Trong bối cảnh ngày nay, đi cùng với sự phát triển của đất nước là nguy cơ xảy ra các tai nạn, bệnh tật khiến bệnh nhân phải đến viện ngày càng đông.Điều này vô tình làm tăng gánh nặng c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ THANH XUÂN
HÀ NỘI – 2017
Trang 2Xuân người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cũng như động viên em trong suốtquá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo trường Đạihọc Y Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em kiến thức chuyên môn,hết lòng giúp đỡ em trong sáu năm học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn Thầy/Cô Bộ môn Sức khỏe nghề nghiệpTrường Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, đóng góp những ýkiến quý báu cho em thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể các nhân viên y tếBệnh viện Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.Con luôn ghi nhớ gia đình đã động viên, cổ vũ con trong cuộc sống,trong học tập, trong quá trình thực hiện khóa luận này
Mình xin chân thành cảm ơn các bạn đã giúp đỡ, chia sẻ cùng mìnhnhững khó khăn, kiến thức cũng như kinh nghiệm để hoàn thành khóaluận này
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2017 Sinh viên
Đặng Kim Oanh
Trang 3Kính gửi: Trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và y tế công cộng
Bộ môn sức khỏe nghề nghiệp
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp năm 2016 - 2017
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nghiên cứu thu được trong khóa luận này là trung thực và chưa từng công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Đặng Kim Oanh
Trang 4CSVC : cơ sở vật chất
BHLĐ : bảo hộ lao động
KLCV : khối lượng công việc
MTLĐ : môi trường lao động
NVĐD : nhân viên điều dưỡng
TTB : trang thiết bị
TTBBHLĐ : trang thiết bị bảo hộ lao động
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm chung về stress nghề nghiệp và tác hại của nó 3
1.1.1 Khái niệm về stress và stress nghề nghiệp 3
1.1.2 Phương thức gây bệnh của stress 6
1.1.3 Các giai đoạn của phản ứng stress 6
1.1.4 Mức độ của stress 7
1.1.5 Nguyên nhân gây stress nghề nghiệp 8
1.1.6 Những ảnh hưởng của stress nghề nghiệp 9
1.2 Tổng quan về ngành điều dưỡng 11
1.2.1 Định nghĩa 11
1.2.2 Nhiệm vụ của người điều dưỡng ở Việt Nam 12
1.2.3 Đặc trưng của người điều dưỡng 14
1.2.4 Môi trường làm việc của người điều dưỡng 15
1.3 Một số nghiên cứu về stress nghề nghiệp 16
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 16
1.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 20
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu: 20
2.3.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 22
2.4 Xử lý và phân tích số liệu: 32
2.5 Sai số, khống chế 32
2.6 Khía cạnh đạo đức 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34
Trang 63.3.1 Điều kiện vật chất môi trường lao động 41
3.4 Mối liên quan của một số yếu tố với tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng 51
3.4.1 Một số yếu tố về phía cá nhân 51
3.4.2 Điều kiện môi trường lao động 54
3.4.3 Áp lực công việc 60
3.4.4 Mối quan hệ trong công việc 66
3.4.5 Sự hài lòng trong công việc 69
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 70
4.1 Tình trạng stress nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 70
4.1.1 Đặc trưng của đối tượng nghiên cứu 70
4.1.2 Thực trạng stress nghề nghiệp 71
4.2 Một số yếu tố về phía công việc 72
4.2.1 Điều kiện môi trường lao động 72
4.2.2 Áp lực công việc 74
4.2.3 Mối quan hệ trong công việc 75
4.2.4 Sự hài lòng với công việc 76
4.3 Mối liên quan của một số yếu tố và tình trạng stress của nhân viên điều dưỡng 76
4.3.1 Yếu tố về phía cá nhân 77
4.3.2 Yếu tố từ môi trường lao động 78
4.4 Hạn chế của đề tài 86
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 2.2 Biến số, chỉ số nghiên cứu 22
Bảng 2.3 Thang điểm đánh giá mức độ stress 32
Bảng 3.1 Phân bố về nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo công tác quản lý 36
Bảng 3.3 Phân bố về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.4 Phân bố về mức thu nhập trong một tháng của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.5 Mức độ đánh giá trang thiết bị bệnh viện của NVĐD 41
Bảng 3.6 Mức độ đánh giá diện tích MTLĐ của NVĐD 43
Bảng 3.7 Mức độ đánh giá tiếng ồn MTLĐ của NVĐD 43
Bảng 3.8 Mức độ đánh giá tần suất KLCV quá sức chịu đựng của NVĐD .44
Bảng 3.9 Mức độ đánh giá tần suất không đủ thời gian nghỉ ngơi của NVĐD 46
Bảng 3.10 Mức độ đánh giá tần suất về trách nhiệm của bản thân với bệnh nhân nặng nề của NVĐD 47
Bảng 3.11 Mức độ đánh giá mối quan hệ với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 49
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thâm niên công tác và tình trạng stress của điều dưỡng 51
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa công tác quản lý và tình trạng stress của điều dưỡng 52
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và tình trạng stress của điều dưỡng 53
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đánh giá cơ sở vật chất MTLĐ và tình trạng stress của NVĐD 54
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đánh giá trang thiết bị MTLĐ và tình trạng stress của NVĐD 55
Trang 8Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đánh giá diện tích MTLĐ và tình trạng
stress của NVĐD 57 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đánh giá mức độ ồn ào MTLĐ và tình
trạng stress của NVĐD 58 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đánh giá nguy cơ lây bệnh và tình trạng
stress của NVĐD 59 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất KLCV vượt quá sức
