Bài tập lịch sử kinh tế
Trang 1tư đầu thập niên 80 các nước tư bản mới thực sự bước vào giai đoạn điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế trên cơ sở của lý thuyết điều chỉnh mới Những biện pháp điều chỉnh kinh tế đó có tác động khác nhau giữa các nước, nhưng nhìn trung đã giúp các nước tư bản phát triển khắc phục phần nào những mâu thuẫn, và dần ra khỏi tình trạng lạm phát, đình trệ cuối những năm 70 Từ năm 1983 đến năm 1990 kinh tế các nước tư bản phục hồi với nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 3,2%/năm, cao hơn mức 2,4% của giai đoạn 1973-1982 Trong những năm 90 khủng hoảng tuy vẫn diễn ra ở một
số nước nhưng mức độ suy thoái không trầm trọng như trước và không trùng pha giữa các nước với nhau.
Ngày 13/1, Cơ quan Tình báo Toàn cầu "Stratfor" của Mỹ công bố tài liệu
"Dự báo tình hình ở một số nước và khu vực trên thế giới năm 2012" trong
đó nhận định, hệ thống quốc tế đã trải qua nhiều giai đoạn có những thay đổi cơ bản trong một thời gian ngắn Giai đoạn mới nhất là năm 1989-
1991 Trong thời gian đó, Liên Xô sụp đổ, sự thần kỳ kinh tế của Nhật Bản chấm dứt, Hiệp ước Maastricht tạo nên châu Âu hiện nay được ký kết và Quảng trường Thiên An Môn xác định Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trong giai đoạn này, các thành phần cơ bản của hệ thống quốc tế đã biến đổi cơ bản, thay đổi các luật lệ cho 20 năm tiếp theo Hiện nay thế giới đang
ở trong một chu kỳ tương tự, được bắt đầu từ năm 2008 và đang tiếp tục diễn ra Trong giai đoạn hiện nay, Mỹ rút quân khỏi Irắc tạo cơ hội cho Iran khẳng định sức mạnh có thể thay đổi cán cân sức mạnh ở Trung Đông; kinh
tế Mỹ rơi vào vòng suy thoái và có nguy cơ mất ổn định xã hội Liên minh châu Âu (EU) chấm dứt hoạt động như đã thực hiện cách đây 5 năm và phải xem xét hình mẫu mới Trung Quốc bước vào giai đoạn kinh tế và xã hội khó khăn, do suy thoái toàn cầu ảnh hưởng đến nền kinh tế theo hướng xuất khẩu và các sản phẩm ngày càng mất cạnh tranh do lạm phát Những thay đổi diễn ra đồng thời ở châu Âu, Trung Quốc và Trung Đông đang mở ra
Trang 2cánh cửa cho một khuôn khổ quốc tế mới thay thế hệ thống được tạo ra năm 1989-1991.
Năm 2012 có thể được gọi là năm thay đổi thế hệ Các tiến trình đang tiếp diễn, vì vậy thế giới phải xem xét tương lai của Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và Trung Đông trước khi rút ra kết luận Tất nhiên, trong năm 2012, thực tế ngày càng trở nên rõ ràng rằng thế giới hậu Chiến tranh Lạnh đã kết thúc
và đang được thay thế bằng các cường quốc đã thay đổi và động lực đã thay đổi.
Năm 2012, kinh tế Mỹ dự kiến tăng trưởng ở mức 2,2-2,7%; tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm xuống mức trước khủng hoảng 6,8%- 7%; tỷ lệ lạm phát khoảng 1,8%; thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai sẽ giảm trước khi trở lại mức gần bằng thâm hụt tiền khủng hoảng vào năm 2015 Các công ty Mỹ
sẽ tiếp tục dẫn đầu các tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là máy tính, thiết bị
y tế, hàng không vũ trụ và quân sự Tổng thương mại của Mỹ sẽ tiếp tục đạt mức lớn nhất thế giới, trong đó dẫn đầu thế giới về nhập khẩu và tiếp tục là một trong 3 nước hàng đầu về xuất khẩu Trên lĩnh vực đối ngoại, song song với kế hoạch tiếp tục cuộc chiến ở Ápganixtan, Mỹ sẽ đẩy mạnh chính sách can dự toàn diện khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt ở Đông Nam Á,
để ngăn chặn ảnh hưởng và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc; tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đàm phán với Nga về chương trình cắt giảm vũ khí thông thường và phòng thủ tên lửa; trú trọng duy trì sự ổn định ở khu vực Trung Đông; ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran và Bắc Triêu Tiên Diễn biến 2012 sẽ không như 2009 Hãy nhìn lại trước đó, năm 2008, 3 tháng cuối năm lạm phát âm, nhờ đó chỉ số giá mới giữ được 19,89% Kịch bản kết thúc năm 2011 cũng diễn biến như vậy Diễn biến năm 2011 khác năm 2009, lạm phát năm 2009 là 15% và tăng trưởng kinh tế khoảng 6-7% năm nay cũng đạt khoảng 6,5% Thế nhưng, lạm phát năm đó đến cuối kỳ là 6,52%.
Tình thế năm 2009 cũng rất khác xa Năm 2008, khủng hoảng từ Mỹ Năm
2011 thì từ châu Âu và vai trò của Mỹ và châu Âu trong nền kinh tế thế giới cũng khác nhau Vì thế, cách ứng xử với các khó khăn kinh tế cũng phải khác nhau Mỹ có tiền, có sự tập trung Còn châu Âu thì 17 nước vẫn tranh cãi, chẳng ai chịu ai Cách thức và cội nguồn khủng hoảng cũng khác nhau Câu chuyện nữa phải quan tâm là giá dầu Giá dầu năm 2008 khi lên đỉnh
147 USD/thùng thì đến cuối năm còn 40 USD, sang đầu 2009 còn 30 USD Nhưng khủng hoảng của thế giới hiện nay, dầu vẫn dao động mức 100 USD/thùng Chưa kể, cùng vào thời điểm này 2008-2009 không có dấu hiệu
Trang 3của chiến tranh, nhưng 2012, một loạt nước bắc Phi biểu tình và có ít nhất 2 cuộc chiến tranh rất có thể nổ ra là Iran và Syria.
Trong năm tài chính 2009, ngân sách Mỹ thâm hụt 1.400 tỷ USD, cao gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái Chống thâm hụt sẽ là nhiệm vụ mới của Chính phủ nước này khi kinh tế dần đi vào ổn định.
Báo cáo thâm hụt hằng tháng của Văn phòng ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) công bố hôm qua cho thấy trong năm tài chính 2009, kết thúc vào ngày 30/9, chi vượt thu tới 1.400 tỷ USD, tương đương với 9,9% GDP Đây là tỷ lệ lớn nhất kể từ năm 1945 Hồi 2008, thâm hụt ngân sách của Mỹ đạt 459 tỷ USD Tuy nhiên, đây chỉ mới là tính toán của Quốc hội, Bộ Tài chính Mỹ sẽ đưa ra báo cáo của họ vào cuối tháng này, BBC cho biết.
Thâm hụt ngày càng gia tăng là kết quả của các khoản chi khổng lồ nhằm chống lại suy thoái và các chính sách miễn giảm thuế Các khoản chi đáng kể nhất trong thời gian vừa qua là Chương trình giải cứu tài sản xấu TARP, gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD và số tiền dùng để bơm vào hai ngân hàng Fannie Me và Freddie Mac Chi tiêu trong năm tài chính 2009 tương đương với 25% GDP, tỷ lệ lớn nhất trong vòng 50 năm qua, CBO cho biết Lợi nhuận của chính quyền liên bang cũng rơi xuống mức thấp nhất trong lịch sử, chỉ còn 419 nghìn tỷ USD trong năm tài chính 2009, giảm 16,6% so với năm trước đó Riêng trong tháng 9, Mỹ thâm hụt ngân sách 31 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm ngoái, nước này thặng dư 42 tỷ USD.
