và xử lý số liệu
Nhập số liệu sử dụng phần mềm EpiData 3.1
Trang 30 Xử lý và phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 20, các số liệuđược xử lý theo toán thống kê trong nghiên cứu: Frequencies,²,Logistic.
Sử dụng các kỹ thuật xét nghiệm chuẩn, người xét nghiệm có kinh nghiệm
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các số liệu chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu, kết quả chonghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích phục vụ cho sứckhỏe không cho mục đích khác
Đối tượng nghiên cứu được biết trước về mục đích, yêu cầu, lợi ích của
đề tài, sẵn sàng, tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trìnhnghiên cứu
Việc xét nghiệm phân tìm trứng giun đơn giản, dễ thực hiện và khônggây ảnh hưởng đến sức khỏe
Những người được xét nghiệm phân cho kết quả dương tính (+) sẽđược điều trị bằng thuốc tẩy giun Albendazole theo phác đồ của WHO
và Bộ Y tế
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng nhiễm giun đường ruột của sinh viên
3.1.1 Một số thông tin về đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: sinh viên được phỏng vấn chủ yếu ở vùng nông thôn
(79,7%), số ở thành thị chiếm tỷ lệ thấp hơn rơi vào khoảng 1/5 tổng số
Bảng 3.2 Phân bố theo giới
Giới tính Số người (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét:Tỷ lệ giữa sinh viên nam và nữ là tương đối đồng đều, tuy tỷ
lệ nữ có cao hơn nam nhưng cao hơn không đáng kể (55,2% và 44,8%)
Trang 32Bảng 3.3 Phân bố nguồn nước sử dụng trong ăn uống của sinh viên
Nguồn nước Số người (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Các sinh viên sử dụng nước máy để ăn uống chiếm đa số
(75,3%), số khác dùng nước giếng khoan (6,3%) và nước mưa (9,7%), không
có sinh viên nào dùng nước ao hồ, một số ít (8,7%) sử dụng nguồn nước khácnhư nước uống đóng chai hoặc bình nước tiệt trùng…
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng phân tươi của gia đình các sinh viên
Sử dụng phân tươi Số gia đình (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét:Tỷ lệ sử dụng phân tươi của gia đình các em sinh viên là rất
thấp chỉ có 4,0% Ngoài ra có một lượng nhỏ (1,2%) sinh viên không trả lời
về câu hỏi này có thể vì không biết hoặc không muốn trả lời
Trang 33Nhận xét: Phần lớn sinh viên đều đang sử dụng hố xí tự hoại/bán tự
hoại (91,2%) Số sinh viên sử dụng hố xí hai ngăn và thấm, dội nước ít (4,0%
và 2,7%) Tỷ lệ sử dụng hố xí một ngăn và thùng, cầu của sinh viên là rất thấp(0,5% và 1,2%)
36.700%
57.800%
5.500%
Có Không Không nhớ
Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tình hình tẩy giun của sinh viên
Nhận xét: Phần lớn sinh viên chưa tẩy giun trong vòng một năm qua
(57,8%), số đã tẩy chiếm tỷ lệ thấp hơn (36,7%) Vẫn còn một số sinh viênkhông nhớ là trong vòng một năm qua mình đã tẩy giun hay chưa