chịu đựng và tình trạng stress của NVĐD 60 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất làm việc quá nhanh và
tình trạng stress của NVĐD 61 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất tập trung cao độ khi làm
việc và tình trạng stress của NVĐD 62 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất không có đủ thời gian
nghỉ ngơi và tình trạng stress của NVĐD 63 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất cảm thấy trách nhiệm
đối với bệnh nhân nặng nề và tình trạng stress của NVĐD 64 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa đánh giá tần suất cảm thấy công việc
không có khả năng thăng tiến và tình trạng stress của NVĐD
65
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa đánh giá mối quan hệ với cấp trên và tình
trạng stress của NVĐD 66 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa đánh giá mối quan hệ với đồng nghiệp và
tình trạng stress của NVĐD 67 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa đánh giá mối quan hệ với BN và người nhà
BN và tình trạng stress của NVĐD 68
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa đánh giá mức độ hài lòng với công việc và tình
trạng stress của NVĐD 69
Trang 9Biểu đồ 3.1 Phân bố giới của đối tượng nghiên cứu 34 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 35 Biểu đồ 3.3 Phân bố về thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu 36 Biểu đồ 3.4 Phân bố mức độ mắc SNN của đối tượng nghiên cứu 38 Biểu đồ 3.5 Phân bố tình trạng mắc stress nghề nghiệp của NVĐD theo
nhóm tuổi 39 Biểu đồ 3.6 Phân bố tình trạng mắc stress nghề nghiệp của NVĐD theo
thâm niên công tác 39 Biểu đồ 3.7 Phân bố tình trạng mắc stress nghề nghiệp ở NVĐD có hay
không làm công tác quản lý 40 Biểu đồ 3.8 Mức độ đánh giá cơ sở vật chất bệnh viện của NVĐD 41 Biểu đồ 3.9 Mức độ đánh giá trang bị bảo hộ lao động của NVĐD 42 Biểu đồ 3.10 Mức độ điều dưỡng đánh giá về nguy cơ lây bệnh trong môi
trường lao động 44 Biểu đồ 3.11 Mức độ đánh giá tần suất tốc độ làm việc quá nhanh
của NVĐD 45 Biểu đồ 3.12 Mức độ đánh giá tần suất phải tập trung cao độ của NVĐD
theo các mức độ 46 Biểu đồ 3.13 Mức độ đánh giá tần suất không có khả năng thăng tiến
trong công việc của nhân viên điều dưỡng 47 Biểu đồ 3.14 Mức độ đánh giá mối quan hệ với cấp trên của NVĐD 48 Biểu đồ 3.15 Mức độ đánh giá mối quan hệ với đồng nghiệp của NVĐD
49Biểu đồ 3.16 Mức độ hài lòng với công việc của NVĐD 50
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ ngàn xưa cho đến nay, stress là một vấn đề luôn luôn hiện hữu trong
xã hội Tất cả mọi người, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp đều
có nguy cơ mắc stress
Hiện nay trên thế giới các nghiên cứu về stress nghề nghiệp chủ yếu tậptrung ở nhóm đối tượng công nhân nhà máy, nhân viên văn phòng, giáoviên… các nghiên cứu này báo cáo về tỉ lệ stress nghề nghiệp ở các nhómtuổi, ảnh hưởng của stress nghề nghiệp lên sức khỏe, và các yếu tố liên quanđến stress [1],[2],[3]
Trong bối cảnh ngày nay, đi cùng với sự phát triển của đất nước là nguy
cơ xảy ra các tai nạn, bệnh tật khiến bệnh nhân phải đến viện ngày càng đông.Điều này vô tình làm tăng gánh nặng công việc cho nhân viên y tế, dẫn đếnnguy cơ bị stress nghề nghiệp cao, đặc biệt là điều dưỡng viên khối lâm sàng.Nhân viên điều dưỡng phải làm việc trong môi trường có khối lượng côngviệc lớn, trách nhiệm nặng nề, trực đêm, phải đối mặt với phản ứng tiêu cực
từ bệnh nhân và người nhà, có nguy cơ cao mắc các bệnh truyền nhiễm dotiếp xúc trực tiếp với người bệnh…
Theo Tayebe Mehrabi và cộng sự, năm 2010, tại một bệnh viện ở Iran cótới 73,5% điều dưỡng viên có trải nghiệm về stress Có một mối liên quan có
ý nghĩa giữa đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng hôn nhân và giờ làm việc vớistress nghề nghiệp [4]
Tại Việt Nam các nghiên cứu về stress còn hạn chế Trong một nghiêncứu của Trần Thị Thu Thủy về “Tình trạng căng thẳng và một số yếu tố nghềnghiệp liên quan đến căng thẳng ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện hữu nghịViệt Đức năm 2015” cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng
Trang 11là 18,5%, các yếu tố liên quan tới căng thẳng gồm tham gia công tác quản lý,mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên [5].
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thành lập vào năm 2007, là bệnh việncủa một trường đại học có bề dày truyền thống 115 năm, được phát triển dựatrên các thế mạnh của Trường Đại học Y Hà Nội Bệnh viện Đại học Y HàNội với đội ngũ bác sỹ và các nhân viên khác có trình độ và tay nghề vữngvàng, tinh thần trách nhiệm cao, thái độ ân cần, hết lòng với bệnh nhân Sauhơn 9 năm hoạt động, bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã trở thành một trongnhững bệnh viện tư uy tín của miền Bắc, được mọi người dân tin tưởng, tínnhiệm, số bệnh nhân đến khám bệnh ngày càng đông Đi cùng với sự pháttriển của bệnh viện là gánh nặng công việc cho nhân viên y tế phải làm việcvới cường độ cao và trách nhiệm nặng nề, đặc biệt là nhân viên điều dưỡng.Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về stress nghề nghiệp trongcác nhân viên điều dưỡng, trong bối cảnh số lượng bệnh nhân đến bệnh việnngày càng đông
Như vậy từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học
Y Hà Nội năm 2016” nhằm mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng đang công tác tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016.
2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng khối lâm sàng đang công tác tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016.
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN1.1 Khái niệm chung về stress nghề nghiệp và tác hại của nó.