Thập kỷ mất mát là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt thập kỷ 1990 Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào những năm 1990-1991, tốc
độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thấp hẳn đi Bình quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật Bản lẫn tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn
so với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm.Từ khi Nhật Bản thực hiện Các biện pháp tạm thời ổn định các ngành đặc biệt khó khăn vào năm 1988, ngay năm đó mức tăng TFP chỉ ở mức vô cùng thấp 0,64% Ba năm trước đó, mức tăng TFP là 2,5%/năm, thế mà sáu năm sau đó, mức tăng chỉ còn là 2,18%/năm Mặc
dù được gọi là "thập kỷ mất mát thứ hai" nhưng thực tế không quá bi quan như vậy Hầu hết những vấn đề của Nhật Bản hiện tại đến từ dân số già - khi một nửa dân số có độ tuổi trên 45, và các chính sách mà chính phủ Nhật sử dụng để đối phó với nó Và dù phải đối mặt với những khó khăn như vậy, hầu hết người Nhật vẫn trở nên giàu có hơn trong vòng 1 thập kỷ qua Nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng với tốc độc bằng một nửa của Mỹ trong giai đoạn từ 2001 đến 2010 Tuy nhiên, khi đánh giá tăng trưởng GDP trên đầu
Trang 4người trong giai đoạn này, Nhật Bản tỏ ra vượt trội hơn so với Mỹ và khu vực đồng tiền chung châu Âu Đó là bởi dân số của Nhật đã giảm đi trong khi dân số Mỹ lại tăng lên Tăng trưởng trong năng suất lao động của Nhật giảm nhẹ so với Mỹ trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008, nhưng chỉ
số TFP (total factor productivity), chỉ số để tính một quốc gia sử dụng vốn
và nhân công như thế nào, lại tăng nhanh hơn Tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật cao hơn so với thời điểm năm 2000, nhưng vẫn chỉ bằng một nửa so với mức của Mỹ và châu Âu.
Tăng trưởng kinh tế của Anh Các số liệu thống kê chính thức từ cơ quan thống kê quốc gia (ONS), cho biết tăng trưởng kinh tế hàng năm là 3,3% (từ quý 4 năm 2006 - quý 3 năm 2007) Nông nghiệp chỉ chiếm 1%, công nghiệp chiếm 26% còn lại là dịch vụ Tỉ lệ lạm phát là 2,3%(2006) Tỉ lệ thất nghiệp
là 5,4%(2007) Anh là nước có tỷ lệ thâm hụt ngân sách cao thứ 3 với 10,4% GDP năm 2010 Tuy nhiên, nếu xét về tổng nợ, thì vị trí của Anh khá hơn nhiều, dù vẫn nằm trong top 14 nước có tỷ lệ nợ cao hơn 60% GDP năm ngoái Theo quy định, các quốc gia thành viên EU phải duy trì mức nợ của mình dưới 60% Theo số liệu công bố bởi Cơ quan Thống kê Quốc gia Anh ngày 14/3, số người đăng ký thất nghiệp tại đây tháng 2/2012 đã tăng cao hơn dự báo, trong khi chỉ số chung về thất nghiệp tăng lên mức cao nhất trong vòng 16 năm Tỷ lệ thất nghiệp của Anh trong 3 tháng kết thúc vào tháng 1/2012 đã tăng lên 8,4% so với mức 8,3% 3 tháng trước đó Anh hiện
là nước có mức thâm hụt ngân sách cao thứ 3 trong nhóm G7, chỉ sau Nhật Bản và Mỹ.
Điều chỉnh kinh tế có tác dụng đáng kể với sự phát triển kinh tế, song còn nhiều vấn đề còn tồn tại:quá trình quốc tế hóa và liên kết kinh tế tiếp tục tồn tại và làm cho cạnh tranh đa dạng và quyết liệt hơn Tình trạng thất nghiệp,
sự chênh lệch về thu nhập, bất bình đẳng xã hội vẫn tăng lên Tình trạng bất ổn định và suy thoái vẫn diễn ra.
Năm 2012, Liên minh châu Âu (EU) và khu vực đồng euro sẽ tồn tại Cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu sẽ đi vào ổn định hoặc ít nhất ổn định tạm thời, nhưng kinh tế tiếp tục suy thoái sâu sắc Các nguồn đầu tư khổng lồ sẽ rút khỏi châu Âu do các nhà đầu tư ở trong và ngoài khu vực không tin tưởng hệ thống châu Âu EU sẽ không sử dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính nhằm ép chính phủ các nước tiến hành các cải cách hệ thống tài chính Nhưng động lực thúc đẩy đằng sau những phát triển trong năm 2012
ở châu Âu sẽ là chính trị chứ không phải kinh tế Nhận thấy cơ hội trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, Đức đang sử dụng, sức mạnh kinh tế
và tài chính nhằm thay đổi cơ cấu tổ chức của khu vực đồng euro theo
Trang 5hướng có lợi cho nước này Bản chất nỗ lực cải cách của Đức nhằm kiểm soát nghiêm ngặt chi tiêu tài chính của nhiều chính phủ châu Âu Mặc dù hầu hết các nước châu Âu sẽ phản đối, nhưng Đức có nhiều lợi thế cơ bản để thực hiện ý đồ của họ trong năm 2012 như: châu Âu sẽ diễn ra một số cuộc bầu cử ở các nước, nên công chúng châu Âu sẽ không được tham khảo ý kiến về hiệp ước mới do Đức chủ xướng; Đức chỉ cần 17/27 nước khu vực đồng euro chấp thuận, hiệp ước của họ sẽ được thông qua; các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ ký hiệp ước mới vào tháng 3/2012, sau đó từng nước sẽ sử dụng thời gian còn lại và năm 2013 để tìm cách phê chuẩn; Đức có thể tiếp tục thúc ép một số nước như: Ailen, Phần Lan, Hà Lan và Tây Ban Nha tiến hành các cải cách; người châu Âu hoảng sợ nên sẵn sàng làm mọi thứ như áp dụng các biện pháp khắc khổ và phê chuẩn các hiệp ước mặc dù không muốn Khi tiến trình phê chuẩn hiệp ước của Đức được thúc đẩy, sự thù địch của người châu Âu đối Đức và Brúcxen sẽ tăng Trên bình diện quốc tế, các nước sẽ tìm cách bảo vệ họ không bị ảnh hưởng trước sự xâm nhập của Đức vào công việc nội bộ Ở mức độ quốc gia, tình trạng suy thoái sâu sắc sẽ biến thành nỗi tức giận đối với các biện pháp khắc khổ như đã công bố của các chính phủ Rối loạn chính trị và tài chính sẽ tồn tại trong khung thời gian khi Đức đàm phán với các nước khác thuộc khu vực đồng euro về hiệp ước mới Mặc dù bản chất của các cuộc đàm phán đó là từ bỏ chủ quyền tài chính quốc gia, nhưng châu Âu có khả năng chấp nhận hiệp ước mới, bởi vì nếu thất bại sẽ làm tăng khả năng sụp đổ cơ cấu tổ chức chính trị của EU và việc thực hiện sẽ không diễn ra trong năm 2012.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và LHQ cảnh báo, nền kinh tế thế giới có thể phải đối mặt nhiều khó khăn hơn trong năm 2012, chủ yếu do chịu tác động của
"bóng đen" suy thoái tại các nền kinh tế phát triển "Căn bệnh" nợ công tồi
tệ ở châu Âu và những biến động của thị trường tài chính toàn cầu là một trong những nguyên nhân đe dọa sự phục hồi kinh tế thế giới IMF phải điều chỉnh mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới xuống thấp hơn 3,6% trong năm tới Năm 2012 sẽ là một năm "được ăn cả ngã về không", theo đó kinh
tế thế giới hoặc là phục hồi ở mức chậm, hoặc rơi trở lại suy thoái nếu tình hình không được cải thiện.
Châu Âu đứng trước bờ vực suy thoái, những khó khăn của kinh tế châu Âu
là mối đe dọa lớn nhất đối với sự phục hồi kinh tế toàn cầu Các cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực đồng ơ-rô (Eurozone) có nguy cơ lan rộng, đe dọa đẩy Eurozone rơi vào suy thoái trầm trọng Tuy nhiên, lãnh đạo các nước thành viên Liên hiệp châu Âu (EU), nhất là hai nền kinh tế đầu tàu là Đức và Pháp, còn nhiều chia rẽ chung quanh việc đưa ra chính sách toàn diện nhằm
Trang 6cứu Eurozone tại Hội nghị cấp cao EU vừa qua Điều này khiến tình hình kinh tế khu vực trở nên xấu hơn, nhiều nhà đầu tư mất lòng tin và lo ngại về nguy cơ sụp đổ của Eurozone trong tương lai gần Giám đốc giám sát kinh
tế toàn cầu thuộc Phòng phụ trách về kinh tế và xã hội tại LHQ cảnh báo, nếu các nước thành viên EU không đồng thuận về những biện pháp cơ bản nhằm khôi phục lòng tin của thị trường và kiềm chế nợ công lan rộng sang các nền kinh tế mạnh hơn, việc EU rơi vào suy thoái trầm trọng là điều không thể tránh khỏi Dự báo tăng trưởng GDP châu Âu chỉ đạt -0,2% năm
2012, và tiếp tục tăng trưởng "yếu ớt" trong những năm tiếp theo Theo Bộ phân tích thông tin kinh tế (EIU) thuộc tạp chí Nhà kinh tế (Anh), kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng chậm lại, với các điều kiện kinh tế trong năm 2012 khó khăn hơn ở nhiều nước trên thế giới Dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu tính theo sức mua trong năm tới là 3,2%, giảm so mức 3,8% trong năm
2011 Sự suy giảm của các nền kinh tế Eurozone sẽ cản trở tốc độ tăng trưởng toàn cầu, làm suy yếu lòng tin của giới đầu tư, doanh nghiệp và người tiêu dùng, tác động thị trường, nhất là khu vực Đông Âu và Bắc Phi cũng như các nước đang nổi ở châu Á Tạp chí này cho biết, "căn bệnh" nợ công của Eurozone chưa có dấu hiệu lắng dịu Nếu cuộc khủng hoảng ở châu Âu trầm trọng thêm, một số nước có thể phải ra khỏi khu vực đồng tiền chung này Khả năng Eurozone tan vỡ là rất thấp, xong nguy cơ đó không thể bỏ qua.
