1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT

62 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc giáo dục môi trường trong trường phổ thông hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: học sinh chưa hứng thú với những nội dung mang tính lý thuyết về môi trường, kinh tế và xã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Văn Hiến

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 0

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC HÌNH 6

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 2

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4.Giả thuyết khoa học 2

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6.Phương pháp nghiên cứu 2

7.Phạm vi nghiên cứu 3

8.Điểm mới của đề tài 3

chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Bài tập hoá học [10, 18, 19] 6

1.2.1 Khái niệm bài tập hoá học 6

1.2.2 Tác dụng của bài tập hoá học 6

1.2.3 Phân loại bài tập hoá học 7

1.2.4 Xây dựng bài tập hóa học 7

1.2.4.1 Nguyên tắc 7

1.2.4.2 Chú ý khi cho bài tập 7

1.2.4.3 Xu hướng hiện nay 8

1.2.5 Phương pháp xây dựng bài tập hóa học 8

1.2.5.1 Tương tự 8

1.2.5.2 Đảo cách hỏi 8

1.2.5.3 Tổng quát 8

1.2.5.4 Phối hợp 8

1.2.6 Cách sử dụng bài tập Hoá học ở trường THPT 8

1.3 Vấn đề kinh tế, xã hội 9

1.3.1 Mối quan hệ của hóa học và vấn đề kinh tế, xã hội [13, 22] 9

1.3.2 Xu hướng phát triển hóa học trong nền kinh tế, xã hội [13] 11

1.3.3 Tầm quan trọng của hóa học trong nền kinh tế, xã hội [10,13,22] 14

1.4 Vấn đề môi trường 15

1.4.1 Khái niệm môi trường [7, 39] 15

1.4.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường [33] 17

1.4.3 Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường ở Việt Nam [28] 18

1.4.4 Các loại ô nhiễm môi trường [2,3] 19

1.4.5 Các biện pháp khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 20

1.4.6 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội [13] 21

1.5 Trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá 22

1.5.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan 22

1.5.2 So sánh trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận 24

1.6 Tình hình sử dụng bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT 25

chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THPT 31

2.1.Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT 31

2.1.1.Đảm bảo tính chính xác, khoa học 31

2.1.2.Hệ thống bài tập cần phong phú, đa dạng và xuyên suốt cả chương trình 31

Trang 3

2.1.3.Hệ thống bài tập cần khai thác mối liên hệ giữa hóa học với kinh tế, xã hội và môi

trường 31

2.1.4.Hệ thống bài tập cần phù hợp với kiến thức của học sinh THPT 32

2.1.5.Hệ thống bài tập phải hấp dẫn, gây hứng thú cho hoc sinh 32

2.2.Quy trình xây dựng bài tập về kinh tế, xã hội và môi trường 32

2.2.1.Bước 1 Tìm hiểu chương trình hoá học ở trường THPT 32

2.2.2.Bước 2 Tìm tài liệu tham khảo 32

2.2.3.Bước 3 Chọn tài liệu có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường 32

2.2.4.Bước 4 Tìm mối liên hệ giữa kiến thức hoá học THPT với vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường 32

2.2.5.Bước 5 Xây dựng hệ thống bài tập 33

2.2.6.Bước 6 Xin ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp về hệ thống bài tập 33

2.2.7.Bước 7 Hoàn thiện hệ thống bài tập 33

2.3.Hệ thống bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT 33

2.3.1.Bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong chương trình lớp 10 33

2.3.2.Bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong chương trình lớp 11 45

2.3.3.Bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong chương trình lớp 12 (lưu trong CD) 86

2.4.Thiết kế giáo án có tích hợp nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường 87

2.4.1.Giáo án bài “Phân bón hóa học” 87

2.4.2.Giáo án bài “Hoá học và vấn đề kinh tế” 92

2.4.3.Giáo án bài “Hoá học và vấn đề xã hội” 92

2.4.4.Giáo án bài “Hoá học và vấn đề môi trường” 92

2.4.5.Giáo án bài “Flo – Brom – Iot” 92

2.4.6.Giáo án bài “Cacbon” 93

2.4.7.Giáo án bài “Oxi – ozon” 93

chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 95

3.1.Mục đích thực nghiệm 95

3.2.Nhiệm vụ thực nghiệm 95

3.3.Đối tượng thực nghiệm 95

3.4.Tiến trình thực nghiệm 95

3.4.1.Chuẩn bị 96

3.4.1.1.Chọn giáo viên thực nghiệm 96

3.4.1.2.Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 96

3.4.1.3.Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm 97

3.4.2.Tiến hành hoạt động dạy học trên lớp 97

3.4.3.Xử lý kết quả thực nghiệm 97

3.5.Kết quả thực nghiệm 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109

1 Kết luận 109

2 Kiến nghị 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT : trung học phổ thông

TNKQ : trắc nghiệm khách quan

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Vai trò của bài tập hoá học 27

Bảng 1.2 Nguồn bài tập giáo viên sử dụng 27

Bảng 1.3 Mục đích sử dụng bài tập hoá học của giáo viên 28

Bảng 1.4 Mức độ cần thiết của hệ thống bài tập 28

Bảng 1.5 Mức độ kết hợp nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT 29

Bảng 1.6 Thống kê kết quả học học tập có sử dụng nội dụng về kinh tế, xã hội và môi trường 29

Bảng 1.7 Thống kê khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường 30

Bảng 1.8 Thống kê mức độ xây dựng bài tập hoá học có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường 30

Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 109

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thực nghiệm sư phạm 109

Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 1) 110

Bảng 3.4 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 2) 111

Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 3) 112

Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 4) 113

Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 5) 114

Bảng 3.8 Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 6) 115

Bảng 3.9 Phân loại kết quả học tập 115

Bảng 3.10 Tổng hợp các tham số đặc trưng 115

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Thùng chứa bột Chlorine 36

Hình 2.2 Hình dạng thuốc flocoumafen và công thức cấu tạo của flocoumafen 36

Hình 2.3 Mẩu thuốc nổ C4 chứa hexogen và mô hình phân tử hexogen 54

Hình 2.4 Bom thối xuất sứ từ Trung Quốc 61

Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích (bài 1) 110

Hình 3.2 Đồ thị đường luỹ tích (bài 2) 111

Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích (bài 3) 112

Hình 3.4 Đồ thị đường luỹ tích (bài 4) 113

Hình 3.5 Đồ thị đường luỹ tích (bài 5) 114

Hình 3.6 Đồ thị đường luỹ tích (bài 6) 115

Hình 3.7 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 1) 115

Hình 3.8 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 2) 116

Hình 3.9 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 3) 117

Hình 3.10 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 4) 118

Hình 3.11 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 5) 119

Hình 3.12 Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 6) 120

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường là vấn đề rất đáng lo ngại Do đó, trong chương trình hóa học phổ thông

đã lồng ghép các nội dung giáo dục môi trường, nhằm giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường từ khi còn ngồi trong ghế nhà trường Mục đích của Giáo dục môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng có những động lực và cam kết hành động dù với tư cách cá nhân hay tập thể để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh Bên cạnh đó hóa học còn là môn khoa học có mối quan

hệ mật thiết đến sự phát triển kinh tế và xã hội Sự phát triển của hóa học đi cùng với

sự phát triển của nền kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Do đó, nội dung việc giáo dục cho học sinh hiểu được tầm quan trong của hóa học trong sự phát triển kinh tế và

xã hội là một vấn đề không kém phần quan trọng

Tuy nhiên, việc giáo dục môi trường trong trường phổ thông hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: học sinh chưa hứng thú với những nội dung mang tính lý thuyết

về môi trường, kinh tế và xã hội, nhà trường chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất để ứng dụng nội dung giáo dục môi trường, kinh tế và xã hội trong các bài giảng trên lớp Với tầm quan trọng cũng như những khó khăn của giáo dục môi trường trong trường phổ thông tôi đã chọn đề tài “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC

VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” Nhằm mục đích xây dựng ý thức bảo vệ môi trường của các em học sinh đồng thời giúp cho học sinh thấy được mối quan hệ của hóa học trong sự phát triển

Trang 6

kinh tế và xã hội khi còn ngồi trên ghế nhà trường thông qua các bài tập trong từng

chương, từng bài của chương trình hóa học lớp 10, 11, 12

2.Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập hóa học có nội dung môi trường, kinh tế và xã hội

trong chương trình hóa học trung học phổ thông

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: hệ thống bài tập hoá học có tác dụng giáo dục môi

trường, kinh tế và xã hội cho học sinh THPT

- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học Hoá học ở trường THPT

4.Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống bài tập hoá học về kinh tế xã hội và môi trường

có thể giúp giáo viên dễ dàng hơn khi lồng ghép các kiến thức về giáo dục môi

trường, kinh tế và xã hội trong trường trung học phổ thông, nâng cao kết quả học tập

của học sinh

5.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những kiến thức về môi trường, kinh tế và xã hội có thể áp dụng

trong chương trình Hóa học trung học phổ thông

- Xây dựng hệ thống bài tập thuộc chương trình Hoá học THPT có nội dung giáo

dục môi trường, kinh tế và xã hội

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng

- Vận dụng kiến thức đo lường, đánh giá kết quả học tập để phân tích kết quả

thực nghiệm

6.Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận\

- Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp phân loại, hệ thống hoá

- Phương pháp lịch sử

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, điều tra

- Phương pháp chuyên gia: học hỏi kinh nghiệm của giáo viên có nhiều năm đứng lớp

- Về thời gian nghiên cứu: năm học 2010 – 2011

- Về nội dung nghiên cứu: Các bài tập trong chương trình hóa học trung học phổ thông

8.Điểm mới của đề tài

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm và tự luận có nội dung giáo dục môi trường, kinh tế và xã hội cho học sinh THPT

- Các câu hỏi cung cấp cho học sinh kiến thức và giúp học sinh hình thành ý thức vận dụng kiến thức hóa học trong sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường

- Giới thiệu một số giáo án có tích hợp nội dung giáo dục về mối liên hệ giữa hoá học với sự phát kiển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Vấn đề giáo dục kinh tế, xã hội và môi trường trong trường phổ thông đã được

nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể như sau:

1) Phạm Bích Cần (2007), thiết kế một số moodun giáo dục môi trường khai thác

từ sách giáo khoa hóa học lớp 10 nâng cao, sách giáo khoa hóa học thí điểm

ban khoa học tự nhiên lớp 11, 12, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

2) Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2004), giáo dục môi trường thông qua một số bài

giảng hóa học cụ thể ở trường phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP

TP.HCM

3) Nguyễn Đặng Thu Hường (2009), Giáo dục môi trường thông qua dạy học hóa

học lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

4) Lê Thị Mỹ Trang (2003), Tìm hiểu môi trường và giáo dục môi trường qua

môn hóa học ở lớp 12, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

5) Hà Tú Vân (2003), Giáo dục môi trường thông qua một số bài trong chương

trình hóa học lớp 10, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

6) Phan Thị Lan Phương (2007), Giáo dục môi trường thông qua giảng dạy hóa

học lớp11 ở trường trung học phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP

TP.HCM

7) Trần Thị Thanh Hương (1999), Giáo dục môi trường thông qua môn hóa học ở

trường PTTH và THCS tại TP Hải Phòng, luận văn thạc sĩ, ĐHSP HN

8) Nguyễn Trần Đông Quỳ (2007), Website giáo dục môi trường qua chương

trình hóa hoc lớp 10, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

9) Nguyễn Thị Trang (2007), Thiết kế giáo án giáo dục môi trường thông qua bộ

môn Hóa lớp 12 - Ban Khoa học tự nhiên, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP

TP.HCM

10) Nguyễn Thị Thanh Hằng (2007), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệmvề hóa kĩ thuật và ứng dụng trong chương trình hóa phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM

11) Trần Thị Phương Thảo (2008), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về hóa học có nội dung gắn với thực tiễn, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

12) Trần Thị Tú Anh (2009), Tích hợp các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong dạy học hóa học lớp 12 trường THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM 13) Trần Thị Hồng Châu (2009), Giáo dục môi trường thông qua dạy học môn hóa học lớp 10, 11 ở trường THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

14) Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

Trong các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục môi trường trong chương trình hóa học THPT Tuy nhiên, luận văn thạc sĩ của ThS Trần Thị Phương Thảo và ThS Trần Thị Tú Anh là gần với

đề tài nghiên cứu của tôi nhất Trong công trình nghiên cứu của ThS Trần Thị Phương Thảo, tác giả xây dựng nên một hệ thống bài tập hóa học gắn liền với thực tế bao gồm cả vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Các bài tập tác giả chọn rất phong phú, đa dạng dựa vào kiến thức trong chương trình THPT Tuy nhiên, tác giả xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ yếu về ứng dụng của hoá học vào đời sống thực tế chứ chưa đi sâu vào các bài tập về kinh tế, xã hội và môi trường Trong luận văn của ThS Trần Thị Tú Anh chỉ đề cập đến việc tích hợp các nội dung giáo dục môi trường, kinh tế và xã hội trong các bài giảng nhằm mục đích giáo dục vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường cho học sinh nhưng chưa xây dựng được hệ thống bài tập giúp học sinh hiểu rõ hơn tầm quan trọng của hóa học

Các công trình nghiên cứu còn lại đều đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc Đây là điều kiện thích hợp để chúng tôi kế thừa và phát triển Nhiệm vụ của chúng tôi

Trang 8

là phải hoàn thiện hơn nữa câu hỏi trắc nghiệm, cách thức kiểm tra, đánh giá khi thực

nghiệm sư phạm

1.2 Bài tập hoá học [10, 18, 19]

1.2.1 Khái niệm bài tập hoá học

Bài tập hoá học là phương tiện để dạy học sinh tập vận dụng kiến thức Một

trong những tiêu chí đánh giá sự lĩnh hội tri thức hoá học là kỹ năng áp dụng tri thức

để giải quyết các bài tập hoá học chứ không phải là kỹ năng kể lại tài liệu đã học Bài

tập hoá học là một trong những phương tiện có hiệu quả để giảng dạy môn hoá, tăng

cường và định hướng hoạt động tư duy của học sinh [18]

1.2.2 Tác dụng của bài tập hoá học

 Ý nghĩa trí dục

- Làm chính xác hoá khái niệm, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một

cách sinh động, phong phú, hấp dẫn

- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Thực tế cho thấy

học sinh rất buồn chán nếu như chỉ nhắc lại kiến thức mà không được giải

Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc

lập, thông minh và sáng tạo

 Ý nghĩa đức dục

Rèn đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Bài

tập thực nghiệm còn rèn luyện văn hoá lao động

1.2.3 Phân loại bài tập hoá học

Dựa vào các công đoạn của quá trình dạy học, có thể phân loại bài tập hoá học như sau :

• Ở công đoạn dạy bài mới: nên phân loại bài tập theo nội dung để phục vụ việc dạy học và củng cố bài mới

• Ở công đoạn ôn tập, hệ thống hoá kiến thức và kiểm tra đánh giá: do mang tính chất tổng hợp, có sự phối hợp giữa các chương nên phải phân loại trên các cơ

sở sau :

Dựa vào tính chất hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành bài tập

lý thuyết và bài tập thực nghiệm

• Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành bài tập tái hiện kiến thức, bài tập rèn tư duy

• Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành bài tập định tính và bài tập định lượng

Trong thực tế dạy học, có 2 cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân loại theo nội dung và theo dạng bài

1.2.4 Xây dựng bài tập hóa học

1.2.4.1 Nguyên tắc

Lựa chọn bài tập điển hình; phải kế thừa, bổ sung nhau; có tính phân hóa, vừa sức học sinh; cân đối giữa thời gian học lý thuyết và bài tập

1.2.4.2 Chú ý khi cho bài tập

Nội dung kiến thức trong chương trình; dữ kiện + kết quả tính toán phù hợp với thực tế; phải vừa sức với trình độ học sinh; chú ý đến yêu cầu cần đạt được (thi lên lớp, thi tốt nghiệp hay thi vào đại học); phải đủ các dạng; phải rõ ràng, chính xác, không đánh đố học sinh

Trang 9

1.2.4.3 Xu hướng hiện nay

Loại bỏ bài tập cần đến những thuật toán phức tạp để giải; có nội dung lắt léo,

giả định rắc rối, phức tập, xa rời hoặc phi thực tiễn hóa học

Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm; trắc nghiệm khách quan

Xây dựng bài tập rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải

quyết vấn đề; có nội dung phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản nhẹ nhàng

1.2.5 Phương pháp xây dựng bài tập hóa học

1.2.5.1 Tương tự

Loại 1: Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay dổi lượng chất

Loại 2: Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng Lúc này lượng

chất thay đổi nên sản phẩm cũng thay đổi theo

Loại 3: Thay đổi cả hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những dạng

phương trình HH cơ bản

1.2.5.2 Đảo cách hỏi

Đảo cách hỏi giá trị của các đại lượng đã cho như khối lượng, số mol, thể tích,

nồng độ sẽ tạo ra nhiều bài tập mới có mức khó tương đương

1.2.5.3 Tổng quát

Thay các số liệu bằng chữ để tính tổng quát Bài tập tổng quát mang tính trừu

tượng cao nên khó hơn các bài tập có số liệu cụ thể

1.2.5.4 Phối hợp

Chọn chi tiết hay ở một số bài để xây dựng, phối hợp thành một bài tập mới

1.2.6 Cách sử dụng bài tập Hoá học ở trường THPT

Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập Khi

dạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để

chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn học sinh tự học

ở nhà

Khi ôn tập, củng cố, luyện tập, kiểm tra đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập Ở Việt Nam, bài tập được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là câu hỏi lý thuyết hay bài toán

Sử dụng bài tập hoá học để đạt được các mục đích sau :

• Củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức và hình thành quy luật của các quá trình hoá học

• Rèn kỹ năng

• Rèn năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

1.3 Vấn đề kinh tế, xã hội 1.3.1 Mối quan hệ của hóa học và vấn đề kinh tế, xã hội [13, 22]

Hóa học và công nghiệp hóa học với những thành tựu to lớn, những phát minh

đa dạng mới mẻ đã và đang góp phần phát triển sản xuất, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, làm cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng phong phú, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện và nâng cao Đặc biệt, hóa học

có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới Kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của một quốc gia so với các nước trên thế giới Để phát triển được nền kinh tế thì điều mà chúng ta cần giải quyết đầu tiên là nguồn năng lượng, nhiên liệu và vật liệu Những vấn đề ấy đòi hỏi cần có những bước đột phá mới trong lĩnh vực khoa học tự nhiên nhất là lĩnh vực Hóa học Hóa học sẽ giúp chúng ta tìm được những nguồn nguyên nhiên liệu mới giải quyết được vấn đề năng lượng đang ngày càng can kiệt, giá thành thấp hơn so với những năng lượng truyền thống mà còn bảo vệ được môi trường, tìm ra vật liệu mới phục vụ cho nhu cần sản xuất của con người Chúng ta càng hiểu rõ hơn về vai trò của hóa học trong việc phát triển kinh tế

Trang 10

Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu vai trò của Hóa học trong năng lượng, nhiên liệu

và vật liệu là quan trọng thế nào?

 Vấn đề vật liệu: Vai trò của vật liệu đối với sự phát triển kinh tế Đồng hành

cùng với sự phát triển của nhân loại, vật liệu là không thể thiếu Vật liệu được

dùng trong xây dựng nhà cửa, cầu cống, các công trình kiến trúc Nhu cầu

của kinh tế đối với vật liệu là vô cùng to lớn Trong lịch sử phát triển của

nhân loại đã sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau Với đà phát triển của khoa

học – kĩ thuật của kinh tế, xã hội, yêu cầu của con người về vật liệu ngày

càng phong phú, đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong các

nghành kinh tế, quốc dân

 Trong ngành y học: làm các bộ phận nhân tạo

 Ngành xây dựng: cần những vật liệu làm cho công trình chắc, bền, đẹp, phù

hợp hơn…

 Ngành năng lượng: cần những loại vật liệu chuyên dụng để chế tạo thiết bị

khai thác nguồn thiên nhiên vô tận từ mặt trời, nước, gió, năng lượng các lò

phản ứng hạt nhân…

Hóa học đã góp phần giải quyết vấn đề vật liệu cho tương lai vật liệu compozit:

có tính năng bền, nhẹ, chắc không bị axit hoặc kiềm và một số hoá chất phá huỷ trong

môi trường Hoá học với các nghành khoa học trong lĩnh vực kĩ thuật vật liệu đang

nghiên cứu và khai thác những vật liệu mới có trọng lượng nhẹ, siêu bền với môi

trường, siêu nhỏ Có công năng đặc biệt như: Máy bay được làm bằng vật liệu siêu

nhẹ Vật liệu nano: là vật liệu được chế tạo nên từ những hạt có kích thước cỡ

nanomet Vật liệu có độ cứng cao, siêu dẻo…Chế tạo máy bay tàng hình đối với các

loại rada Vật liệu quang điện tử: có độ siêu dẫn ở nhiệt độ cao được dùng trong sinh

học, y học, điện tử, Dòng điện đi qua chất siêu dẫn

Hóa học có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước trong hiện tại

và tương lai.Nó đã góp phần tìm ra nguồn năng lượng thay thế cho nguồn năng

lượng truyền thống Đem lại nhiều lợi ích to lớn cho thế giới từ việc tận dụng nguồn

năng lượng do các phản ứng hóa học sinh ra

1.3.2 Xu hướng phát triển hóa học trong nền kinh tế, xã hội [13]

Thập niên 90 của thế kỷ trước là thời điểm các nghiên cứu về việc phát triển các quy trình thân thiện với môi trường thay cho việc sử dụng các hóa chất độc hại từ

đó đã làm xuất hiện một khái niệm mới là Hóa học xanh Điều này càng được thúc đẩy do nhận thức của con người về tác hại của rác thải công nghiệp ngày càng tăng lên và việc cần thiết phải xử lý các chất thải hóa học của chính phủ Thông qua việc kết hợp giữa việc siết chặt luật pháp, mục tiêu nghiên cứu và nhận thức về cách vận hành quy trình tốt nhất thì lĩnh vực Hóa học xanh đã có những bước tiến nhanh chóng

và giúp có được một nhận thức rõ ràng hơn về công nghệ sạch Chẳng hạn sự phân tách các chất thải hiện đã được thực hiện dễ dàng bằng cách dùng cacbon dioxit siêu tới hạn, các dung môi hữu cơ độc hại dễ bay hơi nay đã được thay thế bằng các dung môi là chất lỏng ion khó bay hơi cùng với việc đưa vào sử dụng các tác nhân và xúc tác dị thể để tránh việc sử dụng các quá trình hòa tan vốn độc hại, gây khó khăn cho việc tách và tinh chế

Sự quan trọng của việc giới thiệu các chuẩn mới để xác định độ “xanh” của một quy trình (nhất là trong ngành công nghiệp dược) cũng đã bắt đầu được tiến hành Một trong số những chỉ số xưa nhất và được dùng nhiều nhất nhân tố E (E factor) – thể hiện tỉ lệ giữa chất thải trên tổng lượng sản phẩm đã cho thấy rõ sự lãng phí hóa chất trong các quá trình hóa học Những sự đánh giá gần đây hơn cho thấy sự cần thiết của việc khảo sát một tập hợp rộng lớn hơn các số liệu qua một chu trình sống của sản phẩm

Các quy định về lập pháp, kinh tế và xu hướng phát triển xã hội đã ảnh hưởng đến toàn bộ các giai đoạn trong chu trình sống của một sản phẩm của ngành công nghiệp hóa học Với dầu, hóa chất thô quan trọng của ngành công nghiệp hóa học hiện đã bắt đầu tiến hành giảm dần trữ lượng và đánh dấu các biến động giá cả, tuy nhiên trong thế giới thực thì phải đối diện với các vấn đề phức tạp hơn Việc khai thác đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên quan trọng cùng với việc giá cả tăng lên đã ảnh hưởng đến sự tồn vong của ngành công nghiệp hóa học Ở một phía khác của chu trình sống thì áp lực từ công chúng cũng như từ các tổ chức phi chính phủ đã dẫn đến