1.1.1 Khái niệm về stress và stress nghề nghiệp
Khái niệm về stress
Stress có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “stringere” có nghĩa là kéo căng.Trong tiếng Anh, stress là thuật ngữ được sử dụng trong vật lý để chỉ sức nén
mà vật liệu phải chịu đựng
Walter Cannon là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress TheoCannon, stress là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gâyhại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [6]
Hans Selye đã định nghĩa “Stress là phản ứng sinh học không đặc hiệucủa cơ thể trước những tình huống căng thẳng’’[6] Như vậy stress là sự phảnứng của cơ thể sống, trước những tác động lên nó Các stress bình thườngkhông gây hại, một số stress còn có tác động có lợi: kích thích tính tích cực,huy động sức mạnh để con người vượt qua khó khăn Tuy nhiên những stressquá mức và kéo dài về thời gian mới có thể gây ra một chuỗi những ảnhhưởng xấu đến con người
J.Delay thì cho rằng: “stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơthể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huốngđang đe dọa” [7]
Theo M.Ferreri thuật ngữ stress được dùng để chỉ một nguyên nhân củatác nhân công kích làm cho cơ thể khó chịu và cũng dùng để chỉ hậu quả củanhững tác nhân như gây kích thích mạnh [8]
Trang 13Theo R.S Lazarus và S Folkman, stress là kết quả của sự mất cân bằnggiữa những yêu cầu và những nguồn lực [9].
Một định nghĩa đơn giản về stress có thể được sử dụng là: stress xuấthiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của bạn để ứng phó, theo S.Palmer, 1999 [10]
Trong tâm lý học lâm sàng, stress được quan niệm là sang chấn tác độngvào con người gây nên các chứng bệnh tâm căn có hại cho sức khỏe conngười [11]
Trong tâm thần học, stress được xem là tất cả những sự việc, hoàn cảnhtrong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa ngườivới người tác động vào tâm thần gây nên những cảm xúc mạnh [12]
Nguồn gốc của các yếu tố gây stress này có thể là các biến cố trong giađình, nghề nghiệp và xã hội [13]
Khái niệm về stress nghề nghiệp
Năm 1978, Terry Barbee và John Newman đã đưa ra định nghĩa về stressnghề nghiệp, đó là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với những nét đặctrưng của người lao động làm thay đổi các chức năng bình thường về tâm lýhoặc sinh lý hoặc cả hai [14]
Theo Viện Sức khỏe và An toàn Nghề nghiệp Quốc gia của Hoa Kỳ(NIOSH), stress nghề nghiệp có thể được định nghĩa là những đáp ứng có hại
về mặt tâm lý và cơ thể xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với khảnăng, nhu cầu và nguồn lực của người lao động [15]
Một vài nhà nghiên cứu cho rằng, stress nghề nghiệp bắt nguồn từ nhữngđặc trưng của công việc mà tạo ra một mối đe dọa cho cá nhân người lao
Trang 14động Mối đe dọa này có thể do những đòi hỏi quá mức của việc làm hoặc donhững cung ứng không đầy đủ, thỏa mãn các yêu cầu từ phía người lao độngtrong một thời gian quá ngắn, thì sẽ nảy sinh tình trạng làm việc quá tải Sựkhông thỏa mãn các nhu cầu có liên quan đến những gì người lao động hivọng nhận được tại nơi làm việc, bao gồm: tiền lương thỏa đáng, được toạinguyện trong công việc, có cơ hội thăng tiến [16].
Như vậy, có thể thấy stress nghề nghiệp là vấn đề rất dễ xảy ra do nhiềuyếu tố tác động đến Vì vậy chúng ta phải quan tâm đến tình trạng stress nghềnghiệp và ảnh hưởng của nó đối với người lao động để có thể đưa ra các biệnpháp phòng ngừa hiệu quả
Stress nghề nghiệp trong nhân viên y tế:
Stress của NVYT là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở ngườiNVYT trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng như trong đờisống thường ngày Trong đó một phần là do sự tác động của những điềukiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe củanhân dân hoặc từ trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là
do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vàokhả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh hưởng đến NVYT trên các mặtsinh lý, tâm lý và xã hội [17]
1.1.2 Phương thức gây bệnh của stress
Phương thức gây bệnh của stress rất đa dạng và phức tạp [18]:
- Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn hoặc khôngmạnh nhưng lặp lại nhiều lần
- Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phảicường độ của stress
Trang 15- Tính gây bệnh của stress còn tùy thuộc vào sự chuẩn bị của tâm thần và
cơ thể trước một stress, stress càng bất ngờ thì càng dễ gây bệnh
- Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lốithoát cũng thường gây bệnh
- Stress tác động vào một cá nhân gây bệnh nhiều hơn khi tác động vàomột tập thể
1.1.3 Các giai đoạn của phản ứng stress
Theo Hans Selye, căn cứ vào khả năng thích ứng của cơ thể trước các tácnhân gây stress thì phản ứng của stress được chia làm 3 giai đoạn là giai đoạnbáo động, giai đoạn thích nghi và giai đoạn kiệt quệ [15],[19]:
- Giai đoạn báo động: là giai đoạn được biểu hiện bởi những biến đổi đặctrưng của cơ thể khi tiếp xúc với các yếu tố gây stress tạo nên những thay đổi