Kinh tế Mỹ phục hồi "mong manh", trong khi Lục địa già đang tiến dần tới
"bờ vực" suy thoái, Mỹ hiện phải "vật lộn" khủng hoảng nợ tăng nhanh, cùng những mâu thuẫn chính trị trong nước Nhiều chính sách về thuế, việc làm của Tổng thống B.Ô-ba-ma vấp phải sự phản đối của đảng Cộng hòa vốn cho rằng, chính sách trên không giúp kích thích kinh tế Mỹ mà chỉ tác động tiêu cực đến các chủ doanh nghiệp nhỏ Vừa qua, Chính phủ Mỹ buộc phải nâng mức trần nợ công lên 2.400 tỷ USD và yêu cầu cắt giảm 2.100 tỷ USD chi tiêu công trong mười năm tới Số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp ở Mỹ tăng mạnh, thị trường nhà đất đóng băng, người tiêu dùng thắt chặt hầu bao là những minh chứng cụ thể cho thấy, kinh tế Mỹ tuy đang phục hồi nhưng vẫn khá "mong manh" Đó là một trong những lý do khiến không ít chuyên gia kinh tế dự đoán, nền kinh tế lớn nhất thế giới có khả năng trở lại thời kỳ suy thoái Tăng trưởng GDP của Mỹ sẽ không thật
sự khởi sắc cho tới năm 2014, và sẽ giảm dần xuống ở mức 1,8% năm 2012; Oa-sinh-tơn cần có một chính sách hiệu quả để kích thích tài chính trong một tương lai gần, và giảm thâm hụt ngân sách trong thời gian tới.
Trang 7Tăng trưởng dịch chuyển sang phía đông, Nhà kinh tế G.Li-ông thuộc Ngân hàng Standard Chartered, có trụ sở tại Anh dự đoán, viễn cảnh kinh tế toàn cầu đang đi theo hai tốc độ khác nhau và có xu hướng dịch chuyển sang phía đông Khi nền kinh tế châu Âu có nguy cơ rơi vào suy thoái, thì các quốc gia châu Á, đi đầu là Trung Quốc, sẽ giữ vai trò thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu Theo đó, châu Âu có thể kéo kinh tế thế giới đi xuống trong những tháng đầu năm 2012, song tăng trưởng tại châu Á và Trung Quốc sẽ kéo mọi thứ trở lại quỹ đạo vào cuối năm.
2012 sẽ là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với tất cả các nền kinh tế trên thế giới "Nếu gã khổng lồ châu Âu hắt hơi, tất cả sẽ bị cảm cúm" Điều này cho thấy, tăng trưởng GDP của châu Âu, chứ không phải là Mỹ, hiện đóng vai trò quan trọng để đưa kinh tế toàn cầu phục hồi trở lại.
Câu 2: Phân tích thực trạng kinh tế Mỹ từ 1984 đến nay ?
TL: Một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học là: “Khi nước Mỹ hắt xì hơi, thì cả thế giới đều bị cảm lạnh”.
Theo Hội đồng phi lợi nhuận về Cạnh tranh, trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2005, nước Mỹ đóng góp trực tiếp vào một phần ba mức độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu Trong giai đoạn từ 1983 đến 2004, nhập khẩu của Mỹ tăng chóng mặt và chiếm gần 20% trong mức tăng xuất khẩu của toàn thế giới.
Báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Phục vụ Quốc hội (CRS) đã nêu rõ “Các nước đang phát triển chiếm một phần ngày càng nhiều trong số hàng hóa xuất khẩu của Hoa Kỳ, 32,8% vào năm 1985 trong khi vào năm 2006, tỉ lệ này là 47,0% Các nước đang phát triển cũng chiếm 34,5% nhập khẩu của
Mỹ vào năm 1985 và 54,7% vào năm 2006”.
Như một cỗ xe 4 bánh tràn đầy sinh khí kiên cường vượt qua vùng địa hình đầy hiểm trở, nền kinh tế Mỹ đã thoát hiểm một cách êm đềm trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21, dù đã gặp nhiều trở ngại lớn: sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán, các cuộc tấn công khủng bố, chiến tranh tại Irắc và Apganixtan, các vụ xì-căng-đan từ các tập đoàn tài chính, sự phá hủy tàn khốc trên diện rộng của bão lụt, giá năng lượng tăng cao và sự trượt dốc thảm hại của bất động sản.
Sau đợt suy thoái nhẹ từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001, kinh tế Mỹ bắt đầu tăng trưởng với tốc độ trung bình là 2,9% trong giai đoạn từ 2002 đến
2006 Trong khi đó, lạm phát về giá cả, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất vẫn duy trì ở mức tương đối thấp.
Bằng nhiều biện pháp, Hoa Kỳ đã duy trì được vị thế là một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, sản lượng lớn và có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất trên
Trang 8thế giới Tuy nhiên, càng ngày kinh tế Mỹ càng chịu nhiều tác động từ các nền kinh tế năng động khác Hiện nay, nước Mỹ vẫn đang phải đối mặt với
cả các thách thức đến từ bên trong lẫn những thách thức đến từ bên ngoài Kinh tế Mỹ luôn đứng cao nhất hoặc cận cao nhất trong hàng loạt các xếp hạng quốc tế:
* Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006 Với ít hơn 5% dân số thế giới, khoảng 302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng GDP của toàn thế giới Riêng GDP của một bang – bang California - đạt 1,5 nghìn tỷ trong năm 2006, đã vượt quá GDP của tất cả các nước, chỉ trừ 8 nước, vào năm đó.
* Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la Mỹ, gấp 3 kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức.
* Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa – 1 nghìn tỷ trong năm 2006 - chỉ sau Đức, mặc dù theo dự báo, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2007 Đứng thứ nhất về xuất khẩu dịch vụ với 422 tỷ đô-la trong năm 2006.
* Đứng thứ nhất về thâm hụt thương mại, 785,5 tỷ đô-la trong năm 2006, lớn hơn rất nhiều lần so với bất kỳ quốc gia nào khác.
* Đứng thứ hai về chuyên chở container đường biển trong năm 2006, chỉ sau Trung Quốc.
* Đứng thứ nhất về nợ nước ngoài, ước tính hơn 10 nghìn tỷ đô-la vào giữa năm 2006.
* Là địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất – trong lĩnh vực kinh doanh và bất động sản - đạt khoảng 177,3 tỷ đô-la trong năm
2006 Đứng đầu về địa điểm rót vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới, bao gồm cả các tập đoàn từ những nước đang phát triển.
* Đứng thứ năm về tài sản dự trữ trong năm 2005 với 188,3 tỷ đô-la, chiếm 4% thị phần thế giới, sau Nhật và Trung Quốc (mỗi quốc gia này chiếm 18%), Đài Loan và Hàn Quốc, và đứng ngay trước Liên bang Nga Đứng thứ 15 về dự trữ ngoại hối và vàng, đạt khoảng 69 tỷ đô-la vào giữa năm 2006.
* Đứng đầu về nguồn tiền gửi tại châu Mỹ La tinh và Khu vực Caribê, chiếm khoảng ¾ trong tổng số 62 tỷ đô-la trong năm 2006, từ những người
di cư khỏi các khu vực này để tìm kiếm việc làm ở nước ngoài.
* Đứng thứ nhất về tiêu thụ dầu mỏ, khoảng 20,6 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2006 và đứng thứ nhất về nhập khẩu dầu thô với hơn 10 triệu thùng mỗi ngày.
* Đứng thứ 3 về môi trường kinh doanh thông thoáng trong năm 2007,
Trang 9sau Singapore và New Zealand.
* Đứng thứ 20 trên 163, cùng với Bỉ và Chilê về các chỉ số Minh bạch quốc
tế năm 2006 nhằm đo lường mức độ tham nhũng (các nền kinh tế có xếp hạng thấp được xem là ít tham nhũng hơn).
Hiện có nhiều dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi sau chặng đường chống chọi dai dẳng vừa qua khiến thế giới phải tự hỏi, nhờ đâu mà kinh tế Mỹ lại khoẻ và dai sức đến lạ kỳ như vậy?