Trang 11

sự tăng theo hàm mũ sự tập trung của hiến pháp đến các sản phẩm (đáng kể nhất là ở

châu Âu, nơi có các ủy ban đăng ký, đánh giá, ủy quyền và giới hạn các hóa chất hay

gọi tắt là REACH (Registration, Evaluation, Authorisation and restriction of

CHemicals)) và mức độ tiêu dùng đang bị đe dọa nếu cứ sử dụng hóa chất một cách

vô tội vạ Các thách thức này chỉ có thể được chấp nhận với một sự kết hợp tốt giữa

các nghiên cứu thuần về việc phát hiện ra định hướng nghiên cứu, khảo sát ứng dụng

Sự hợp tác giữa các nhà hóa học, sinh học và các kỹ sư sẽ hiểu ra được cách

làm thế nào để sử dụng nguồn cacbon bền vững nhất: sinh khối không bắt nguồn từ

thực phẩm với một hiệu quả cao nhất Các sinh khối này bao gồm các chất thải nông

nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp thực phẩm cũng như các sản phẩm phụ trong các

quá trình quy mô lớn như sản xuất nhiên liệu sinh học Lượng lớn các chất tiêu thụ và

các chất thải công nghiệp như dòng điện thải và các dụng cụ điện có thể được khai

thác bằng cách sử dụng các công nghệ ít gây tác động mạnh đến môi trường vốn chỉ

được xuất hiện vào những năm 90 Đây không chỉ là một bước tiến lớn hướng đến

việc tạo thành một kỷ nguyên mới của hóa học xanh và hóa học bền vững mà còn

giúp giải quyết được những vấn đề leo thang chất thải trong xã hội hiện đại

Đặc biệt, có thể tạo ra được nhiều sản phẩm từ các sản phẩm sinh khối như

xenlulô, chitin hay tinh bột có thể đóng vai trò như các phân tử nhỏ nhưng khi cần

thiết chúng có thể đóng vai trò nền tảng để chế tạo các vật liệu mới cao phân tử Các

hợp chất như etanol, axit lactic, axit sucxinic hay glyxerol có thể thay thế, hay ít nhất

là giảm thiểu sự phụ thuộc của chúng ta vào các nhiên liệu hóa thạch như eten,

propen, butadien hay benzen Do đó các công cụ của Hóa học xanh tương lai cần phải

đa năng, linh hoạt cũng như phải sạch, an toàn và hiệu quả

Ở đây sự kết hợp giữa hóa học – sinh học và giữa hóa học – công nghệ sinh

học là một vấn đề quan trọng: Chúng ta cần phải phát triển các con đường tổng hợp

bắt nguồn từ các dẫn xuất chứa oxy và các phân tử ưa nước vốn được tạo thành từ các

chuyển hóa sinh khối Điều này cũng có nghĩa là chúng ta không thể ước tính được sự

lãng phí và giá thành trước khi tiến hành tổng hợp Ở đây các kết quả nghiên cứu về

các quá trình hóa học trong nước sẽ đắc dụng (và thường làm cho quá trình trở nên an

toàn hơn) cũng như sự phát triển tiếp tục trong tương lai của các phương pháp tổng hợp quan trọng chẳng hạn giảm thiểu các bước tiến hành bằng các hệ thống phản ứng lồng vào nhau để có thể đưa nhiều phản ứng trở thành một bước duy nhất Về sự kết hợp giữa hóa học – công nghệ thì các hệ thống màng xúc tác, các kỹ thuật tiến hành phản ứng chuyên sâu và các hệ thống phản ứng tiết kiệm năng lượng ngày càng trở nên quan trọng Kỹ thuật lên men sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phân giải các sinh khối có cấu trúc phức tạp về các phân tử nhỏ với sự kiểm soát chặt chẽ hơn về năng lượng sử dụng để nhiệt phân bằng cách sử dụng xúc tác hay các phương pháp mới (chẳng hạn vi sóng) thì chúng ta có khả năng xây dựng các quy trình song song

để tạo thành các phân tử khác nhau, điều này dẫn đến việc tạo thành nhiều chất cơ bản hơn Việc tìm ra con đường mới phát triển bền vững với giá thành hợp lý để tạo thành các chất thơm là đặc biệt khó khăn: chúng ta cần phải có những cách thức tốt hơn để khai thác nguồn chất thơm vô tận trong tự nhiên như ở trong lignin hay suberin

Thách thức trong Hóa học xanh không chỉ đơn thuần là thay thế các hóa chất độc hại như các cromat hay các dẫn xuất polyhalogen thơm nhưng có thể đảm bảo rằng các chất có thể thay thế được chúng cũng như cách thức để tạo thành sẽ xanh và bền vững Hiện tại cần có thêm nhiều nghiên cứu nhắm đến việc thỏa mãn các tiêu chuẩn lập pháp mà REACH cũng như các đạo luật về chất lượng sản phẩm đã đề ra Các sản phẩm an toàn, thân thiện môi trường được yêu cầu ở các mặt hàng thương mại như chất chậm cháy, hóa dẻo, chất kết dính và ngòi nổ

Thế kỷ mới này sẽ chứng kiến một bước chuyển mình mạnh mẽ từ hóa học (phụ thuộc) dầu mỏ sang Hóa học dựa trên một sự đa dạng nguồn nguyên liệu Mặc

dù chúng ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn nguyên liệu hóa thạch và các khoáng trong một tương lai gần nhưng các hóa chất và vật liệu được chế tạo từ các sinh khối không có nguồn gốc thực phẩm và từ một núi sản phẩm mà chúng ta ưu ái đặt cho danh từ “mỹ miều” chất thải sẽ chiếm ưu thế Chất thải của hôm nay là nguyên liệu của ngày mai Hóa học xanh có thể giúp chuyển hóa các nguồn cung này thành nguyên liệu bằng cách tiếp cận ít gây tổn hại đến môi trường nhất Bằng cách

Trang 12

này chúng ta sẽ đạt được mục tiêu lớn là xây dựng được một kỷ nguyên mới cho các

sản phẩm xanh và bền vững

1.3.3 Tầm quan trọng của hóa học trong nền kinh tế, xã hội [10,13,22]

• Hoá học với đời sống

Phản ứng hóa học xảy ra trong cuộc sống hằng ngày thí dụ như trong lúc nấu

ăn, làm bánh hay rán mà trong đó các biến đổi chất xảy ra một cách rất phức tạp đã

góp phần tạo nên hương vị đặc trưng cho món ăn Thêm vào đó thức ăn được phân

tách ra thành các thành phần riêng biệt và cũng được biến đổi thành năng lượng

• Hoá học với các khoa học khác

Hóa học nghiên cứu về tính chất của các nguyên tố và hợp chất, về các biến đổi

có thể có từ một chất này sang một chất khác, tiên đoán trước tính chất của những

hợp chất chưa biết đến cho tới nay, cung cấp các phương pháp để tổng hợp những

hợp chất mới và các phương pháp đo lường hay phân tích để tìm các thành phần hóa

học trong những mẫu thử nghiệm

Mặc dù tất cả các chất đều được cấu tạo từ một số loại "đá xây dựng" tương

đối ít, tức là từ khoảng 80 đến 100 nguyên tố trong số 118 nguyên tố được biết đến

nhưng sự kết hợp và sắp xếp khác nhau của các nguyên tố đã mang lại đến vài triệu

hợp chất khác nhau, những hợp chất mà đã tạo nên các loại vật chất khác nhau như

nước, cát, mô sinh vật và mô thực vật Thành phần của các nguyên tố quyết định các

tính chất vật lý và hóa học của các chất và làm cho hóa học trở thành một bộ môn

khoa học rộng lớn

Cũng như trong các bộ môn khoa học tự nhiên khác, thí nghiệm trong hóa học

là cột trụ chính Thông qua thí nghiệm, các lý thuyết về cách biến đổi từ một chất này

sang một chất khác được phác thảo, kiểm nghiệm, mở rộng và khi cần thiết thì cũng

được phủ nhận

Tiến bộ trong các chuyên ngành khác nhau của hóa học thường là các điều kiện

tiên quyết không thể thiếu cho những nhận thức mới trong các bộ môn khoa học

khác, đặc biệt là trong các lãnh vực của sinh học và y học, cũng như trong lãnh vực

của vật lý (thí dụ như việc chế tạo các chất siêu dẫn mới) Hóa sinh, một chuyên ngành rộng lớn, đã được thành lập tại nơi giao tiếp giữa hóa học và sinh vật học và là một chuyên ngành không thể thiếu được khi muốn hiểu về các quá trình trong sự sống, các quá trình mà có liên hệ trực tiếp và không thể tách rời được với sự biến đổi chất

Đối với y học thì hóa học không thể thiếu được trong cuộc tìm kiếm những thuốc trị bệnh mới và trong việc sản xuất các dược phẩm Các kỹ sư thường tìm kiếm vật liệu chuyên dùng tùy theo ứng dụng (vật liệu nhẹ trong chế tạo máy bay, vật liệu xây dựng chịu lực và bền vững, các chất bán dẫn đặc biệt tinh khiết, ) Ở đây bộ môn khoa học vật liệu đã phát triển như là nơi giao tiếp giữa hóa học và kỹ thuật

• Hoá học trong công nghiệp Công nghiệp hóa học là một ngành kinh tế rất quan trọng Công nghiệp hóa học sản xuất các hóa chất cơ bản như axít sunfuric hay amoniac, thường là nhiều triệu tấn hằng năm, cho sản xuất phân bón và chất dẻo và các mặt khác của đời sống và sản xuất công nghiệp Mặt khác, ngành công nghiệp hóa học cũng sản xuất rất nhiều hợp chất phức tạp, đặc biệt là dược phẩm Nếu không có các hóa chất được sản xuất trong công nghiệp thì cũng không thể nào sản xuất máy tính hay nhiên liệu và chất bôi trơn cho công nghiệp ô tô

1.4 Vấn đề môi trường 1.4.1 Khái niệm môi trường [7, 39]

Môi trường là một trong những vấn đề đang được cả xa hội quan tâm, trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có nhiều định nghĩa về môi trường cụ thể như:

- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một cách cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một quần thể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn

- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết cho loài này

Trang 13

nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chung một nơi, hơn nữa cũng có

những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại và tác động lên cơ thể và ta không

thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự

tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo Vệ Môi Trường của

Việt Nam, 1993)

- Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực

thể của tự nhiên mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp

bằng các phản ứng thích nghi của mình (Vũ Trung Tạng, 2000) Từ định nghĩa này ta

có thể phân biệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải là môi trường

của loài khác Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật màng nước

(Pleiston và Neiston), song không phải là môi trường của những loài sống ở đáy sâu

hàng ngàn mét và ngược lại

- Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định

nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ

thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ

chứa ) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con người

sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo

nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình

Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh

trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh

của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”

Thuật ngữ Trung Quốc gọi môi trường là “hoàn cảnh” đó là từ chính xác chỉ

điều kiện sống của cá thể hoặc quần thể sinh vật Sinh vật và con người không thể

tách rời khỏi môi trường của mình Môi trường nhân văn (Human environment - môi

trường sống của con người) bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học của đất, nước, không

khí, các yếu tố sinh học và điều kiện kinh tế - xã hội tác động hàng ngày đến sự sống

của con người

1.4.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường [33]

Môi trường là không gian chứa đựng các cơ thể sống bao hàm xã hội loài người, giới sinh vật (động vật và thực vật) Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ở ngoài môi trường được Vì vậy nói tới vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội điều đầu tiên cần phải nhấn mạnh: Môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả con người),các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi trường Nếu không gian môi trường trong sạch sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt, ngược lại nếu không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở sự phát triển bình thường của mọi loài sinh vật, trong đó có xã hội loài người Do đó bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở trong môi trường

Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố cần thiết, các điều kiện cần thiết cho sự sống của tất cả các loài sinh vật Ăngghen nói “con người là sản phẩm của tự nhiên”, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường tự nhiên, vật chất trong cơ thể con người do môi trường tự nhiên cung cấp, không khí mà con người hít thở, nước mà con người uống… cũng đều từ môi trường tự nhiên và thức ăn của con người xét cho cùng cũng từ môi trường tự nhiên: lúa gạo, hoa màu, rau xanh, trái cây đều mọc từ đất, tôm cá lớn lên từ ao nước sông, hồ, biển… Con người và môi trường luôn thống nhất với nhau, sống trong môi trường con người một mặt chịu sự ảnh hưởng của môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường làm cho môi trường biến đổi, sự biến đổi của môi trường lại ảnh hưởng trở lại đối với con người Những thứ mà môi trường tự nhiên cung cấp cho con người bao gồm những thứ có khả năng tái tạo được và những thứ không có khả năng tái tạo Vì vậy, để đảm bảo cho xã hội phát triển con người cần phải biết giữ gìn những nguồn lực của tự nhiên để sử dụng lâu dài trong tương lai

Môi trường là nơi diễn ra mọi quá trình lao động sản xuất, dù đó là sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp cũng đều phải dựa trên nền tảng của môi trường Các

Trang 14

hoạt động văn hóa, xã hội, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật… cũng phải dựa

vào môi trường, sử dụng các “chất liệu” do môi trường cung cấp

Nói tóm lại mọi sự sống trên trái đất và mọi quá trình hoạt động của con người

đều được tiến hành trong môi trường, đều dựa vào môi trường và sử dụng các yếu tố

có sẵn của môi trường Xuất phát từ nhận thức đó chúng ta thấy môi trường có vai trò

to lớn, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi loài sinh vật sống trong môi

trường

1.4.3 Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường ở Việt Nam [28]

Môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng do nhiều nguyên nhân chủ

quan và khách quan, mà chủ yếu là do hoạt động sản xuất công nghiệp của con người

Sau đây là một số nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường:

 Tự nhiên

Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng Tổng hợp các yếu tố

gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên

toàn thế giới, không tập trung trong một vùng Trong quá trình phát triển, con người

đã thích nghi với các nguồn này

 Công nghiệp

Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người Các quá trình gây ô nhiễm

là quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2,

NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên

dây truyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi

Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tập trung

trong một không gian nhỏ Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và

nhiên liệu sử dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽ khác nhau

 Giao thông vận tải

Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu

đông dân cư Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động

cơ: CO, CO2, SO2, NOx, Pb, Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển Nếu

xét trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bên đường

 Sinh hoạt

Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: CO, bụi

Đây là các nguyên nhân chính dẫn tới các ô nhiễm trầm trọng về môi trường vì thế để khắc phục, chúng ta cần nhiều biện pháp mạnh trong xử phạt những tập thể, cá nhân có những hoạt động gây tác hại cho môi trường

1.4.4 Các loại ô nhiễm môi trường [2,3]

 Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường

đô thị, công nghiệp và các làng nghề Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng

 Ô nhiễm chất thải Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người và môi trường sống

Trang 15

 Ô nhiễm nguồn nước

Ô nhiễm nguồn nước lên đến mức báo động, hạn chế nguồn nước sạch cung cấp

cho sinh hoạt đời sống

 Ô nhiễm hóa chất độc

Khi xã hội phát triển với nhu cầu xây dựng nhiều nhà máy sản xuất phục vụ đời sống

thì các hóa chất độc cũng được thải ra càng nhiều từ trưc tiếp các nhà máy, hay qua

các sản phẩm hóa chất ấy chúng ngày càng ảnh hưởng xấu đến môi trường (đất,

nước, không khí ) và cuộc sống con người

1.4.5 Các biện pháp khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

 Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường không khí

• Hạn chế sự gia tăng phương tiện vận chuyển một cách tự phát, tiến tới xây

dựng các phương tiện vận tải công cộng hiện đại như xe bus,tàu điện

ngầm, tàu điện trên cao

• Sử dụng nhiên liệu sạch như điện, ga, Hydro, năng lượng mặt trời

• Cải thiện kỹ thuật xe máy nhằm giảm bớt sự phát thải khí ô nhiễm từ xe

cộ và sử dụng các biện pháp đơn giản để giảm sự bay hơi nhiên liệu

• Tăng cường kiểm soát sự phát thải kiểm định kỹ thuật máy móc

• Biện pháp giáo dục cộng đồng

• Trồng nhiều cây xanh

 Biện pháp khắc phục ô nhiễm chất thải rắn

• Chôn lấp và đốt cháy rác một cách khoa học.- Xây dựng thêm nhà máy tái

chế chất thải

• Tuyên truyền mọi người cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung

• Thực hiện đúng các luật giữ gìn môi trường

 Biện pháp khắc phục ô nhiễm nguồn nước

• Xây dựng nhà máy xử lí nước thải

• Nâng cao nhận thức con người

• Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi trường nước

• Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản

• Tổ chức quản lý và kiểm soát chất lượng nguồn nước

 Biện pháp khắc phục ô nhiễm chất độc

• Giữ vệ sinh thân thể

• Vệ sinh nhà cửa, phát quang xung quanh

• Vệ sinh an toàn thực phẩm

• Dùng thuốc sỗ giun theo thời gian hướng dẫn của bác sĩ

1.4.6 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội [13]

Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân tạo nên sự phát triển của kinh tế - xã hội: đó là sự ra đời của máy móc, công cụ khoa học kỹ thuật, đó là sự thông minh cùng với óc sáng tạo và khả năng lao động của con người… nhưng hơn tất cả đó là môi trường Tự bản thân máy móc, công cụ sẽ không phát huy tác dụng nếu không có nguyên vật liệu, nhiên liệu; con người dù thông minh sáng tạo đến bao nhiêu cũng sẽ không thể có không gian để tồn tại và sản xuất nếu không có môi trường Không thể tách sự phát triển kinh tế xã hội khỏi môi trường, môi trường và phát triển có mối quan hệ khăng khít với nhau “Nếu không bảo vệ môi trường một cách chính đáng, kinh tế sẽ bị yếu dần Ngược lại, không có kinh tế, bảo vệ môi trường sẽ thất bại”

Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển kinh tế xã hội là xu hướng chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống, giữa môi trường và kinh tế có mối quan

hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển kinh tế, còn kinh tế là nguyên nhân tạo nên các biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường phát triển kinh tế, xã hội là nhu cầu tất yếu của loài người và tất nhiên trong quá trình

Trang 16

phát triển kinh tế con người sẽ phải khai thác môi trường, do vậy ở đây nảy sinh mâu

thuẫn giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai

hệ thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường Hệ thống kinh tế xã hội

cấu thành bởi các khâu: Sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng

luân chuyển nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ

thống Hệ thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại

trên một địa bàn với hệ thống kinh tế - xã hội Mối quan hệ hay mâu thuẫn đều được

biểu hiện rất rõ ràng

Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường Đây là

một chức năng của môi trường: cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con

người Nếu vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không

tái tạo được hoặc khai thác quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì

sẽ dẫn tới không còn nguyên liệu, năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút

hoặc triệt tiêu hệ thống kinh tế Chất thải là thứ mà cuộc sống sinh hoạt của con

người và các hoạt động kinh tế thải ra môi trường nhều nhất Hầu hết các phế thải đều

độc hại đối với sức khỏe và sinh mệnh con người, tác động xấu đến không khí, nước,

đất, các nhân tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên khác Những chất độc hại đó

làm tổn hại chất lượng môi trường khiến cho hệ thống kinh tế không thể hoạt động

một cách bình thường được

Để cho sự phát triển được bền vững, việc xây dựng và phát triển kinh tế của

đất nước đòi hỏi mỗi quốc gia phải có tính toán, phải căn cứ vào tình hình tài nguyên

và trình độ phát triển của đất nước mà định ra chiến lược chung của quốc gia Môi

trường và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ khắn khít bền chặt và bao hàm cả

mâu thuẫn gay gắt Vấn đề quan trọng là phải giải quyết được mâu thuẫn đó một cách

hợp lý và có lợi nhất

1.5 Trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá

1.5.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan

và đánh giá Chúng được gọi là các trắc nghiệm bán khách quan

 Ưu điểm của TNKQ

- Phạm vi quét kiến thức và kĩ năng rộng hơn nhiều so với tự luận

- Ở cấp cơ sở sử dụng kết quả từ TNKQ thích hợp hơn:

• Kiểm tra được từng cá nhân HS

• TNKQ dễ cho điểm, đáng tin cậy và dễ làm việc với thống kê

- TNKQ thích hợp cho kiểm tra diện rộng → tự động hóa chấm điểm

- Đề TNKQ ngắn nên:

• gộp lại thành một bộ trắc nghiệm → tăng độ tin cậy

• trải ra ở nhiều chủ đề → nhiều thông tin hơn

- TNKQ thực ra không tiết kiệm được nhiều thời gian như nhiều người từng nghĩ Nếu khâu chấm điểm mất ít thời gian thì lại tốn rất nhiều thời gian

ở khâu chuẩn bị, soạn đề

- Đề TNKQ đảm bảo đủ độ rõ ràng, không mơ hồ, có độ tin cậy cao, cần tính chuyên nghiệp cao, đòi hỏi nhiều thời gian cho cân nhắc trước khi soạn và cho thử nghiệm trước khi đưa ra áp dụng đại trà

- TNKQ thường gồm các loại (câu hỏi, bài tập) thông dụng sau:

Trang 17

Trong 5 loại này, loại được sử dụng nhiều nhất là đa lựa chọn

 Nhược điểm của TNKQ

- Loại đa lựa chọn đòi hỏi HS khả năng nhận ra câu trả lời đúng mà không bắt

HS phải nhớ và phải có kĩ năng tự soạn ra câu Trả lời:

- TNKQ quá tập trung vào kĩ năng đọc Sự nhấn mạnh quá đáng vào kĩ năng đọc

vô tình làm giảm hiệu lực kĩ năng viết của HS

- Để tạo nên tình huống, TNKQ đa lựa chọn đưa ra số câu trả lời sai gấp 3, 4 lần

câu trả lời đúng Những câu trả lời sai lại phải có vẻ ngoài hợp lí TNKQ vô tình đã

tạo môi trường học thông tin sai cho HS → nguyên tắc phản giáo dục đối với trẻ em

- Người soạn TNKQ thường chủ quan, vì cho rằng TNKQ soạn dễ Kết quả là:

bộ câu hỏi thường rời rạc, chuyên biệt, không bao quát, thường không quan tâm đúng

mức đến các kĩ năng phân tích và tổng hợp

- Khuyến khích HS đoán mò, nhất là loại TNKQ đúng/ sai

1.5.2 So sánh trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận

• Một câu hỏi tự luận đòi hỏi thí sinh phải tự suy nghĩ ra câu trả lời rồi diễn đạt

bằng ngôn ngữ riêng của bản thân, câu hỏi trắc nghiệm buộc thí sinh phải chọn

duy nhất một câu đúng nhất

• Một bài luận đề có rất ít câu hỏi nhưng thí sinh phải diễn đạt bằng lời lẽ dài

dòng, còn một bài trắc nghiệm có rất nhiều câu hỏi nhưng chỉ đòi hỏi trả lời

ngắn gọn nhất

• Làm bài luận đề cần nhiều thời gian để suy nghĩ và diễn đạt, còn khi làm trắc

nghiệm thời gian đó cần để đọc và suy nghĩ

• Chất lượng bài tự luận phụ thuộc vào kỹ năng người chấm bài, còn chất lượng

bài trắc nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng người ra đề

• Một đề bài luận đề tương đối dễ soạn nhưng khó chấm điểm, còn trắc nghiệm

thì khó soạn nhưng dễ chấm điểm

• Với bài luận đề, thí sinh tự do bộc lộ suy nghĩ cá nhân, người chấm tự do cho điểm theo xu hướng riêng; bài trắc nghiệm chỉ chứng tỏ kiến thức thông qua tỉ

lệ câu trả lời đúng, người ra đề tự bộc lộ kiến thức thông qua việc đặt câu hỏi

• Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự "phỏng đoán" đáp

án, nhưng một bài luận đề cho phép sử dụng ngôn từ hoa mỹ, khó có bằng chứng để "lừa phỉnh" đáp án