về tâm lý và sinh lý Những thay đổi này giúp cơ thể đánh giá các tình huốnggây stress và bước đầu tạo ra các đáp ứng của cơ thể trước các tình huống đó.Giai đoạn này có thể diễn ra rất nhanh hoặc kéo dài rất lâu, ở giai đoạn này cơthể có thể chết do các yếu tố tác động quá mạnh vượt qua sự đáp ứng của cơthể Nếu cơ thể có thể tồn tại được thì các thay đổi bước đầu sẽ được chuyểnsang giai đoạn ổn định
- Giai đoạn thích nghi: là mọi cơ chế đều được gia tăng để cơ thể chống
đỡ, điều hòa các rối loạn ban đầu, lập lại trạng thái cân bằng nội môi và tạo ra
sự cân bằng với môi trường Trong một tình huống stress có thể đáp ứng bằnghai giai đoạn là giai đoạn báo động và giai đoạn thích nghi Nếu giai đoạnthích nghi tiến triển tốt thì các chức năng tâm – sinh lý được phục hồi, vàngược lại, nếu khả năng thích ứng của cơ thể mất dần thì cơ thể sẽ chuyểnsang giai đoạn kiệt quệ
Trang 16- Giai đoạn kiệt quệ: do các tình huống stress quá mức hoặc kéo dài làmcho cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy sụp, khả năng thích nghi bịrối loạn, xuất hiện các rối loạn tâm lý
1.1.4 Mức độ của stress
Theo giáo sư Đặng Phương Kiệt phân chia mức độ stress [13],[16]:
- Stress mức độ nhẹ: là mức độ mà chủ thể có thể cảm nhận như mộtthách thức làm tăng thành tích
- Stress mức độ vừa: là mức độ phá vỡ ứng xử và có thể dẫn đến nhữnghành động rập khuôn, lặp lại
- Stress mức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra nhữngphản ứng lệch lạc, dễ bối rối, giận dữ và trầm nhược
Theo H.Selye, có hai mức độ:
- Mức độ Stress bình thường: là phản ứng thích nghi của cơ thể, đây làstress tích cực, huy động khả năng của cơ thể để có thể vượt qua các tác nhângây stress và lấy lại sự cân bằng
- Mức độ Stress bệnh lý: phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, conngười không thể vượt qua được dẫn đến ốm đau, bệnh tật…
1.1.5 Nguyên nhân gây stress nghề nghiệp
Tác giả Cooper CL đã nêu ra 6 nguyên nhân chính gây stress nghềnghiệp [20]
- Các điều kiện lao động: quá tải lao động (lượng và chất), Hysteria dâychuyền, các quyết định của con người, làm việc theo ca, stress kỹ thuật
- Do vai trò lao động: vai trò (chức năng) công việc không rõ ràng, cácrập khuôn về giới tính và vai trò giới tính, quấy nhiễu tình dục
Trang 17- Các yếu tố giữa liên quan cá nhân với nhau: điều kiện lao động và các
hệ nâng đỡ xã hội nghèo nàn, cạnh tranh, ghen tị, hoặc mâu thuẫn về mặtchính trị, thiếu quan tâm đến người lao động
- Phát triển nghề nghiệp: kém thúc đẩy nghề nghiệp, thúc đẩy quá sức,
an toàn nghề nghiệp, các tham vọng bị hụt hẫng
- Cơ cấu tổ chức: cứng nhắc và không quan tâm đến nhu cầu cá nhân,đấu tranh chính trị, giám sát và huấn luyện không thỏa đáng, đưa ra quyếtđịnh không được chia sẻ
- Mối liên quan giữa gia đình và nghề nghiệp: Các ảnh hưởng từ côngviệc tác động tới gia đình, thiếu nâng đỡ từ phía vợ/chồng, mâu thẫn hônnhân
Theo Viện Sức khỏe và An toàn Hoa Kỳ, các yếu tố là nguồn gốc củastress nghề nghiệp [15]:
- Thiết kế công việc: khối lượng công việc quá nhiều, cường độ làm việccao, thời gian làm việc kéo dài, thời gian nghỉ ngơi ngắn, công việc lặp lại, ít
sử dụng kỹ năng của người lao động,…
- Cơ cấu quản lý: người lao động thiếu quyền quyết định trong côngviệc, ít có sự bàn bạc, giao tiếp với cấp trên…
- Mối quan hệ cá nhân: thiếu sự hỗ trợ và nâng đỡ của đồng nghiệp, cấptrên có những xung đột với đồng nghiệp, cấp trên
- Những vấn đề liên quan đến công việc: công việc không có cơ hộithăng tiến, dễ sa thải, mất việc…
- Môi trường làm việc: ồn ào, quá nóng, tiếp xúc hóa chất độc hại,…
1.1.6 Những ảnh hưởng của stress nghề nghiệp
Theo tác giả Đặng Phương Kiệt, stress nghề nghiệp có thể gây ra các rốiloạn sau [21]:
Trang 18a) Những rối nhiễu tâm lý do stress nghề nghiệp:
- Lo lắng, căng thẳng, lú lẫn, dễ phát cáu
- Các cảm giác hẫng hụt, tức giận và oán giận
- Quá nhạy cảm trong cảm xúc và hiếu động
- Nén lại các cảm nghĩ
- Giảm hiệu quả trong giao tiếp
- Co mình lại và trầm cảm
- Cảm giác bị xa lánh và ghét bỏ
- Buồn chán và không toại nguyện trong nghề nghiệp
- Mệt mỏi tinh thần và trí lực giảm sút
- Mất tập trung
- Mất tính tự chủ và tính sáng tạo
- Giảm lòng tự trọng
b) Những triệu chứng thực tổn
- Tăng nhịp tim và huyết áp
- Tăng chế tiết adrenalin và noradrenaline
- Bệnh đường tiêu hóa như loét dạ dày, tá tràng
- Các chấn thương thân thể
- Sự mệt mỏi thể xác
Trang 19- Các rối loạn giấc ngủ
c) Những triệu chứng ứng xử của stress nghề nghiệp
- Sự chần chừ và né tránh công việc
- Thành tích và năng suất công việc giảm
- Tăng lạm dụng rượu và ma túy
- Phá hoại thẳng thừng vào nghề nghiệp
- Tăng số lần đến nhà an dưỡng
- Ăn quá nhiều như một cách để trốn thoát, gây ra béo phì
- Ăn ít như một cách co mình lại, có thể kết hợp với các dấu hiệu trầmcảm
- Ăn mất ngon và giảm trọng lượng đột ngột
- Tăng hành vi nhiều nguy cơ, kể cả lái xe liều lĩnh và đánh bạc
- Hung bạo, phá hoại công trình văn hóa và ăn cắp
Trang 20- Các quan hệ với gia đình và bạn bè xấu đi.