"Khoẻ và dai sức đến lạ kỳ"
Chính phủ Mỹ công bố một loạt chỉ số chứng minh kinh tế Mỹ đang lấy lại sinh khí để phát triển.
Cụ thể, Fed công bố chỉ số vay tiền của người tiêu dùng tháng 3/2008 Theo
đó, chỉ số này trong tháng 3 đã tăng vượt dự đoán, lên mức 7,2% trong khi cùng kỳ năm ngoái là 3,1%.
Cùng lúc, Bộ Lao động Mỹ cho hay, năng suất lao động của Mỹ trong quý I/2008 đã tăng bất ngờ Cụ thể, chỉ số này tăng 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ở chiều ngược lại, chi phí nhân công ở Mỹ lại tăng ít hơn trong thời gian qua Cụ thể, chi phí nhân công trung bình trong quý I/2008 tăng 2,2%, trong khi quý liền trước còn tăng 2,8%.
Như vậy, các công ty đang và có khả năng sẽ làm ăn tốt hơn với năng suất lao động cao và chi phí nhân công thấp, qua đó thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng, bởi các công ty là những thành tố quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Mỹ.
"Kinh tế Mỹ khoẻ và dai sức đến lạ kỳ! Vậy nên giới đầu tư đang liên tiếp mua dầu với lập luận kinh tế tăng trưởng sẽ thôi thúc nhu cầu sử dụng các loại hàng hoá đầu vào, đặc biệt là loại nguyên liệu tối quan trọng này", Jonathan Kornafel, Giám đốc khu vực châu Á của Tập đoàn Hudson Capital Energy nhận định.
Một lần nữa, thế giới phải tự hỏi, nhờ đâu mà kinh tế Mỹ lại khoẻ và dai sức đến lạ kỳ như vậy? Theo giới chuyên gia thì có 5 yếu tố cơ bản.
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ, thiên về dịch vụ Các lĩnh vực sản xuất công nghiệp ngày càng đóng góp ít hơn vào nền kinh tế quốc dân, không chỉ riêng ở nước Mỹ Thêm vào đó, các vụ phá sản, sáp nhập và lâm vào nợ nần triền miên càng khiến công nghiệp ngày càng bất ổn hơn cho mỗi nền kinh tế.
Tăng trưởng tỷ trọng dịch vụ chính là giải pháp cho các nền kinh tế trên toàn cầu, cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển Nước nào
Trang 10vận dụng tốt hơn, chuyển biến nhanh hơn, như trường hợp của Mỹ, sẽ thành công.
Và ngay cả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, Mỹ cũng đã bước đầu thành công trong việc khuyến khích chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng Các nguồn năng lượng thay thế được nghiên cứu và phát triển, các công cụ và phương tiện được cải tiến theo hướng tiết kiệm xăng dầu đã ra đời hàng loạt
• Thông tin và quản lý tốt hơn Một thực tế là các nhà hoạch định chính sách chủ yếu trong nền kinh tế, từ Fed cho tới từng ông chủ doanh nghiệp ở Mỹ, đang ngày càng tỏ ra minh bạch và dễ dự báo hơn.
Vì thế, bao nhiêu lần tăng lãi suất của Fed đều được các nhà kinh tế và báo chí dự báo trước với độ chính xác lên tới từng ngày Từ đầu năm người ta
đã biết Fed sẽ tăng lãi suất bao nhiêu lần và mỗi lần lên mấy điểm phần trăm.
Các doanh nghiệp cũng vậy: doanh thu, lợi nhuận và tất cả những biến động liên quan tới tình hình làm ăn của công ty đều được đưa lên mặt báo Nhiều doanh nghiệp còn chủ động thông báo trực tiếp tới công chúng và những nhà đầu tư.
Việc truyền tải thông tin tốt hơn, cải cách phương pháp quản trị hành chính
và quản trị doanh nghiệp tiên tiến, minh bạch và dễ dự báo đã góp phần làm nền kinh tế này đi đúng hướng mà đa số mong muốn.
• Thị trường linh hoạt hơn Chính Cựu Giám đốc Fed, huyền thoại Alan Greenspan, đã hơn một lần nói thẳng rằng phá cách một vài quy tắc cũ của kinh tế thị trường là nhân tố cốt lõi giúp nền kinh tế Mỹ chịu đựng và vượt qua được các cú sốc lớn.
Chẳng hạn, về nguyên tắc, linh hoạt trên thị trường lao động đồng nghĩa với việc lao động nhàn rỗi sẽ xuất hiện khá nhiều, trái với mong muốn của giới chủ.
Song về tổng thể, điều đó giúp tạo ra một lực lượng lao động lớn đủ sức đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn bất ngờ và giữ cho tình trạng thất nghiệp ở mức thấp.
Những sự linh hoạt kiểu phá cách đó ít ai dám áp dụng cho đến nay, trừ Mỹ.
• Không ngừng áp dụng các công cụ tài chính mới Fed cho rằng việc áp dụng một số công cụ tài chính mới nhằm phân tán rủi ro đã tạo ra một hệ thống tài chính linh hoạt hơn, hiệu quả hơn và trơn tru hơn hệ thống được các nước coi là chuẩn đã tồn tại cả 1/4 thế kỷ qua.
Trang 11Theo đó, các công cụ tài chính mới như Giao ước nợ phụ (Collaterized Debt Obligations), Tín dụng phái sinh (Credit & Climate Derivatives), Hệ thống đan xen tài chính (Netting Networks) và rất nhiều sáng kiến khác có thể làm thay đổi nền kinh tế.
Các công cụ này đang đặt ra nhiều cơ hội nâng cao năng lực quản lý tài chính cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm và doanh nghiệp
Thế hệ những công cụ tài chính đầu tiên đã được phổ biến rộng khắp và hữu ích cho những nhà quản lý tài chính, những giám đốc ngân hàng, hay các công ty bảo hiểm.
Hầu hết các khái niệm, công cụ và sản phẩm đó đều đã được chính quyền Mỹ đơn giản hoá, thay đổi và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như năng lực của các mạng lưới ngân hàng.
Chính điều này đã cho phép các nhà quản trị tài chính mở rộng mạng lưới
và nâng cao thị phần.
• Nâng cao năng suất lao động Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của lực lượng lao động trong những năm gần đây đã cho phép nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mà không sợ lạm phát quá mức.
Bên cạnh đó, bằng những chương trình tổng thể và cụ thể, nước Mỹ đã nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng và bồi dưỡng trình độ đáng kể cho lực lượng lao động vốn đã được xếp vào hàng chuyên nghiệp nhất thế giới Một khi các phát minh mới liên tục ra đời cùng với việc năng suất lao động tăng cao,sẽ tạo ra tăng trưởng của từng doanh nghiệp, qua đó dẫn tới tăng trưởng kinh tế chung, là điều tất yếu.
Nền kinh tế Mỹ trong năm 2011 gặp muôn vàn khó khăn khi chứng kiến tốc
độ phục hồi hết sức chậm chạp Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới này nhích từng bước
“nặng nề” với chỉ số lần lượt của 3 quý đầu năm là 0,4%, 1,3% và 1,8% Bước sang quý IV, GDP chưa đạt 3% Những con số đáng ngại đó đã khiến Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) liên tục phải hạ mức dự báo tăng trưởng của Mỹ
và đến cuối năm định chế này quyết định để mức GDP của Mỹ ở mức 1,5% Chỉ số lạm phát trong năm qua của Mỹ được kiềm chế và duy trì ở mức trên 3%, tháng 11/2011 ở mức 3,4%, thấp hơn mức 3,9% trong tháng 9/2011.
Để kiềm chế lạm phát, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho biết vẫn tiếp tục duy trì mức lãi suất ngân hàng từ 0% tới 0,25%.
Theo một cuộc thăm dò do tờ Business Insider tiến hành cho thấy, 77% các doanh nghiệp của Mỹ không có kế hoạch thuê thêm lao động Số việc làm tại
Mỹ đang ít hơn so với thời điểm năm 2000 trong khi dân số đã tăng thêm 30
Trang 12triệu người Kết thúc năm 2011, Mỹ vẫn “loay hoay” trong việc tìm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Trước thực trạng thất nghiệp cao, Tổng thống Barak Obama đã công bố kế hoạch giải quyết nạn thất nghiệp và kích thích tiêu dùng trị giá tới 447 tỷ USD, bao gồm giảm mức thuế thu nhập cá nhân
và tăng đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, kết quả đạt được chẳng đáng là bao.