1.6 Tình hình sử dụng bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT

Đề tìm hiểu về thực trạng sử dụng bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường, cũng như thấy được sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Chúng tôi đã phát phiếu xin ý kiến đến 40 giáo viên hiện đang dạy các trường THPT tại Tp HCM như: Nguyễn Thị Diệu, An Đông, Lương Văn Can, Nguyễn An Ninh, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Diệu, Nguyễn Khuyến…Kết quả thu được như sau:

1 Quý Thầy/Cô đánh giá như thế nào về vai trò của bài tập hoá học trong quá

2 Quý Thầy/Cô thường sử dụng bài tập hoá học từ nguồn nào ?

Bảng 1.2 Nguồn bài tập giáo viên sử dụng

1 Sách giáo khoa, sách bài tập 40 100,0

Trang 18

2 Sách tham khảo bán trên thị trường 21 52,5

Khi được đặt vấn đề về nguồn bài tập mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy

học, thì tất cả đều cho rằng sử dụng bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập, điều

này hoàn toàn hợp lý vì bài tập sách giáo khoa là một chuẩn mực của chương trình

hóa học THPT Hiện nay, công nghệ thông tin phát triển rất mạnh và internet là

nguồn tư liệu phong phú mà giáo viên có thể dễ chỉnh sửa và sử dụng cho phù hợp

với trình độ học sinh nên có 75% giáo viên sử dụng nguồn tư liệu này Trong khi đó,

chỉ có 52,5% giáo viên sử dụng tài liệu tham khảo và 50% giáo viên tự biên soạn bài

1 Củng cố, hoàn thiện kiến thức 37 92,5

3 Giúp học sinh vận dụng kiến thức trong cuộc sống 5 12,5

Trong 40 giáo viên được điều cho thì chỉ có 12,5% giáo viên sử dụng bài tập

nhằm mục đích giáo dục học sinh thấy được tầm quan trọng của hóa học trong thực tế

cuộc sống Khi được hỏi tại sao không dùng bài tập loại này thì tất cả đều cho rằng

bài tập này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong các bài kiểm tra cũng như bài thi đại học

4 Quý thầy cô cho rằng việc đưa nội dung giáo dục kinh tế, xã hội và môi

trường vào trường học là cần thiết hay không?

Bảng 1.4 Mức độ cần thiết của hệ thống bài tập

5 Xin ý kiến của giáo viên về việc tích hợp các nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường trong dạy học hóa học ở trường THPT

Bảng 1.5 Mức độ kết hợp nội dung về kinh tế xã hội và môi trường ở trường THPT

Ý kiến của giáo viên

Mức độ đồng ý của giáo viên Rất

thường xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Rất ít khi Không bao giờ Cập nhật những tư liệu có nội dung về

kinh tế, xã hội, môi trường trong dạy học hóa học

1 Thầy cô đánh giá như thế nào về những tiết học có sử dụng những bài tập có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường

Bảng 1.6 Thống kê kết quả học học tập có sử dụng nội dụng về kinh tế, xã hội và

môi trường

Trang 19

STT Tác dụng Đồng ý

Không đồng

ý

Không ý kiến

2 HS tích cực nhận thức 30 75,0 5 12,5 5 12,5

3 Nâng cao ý thức của học sinh về tầm quan

trọng của hóa học trong đời sống 35 87,5 1 2,5 4 10,0

4 HS yêu thích môn hóa học 28 70,0 5 12,5 7 17,5

5 Tiết học sinh động, hấp dẫn 25 62,5 10 25,0 5 12,5

6 Chất lượng bài dạy được nâng cao 26 65,0 12 30,0 2 5,0

Theo bản đánh giá trên ta nhận thấy việc đưa nội dung giáo dục cho học sinh

thấy được mối quan hệ của hóa học với vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong day

học hóa học làm nâng cao hiệu quả dạy học, đồng thời nó giúp cho học sinh hiểu rõ

thêm tầm quan trọng của môn hóa học

7 Xin cho biết khó khăn khi thầy cô sử dụng hệ thống bài tập có nội dung kinh

tế, xã hội và mội trường trong dạy học hóa học

Bảng 1.7 Thống kê khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập có nội dung về

kinh tế, xã hội và môi trường

2 Thư viện nhà trường không đủ tư liệu 10 25,0

3 Mất nhiều thời gian để tra cứu tài liệu 30 75,0

4 Học sinh chưa hứng thú trả lời câu hỏi vì trong các bài

kiểm tra, đề thi đại học rất ít những câu hỏi dạng này 8 20,0

Khi được hỏi về những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng hệ thống

bài tập có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường trong dạy học hóa học thì có

75% giáo viên cho rằng khó khăn lớn nhất là mất nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu,

tiếp theo là bài giảng trở nên dài hơn (chiếm 50%) có nguy cơ cháy giáo án Có 30 %

giáo viên cho rằng minh chưa có kinh nghiệm để đưa nội dung kiến thức này vào bài

giảng, 25% cho rằng nhà trường chưa đủ tư liệu và 20 % cho rằng học sinh sẽ học hứng với bài học

8 Theo Thầy/Cô, giáo viên có cần thiết phải thường xuyên tuyển chọn, biên soạn bài tập có nội dụng về kinh tế xã hội và mội trường cho học sinh không ?

Bảng 1.8 Thống kê mức độ xây dựng bài tập hoá học có nội dung về kinh tế, xã hội và môi

Trang 20

Tất cả các vấn đề trên là nền tảng cơ sở cho phép chúng tôi nêu lên sự cần thiết

phải thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm phục vụ tốt cho thực tế giảng dạy hóa học ở

trường THPT

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC VỀ KINH TẾ,

XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THPT

2.1.Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT

2.1.1.Đảm bảo tính chính xác, khoa học

Với mục đích của việc xây dựng bài tập là giúp học sinh hiểu đúng, hiểu đầy

đủ các kiến thức hoá học phổ thông, cho nên tính chính xác, khoa học của bài tập là yếu tố quan trọng hàng đầu

2.1.2.Hệ thống bài tập cần phong phú, đa dạng và xuyên suốt cả chương trình

Bài tập phải được tuyển chọn cần thận từ nhiều tài liệu, kết hợp với một số phần tự xây dựng trải rộng khắp chương trình hoá học THPT, liên quan đến nhiều vấn đề của hoá học nhưng không nằm ngoài chương trình, không mang tính đánh đố Bài tập có thể ở hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm, sao cho phát huy hết năng lực của học sinh

2.1.3.Hệ thống bài tập cần khai thác mối liên hệ giữa hóa học với kinh tế, xã hội và môi trường

• Bài tập phải đi sâu khai thác hiện tượng hoá học, bản chất hoá học chứ không phải tính toán nặng nề bằng các phương trình toán học phức tạp

• Bài tập phải gắn liền với kiến thức thực tế, khai thác quá trình sản xuất hoá học, khả năng ứng dụng của hoá học vào thực tế đời sống

• Bài tập phải được giải quyết bằng việc vận dụng các định luật cơ bản của hoá học, tránh đoán mò

• Bài tập phải gắn liền với những vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm giúp học sinh nắm được mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức hóa học với các hiện tượng trong thực tế cuộc sống

Trang 21

2.1.4.Hệ thống bài tập cần phù hợp với kiến thức của học sinh THPT

Các bài tập hóa học được xây dựng dựa trên các chuẩn kiến thức hóa học trong

chương trình trung học phổ thông, để từ đó học sinh có thể vận dụng kiến thức hóa

học của mình để giái quyết vấn đề được đưa ra

2.1.5.Hệ thống bài tập phải hấp dẫn, gây hứng thú cho hoc sinh

Các bài tập hoá học phải tạo nên sự hứng thú hấp dẫn cho học sinh, khi giải bài

tập học sinh được học thêm những kiến thức mới và những chuỗi quan hệ giữa lý

thuyết và thực tế để từ đó học sinh thêm hứng thú để tiếp tục giải các bài tập tiếp

theo

2.2.Quy trình xây dựng bài tập về kinh tế, xã hội và môi trường

2.2.1.Bước 1 Tìm hiểu chương trình hoá học ở trường THPT

Để xây dựng hệ thống bài tập có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường ở

trường THPT, chúng ta phải biết trong chương trình hoá học ở trường THPT có bao

nhiêu chương, trong mỗi chương thì có lượng kiến thức nào có liên hệ với thực tế

2.2.2.Bước 2 Tìm tài liệu tham khảo

Tài liệu tham khảo, sách giáo khoa và nguồn tư liệu trên mạng internet là một

phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng bài tập, đó không chỉ là nguôn tư liệu

phong phú mà còn là cơ sở lý luận vững chắc để xây dựng hệ thống bài tập phong

phú, đa dạng và chính xác khoa học

2.2.3.Bước 3 Chọn tài liệu có nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường

Sau khi có nguồn tài liệu phong phú, chúng tôi chọn ra những tài liệu nào có nội

dung kiến thức gắng liền với vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường

2.2.4.Bước 4 Tìm mối liên hệ giữa kiến thức hoá học THPT với vấn đề kinh tế, xã hội

và môi trường

Sau khi có nguồn tài liệu phù hợp chúng tôi tìm quan liên hệ giữa những kiến thức hoá học trong trường THPT với các vấn đề có trong tài liệu tham khảo để tạo cơ

sở cho việc xây dung hệ thống bài tập

2.2.5.Bước 5 Xây dựng hệ thống bài tập

Dựa vào các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập về kinh tế xã hội và môi trường và lượng kiến thức từ nguồn tài liệu đã tìm kiếm ta xây dưng nên hệ thống bài tập theo từng chương trong chương trình hoá học phổ thông

2.2.6.Bước 6 Xin ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp về hệ thống bài tập

Sau khi xây dựng hệ thống bài tập chúng tôi đã xin ý kiến những giáo viên, giảng viên để chỉnh sửa và hoàn thiện bài tập

2.2.7.Bước 7 Hoàn thiện hệ thống bài tập

Sau khi chỉnh sửa và hoàn thiện bài tập về nội dung và hình thức chúng tôi đã sử dụng hệ thống để tiến hành thực nghiệm

2.3.Hệ thống bài tập hoá học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường THPT

Hệ thống bài tập được xây dựng theo từng chương của ba cấp lớp 10, 11, 12 và được chia làm hai phần: bài tập trắc nghiệm tự luận với 166 câu và bài tập trắc nghiệm khách quan với 67 câu trong đó:

• Lớp 10 có 25 câu hỏi trắc nghiệm tự luận và 10 câu hỏi trắc nghiệm khách quan

• Lớp 11 có 91 câu hỏi trắc nghiệm tự luận và 25 câu hỏi trắc nghiệm khách quan

• Lớp 12 có 50 câu hỏi trắc nghiệm tự luận và 32 câu hỏi trắc nghiệm khách quan

2.3.1.Bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong chương trình lớp

10

Trang 22

Theo đúng qui chuẩn, hồ bơi phải được thay nước 1 lần /ngày và lọc tuần hoàn

nước nhưng thực tế ít có hồ bơi thực hiện đúng như vậy do quá tốn kém Thông

thường nước hồ bơi được lọc thô rồi cho “clo bột”, tức là clorua vôi CaOCl2để khử

trùng nên có mùi hôi của clo

Clorua vôi có tính oxi hoá mạnh nên có khả năng diệt khuẩn tốt nhưng nó chỉ

phát huy tốt công dụng khi được sử dụng vừa phải và nước phải tương đối sạch, nếu

không sẽ gây ra các bệnh về da và hô hấp

Câu 2 Chlorine là gì? Tại sao khi có dịch cúm H1N1 người ta mua Chlorine về khử

trùng?