- Tự sát và mưu toan tự sát
1.2 Tổng quan về ngành điều dưỡng
1.2.1 Định nghĩa
Năm 1960, bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người ốm đau
để chăm sóc Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ điều dưỡng tại giađầu tiên của thế giới
Thời kỳ viễn chinh ở châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc sốlượng lớn những người hành hương bị đau ốm, có những người tham gia việcchăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người Nghề điều dưỡng bắt đầu trở thànhnghề được coi trọng
Theo Hội điều dưỡng Mỹ, điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị nhữngphản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra[22]
Theo Hội điều dưỡng quốc tế, điều dưỡng là một phần không thể táchrời của hệ thống chăm sóc sức khỏe, bao gồm việc cải thiện sức khỏe, phòngngừa bệnh tật, và chăm sóc những người mắc bệnh thể chất, tâm thần, tàn tậtbất kể lứa tuổi, trong cơ sở y tế hay ngoài cộng đồng Người điều dưỡng làngười đã hoàn thành chương trình giáo dục về cơ bản và tổng quát về điềudưỡng, và được cơ quan có thẩm quyền cho phép hành nghề tại nước mình[39]
Chức năng điều dưỡng gồm nhận định, đánh giá tình trạng người bệnh,đánh giá về sự đáp ứng của họ đối với bệnh tật để từ đó chẩn đoán điều dưỡng
Trang 21và vận dụng những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn điềudưỡng để xây dựng kế hoạch chăm sóc người bệnh [23].
Ở Việt Nam, năm 1995, Bộ Y tế đã đổi mã ngạch đào tạo Y tá thànhĐiều Dưỡng và đổi tên Hội Y tá - Điều dưỡng thành Hội Điều dưỡng năm
1997, nhưng vẫn chưa có định nghĩa về ngành điều dưỡng
1.2.2 Nhiệm vụ của người điều dưỡng ở Việt Nam
Theo thông tư số 07/2011/TT - BYT về “Hướng dẫn công tác điềudưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”, có 12 nhiệm vụ của ngườiđiều dưỡng [41]:
- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe: nhân viên điều dưỡng cùng vớimột số cán bộ y tế khác tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc,theo dõi, phòng bệnh cho bệnh nhân trong thời gian nằm viện và sau khi raviện
- Chăm sóc về tinh thần: nhân viên điều dưỡng động viên, chăm sóc,giao tiếp với người bệnh thái độ ân cần và thông cảm; đồng thời giải đápnhững băn khoăn thắc mắc của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong quátrình điều trị và chăm sóc
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh hàng ngày bao gồm vệ sinhrăng miệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiểu tiện, và thay đồ vải
- Chăm sóc dinh dưỡng: điều dưỡng viên phối hợp với bác sỹ điều trịđánh giá tình trạng và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh Đối với ngườibệnh có chỉ định ăn qua sonde phải do điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên trựctiếp thực hiện
Trang 22- Chăm sóc phục hồi chức năng: nhân viên điều dưỡng hướng dẫn hỗ trợluyện tập và phục hồi chức năng sớm để phòng biến chứng và phục hồi cácchức năng của cơ thể.
- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật: nhân viên điềudưỡng hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh trước khi phẫu thuật, thủ thuật
- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh: nhân viên điềudưỡng chuẩn bị đủ và phù hợp các phương tiện cho người bệnh dùng thuốc;kiểm tra thuốc; hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị v.v…
- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và tử vong: nhân viên điềudưỡng động viên, an ủi người bệnh và người nhà; khi người bệnh tử vong,nhân viên điều dưỡng phối hợp hộ lý vệ sinh tử thi và thực hiện các thủ tụccần thiết
- Thực hiện các thủ thuật điều dưỡng: điều dưỡng viên phải tuân thủ quytrình kỹ thuật chuyên môn, kỹ thuật vô khuẩn; phòng ngừa, theo dõi phát hiện
và báo cáo kịp thời các tai biến cho bác sỹ điều trị
- Theo dõi đánh giá người bệnh: điều dưỡng viên phối hợp với bác sỹđiều trị để đánh giá, phân cấp chăm sóc và thực hiện chăm sóc, theo dõi phùhợp cho từng người bệnh
- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trongchăm sóc người bệnh: điều dưỡng viên thực hiện các biện pháp phòng ngừanhiễm khuẩn bệnh viện, bảo đảm an toàn tránh nhầm lẫn cho người bệnhtrong việc dùng thuốc, phẫu thuật và thủ thuật
Trang 23- Ghi chép hồ sơ bệnh án: các thông tin của người bệnh phải được ghichính xác và khách quan; ghi đầy đủ, kịp thời diễn biến bệnh và các can thiệpđiều dưỡng.
1.2.3 Đặc trưng của người điều dưỡng
Người điều dưỡng có các phẩm chất cá nhân như đạo đức, mỹ học vàtrí tuệ Điều này thể hiện qua những đức tính sau:
- Ý thức trách nhiệm cao: Đối tượng phục vụ của điều dưỡng là conngười Mọi sự cẩu thả, sơ xuất đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.Người điều dưỡng phải thấu hiểu sâu sắc và phải rèn luyện thường xuyên đểnâng cao ý thức trách nhiệm của mình
- Đức tính trung thực: Trung thực tuyệt đối là một trong những nét cơbản trong tính cách của người điều dưỡng Người điều dưỡng có mối quan hệchặt chẽ với bệnh nhân, với đồng nghiệp dựa trên cơ sở lòng tin
- Sự ân cần và cảm thông sâu sắc: Trong công việc người điều dưỡngphải tận tuỵ, ân cần chăm sóc bệnh nhân Tuy nhiên không được để tình cảmgây trở ngại đến công việc
- Tính mềm mỏng và nguyên tắc: Người điều dưỡng nên xem xét, đánhgiá đặc điểm, tính cách cá nhân của từng bệnh nhân trong mọi giai đoạn củabệnh
- Tác phong khẩn trương và tự tin: Tính khẩn trương là một yêu cầu vàphẩm chất của cán bộ y tế bởi nhiệm vụ của cán bộ y tế là đấu tranh cho sựsống của con người Sự chậm trễ có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sứckhỏe bệnh nhân Tuy nhiên cũng không được vội vàng hấp tấp trong công tácchăm sóc người bệnh
Trang 24- Lòng yêu nghề: Nếu có lòng yêu nghề, người điều dưỡng sẽ khôngngừng học tập nâng cao trình độ, đồng thời đây cũng động lực thúc đẩy họvượt qua khó khăn trong công việc.