Ba chỉ số chính trên thị trường chứng khoán Mỹ – vốn được coi như “hàn thử biểu” phản ánh kinh tế - là Down Jones, S&P 500 và Nasdaq cũng chỉ tăng nhẹ và không tăng trưởng Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp, thước đo sức khỏe của nền kinh tế Mỹ, luôn dao động quanh mức 9%, đã trở thành một vấn đề làm nước Mỹ “đau đầu” Mặc dù tỷ lệ này có giảm xuống chút ít (8,6%) vào tháng 11/2011 nhưng không đủ để để vực dậy nền kinh tế vốn đang trì trệ Năm 2011, nền kinh tế Mỹ tạo ra trung bình 131.000 việc làm/tháng nhưng nước này phải cần thêm khoảng 250.000 việc làm/tháng mới có thể đưa tỷ lệ thất nghiệp quay trở lại mức trước suy thoái kinh tế là 6%/năm Đội quân thất nghiệp lâu dài không kiếm được việc làm tại Mỹ trong năm qua vẫn duy trì ở mức 315.000 người.
Trên thị trường nhà đất - một động lực quan trọng thúc đẩy GDP Mỹ tăng trưởng – trong năm 2011 vẫn ảm đạm khi giá nhà đất sụt giảm và trở về mức 8 năm trước đây, quí III/2011 sụt giảm 3,7% Chủ tịch FED Ben Bernanke đã từng phát biểu rằng, tỷ lệ thất nghiệp cao, giá nhà đất sụt giảm chẳng những đã kéo tăng trưởng GDP chậm lại mà hiện đang trở thành căn bệnh kinh niên Ông Bernanke cho biết, mặc dù Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực nhưng thị trường nhà đất và tỉ lệ thất nghiệp vẫn không chuyển biến tốt.
Năm 2011, thế giới đã phải “nín thở” theo dõi những tranh cãi căng thẳng
và gay cấn giữa hai Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa về việc nâng trần nợ công tại nước này Cuối cùng, Tổng thống Barak Obama và các nhà lãnh đạo Quốc hội cũng đạt được thỏa thuận nâng trần nợ công lên mức 2,4 nghìn tỷ USD, đổi lấy việc cắt giảm chi tiêu 917 tỷ USD trong 10 năm tới kèm theo chương trình cắt giảm thâm hụt ngân sách 1,5 nghìn tỷ USD thông qua cải cách thuế và cắt giảm các chương trình phúc lợi xã hội Trong năm tài khóa
2011, ngân sách Liên bang Mỹ đã thâm hụt gần 1,3 nghìn tỷ USD, đánh dấu năm thứ 3 liên tục có mức thâm hụt trên 1 nghìn tỷ USD Nhiều chuyên gia hài hước so sánh, nếu tỷ phú Bill Gates tặng hết tài sản cho Chính phủ Mỹ thì nước này cũng chỉ khắc phục được tình trạng bội chi trong vòng có 15 ngày Các con số thống kê cho biết, Chính phủ Mỹ hiện đang gánh tổng số nợ trên
15 nghìn tỷ USD Tính từ đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Obama, nợ quốc gia
Trang 13của Mỹ tăng trung bình 4 tỷ USD/ngày Nếu Mỹ bắt đầu trả nợ công với tốc
độ 1USD/giây thì nước này mất 440.000 năm để trả xong món nợ khổng lồ này.
Năm 2011, lần đầu tiên trong vòng 70 năm, xếp hạng tín dụng của Mỹ bị cơ quan xếp hạng tín dụng quốc tế Standard & Poor (S&P) hạ từ mức AAA xuống AA+, kèm theo triển vọng đánh giá tiêu cực Đây được cho là cú sốc lớn giáng vào hệ thống ngân hàng, tài chính cũng như nền kinh tế Mỹ S&P còn nhấn mạnh, nếu Chính phủ Mỹ không thể đạt mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách trong hai năm hoặc xuất hiện cuộc khủng hoảng tài chính mới thì
có thể bị xem xét hạ bậc xếp hạng tín dụng một lần nữa Các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ cho biết, việc nước này bị S&P hạ bậc xếp hạng tín dụng đã làm xói mòn hơn niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào nền kinh tế số 1 thế giới này Không những thế, các hãng xếp hạng tín dụng khác
là Fitch và Moody’s cũng đe dọa sẽ hạ mức tín dụng của Mỹ nếu nước này không đạt được mục tiêu cắt giảm thâm hụt ngân sách trong những năm tới.
Và mặc dù bối cảnh kinh tế trong nước chẳng có gì sáng sủa nhưng Mỹ vẫn phải “chung tay” giải cứu Eurozone vốn đang đắm chìm trong cuộc khủng hoảng được coi là tồi tệ nhất kể từ khi đồng tiền chung châu Âu ra đời cách đây 12 năm Hơn ai hết, Mỹ nhận thức được nguy cơ sẽ đến với nền kinh tế nước này nếu cuộc khủng hoảng tại Eurozone tiếp tục xấu đi Hiện Mỹ nắm giữ khoảng 1.800 tỷ USD trái phiếu của các nước EU đang bị chìm trong khủng nợ công và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP kinh tế Mỹ (giảm 1%) Tổng thống Mỹ Barak Obama đã từng phát biểu “Vấn đề này có tầm quan trọng lớn đối với nền kinh tế của chúng ta Nếu kinh tế châu Âu suy thoái hoặc gặp khó khăn, chúng ta sẽ còn gặp khó khăn hơn trong việc tạo công ăn việc làm ở trong nước”.
Triển vọng năm 2012 - bức tranh mờ mịt
Tất cả những nhân tố đã nêu ở trên cho thấy, trong năm 2012, nền kinh tế
Mỹ chưa thể khởi sắc và có thể vẫn dậm chân tại chỗ Nhiều định chế tài chính cũng liên tục hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2012 Cuối tháng 9, IMF điều chỉnh hạ mức dự báo tăng trưởng năm 2012 của Mỹ từ 2,7% xuống còn 1,8% Đầu tháng 11, FED dự báo tăng trưởng GDP năm
2012 của Mỹ tương đối lạc quan hơn IMF như có thể đạt mức từ 2,5% tới 2,9% Tuy nhiên, giữa tháng 12, FED đã phải thừa nhận rằng do kinh tế toàn cầu còn nhiều nhân tố không xác định, nên tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2012 không thể lạc quan và đang bị thách thức nghiêm trọng Theo FED, nếu tình hình kinh tế thế giới tiếp tục xấu đi thì khả năng sử dụng biện
Trang 14pháp mới có thể là sự lựa chọn của Mỹ Một số chuyên gia phân tích dự đoán, Mỹ có thể áp dụng biện pháp giảm lãi suất Quỹ dự phòng hoặc sử dụng gói kích cầu mới (mang tên biện pháp nới lỏng định lượng QE3) vào nửa đầu năm 2012 Hãng tin kinh tế Bloomberg thì dự đoán tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2012 ở mức 2,1% và tăng lên 2,5% trong năm 2013 Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tại Eurozone khiến kinh tế “lục địa già” chắc chắn rơi vào suy thoái trong năm 2012 cũng đe dọa sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế Mỹ Chuyên gia kinh tế phố Wall Ethan Harris, Trưởng Bộ phận nghiên cứu kinh tế thuộc Ngân hàng Bank of America Merrill Lynch, nhận định rằng, sự suy thoái kinh tế tại châu Âu trong nửa đầu năm tới là điều gần như không thể tránh khỏi Hai yếu tố gồm cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và những vấn đề tài chính trong chính nội bộ nước Mỹ sẽ khiến hoạt động thương mại của Mỹ và lòng tin của giới đầu tư bị tổn thương nghiêm trọng Không những thế, các chính sách “thắt lưng buộc bụng” mới trị giá khoảng 1,5% GDP của Mỹ cũng góp phần hạn chế tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới vào đầu năm tới Cho dù kinh
tế Mỹ dường như đã lấy lại sức tăng trưởng trong thời gian cuối năm, song nhiều khả năng nước này sẽ tiếp tục chứng kiến kinh tế suy giảm vào năm 2012.
Nền kinh tế nước này hiện không tạo ra đủ nhiều việc làm cần thiết để giúp giảm mạnh tỷ lệ thất nghiệp và giúp cho nhu cầu phục hồi Mặc dù tháng 11/2011, thất nghiệp tại Mỹ giảm xuống 8,6% nhưng thực chất không phải
do có nhiều việc làm được tạo ra mà là do nhiều người cảm thấy chán nản nên ngừng tìm kiếm việc làm Nếu tính nhóm người này vào lực lượng lao động thì tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ sẽ là trên 9,6% Và nếu cộng cả nhóm làm việc bán thời gian thì tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ có thể lên đến 15% Yếu tố này cộng với kịch bản đồng euro sụp đổ sẽ gây ra những hậu quả khôn cùng cho Mỹ.
Xem ra, triển vọng kinh tế của đầu tàu thế giới trong năm 2012 còn rất mờ mịt, ngay cả với những người lạc quan nhất Chúng ta đều biết, kinh tế Mỹ đóng vai trò rất lớn vì nước này vừa là nhà nhập khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, vừa giữ vai trò quan trọng trong các giao dịch tài chính quốc tế Vì vậy, bất kỳ sự tăng trưởng hay tuột dốc của nền kinh tế này sẽ tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới Nó không chỉ ảnh hưởng đến trao đổi thương mại toàn cầu, giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu thô mà còn tác động đến niềm tin vào thị trường tài chính cũng như nhiều yếu tố khác.