Trả lời:

Chlorine là chất bột màu trắng, có công thức gần đúng là Ca(ClO)2 (canxi

hipoclorit) Tuy nhiên, Chlorine thực sự không phải là Ca(ClO)2 nguyên chất mà

đúng hơn phải viết là CaOCl2 (clorua vôi) Do thói quen sử dụng tên gọi, người ta ít

gọi, thậm chí không biết tên clorua vôi hay canxi hipoclorit

Khi dịch cúm H1N1 xảy ra và lan rộng, người ta mua Chlorine về pha vào

nước để phun xung quanh cơ quan, nơi làm việc, nhà ở do Chlorine nó có chứa clo ở

mức oxi hoá +1, có tính oxi hoá mạnh và khử trùng

Cần lưu ý rằng Chlorine cũng là tên tiếng Anh của nguyên tố clo hay khí clo

Sử dụng quá nhiều muối ăn thường hay muối iot đều có hại cho sức khoẻ như: cao huyết áp do cơ thể hấp thu lượng lớn Na+và loãng xương do cơ thể bài tiết lượng lớn Ca2+ Như vậy, các nhà khoa học phải tính toán cho thêm iot vào muối ăn với tỉ lệ cân bằng hợp lí, không thừa không thiếu Nói chung, với một người bình thường mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng từ 3 đến 6 gam muối, người cao huyết áp từ 2 đến 4 gam, trẻ

Trang 23

thường vượt trên 1000 microgram/người/ngày thì cơ thể sẽ ngừng điều tiết iot, làm

tăng nguy cơ mắc bệnh bướu cổ

Muối iot kém bền với nhiệt nên khi đun nấu lâu sẽ bị phân huỷ làm thất thoát

lượng iot bổ sung:

Men răng có thành phần chính là apatit 3Ca3(PO4)2.CaF2 (khoảng 70%) Dưới

tác dụng của axit tạo ra do thức ăn thừa hoặc có sẵn trong thức ăn, men răng bị bào

mòn dần Súc miệng bằng nước flo không những diệt được vi khuẩn mà còn cung cấp

ion F-làm chuyển dịch cân bằng về phía tạo men răng, làm răng thêm chắc

3Ca3(PO4)2.CaF2←→ 10Ca2+

+ 6PO4 3-

+ 2F

-Câu 6 Thuốc diệt chuột hiện nay chứa chất gì? Sử dụng có an toàn không?

Trả lời:

Hiện nay, có rất nhiều chất có thể diệt chuột với nguồn gốc, xuất sứ khác nhau

Thông dụng và khá an toàn là thuốc dạng viên của Đức có chứa flocoumafen, công

thức phân tử C33H25F3O4 Chất flocoumafen gây độc, làm máu không thể đông lại,

chuột chết do bị xuất huyết bên trong Khi sử dụng cần lưu ý tránh tiếp xúc nguồn

nước và phải thu gom xác chuột thường xuyên

Hình 2.2 Hình dạng thuốc flocoumafen và công thức cấu tạo của flocoumafen

thấp dưới tiêu chuẩn (0,3mg/lít) dễ bị nhiễm vi sinh Tùy cấp độ, người uống nước này có thể bị đau bụng, tiêu chảy

Ngược lại, nước có hàm lượng clo vượt quá tiêu chuẩn (0,5mg/lít) có thể gây ngộ độc Tùy theo nồng độ, thời gian tiếp xúc mà mức độ ảnh hưởng khác nhau Các triệu chứng lâm sàng của người bị nhiễm độc clo cấp tính là: ho, khó thở, đau ngực, phù phổi Nếu ngửi lâu có thể gây tổn thương đường hô hấp Tiếp xúc lâu với mắt

có thể gây tổn thương giác mạc Vậy trong 5 lít nước sinh hoạt chứa tối đa bao nhiêu gam clo

Trả lời:

Hàm lượng clo tối đa trong nước cấp là 0,5 mg/lít

Vậy trong 5 lít nước chứa tối đa 0,5x5=2,5 mg clo

Câu 8 Ngày nay, trong mỗi gia đình thường có một chai thuốc tẩy (nước javen) dùng

để tẩy trắng quần áo khi bị bẩn Ngoài ra nước javen còn được dùng để diệt khuẩn nước Nước javen là gì? Vì sao nước javen có tác dụng tẩy trắng, diệt khuẩn …

Trả lời:

Dung dịch muối hipoclorit của các kim loại kiềm (NaOCl, KOCl); muối này không bền, dễ bị phân hủy để giải phóng oxi nên có tính oxi hoá mạnh Điều chế bằng cách điện phân dung dịch muối clorua kim loại kiềm không có màng ngăn Nước Javen là tên gọi của chất lỏng được điều chế năm 1789 tại Nhà máy Hoá chất Javen [Javelle - tên của một phường ở tả ngạn sông Xen (Seine), ngoại ô Pari] bằng cách cho khí clo sục vào dung dịch nước của kali hiđroxit (KOH) hay kali cacbonat (K2CO3):

2KOH + Cl2 → KClO + KCl + H2O hay K2CO3 + Cl2 → KOCl + KCl + CO2 Hơn 30 năm sau (1822), Labarac (A.G Labarraque; 1777 - 1850) dược sĩ người Pháp đã điều chế Nước Javen với giá thành rẻ hơn bằng cách cho clo tác dụng với Na2CO3:

Na2CO3 + Cl2 → NaClO + NaCl + CO2

Trang 24

Nước Javen được dùng làm thuốc thử, chất sát trùng và tẩy trắng

Trong công nghiệp, nước Javen được điều chế bằng cách điện phân dung dịch muối

ăn 15 - 20% trong thùng điện phân không có màng ngăn với cực âm bằng titan và cực

dương bằng than chì

Nước Javen có tính tẩy màu vì nó có chứa NaClO Tương tự như HClO,

NaClO có tính oxi hóa rất mạnh nên phá vỡ các sắc tố màu sắc của các chất Vì thế,

Nước Javen được dùng làm thuốc tẩy trắng trong công nghiệp cũng như trong gia

đình

ứng dụng như làm khí sinh hàn trong các thiết bị làm lạnh Tuy nhiên, ngày nay khí

CFC bị cấm sử dụng làm khí sinh hàn, vì khí CFC là một trong những khí có thể gây

thủng tầng ozon Cơ chế làm thủng tầng ozon của khí CFC là gì?

Trả lời:

CFC là các chất có tính ổn định cao Tuy nhiên bức xạ cực tím (sóng ngắn)

xuất hiện trong tầng bình lưu phân li chúng Các phân tử Cl, F, Br của CFC được biến

đổi thành các nguyên tử (gốc) tự do hoạt tính nhờ các phản ứng quang hoá:

Câu 10 Cho đến nay, hầu hết dân chúng trên thế giới đều biết đến hóa chất Teflon

đặc biệt là trong các công việc bếp núc Tính chất đặc thù của hóa chất này là không

làm thức ăn dính vào nồi niêu soong chảo sau khi đã được phủ một lớp mõng bên

trong Teflon là gì? Ví sao Teflon được dùng làm chảo không dính?

Trả lời:

Chất Teflon không dính là do một tính chất đặc biệt của hóa chất nầy Teflon chỉ là một tên thương hiệu dùng để gọi thay thế tên hóa chất của một loại polymer polytetrafluoroethylene (-CF2-CF2-) viết tắt là PTFE

Đặc tính độc đáo của PTFE là hệ số cọ sát (coefficient of friction) của chất này thấp nhất đối với tất cả các kim loại hiện diện trên trái đất Do đó nó có thể được dùng như một lớp áo tráng bên trong nồi niêu trong kỹ nghệ nấu nướng

Câu 11 Cồn iot là gì? Tác dụng của cồn iot là gì?

Trả lời:

Cồn iot là dung dịch cồn và iốt với nồng độ 5% Iốt có tác dụng oxi hóa vi khuẩn, diệt nấm ngoài da Tác dụng sát trùng, diệt nấm là do chất iod chứ không phải

do cồn, độ cồn có trong công thức thường là thấp - chỉ giúp hòa tan iod

Cồn iốt là một chất sát trùng mạnh có tính phá hủy các chất hữu cơ như da, quần áo, sách vở Vì vậy cần thận trọng khi sử dụng trên những vùng cần giữ thẩm mỹ như

da mặt

Hiện nay iốt còn được sử dụng ở dạng hữu cơ (betadine, povidone) không gây kích ứng da, được sử dụng an toàn trên các vùng niêm mạc khá nhạy cảm như trong miệng, âm đạo

Câu 12 Theo tính t oán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được cung cấp 1,5.10 -4 g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì lượng KI cần dùng cho một người trong một ngày là bao nhiêu ?

Trang 25

Vào ngày 22 tháng 4 năm 1915, trong chiến dịch I-pen ở Bỉ, Đức đã cho phun

khí clo để đột phá phòng tuyến liên quân Anh – Pháp và đã có 15.000 người trúng

độc Clo là chất khí độc, nặng hơn không khí đến 2,4 lần, bay là là trên mặt đất gây

sát thương cao

Clo cũng được sử dụng trong chiến tranh I-rắc năm 2007

Chương Oxi – Lưu Huỳnh

Câu 1 Tại sao sau cơn mưa có sấm sét, không khí lại trong lành hơn?

điện áp 4000V, sau đó dẫn sản phẩm tạo thành qua nước ngâm rau quả để diệt vi

khuẩn, nấm mốc và vi lượng thuốc trừ sâu đến trên 90% Hãy giải thích quá trình

hoạt động của máy rửa rau quả

Trả lời:

Khí phóng điện qua không khí khô dưới điện áp 4000V sẽ tạo ra ozon

3O2  → 2O3

Lượng ozon sinh ra có tính oxi hóa mạnh nên có tác dụng diệt khuẩn

toàn bởi vì ngoài ozon nó còn tạo ra một lượng nhỏ NO 2 làm nước rửa có môi trường

axit, gây hại cho sức khoẻ và môi trường Hãy nêu một phương pháp đơn giản nhất

để kiểm tra ngay máy tạo ozon có lượng chất này hay không

Trả lời:

Để kiểm tra xem máy tạo ozon có NO2không ta có thể dung quì tím để thử

nước rửa rau, nếu quì tím chuyển sang màu đỏ điều đó có nghĩa là trong khí tạo thành

Câu 5 Tại sao khi sử dụng máy photocopy ta thấy có mùi khét và phải đặt máy photocopy ở nơi thoáng mát?

Trả lời:

Máy photocopy hoạt động sẽ có sự phóng điện qua không khí tạo thành lượng nhỏ ozon nên ta ngửi thấy mùi khét Vì vậy phải đặt máy photocopy ở nơi thoáng mát

để ozon khuếch tán ra ngoài tránh tích tụ gây các bệnh về thần kinh và hô hấp

Câu 6 Nước ozon là gì? Nó được sử dụng ở đâu, hiệu quả ra sao?