- Phẩm chất về mỹ học của người điều dưỡng bao gồm: sự tươm tất, tínhđúng mực, vẻ bên ngoài chỉnh tề, không có tật xấu Vẻ ngoài gọn gàng, tácphong nghiêm chỉnh là yếu tố đầu tiên gây được lòng tin cho bệnh nhân
- Phẩm chất về trí tuệ bao gồm: khả năng nhận định và đánh giá tìnhtrạng bệnh nhân, kỹ năng thành thạo, khả năng nghiên cứu và cải tiến, khônkhéo trong công tác
1.2.4 Môi trường làm việc của người điều dưỡng.
Nghề y là một nghề căng thẳng và đầy áp lực, bởi đối tượng lao độngcủa nhân viên y tế, trong đó có điều dưỡng viên là sức khỏe, tính mạng conngười Chăm sóc sức khỏe con người đòi hỏi người điều dưỡng phải luôn cẩnthận, chính xác trong từng thao tác, một sai sót dù rất nhỏ vẫn có thể gây nguyhiểm tính mạng cho con người
Người điều dưỡng còn phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm rất lớn trongquá trình làm việc, như các bệnh lây truyền qua đường hô hấp, hoặc từ các vậtsắc nhọn Ngoài trách nhiệm lớn với người bệnh, điều dưỡng viên phải chịu
áp lực và sự soi xét của dư luận xã hội
1.3 Một số nghiên cứu về stress nghề nghiệp
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về stress nghề nghiệp
Trong một nghiên cứu về tình trạng stress nghề nghiệp của công nhânkhai thác dầu mỏ Trung Quốc cho thấy có mối liên quan giữa công việc và gia
Trang 25đình/ đời sống xã hội, sự nghiệp kém phát triển và thành tích trong công việc,vấn đề an toàn tại nơi làm việc, vấn đề quản lý và mối quan hệ không tốt vớinhững người khác trong công việc, môi trường vật chất nghèo nàn của nơilàm việc, các yếu tố tiện dụng thoải mái trong công việc, và cơ cấu tổ chứcthiếu thốn tại nơi làm việc với sự xuất hiện stress nghề nghiệp [1].
Nghiên cứu của Frederic Deschamp và cộng sự được thực hiện trên 617cảnh sát ở Pháp cho kết quả có 33% đối tượng mắc stress ở mức độ cao, cácđối tượng này chủ yếu thuộc các nhóm: phục vụ trên 15 năm, ly hôn, tuổitrên 30, không có thời gian giải trí, không có sở thích [3]
Nghiên cứu của Wei Sun về tình trạng stress của các giảng viên tại 1trường đại học tại Trung Quốc đã tìm thấy mối liên quan về giữa các yếu tốquá tải công việc, hỗ trợ xã hội, thu nhập hàng tháng, vấn đề về thể chất, tàichính với mức điểm stress theo thang đo PSQ (thang đo stress quy chuẩn chongười Trung Quốc) [2]
Nghiên cứu về stress nghề nghiệp của nhân viên y tế
Nghiên cứu của Hipwell và cộng sự tại 4 khoa ở một bệnh viện tại Anhquốc năm 1989 cho rằng nguồn gốc của sự căng thẳng của các nhân viên điềudưỡng đã được mô tả là nhiều và đa dạng, bao gồm những điều sau đây: côngviệc quá tải quá nhiều, giao tiếp kém với các đồng nghiệp, tính chất thấtthường của công việc [24]
Ngoài ra, theo Farrington khi thực hiện nghiên cứu trên các đối tượngđiều dưỡng tại một bệnh viện ở nước Anh năm 1995 thì làm việc trong thờigian dài, không có cơ hội thăng tiến, tiếng ồn quá mức hoặc yên tĩnh, và thayđổi đột ngột của các hoạt động cũng đã được báo cáo là có ảnh hưởng tới tìnhtrạng stress của nhân viên điều dưỡng [25]
Theo Tayebe Mehrabi, N Parvin, Mohsen Yazdani, Nahid Asemanrafatnăm 2010 tại một bệnh viện ở Iran có tới 73,5% điều dưỡng viên có trải
Trang 26nghiệm về stress, có một mối liên quan có ý nghĩa giữa đặc điểm nhân khẩuhọc, tình trạng hôn nhân và giờ làm việc với stress nghề nghiệp [4].