Một dấu hiệu khác của thời kỳ suy thoái kinh tế là tình trạng thất nghiệp Tỷ
lệ thất nghiệp nhiều khả năng tăng từ mức hiện tại là 6,7% lên mức 9%
Trang 15trong năm 2009 hoặc đầu năm 2010.
Nếu thực tế đúng như vậy, tỷ lệ thất nghiệp này sẽ gấp đôi so với mức 4,4% vào tháng 12/2006 Điều này không xảy ra trong hai thời kỳ suy thoái trước đây.
Năm 2012, kinh tế Mỹ dự kiến tăng trưởng ở mức 2,2-2,7%; tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm xuống mức trước khủng hoảng 6,8%- 7%; tỷ lệ lạm phát khoảng 1,8%; thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai sẽ giảm trước khi trở lại mức gần bằng thâm hụt tiền khủng hoảng vào năm 2015 Các công ty Mỹ
sẽ tiếp tục dẫn đầu các tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là máy tính, thiết bị
y tế, hàng không vũ trụ và quân sự Tổng thương mại của Mỹ sẽ tiếp tục đạt mức lớn nhất thế giới, trong đó dẫn đầu thế giới về nhập khẩu và tiếp tục là một trong 3 nước hàng đầu về xuất khẩu Trên lĩnh vực đối ngoại, song song với kế hoạch tiếp tục cuộc chiến ở Ápganixtan, Mỹ sẽ đẩy mạnh chính sách can dự toàn diện khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt ở Đông Nam Á,
để ngăn chặn ảnh hưởng và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc; tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đàm phán với Nga về chương trình cắt giảm vũ khí thông thường và phòng thủ tên lửa; thú trọng duy trì sự ổn định ở khu vực Trung Đông; ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran và Bắc Triêu Tiên.
Câu 3: Phân tích thực trạng kinh tế Nhật Bản từ 1983 đến nay?
TL: GDP bình quân đầu người của Nhật Bản (theo ngang giá sức mua) trong năm 1950 bằng 20 của Mỹ, tăng lên 90% so với Mỹ và năm 1990 Nhưng điều này đã thay đổi nhanh chóng Năm 2010, GDP bình quân đầu người của Nhật giảm xuống còn 76% so với Mỹ trong khi GDP bình quân đầu người của Trung Quốc bằng 3% GDP của Mỹ vào năm 1978 và tăng lên 20% GDP của Mỹ trong thời điểm hiện tại.
Thập kỷ mất mát là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt thập kỷ 1990 Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào những năm 1990-1991, tốc
trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật Bản
so với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm.Từ khi Nhật Bản thực hiện Các biện pháp tạm thời ổn định các ngành đặc biệt khó khăn vào năm 1988, ngay năm đó mức tăng TFP chỉ ở mức vô cùng thấp 0,64% Ba năm trước đó, mức tăng TFP là 2,5%/năm, thế mà sáu năm sau đó, mức tăng chỉ còn là 2,18%/năm.
Văn phòng Nội các Nhật Bản cho biết tổng sản phẩm quốc nội của nước này
đã giảm 0,9% trong ba tháng 1-3/2011, khiến tăng trưởng của cả tài khóa
Trang 16(kết thúc vào tháng 3) ở mức âm 3,7%, bi quan hơn nhiều so với dự báo Trước đó, đa số các nhà phân tích đều cho rằng tăng trưởng cả năm của Nhật chỉ giảm 2%.
Đây cũng là quý thứ hai liên tiếp kinh tế Nhật tăng trưởng âm, đủ "điều kiện" để rơi vào tình trạng suy thoái Bộ trưởng Kinh tế Nhật Kaoru Yosano cho biết: “Dự báo kinh tế Nhật vẫn tiếp tục yếu kém trong thời gian tới.” Đáng lo ngại nhất trong các số liệu kinh tế mới công bố là sức tiêu dùng giảm 0,6%, do mọi người đều cắt giảm chi tiêu từ sau trận động đất Sức tiêu dùng vốn đã trùng xuống trong quý IV/2010, nhưng trận động đất hồi tháng 3 càng khiến tình hình tồi tệ hơn Theo Văn phòng Nội các Nhật Bản, chỉ số lòng tin của người tiêu dùng cũng giảm mạnh trong tháng 4 Trong
cơ cấu kinh tế Nhật, tiêu dùng cá nhân đóng góp tới 60%.
Yếu tố lớn thứ hai trong nền kinh tế Nhật là thương mại Năm 2009, xuất khẩu chiếm 13,5%, còn nhập khẩu chiếm 12,7% tổng sản phẩm quốc nội của nước này Trận động đất và sóng thần kinh hoàng đã gây ra thiệt hại nặng
nề cho ngành xuất khẩu Trong khi đó, chi phí nhập khẩu lại tăng do giá cả hàng hóa đăt đỏ hơn Trong tháng 3, thặng dự thương mại của Nhật giảm 34,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo BBC, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản sẽ có một cuộc họp trong hai ngày 19 và 20/5 bàn về chính sách tiền tệ Giới phân tích cho rằng họ sẽ duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng Kể từ trận động đất hồi tháng 3, ngân hàng này đã bơm hàng tỷ USD vào hệ thống tài chính nhằm bình ổn nên kinh tế.
Dự báo BOJ sẽ tiếp tục giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục từ 0,0% đến 0,1% nhằm kích thích nền kinh tế.
Nền kinh tế Nhật vẫn hoạt động tốt chứ không bi quan như nhiều người lầm tưởng Thay vì nhìn vào Trung quốc, nếu so sánh với Mỹ hay châu Âu, Nhật Bản sẽ cảm thấy phấn khởi cải cách để giải quyết khó khăn hiện tại.
"Thập kỷ mất mát" nhưng không mất mát
Nước Nhật cho rằng họ đang mắc phải một căn bệnh kinh tế với tên gọi "bi quan về cấu trúc" Nếu quan sát, ta cũng có thể thấy một xu hướng rằng nước Nhật giống như một điểm báo trước những gì sẽ diễn ra đối với nền kinh tế Mỹ và châu Âu - mặc dù những dữ liệu kinh tế mới được công bố vào ngày 14/11 vừa qua cho thấy nền kinh tế Nhật vẫn tăng trưởng 6% trong quý III, phục hồi nhanh chóng từ sau thảm họa sóng thần và hạt nhân hồi tháng 3.
Nhìn vào những gì mà nền kinh tế Nhật đã thể hiện trong mười năm qua Mặc dù được gọi là "thập kỷ mất mát thứ hai" nhưng thực tế không quá bi
Trang 17quan như vậy Hầu hết những vấn đề của Nhật Bản hiện tại đến từ dân số già - khi một nửa dân số có độ tuổi trên 45, và các chính sách mà chính phủ Nhật sử dụng để đối phó với nó Và dù phải đối mặt với những khó khăn như vậy, hầu hết người Nhật vẫn trở nên giàu có hơn trong vòng 1 thập kỷ qua Tổng thể, nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng với tốc độc bằng một nửa của
Mỹ trong giai đoạn từ 2001 đến 2010 Tuy nhiên, khi đánh giá tăng trưởng GDP trên đầu người trong giai đoạn này, Nhật Bản tỏ ra vượt trội hơn so với Mỹ và khu vực đồng tiền chung châu Âu Đó là bởi dân số của Nhật đã giảm đi trong khi dân số Mỹ lại tăng lên.
Tăng trưởng trong năng suất lao động của Nhật giảm nhẹ so với Mỹ trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008, nhưng chỉ số TFP (total factor productivity), chỉ số để tính một quốc gia sử dụng vốn và nhân công như thế nào, lại tăng nhanh hơn Tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật cao hơn so với thời điểm năm 2000, nhưng vẫn chỉ bằng một nửa so với mức của Mỹ và châu Âu Bên cạnh nỗi lo ngại về sự trì trệ, còn hai vấn đề khác của nền kinh tế Nhật thường được nhắc đến đó là tỉ lệ nợ và giảm phát Tuy nhiên, những yếu tố này có thể đã bị phóng đại Nhiều người cho rằng Nhật Bản là một quốc gia mắc nợ Thực tế, đây là chủ nợ lớn nhất thế giới, khi sở hửu tới 253 nghìn tỉ yên (3,3 nghìn tỉ USD) tài sản nước ngoài.