Trả lời:

Nước ozon hay dung dịch hoạt hoá điện hoá là dung dịch chứa các chất oxi hoá mạnh như: O3, H2O2,… Nước ozon dùng chữa bệnh viêm loét, nấm da, chống nhiễm khuẩn cho bệnh viện (thay cho chất OHC[CH2]3CHO giá cao, gây độc cho nhân viên,…) và nước ozon còn diệt được virus cúm gà H5N1

Câu 7 Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu mỏ có chứa một lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí lại chứa nhiều nitơ Quá trình đốt sản sinh

ra các loại khí độc hại như: sulfua đioxit (SO 2 ) và ni tơ đioxit (NO 2 ) Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các axit sunfuric (H 2 SO 4 ) và axit nitric (HNO 3 ) Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hòa tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì… làm cho nước mưa trở nên độc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người Hãy viết phương trình phản ứng hình thành axit từ các oxit tương ứng của nó

Trang 26

Do bạc tác dụng với O2 và khí H2S có trong không khí tạo ra bạc sun-phua có

màu đen Cụ thể: 4Ag + O2 + 2 H2S = 2 Ag2S + 2H2O

Câu 9 Khi làm thí nghiệm với các hợp chất của lưu huỳnh thường sinh ra một lượng

khí H 2 S hay SO 2 , những khí này rất độc có thể gây hại đến sức khỏe cũng như môi

trường sống xung quanh Để giảm thiểu lượng khí này người ta thường dùng nước

vôi Hãy giải thích vì sao lại dùng nước vôi và viết phương trình phản ứng hóa học

minh họa

Trả lời:

Nước vôi là Ca(OH)2là một bazơ phản ứng mạnh với H2S và SO2tạo thành

muối nên có thể làm giảm thiểu lượng khí này

H2S + Ca(OH)2  →CaS + 2H2O

SO2 + Ca(OH)2  → CaSO3 + H2O

Câu 10 Cao su là một trong những vật liệu quan trọng trong cuộc sống Tuy nhiên,

cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp khi chưa lưu hóa thì kém bền, kém đàn hồi, dễ

chảy dính ở nhiệt độ cao Để cao su trở nên bền, đan hồi tốt hơn người ta phải lưu

hóa nó.Hóa chất để lưu hóa cao su là gì? Vì sao sau khi lưu hóa cao su lại tốt hơn

Trả lời:

Lưu hóa cao su là chế hóa cao su với một lượng nhỏ lưu huỳnh (3-4%) ở nhiệt

độ 130o

C-140oC tạo ra những cầu nối đi sunfua (-S-S-) gắn các phân tử polime hình

sợi của cao su tạo thành cấu trúc mạng không gian làm cao su bền hơn

Câu 11 Phía trên tầng đối lưu và phần dưới tầng bình lưu ở độ cao 20-30 km là tầng ozon Tầng ozon đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc bảo vệ sự sống trên bề mặt trái đất Vì sao tầng ozon có vai trò quan trọng đó?

Trả lời:

Tầng ozon có tác dụng như một lá chắn bảo vệ xung quanh trái đất, ngăn không cho tia cực tím thâm nhập vào trái đất Tia cực tím là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh ung thư

Câu 12 Sữa bò tươi là một loại thực phẩm đang được tiêu thụ một lượng lớn Tuy nhiên, sữa lại dễ nhiễm khuẩn nên thời gian gần đây nhiều người thu mua sưa bò trên địa bàn TP.HCM và các tỉnh lân cận thường pha oxy già vào sữa nhằm làm sữa tươi lâu hơn Hãy dùng kiến thức hóa học giải thích việc làm trên, nếu pha oxy già vào sữa có gây hại đến sức khỏe không?

Trả lời:

Nước oxy già (dung dịch H2O2 3%) có tính oxi hóa mạnh, thanh trùng và diệt khuẩn Pha oxy già vào sữa nhằm mục đích thanh trùng, diệt khuẩn Oxy già là chất phân ly nhanh, giải phóng oxy và chuyển hóa thành nước, không ảnh hưởng sức khỏe Tuy nhiên, lượng oxy già trong sữa tươi quá cao có thể oxi hóa chất béo trong sữa, từ đó làm sữa tươi có mùi hôi

Phần trắc nghiệm

Câu 1 Dung dịch axit nào sau đây không được chứa trong bình thủy tinh ?

Trang 27

Câu 2 Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm giúp tẩy rửa nhà tắm, ví dục

như “Duck pro nhà tắm” là một sản phẩm thông dụng Nó giúp tẩy vết gỉ sét, vết hóa

vôi, vết xả phòng đọng lại, vết thâm đen trong kẻ gạch… Thành phần quan trong có

trong sản phẩm này là

Câu 3 Mưa axit là khi lượng mưa có độ pH thấp có thể gây hại đến môi trường như

phả hủy các đồ vật bằng kim loại, các công trình xây dựng… Thành phần chính gây

ra mưa axit là

Câu 4 Hiện nay nồi, chảo không dính là một trong những vật dụng được sử dùng

nhiều trong chế biến thực phẩm Để chế tạo nồi chảo không dính người ta tráng một

lớp Teflon lên trên bề mặt Công thức của Teflon là

A CF4 B (-CF2-CF2)n C CF2Cl2 D CCl4

Câu 5 Tầng ozon ở độ cao 20 – 30 km có vai trò quan trọng trong việc ngăn cản tia

cực tím ( tác nhân gây bệnh ung thư) Tuy nhiên, ngày nay lương ozon ngày càng suy

giảm Một trong những hóa chất gây suy giảm lượng ozon là

Câu 6 Đầu que diêm ngoài S, C, P còn chứa 50 % KClO3 Vai trò KClO3 là

A chất cung cấp oxi để dốt cháy C, S, P

A O3có tính oxi hóa mạnh, khả năng sát trùng cao

B O3có tính khử mạnh, khả năng sát trung cao

C O3 là một khí độc

D một nguyên nhân khác

Câu 8 Nhiều nơi trên thế giới, lưu huỳnh lắng đọng thành những mỏ lớn Lưu huỳnh được đưa lên mặt đất bằng cách bơm nước siêu nóng (khoảng 1700C) dưới áp suất cao cùng với không khí nóng vào mỏ lưu huỳnh Hỗn hợp bọt của không khí, nước và lưu huỳnh nóng chảy được đẩy lên mặt đất Có thể lấy được lưu huỳnh theo cách trên

là nhờ tính chất nào của lưu huỳnh?

A Lưu huỳnh dễ nóng chảy

B Lưu huỳnh tan trong không khí và nước nóng

C Lưu huỳnh là đơn chất

D Lưu huỳnh dễ tan trong nước

Câu 9 Muối gì được dùng làm thuốc ảnh tráng lên cuộn phim?

Câu 10 Khi bể nhiệt kế trong phòng thí nghiệm, để thu lại thủy ngân bi rơi vải thì ta dùng hóa chất nào?

2.3.2.Bài tập hóa học về vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong chương trình lớp

11

Bài tập tự luận

Chương sự điện ly

chất Ca 5 (PO 4 ) 3 OH và được tạo thành bằng phản ứng : 5Ca 2+ + 3PO 4

+ OH - Ca 5 (PO 4 ) 3 OH (1) Quá trìn h tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh sâu răng Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic, axit lactic Thức ăn với hàm lượng đường cao tạo điều kiện tốt cho việc hình thành các axit đó Hãy giải thích vì sao khi độ pH giảm thì làm tăng khả năng sâu răng, nêu phương pháp làm bảo vệ răng

Trả lời:

Khi lượng axit trong miệng tăng lên,pH giảm, làm cho phản ứng xảy ra:

Trang 28

H+ + OH- → H2O

Khi nồng độ OH-giảm, theo nguyên lý Lơ-Sa-Tơ-li-ê, cần bằng (1) chuyển

dịch theo chiều nghịch và men răng bị bào mòn, tao điều kiện cho sâu răng phát triển

Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường, đánh răng

sau khi ăn Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF2, vì ion F-tạo

điều kiện cho phản ứng sau xảy ra:

5Ca2+ + 3PO4

+ F- Ca5(PO4)3F Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH

Ở nước ta, một số người có thói quen ăn trầu, việc này rất tốt cho việc tạo men

răng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi (Ca(OH)2), chứa các ion Ca2+

và OHlàm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận

-Câu 2 Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, diện tích đất phèn các loại có đến khoảng 1,5

triệu ha, phân bố chủ yếu ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu

và ở một số vùng khác Ở Miền Bắc đất phèn chủ yếu tập trung ở vùng Kiến An - Hải

Phòng Đất phèn có nhiều ảnh hưởng đến việc trồng trọt của những vùng đất bị

nhiễm phèn đó Vậy đất phèn là gì? Hãy nêu một số biện pháp cải tạo đất phèn

Trả lời:

Đất phèn, đất chua phèn hay đất chua là các thuật ngữ khác nhau để chỉ loại đất

có độ pH thấp, thường là từ 5,5 trở xuống Có khi pH chỉ còn 3 hoặc 2 Thủ phạm chủ

yếu trong đất phèn là nhôm (Al) và Sắt (Fe)

Có nhiều biện pháp cải tạo đất phèn để trồng cây Trên đất ngập nước thì chủ

yếu cải tạo để trồng lúa Trong các biện pháp cải tạo đất phèn thì biện pháp sử dụng

nước ngọt để rửa phèn là biện pháp có hiệu quả hơn cả Ở các vùng đất cao thì bón

vôi và bón phân lân nung chảy là biện pháp chiếm ưu thế Đất phèn ở Đồng Bằng

Sông Cửu Long nhiều vùng trước đây chỉ bỏ hoang hóa Nhưng nhờ quanh năm có từ

3-6 tháng ngập lụt, nên việc sử dụng nước ngọt để cải tạo được coi là biện pháp chủ

lực Nhờ vậy các vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tứ giác Long Xuyên và Tây

Sông Hậu đã trở thành vựa lúa góp phần cho sản lượng lúa của Đồng Bằng Sông Cửu

Long tăng lên nhanh chóng và rất ổn định

ngày Tùy theo khu vực mà nước trong hay đục, để làm trong nước người ta thường dung phèn chua Hãy giải thích việc làm này

Trả lời:

Phèn chua làm trong nước vì trong thành phần của phèn chua có Al2(SO4)3 Khi vào trong nước thì có phản ứng thuỷ phân thuận nghịch :

Al3+ + 3H2O  Al(OH)3 + 3H+ Trong đó Al(OH)3dạng keo có bề mặt rất phát triển, hấp phụ các chất lơ lửng

ở trong nước, kéo chúng cùng lắng xuống dưới

Câu 4 Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh đau dạ dày là do lượng axit HCl trong dạ dày quá cao, giảm pH Để giảm bớt lượng axit, người ta thường uống dược phẩm Nabica (NaHCO 3 ) Viết phương trình ion rút gọn của phản ứng xảy ra

Trả lời:

H+ + HCO3

→ CO2 + H2O

chất có gốc SO 3 2- Để xác định sự có mặt của các ion SO 3 2- trong rau quả, một hoc sinh ngâm một ít quả đậu trong nước Sau một thời gian lọc lấy dung dịch rồi cho tác dụng với dung dịch H 2 O 2 (chất oxi hóa), sau đó cho tác dụng tiếp với dung dịch BaCl 2 Viết các phương trình ion thu gọn đã xảy ra

Trả lời:

SO3 2-

Trang 29

Câu 7 Vì sao thêm muối quá sớm thì đậu không nhừ?

Trả lời:

Các bà nội trợ thường nhắc nhở: khi nấu đậu chớ cho muối quá sớm Điều này

có thể giải thích một cách khoa học như sau: Trong đậu nành khô, nước rất ít Do đó

có thể coi nó như một dung dịch đặc và lớp vỏ là một màng bán thấm Khi nấu, nước

bên ngoài sẽ thẩm thấu vào trong đậu làm đậu nành nở to ra Sau một thời gian các tế

bào trong hạt đậu bị phá vỡ làm cho đậu mềm

Nếu khi nấu đậu ta cho muối quá sớm thì nước ở bên ngoài có thể không đi vào

trong đậu, thậm chí nước trong đậu sẽ thẩm thấu ra ngoài do nồng độ muối trong

nước muối bên ngoài lớn hơn nhiều so với nồng độ muối trong đậu nếu cho muối quá

nhiều

Câu 8 Vì sao nước mắt lại mặn?