Kết quả nghiên cứu tại một bệnh viện ở Kuala Lumpur năm 2011 củaSharifah Zainiyah cho thấy trong những điều dưỡng bị căng thẳng, mức độnhẹ là 13,6%, vừa là 5,5%, nặng là 0,9%, rất nặng là 3,6% [26]
Một nghiên cứu của Ito S và cộng sự năm 2014 thực hiện trên 20 bệnhviện tại Nhật Bản đã chỉ ra rằng “tổng nguy cơ sức khoẻ" của nhân viên y tếcao hơn 10% so với mức trung bình toàn quốc Các bác sĩ cảm thấy căngthẳng do quá tải số lượng và chất lượng công việc, nhưng họ đã có sự hỗ trợcủa cấp trên và các đồng nghiệp nên có mức căng thẳng nhẹ Các nhân viênđiều dưỡng cũng cảm thấy căng thẳng do quá tải số lượng và chất lượng côngviệc ở mức độ như các bác sĩ, nhưng họ không có sự hỗ trợ đầy đủ từ cấp trên
và các đồng nghiệp, và có tình trạng căng thẳng ở mức cao Các nhân viênhành chính không có sự hỗ trợ đầy đủ từ các cấp trên và các đồng nghiệpnhưng họ ít bị căng thẳng hơn khi đánh giá tình trạng quá tải về số lượng vàchất lượng so với các bác sĩ hoặc nhân viên điều dưỡng và cho thấy căngthẳng ở mức vừa phải [27]
1.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, mới chỉ có một vài nghiên cứu về tình trạng stress nghềnghiệp của nhân viên y tế
Phan Thị Mỹ Linh, “Stress đối với nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoaSài Gòn: các yếu tố gây ra và hậu quả, năm 2005” Qua điều tra cắt ngangcác đối tượng tham gia nghiên cứu, kết quả phân tích cho thấy các yếu tốtrong công việc thường gây ra stress và hậu quả của nó đối với nhân viên y tếtại đây đã thể hiện rõ mục tiêu nghiên cứu qua các con số thống kê như sau:100% các đối tượng tham gia nghiên cứu đều thường xuyên bị stress do công
Trang 27việc, hơn 50% than phiền rằng công việc mà họ đang làm đã gây cho họ cáctình trạng như: đau lưng, dễ gắt gỏng, cáu kỉnh, lo lắng … [28].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Tần tại Bệnh viện tâm thần TiềnGiang năm 2012, tỷ lệ thường xuyên bị stress của nhân viên y tế là 14,7%, tỷ
lệ thi thoảng là 75,7% và hiếm khi là 9,6% [17]
Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh,Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An trên các nhân viên y tế năm 2013 cho kếtquả mức độ stress nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là các mức vừa (14,0%),nặng (0,5%) và rất nặng (0,5%) [29]
Theo “Tình trạng stress của điều dưỡng và hộ sinh bệnh viện Phụ sảnNhi Đà Nẵng năm 2014” của Ngô Thị Kiều My tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh cóbiểu hiện stress là 18,1%, trong đó mức độ nhẹ là 9,7%, vừa là 5,7%, và nặng
là 2,7% [30]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 2015 của Trần Thị Thu Thuỷ và cộng
sự trên 600 điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy tỷ lệ căng thẳngtrong công việc là 18,5% Các yếu tố liên quan đến mức độ căng thẳng trongcông việc là yếu tố quản lý, mối quan hệ đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấptrên Cụ thể những điều dưỡng kiêm nhiệm công tác quản lý có nguy cơ căngthẳng gấp 5,2 lần, mối quan hệ với đồng nghiệp ở mức bình thường/không tốt
có nguy cơ căng thẳng gấp 2,3 lần so với những điều dưỡng khác [5]
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: nhân viên điều dưỡng công tác tại bệnh viện Đại học Y HàNội ít nhất từ 1 năm trở lên
+Tiêu chuẩn lựa chọn: những cán bộ là viên chức, hợp đồng dài hạn (từ
1 năm trở lên), làm việc tại các khoa lâm sàng, đồng ý tham gia nghiên cứu.+ Tiêu chuẩn loại trừ: hợp đồng thử việc, hợp đồng ngắn hạn, làm việcdưới 1 năm, làm việc tại khối hành chính hoặc xét nghiệm, đối tượng từ chốitham gia nghiên cứu, vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: bệnh viện Đại học Y Hà Nội
- Thời gian: thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2016 đến 5/2017 Thờigian thu thập số liệu được thực hiện vào 2 tuần cuối tháng 12 năm 2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ các điều dưỡng làm khoaphòng lâm sàng
Trang 29Bảng 2.1 Số lượng nhân viên trong các khoa phòng
điều dưỡng
Số lượng nhân viênđiều dưỡng đã thamgia nghiên cứu
2.3.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.2 Biến số, chỉ số nghiên cứu
Trang 30TT Biến số, chỉ số Định nghĩa Phân loại
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
1 Giới Giới tính của điều dưỡng
tham gia nghiên cứu(nam/nữ)
Nhị phân
2 Tuổi (dương lịch) Số năm tính từ năm sinh đến
thời điểm nghiên cứu
Liên tục
3 Trình độ học vấn Trình độ học vấn cao nhất
của điều dưỡng
Thứ hạng
4 Thâm niên công tác Số năm tính từ khi bắt đầu
công tác đến thời điểmnghiên cứu
Liên tục
5 Công tác quản lý Hiên tại người điều dưỡng có
hay không làm quản lý
Nhị phân
6 Hôn nhân Tình trạng hôn nhân hiện tại
của điều dưỡng
2 Tỷ lệ điều dưỡng mắc
stress theo thâm niên
Số điều dưỡng mắc stress ởtừng nhóm thâm niên công
Trang 31công tác tác/ tổng số điều dưỡng mắc
stress
3 Tỷ lệ điều dưỡng mắc
stress theo nhóm tuổi
Số điều dưỡng mắc stress ởtừng nhóm tuổi/tổng số điềudưỡng mắc stress
Mục tiêu 2: Một số yếu tố từ môi trường lao động và mối liên quan của một
số yếu tố với tình trạng stress của nhân viên điều dưỡng
6 Tỷ lệ đánh giá về nguy
cơ lây bệnh trong môi
trường lao động của
Số đối tượng đánh giá nguy
cơ lây bệnh trong MTLĐbệnh viện theo các mức
Trang 32NVĐD theo các mức độ độ/tổng số đối tượng
10 Tỷ lệ đánh giá tần suất
không đủ thời gian nghỉ
ngơi của NVĐD theo
các mức độ
Số điều dưỡng đánh giá tầnsuất không đủ thời gian nghỉngơi theo các mức độ/tổng sốđiều dưỡng
12 Tỷ lệ đánh giá tần suất
cảm thấy công việc
không có khả năng
thăng tiến của NVĐD