Thực sự, chính phủ nước này là một con nợ lớn, khi nợ ròng chia theo GDP đứng ở mức cao nhất trong nhóm các quốc gia thuộc OECD Tuy nhiên, theo IMF, các khoản nợ công đã được tích lũy không phải là những khoản chi tiêu lãng phí và vô ích, mà dùng để chống lại sự già đi của dân số Chi phí bảo đảm an ninh xã hội tăng gấp đôi trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010 để dùng vào việc trả lương hưu và tăng cường chăm sóc sức khỏe Trong khi đó các khoản thuế lại bị thu hẹp.
Việc nguồn thu từ thuế bị giảm thực sự là một vấn đề Nhưng bất chấp điều này, Nhật Bản hiện vẫn là quốc gia có một mức thuế thấp nhất trong OECD, chỉ chiếm 17% GDP Điều này giúp Nhật có nhiều phương án hơn khi cần vận động giải quyết vấn đề Takatoshi Ito, nhà kinh tế học tại Đại học Tokyo cho biết, nếu mức thuế tiêu thụ được tăng lên 20% - ngang hàng với các quốc gia châu Âu, thay vì 5% như thời điểm hiện tại, ngay lập tức sẽ giúp Nhật Bản cắt giảm được 50 nghìn tỉ yên thâm hụt ngân sách.
Việc tăng thuế là một giải pháp khắc nghiệt Và vấn đề dân số lại đóng một vai trò quan trọng Các giới chức nói rằng người già không muốn các khoản thuế cao hơn hay cắt giảm trợ cấp của mình, còn những ngươi trẻ tuổi, hiện chiếm một tỉ lệ nhỏ trong dân số, lại không đủ quyền lực chính trị để thúc
Trang 18David Weinstein, giáo sự về kinh tế Nhật Bản tại Đại học Columbia, New York cho biết người lớn muốn cho tiền cho con cái của mình hơn là tính chúng vào trong các khoản thuế Điều này có nghĩa là những khoản trợ cấp
có thể bị cắt giảm trong tương lai "Nếu muốn trợ cấp tăng cùng với thu nhập, cần phải tăng mạnh mức thuế lên thêm 10% GDP", ông nói.
"Vấn đề dân số cũng là nguyên nhân của tình trạng giảm phát tại Nhật", ông này cho hay.
Mặc dù vậy, trong ngắn hạn, nền kinh tế Nhật Bản có tể giải quyết tốt tình trạng dân số già hiện nay Nhưng nếu khủng hoảng kinh tế xảy ra, thì không
có gì đảm bảo cho điều này Các nhà kinh tế học cho rằng có nhiều cách để tăng tốc độ tăng trưởng tiềm năng của Nhật, cũng như làm giảm gánh nặng nợ nần của mình.
NCEIF - Tháng 5/2011, tình hình kinh tế Nhật Bản vẫn ảm đạm đặc biệt là sau khi các chỉ tiêu kinh tế của trong quý 1/2011 của nước này được chính thức công bố Số liệu từ Văn phòng nội các Nhật Bản cho thấy, GDP của nước này trong quý I/2011 đã giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu trong tháng 3/2011 đã suy giảm nghiêm trọng, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2010, trong khi nhập khẩu tăng 16,6% Điều này khiến thặng
dư thương mại giảm mạnh tới 78% so với cùng kì năm trước Xuất khẩu ròng giảm bởi thảm họa động đất sóng thần gây gián đoạn chuỗi cung ứng sản phẩm và khiến các công ty xuất khẩu Nhật Bản không chuyển được hàng ra nước ngoài Ngoài ra, hiện tượng rò rỉ phóng xạ tại nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima khiến nhiều nước tạm thời ngừng nhập khẩu hàng của Nhật Bản Thặng dư tài khoản vãng lai tháng 3/2011 mặc dù tăng so với tháng 2/2011, ở mức 1.679 tỷ Yên (20,7 tỷ USD) từ mức 1.641 tỷ Yên trong tháng 2/2011, song nếu so với thặng dư thương mại trong tháng 3/2010 thì lại giảm 34%.
Khu vực dịch vụ của Nhật Bản trong tháng 3/2011 giảm sút mạnh nhất trong 22 năm, do ảnh hưởng của thảm họa động đất ngày 11/3, khiến mọi hoạt động kinh tế bị gián đoạn Theo báo cáo của Bộ Kinh tế, Thương mại
và Công nghiệp Nhật Bản, chỉ số công nghiệp dịch vụ giảm 6%, từ 99,5 điểm trong tháng 2/2011 xuống 93,5 điểm trong tháng 3/2011 Đây là mức sụt giảm lớn nhất kể từ tháng 4/1989, khi Nhật Bản bắt đầu đưa ra thuế bán hàng, dẫn đến sự sụt giảm 6,2% trong lĩnh vực dịch vụ Các dịch vụ bán lẻ và bán hàng, y tế, ngân hàng và bảo hiểm đều sụt giảm đáng kể Chỉ số bán buôn và bán lẻ giảm 8,9%, trong khi ngành công nghiệp vận tải giảm 6,5% Tiêu dùng tư nhân chiếm gần 60% nền kinh tế Nhật Bản, đã sụt giảm
khoảng 0,6% khi người dân cắt giảm chi tiêu sau động đất.
Trang 19Một loạt các công ty công bố sự suy giảm lãi ròng do những ảnh hưởng sau thảm họa kép tại nước này Hãng sản xuất xe hơi hàng đầu Toyota đã thông báo lãi ròng của hãng trong quý IV tài khoá kết thúc vào cuối tháng 3/2011 giảm 77%, đồng thời cảnh báo hoạt động sản xuất của hãng sẽ chưa thể hoạt động đầy đủ vào trước cuối năm 2011 Toyota cũng cho biết lợi nhuận kinh doanh của hãng trong tháng 3/2011 đã giảm 110 tỷ Yên Honda cũng công bố mức lãi ròng của hảng giảm 38% trong quý 1/2011 Nissan là công
ty duy nhất trong 3 nhà chế tạo ô tô lớn nhất của Nhật Bản đạt tăng trưởng lợi nhuận ròng trong quý cuối tài khoá này, Đặc biệt công ty cung cấp điện Tokyo (Tepco) đã thua lỗ tới 1,25 nghìn tỷ Yên, tương đương khoảng 15 tỷ USD, mức thua lỗ cao chưa từng có đối với một công ty không thuộc lĩnh vực tài chính của Nhật Giá trị thị trường của Tepco đã sụt tới 2,9 nghìn tỷ Yên Các số liệu kinh tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đã sụt giảm nhiều hơn so với dự đoán khoảng 2% Tăng trưởng kinh tế đã sụt giảm 0,9% trong quý 1 so với dự đoán 0,5% Trận động đất đã khiến chỉ số niềm tin của tiêu dùng Nhật Bản giảm xuống còn 33,1% trong tháng Tư Mức độ dưới 50 phản ánh sự bi quan của người tiêu dùng đối với nền kinh tế.
Đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng, theo số liệu từ ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), trong tháng 4/2011 mức dư nợ của các ngân hàng Nhật Bản giảm 0,9% so với cùng kì năm trước, đánh dấu tháng 17 liên tiếp hoạt động tín dụng ngân hàng suy giảm Các số liệu cho thấy, các khoản vay ngân hàng trong tháng 4/2011 cũng giảm xuống còn 458.187 tỷ Yên (5.650 tỷ USD) Cung tiền M2 tăng 2,7% lên 796.800 tỷ Yên Cung tiền M3 (bao gồm tiền tệ trong lưu thông, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ gần như tiền) tăng 2,1% trong tháng 4/2011, cao hơn mức tăng 1,9% trong tháng 3/2011 Nguyên nhân là do Chính phủ phát hành thêm trái phiếu để lấy tiền trang trải chi phí an sinh xã hội đang ngày càng tăng.
Như vậy, tính đến thời điểm kết thúc tài khoá 2010 (ngày 31/3 vừa qua), nợ công Nhật Bản đã đạt mức kỷ lục 924.000 tỷ yên (hơn 11.000 tỷ USD Bộ Tài chính Nhật Bản dự báo nợ công của nước này sẽ đạt ngưỡng 12.000 tỷ USD vào cuối tài khóa hiện tại (tháng 3/2012) vì Chính phủ có thể sẽ phải phát hành trái phiếu để tài trợ cho dự thảo ngân sách bổ sung lần thứ hai nhằm phục vụ công tác tái thiết sau thảm họa động đất-sóng thần diễn ra hôm 11/3 Ngày 15/5/2011, tổ chức đánh giá tín nhiệm Standard & Poor's (S&P)
đã hạ triển vọng nợ công của Nhật Bản từ “ổn định” xuống “tiêu cực” Mặc
dù S&P vẫn giữ nguyên xếp hạng tín dụng dài hạn của Nhật Bản ở mức AA-, song cảnh báo về khả năng tiếp tục hạ trong tương lai.