Trả lời

Nước mắt mặn là vì trong một lít nước mắt có 6g muối Nước mắt sinh ra từ

tuyến lệ nằm ở phía trên mi ngoài của nhãn cầu Nước mắt thu nhận được muối từ

máu (trong 1 lít máu có 9g muối) Nước mắt có tác dụng bôi trơn nhãn cầu, làm cho

nhãn cầu không bị khô, bị xước vì có muối nên còn có tác dụng hạn chế bớt sự phát

triển của vi khuẩn trong mắt

Câu 9 Để xử lý nước thải sinh hoạt có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau như:

phương pháp hóa lý, phương pháp sinh học Hãy nêu đặc điểm của phương pháp hóa

học trong quá trình xử lý nước thải

Trả lời:

Phản ứng hóa học dùng trong hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt gồm có: phản

ứng trung hòa, oxy hóa khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất độc

hại Cơ sở của phương pháp này là các phản ứng hóa học diễn ra giữa chất ô nhiễm

và hóa chất thêm vào, do đó, ưu điểm của phương pháp là có hiệu quả xử lý cao,

thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước khép kín Tuy nhiên, phương

pháp hóa học có nhược điểm là chi phí vận hành cao, không thích hợp cho các hệ

thống xử lý nước thải sinh hoạt với quy mô lớn Bản chất của phương pháp hoá lý

trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là áp dụng các quá trình vật lý và hoá học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học, tạo thành các chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường

Chương nitơ và photpho

Câu 1 Tại sao dân gian có câu ca dao:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Nghe tiếng sấm dậy phất cờ mà lên” ?

Trả lời:

Khi có sấm sét, khí N2 và O2có sẵn trong không khí tác dụng với nhau tạo một lượng nhỏ NO, khí NO sinh ra tác dụng với O2tạo thành NO2, sau đó NO2hoá hợp với O2 và H2O tạo thành HNO3, HNO3 trong nước mưa tác dụng với thành phần cacbonat trong đất đá tạo muối nitrat dễ tan sẽ cung cấp thêm một lượng đạm tự nhiên cho đất dưới dạng ion NO3

Câu 3 Tại sao Ăngghen lại nói “Ở đâu có nitơ, ở đó có sự sống”

Trả lời:

Ăngghen khẳng định như vậy hoàn toàn có lí bởi vì đối với thực vật, nitơ có vai trò như một nguyên tố dinh dưỡng cấu tạo nên tế bào, không phải thực vật nào cũng cố định được đạm từ nitơ không khí (trừ cây thuộc họ đậu) nên con người phải chuyển hoá nitơ đó thành dạng muối dễ tan như amoni hoặc nitrat để rễ cây hấp thụ

và duy trì sự sống Đối với động vật, nitơ là nguyên tố không thể thiếu để hình thành nên protein từ đơn giản đến phức tạp

Câu 4 Thuốc nổ dinamit nổi tiếng của Nobel là gì? Nó được điều chế ra sao?

Trang 30

Trả lời:

Thuốc nổ dinamit có thành phần chính là nitroglixerol hay glixeryl trinitrat, là

chất lỏng không màu, nặng, sánh, rất dễ phát nổ do phân tử chứa nhiều nhóm nitro,

được Nobel sử dụng làm thuốc nổ an toàn lần đầu tiên và trở thành nổi tiếng

Nitroglixerol được điều chế từ phản ứng nitro hoá giữa glixerol và hỗn hợp HNO3

Thuốc nổ TNT có thành phần chính là 2,4,6-trinitrotoluen được điều chế từ

phản ứng nitro hoá giữa toluen và axit nitric đặc (H2SO4đặc xúc tác)

Thuốc nổ C4 là loại thuốc nổ dẻo có thể chứa đến 94% về khối lượng hợp chất

RDX (viết tắt của “Research Department Explosive”, tên IUPAC là

1,3,5-trinitroperhydro-1,3,5-triazine hay hexogen, công thức phân tử C3H6N6O6), ngoài ra

còn có thêm chất dẻo để kết dính, sức công phá mạnh hơn TNT nhiều, khi cháy sinh

ra nhiều khói độc C4 được sử dụng phổ biến trong chiến tranh ở Việt Nam

Mẩu thuốc nổ C4 chứa hexogen Mô hình phân tử hexogen

Hình 2.3 Mẩu thuốc nổ C4 chứa hexogen và mô hình phân tử hexogen

Câu 6 Photpho trắng được bảo quản thế nào? Bị bỏng photpho trắng thì xử lí ra

sao?

Trả lời:

Photpho trắng tự cháy trong không khí tạo khói trắng mùi tỏi và toả năng lượng dưới dạng lân quang màu xanh nhạt Do đó phải bảo quản photpho trắng bằng cách ngâm ngập trong nước

Photpho trắng được Pháp sử dụng như vũ khí hoá học ở Việt Nam Nạn nhân

bị bỏng do nhiệt (photpho trắng cháy toả nhiệt mạnh, có thể cao đến 1200oC), sau đó sản phẩm cháy hoá hợp với H2O tạo axit gây ra bỏng do axit

P2H6 + 4O2  → P2O5 + 3H2O

Câu 8 Hợp chất của photpho có ứng dụng gì?

Trả lời:

Ca(H2PO4)2được dùng làm phân bón, cung cấp lân cho cây dưới dạng H2PO4

CaHPO4: làm chất phụ gia cho thức ăn của động vật

Ca5P3O10(canxi triphotphat): được cho vào bột giặt

Câu 9 Diêm tiêu là gì? Vì sao diêm tiêu được dung để ướp thịt?

Trả lời:

Trong quá trình ướp, nitrat chuyển thành nitrit, rồi thành oxit nitric Nitrit làm chậm phát triển của độc tố làm hỏng thịt (do Clostridium botulinum tiết ra) giữ cho thịt chậm ôi, chậm trở mùi, mất mùi Trong thịt có myoglobin làm cho thịt có màu đỏ

tự nhiên, oxit nitric kết hợp với myoglobin thành nitro – oxit myoglobin có màu đỏ sậm Khi gia nhiệt, màu đỏ sậm này chuyển thành màu hồng nhạt, làm gia tăng màu

Trang 31

sắc, hương vị thịt, do vậy muối diêm được cho phép dùng làm phụ gia thực phẩm

nhưng trong giới hạn cho phép để bảo quản thịt, ướp thịt làm jambon, xúc xích

Câu 10 Trong dân gian người ta dùng phân đạm (urê) để ướp thịt cá Tuy nhiên,

phân đạm đã bị cấm sử dụng để ướp thịt cá Hãy giải thích vì sao phân đạm có thể

dùng để ướp thịt cá, tác hại của nó?

Trả lời:

Do phân đạm có tính diệt khuẩn, mặt khác khi ướp sẽ phân huỷ tạo thành các

chất nitrat, nitrit (như muối diêm), nên kéo dài được thời gian bảo quản cá, làm cho

cá giữ được màu sắc, nhất là màu hồng ở Phân đạm: dùng phân đạm ướp cá là nguy

hiểm:

- Phân đạm (urê) giá rẻ, thường dùng lượng nhiều, lại ướp lâu, thấm vào cá

nhiều, lượng ướp nitrat, nitrit sinh ra cũng sẽ nhiều và gây độc như khi dùng

muối diêm quá giới hạn cho phép

- Phân đạm (urê) thấm vào cá, hoặc không kịp biến đổi hoặc biến thành các

chất trung gian khác như: ammoniac (có mùi khai, khi nấu bị mất đi một phần

nhưng phần còn lại làm cho cá có mùi vị lạ, khó chịu, ăn không ngon, khó ăn)

và axit cyanic (gây độc)

- Phân đạm và các chất trung gian làm cho tổng lượng nitơ trong thực phẩm

tăng lên, làm mất cân bằng nitơ trong thực phẩm, ăn vào không có lợi Khi

dùng chúng làm nước mắm, kiểm nghiệm có thể cho con số tổng lượng nitơ

cao giả tạo (nhưng không phải là lượng đạm có tính dinh dưỡng)

Câu 11 Hiện nay, người dân vẫn dùng phân đạm (urê) để ướp thịt cá dù đã bị cấm

sử dụng Hãy nêu một phương pháp đơn giản nhất để nhận ra phân đạm trong thịt,

cá nhằm bảo vệ sức khỏe

Trả lời:

Khi mua cá biển (thường cá biển bị lạm dụng urê bảo quản) tuy thấy tươi

nhưng khi xem kỹ, có thể nhận thấy khác thường: cá có mùi khai, khi nấu có mùi

khai nặng hơn (do ammoniac bốc lên); mang cá có màu đỏ sậm, khác với màu đỏ tự

mô sống khi tiếp xúc với nó Khi được cách ly thích hợp khỏi nhiệt của môi trường xung quanh thì nó phục vụ như là chất cô đặc và nguồn vận chuyển của nitơ dạng khí

mà không cần nén Ngoài ra, khả năng của nó trong việc duy trì nhiệt độ một cách siêu phàm, do nó bay hơi ở 77 K (-196°C hay -320°F) làm cho nó cực kỳ hữu ích trong nhiều ứng dụng khác nhau, chẳng hạn trong vai trò của một chất làm lạnh chu trình mở, bao gồm:

• Làm lạnh để vận chuyển thực phẩm

• Bảo quản các bộ phận thân thể cũng như các tế bào tinh trùng và trứng, các mẫu và chế phẩm sinh học

• Trong nghiên cứu các tác nhân làm lạnh

• Để minh họa trong giáo dục

• |Trong da liễu học để loại bỏ các tổn thương da ác tính xấu xí hay tiềm năng gây ung thư, ví dụ các mụn cóc, các vết chai sần trên da v.v

• Nitơ lỏng có thể sử dụng như là nguồn làm mát để tăng tốc CPU,GPU, hay các dạng phần cứng khác

• Ứng dụng của Nitơ lỏng trong sản xuất thực phẩm và đồ uống như (Làm căng

vỏ bao,)

Câu 13 Từ khi CFC bị cấm sử dùng trong các thiết bị làm lành người ta đã thay vào

đó là khí NH 3 Hãy giải thích vì sao NH 3 được dùng để thay thế khí CFC

Trả lời:

Khí CFC là khí sinh hàn được dùng trong các thiết bị làm lạnh, tuy nhiên khí CFC có thể làm giảm lượng ozon trên khí quyển Do đó, người ta dùng khí NH3 để thay thế CFC vì khí ammoniac có các đặc điểm sau:

Khí NH3không gây hại đến tầng ozon

Ngày đăng: 04/08/2016, 19:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5. Mức độ kết hợp nội dung về kinh tế xã hội và môi trường ở trường THPT - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Bảng 1.5. Mức độ kết hợp nội dung về kinh tế xã hội và môi trường ở trường THPT (Trang 18)
Bảng 1.3. Mục đích sử dụng bài tập hoá học của giáo viên - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Bảng 1.3. Mục đích sử dụng bài tập hoá học của giáo viên (Trang 18)
Bảng 1.4. Mức độ cần thiết của hệ thống bài tập - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Bảng 1.4. Mức độ cần thiết của hệ thống bài tập (Trang 18)
Bảng 1.7. Thống kê khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập có nội dung về - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Bảng 1.7. Thống kê khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập có nội dung về (Trang 19)
Hình 2.1.  Thùng chứa bột Chlorine - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 2.1. Thùng chứa bột Chlorine (Trang 22)
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm (Trang 52)
Đồ thị đường lũy tích giúp thuận lợi cho việc so sánh kết quả giữa lớp TN và ĐC. - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
th ị đường lũy tích giúp thuận lợi cho việc so sánh kết quả giữa lớp TN và ĐC (Trang 54)
Hình 3.1. Đồ thị đường luỹ tích (bài 1)  Bảng 3.4. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 2) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.1. Đồ thị đường luỹ tích (bài 1) Bảng 3.4. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 2) (Trang 55)
Hình 3.4 . Đồ thị đường luỹ tích (bài 4)  Bảng 3.7. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 5) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.4 Đồ thị đường luỹ tích (bài 4) Bảng 3.7. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 5) (Trang 56)
Hình 3.3. Đồ thị đường luỹ tích (bài 3)  Bảng 3.6. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 4) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.3. Đồ thị đường luỹ tích (bài 3) Bảng 3.6. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 4) (Trang 56)
Hình 3.7.  Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 1) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.7. Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 1) (Trang 57)
Hình 3.5. Đồ thị đường luỹ tích (bài 5)  Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 6) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.5. Đồ thị đường luỹ tích (bài 5) Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích (bài 6) (Trang 57)
Hình 3.8.  Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 2) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.8. Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 2) (Trang 58)
Hình 3.9. Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 3) - Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tếxã hội và môi trường ở trường THPT
Hình 3.9. Biểu đồ tổng hợp kết quả học tập (bài 3) (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w