Số điều dưỡng đánh giá tầnsuất cảm thấy công việckhông có khả năng thăng tiếncủa theo các mức độ/tổng số
Trang 33theo các mức độ điều dưỡng
13 Tỷ lệ đánh giá mối quan
hệ với cấp trên của
NVĐD theo các mức độ
Số điều dưỡng đánh giá mốiquan hệ với cấp trên các mứcđộ/tổng số điều dưỡng
14 Tỷ lệ đánh giá mối quan
hệ với đồng nghiệp của
NVĐD theo các mức độ
Số điều dưỡng đánh giá mốiquan hệ với đồng nghiệp cácmức độ/tổng số điều dưỡng
15 Tỷ lệ đánh giá mối quan
17 Mối liên quan giữa
nhóm tuổi và tình trạng
stress của điều dưỡng
Tính OR giữa:
Nhóm tuổi: < 30 tuổi và ≥ 30tuổi
19 Mối liên quan giữa công
Trang 3421 Mối liên quan giữa đánh
giá trang thiết bị MTLĐ
22 Mối liên quan giữa đánh
giá trang bị bảo hộ lao
động và tình trạng stress
của NVĐD
Tính OR giữa:
Đánh giá TBBHLĐ: khônghoặc tương đối đầy đủ/đầyđủ
Trang 35không ồn àoTình trạng stress: có/không
25 Mối liên quan giữa đánh
giá nguy cơ lây bệnh và
Tình trạng stress: có/không
26 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất KLCV vượt
Tình trạng stress: có/không
27 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất làm việc
Tình trạng stress: có/không
28 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất tập trung
cao độ khi làm việc và
tình
Tính OR giữa:
Đánh giá tần suất tập trungcao độ: thường xuyên hoặcthi thoảng/ không
Trang 36trạng stress của NVĐD Tình trạng stress: có/không
29 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất không có đủ
thời gian nghỉ ngơi và
tình trạng stress của
NVĐD
Tính OR giữa:
Đánh giá tần suất không có
đủ thời gian nghỉ ngơi:thường xuyên/ không hoặchiếm khi hoặc thi thoảngTình trạng stress: có/không
30 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất cảm thấy
trách nhiệm đối với
Tình trạng stress: có/không
31 Mối liên quan giữa đánh
giá tần suất cảm thấy
công việc không có khả
năng thăng tiến và tình
trạng stress của NVĐD
Tính OR giữa:
Đánh giá tần suất cảm thấycông việc không có khả năngthăng tiến: thường xuyên/không hoặc hiếm khi hoặc thithoảng
Tình trạng stress: có/không
32 Mối liên quan giữa đánh
giá mối quan hệ với cấp
trên và tình trạng stress
Tính OR giữa:
Đánh giá mối quan hệ vớicấp trên: không tốt/ tốt hoặc
Trang 37của NVĐD bình thường
Tình trạng stress: có/không
33 Mối liên quan giữa đánh
giá mối quan hệ với
Tình trạng stress: có/không
34 Mối liên quan giữa đánh
giá mối quan hệ với BN
Tình trạng stress: có/không
35 Mối liên quan giữa đánh
giá mức độ hài lòng với
công việc và tình trạng
stress của NVĐD
Tính OR giữa:
Đánh giá mức độ hài lòngvới công việc: không hoặctương đối hài lòng/ hài lòngTình trạng stress: có/không
- Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi tự điền gồm 3 phần:
+ Phần A: gồm 7 câu về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu+ Phần B: gồm 7 câu đánh giá căng thẳng (trích từ bộ câu hỏi DASS 21)+ Phần C: gồm 16 câu về các yếu tố xuất phát từ môi trường lao động
Trang 38Bộ câu hỏi DASS là bộ ba thang đo tự đánh giá được thiết kế để đolường các trạng thái cảm xúc tiêu cực của trầm cảm, lo âu và căng thẳng.DASS được xây dựng để xác định, hiểu và đo lường các trạng thái cảm xúcphổ biến và có ý nghĩa lâm sàng thường được mô tả như trầm cảm, lo lắng vàcăng thẳng Do đó DASS đáp ứng được các yêu cầu của cả các nhà nghiêncứu và các nhà lâm sàng chuyên nghiệp [40] DASS 21 là bản rút gọn của bộ
ba thang đo này, mỗi thang đo trong DASS 21 được rút gọn chỉ còn 7 câu.Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 7 câu hỏi đánh giá về stress trích từDASS 21
- Định nghĩa tần suất sử dụng trong bộ câu hỏi [21]:
+ Hiếm khi: các trạng thái tồn tại dưới 25% thời gian
+ Thi thoảng: các trạng thái tồn tại từ 25% đến dưới 50% thời gian
+ Thường xuyên: các trạng thái tồn tại từ 50% đến dưới 75% thời gian+ Gần như luôn luôn: các trạng thái tồn tại từ 75% thời gian trở lên
- Quy trình thu thập thông tin:
+ Tiến hành điều tra thử: Bộ câu hỏi thực hiện trên 10 điều dưỡng tạimột số khoa Sau đó bộ câu hỏi được hiệu chỉnh lại cho rõ ràng và áp dụngthông tin thu thập chính thức Các nội dung đã sửa bao gồm biến số về: thunhập, thời gian công tác
+ Nghiên cứu thu thập thông tin chính thức được tiến hành vào mỗi buổigiao ban của khoa, mỗi khoa có 3 giám sát viên, giám sát đối tượng nghiêncứu và giải đáp thắc mắc đồng thời kiểm tra các phiếu đề phòng đối tượngnghiên cứu bỏ trống phiếu
Trang 392.4 Xử lý và phân tích số liệu:
- Số liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epidata
- Số liệu được phân tích bằng phần mềm STATA
Stress nghề nghiệp hay căng thẳng được tính bằng cách cộng tổng điểmcủa 7 câu hỏi về stress trong DASS 21, nhân hệ số 2, và chia theo các mức[40]:
Bảng 2.3 Thang điểm đánh giá mức độ stress
+ Nhân viên điều dưỡng không hiểu rõ câu hỏi
+Điều tra viên giải thích không rõ ràng, chính xác
+Sai số do nhân viên điều dưỡng bỏ trống không điền
+Sai số trong quá trình nhập liệu
- Khống chế sai số:
+ Tập huấn điều tra viên
Trang 40+ Các định nghĩa, tiêu chuẩn đưa ra chính xác và rõ ràng, câu hỏi cụ thể
dễ hiểu
+ Kiểm tra bộ phiếu mà nhân viên điều dưỡng đã trả lời ngay sau khi họhoàn thành xong để đảm bảo thông tin đầy đủ, đúng mục tiêu nghiên cứu.+ Quá trình nhập liệu vào máy tính được thực hiện cẩn thận, kiểm tra kỹbằng đối chiếu phiếu điều tra để phát hiện lỗi
2.6 Khía cạnh đạo đức.
Chỉ tiến hành nghiên cứu khi đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu vàchỉ thực hiện sau khi có sự cho phép của lãnh đạo bệnh viện Đại học Y HàNội Mọi thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giữ kín