Trong một thông cáo, S&P dự tính chi phí khắc phục thảm họa kép ngày 11/3, kéo theo đó là cuộc khủng hoảng hạt nhân, có thể lên tới 50.000 tỷ yên
Trang 20(613 tỷ USD), khiến thâm hụt tài chính của Nhật Bản tăng cao hơn dự tính trước đây cho giai đoạn từ nay tới năm 2013 Nếu nguồn thu của Chính phủ Nhật Bản không tăng lên, những chi phí này có thể khiến thâm hụt ngân sách tăng thêm 2% trong năm 2011 và 1% trong năm 2012 và tổng mức thâm hụt ngân sách sẽ tiếp tục đứng ở trên ngưỡng 8% GDP từ nay cho đến năm 2014 S&P cho rằng mức chi tiêu khổng lồ dành cho tái thiết sẽ làm suy yếu khu vực tài chính công của Nhật Bản, trừ phi các chính trị gia nước này nhất trí thực thi các biện pháp tăng ngân sách, như tăng thuế.
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, Nhật Bản còn phải đương đầu với tình hình chính trị căng thẳng khi tỷ lệ ủng hộ rất thấp dành cho Thủ tướng Kan
và đảng cầm quyền (81% cử tri và 75% các nhà lãnh đạo địa phương không tán đồng cách lãnh đạo hiện nay) Giống như Mỹ, chính phủ Nhật Bản có khả năng sẽ phải đối mặt với nguy cơ giải thể nội các vào tháng 7 tới một khi nguồn thu cạn kiệt; và rất có thể một lượng trái phiếu ngắn hạn trị giá 20.000 tỷ Yên sẽ được phát hành theo phương thức đặc biệt để trang trải các khoản chi của chính phủ.
(ĐCSVN) – Ngày 12/4, Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục nhận định rằng nền kinh tế nước này đang dần hồi phục Ngoài ra, xuất khẩu của Nhật Bản đã
có những dấu hiệu khả quan, khi cường độ các lô hàng ra nước ngoài có những dấu hiệu ổn định với nhu cầu từ Mỹ, châu Á gia tăng.
Trong báo cáo tình hình kinh tế tháng 4, Chính phủ Nhật Bản cho biết giá cả tiêu dùng đã giảm đáng kể Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát nhẹ.
Văn phòng Nội các cho biết: “Nền kinh tế Nhật Bản hiện đang trên đà hồi phục, cho dù vẫn phải đối mặt với nhiều hậu quả từ trận động đất-sóng thần hồi tháng 3/2011".
Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) cũng chia sẻ nhận định này, khi công bố vào hôm 10/4 rằng kinh tế Nhật đang có những dấu hiệu tăng trưởng.
Lần đầu tiên kể từ tháng 8 năm ngoái, xuất khẩu của Nhật Bản đã trở lại đà tăng trưởng Trước đó, tình hình xuất khẩu đã bị đánh giá là suy yếu.
Sản lượng xuất khẩu trên cơ sở điều chỉnh theo mùa ở mức 98,3 (so với mức
100 của năm 2005 – năm được lấy làm mốc chuẩn để đánh giá) trong tháng
2, mức cao nhất sau mức 102,3 được ghi nhận trong tháng 9/2011 Ngoài
ra, sản lượng tháng 3 tăng 7%, mức tăng mạnh nhất trong vòng 10 năm.
Trang 21Nhật Bản đã công bố thặng dư thương mại lần đầu sau 5 tháng vào hồi tháng 2, nhờ vào những giao dịch với Mỹ.
“Sự phục hồi vừa phải trong nền kinh tế Mỹ, cùng với giao dịch giữa Nhật Bản và châu Á đã tăng trưởng trở lại, đã có những tác động tích cực lên nền kinh tế Nhật Bản Chưa kể việc xuất khẩu sang châu Âu cũng có tín hiệu tốt,” ông Minoru Masujima, Giám đốc phân tích kinh tế vĩ mô của Văn phòng Nội các, cho biết.
Với tình trạng tăng ít hoặc gần như không có trong giá cả tiêu dùng tại Nhật, Chính phủ Nhật dự kiến tình hình giảm phát nhẹ sẽ vẫn tiếp tục và coi mục tiêu đạt 1% lạm phát của BOJ như một giải pháp cần thiết Theo
đó, BOJ sẽ xem xét việc nới lỏng chính sách tiền tệ vào buổi họp bàn tới vào ngày 27/4 BOJ dự định sẽ thúc đẩy mua trái phiếu chính phủ trong chương trình đánh giá và mua tài sản trong khi họ cố gắng để đưa lạm phát tới mức mục tiêu.
Bên cạnh đó, bản báo cáo tình hình kinh tế tháng 4 cũng cho biết, nền kinh
tế Nhật được dự báo là sẽ phục hồi trong những tháng tới, nhưng vẫn còn những nguy cơ từ khủng hoảng nợ công của châu Âu, giá dầu tăng cao và lo ngại về nguồn cung năng lượng.
Câu 4: Phân tích thực trạng kinh tế Trung Quốc thời kì cải cách và mở cửa
từ 1973 đến nay?
TL: Trong bối cảnh Trung Quốc đánh giá lại thực trạng kinh tế yếu kém và cho rằng đất nước đang ở giai đoạn đầu của thời kì quá độ Theo Trung Quốc, giai đoạn này có thể kéo dài hơn 100 năm Đây là giai đoạn thực hiện các nhiệm vụ: CNH, Xã hội hóa, thương phẩm hóa và hiện đại hóa Bên cạnh
đó, Trung Quốc phê phán những tư tưởng tả khuynh trong cải cách xã hội chủ nghĩa trước kia Trung Quốc cũng cho rằng Mác có những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai khi lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao Nhưng với thực tiễn Trung Quốc khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp Trung Quốc chủ trương xây dựng Chủ Nghĩa Xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Trung Quốc thừa nhận tình trạng đóng của lâu ngày nền kinh tế và việc duy trì mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kéo dài gây trì trệ nền kinh tế
Nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ 3 trên thế giới nếu tính theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP danh nghĩa) Theo số liệu của Chỉnh Phủ tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 là 9% (GDP Trung Quốc năm 2008 là 4,42 nghìn
Trang 22tỷ USD) GDP bình quân đầu người danh nghĩa năm 2007 là 2.660 USD ( 5.300 USD nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP theo sức mua tương đương 7,099 nghìn tỷ USD, vẫn còn thấp so với rất nhiều nền kinh tế khác trên thế giới (thứ 104 trên 183 quốc gia năm 2007) Trong những năm gần đây, GDP bình quân đầu người Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tăng lên nhanh chóng nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao Năm 2005, 70% GDP của Trung Quốc là trong khu vực tư nhân Khu vực kinh tế quốc doanh chịu sự chi phối của khoảng 200 doanh nghiệp quốc doanh lớn, phần nhiều ở trong các ngành dịch vụ tiện ích (điện, nước, điện thoại ), công nghiệp nặng, và nguồn năng lượng.
Kể từ năm 1978 chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên
Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn duy trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Chế độ này được gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc", là một loại kinh
tế hỗn hợp Các cải cách quyết liệt từ những năm 1978 đã giúp hàng triệu người thoát nghèo, đưa tỷ lệ nghèo từ 53% dân số năm 1981 xuống còn 8% vào năm 2001 Để đạt được mục tiêu này, chính quyền đã chuyển đổi từ chế
độ hợp tác xã sang chế độ khoán đến từng hộ gia đình trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng quyền tự chủ của các quan chức địa phương và các thủ trưởng nhà máy, cho phép sự phát triển đa dạng của doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp nhẹ và mở cửa nền kinh tế để tăng ngoại hối
và đầu tư nước ngoài Chính phủ đã tập trung vào việc gia tăng thu nhập, sức tiêu thụ và đã áp dụng nhiều hệ thống quản lý để giúp tăng năng suất Chính phủ cũng đã tập trung vào ngoại thương như một đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế Trong khi tính chính xác của các số liệu do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công bố vẫn là đề tài gây tranh cãi, các quan chức Trung Quốc tuyên bố thành tựu của chính sách cải tổ là GDP đã tăng 10 lần
kể từ năm 1978 Nhiều nhà kinh tế quốc tế tin rằng tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Trung Quốc trên thực tế đã bị báo cáo giảm so với số liệu thực trong giai đoạn từ thập niên 1990 đến thập niên 2000, không phản ánh đủ sự đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vào sự tăng trưởng này Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia cho rằng phương pháp thống kê tăng trưởng kinh
tế của Trung Quốc là lạc hậu và làm cho con số tốc độ tăng trưởng cao hơn thực tế
Theo số liệu công bố ngày 17-1-2012 của Cục Thống kê nhà nước Trung Quốc, CPI tháng 12 tăng 4,1% so với cùng kỳ, giảm 0,1 điểm phần trăm so với tháng 11 Như vậy kể từ khi đạt mức kỷ lục 6,5% trong tháng 7, CPI đã