1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập côn trùng đại cương

12 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Côn Trùng Đại Cương
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Côn Trùng Học
Thể loại Bài Tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 261,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chi phụ đầu: Râu đầu - Râu đầu côn trùng anten là đôi phần phụ có chia đốt, có thể cử động được, mọc phía trước trán giữa 2 mắt kép.. - Chức năng miệng là cơ quan thu nhận chức năng *

Trang 1

Câu 1: Những đặc điểm cơ bản nào giúp côn trùng rất phong phú, đa dạng về loài và đông đúc về số lượng?

Trả lời:

- Cơ thể nhỏ: dễ ẩn náu và chỉ cần một lượng nhỏ thức ăn cũng đủ đề tồn tại và sinh sôi sang các thế hệ sau

- Có khả năng bay: dễ dàng di chuyển đến môi trường sống tốt nhờ đó mà phân bố rộng kiếm ăn, giao phối và trốn tránh kẻ thù

- Cấu trúc cơ thể độc đáo:

+ Cơ thể được bao bọc bởi một lớp da cứng với thành phần đặc trưng là chất kitin tạo thành bộ xương ngoài vững chắc

+ Cơ thể côn trùng còn có lớp sáp (lớp Polyphenol) với thành phần chủ yếu là Lipoprotein ngăn ngừa nước và các chất hòa tan thấm vào cơ thể đồng thời hạn chế thoát hơi nước ra ngoài

- Khả năng sinh sản cao và đa dạng: sức sinh sản nhanh và mạnh, hoàn thành một thế hệ tương đối ngắn, đa dạng về các phương thức sinh sản và đẻ với số lượng lớn VD: Trong suốt cuộc đời ong chúa đẻ khoảng 1,5 triệu chứng, mối chúa vài chục triệu chứng,…), số lượng côn trùng hơn 50% sinh giới (200 triệu côn trùng/ đầu người)

- Đa dạng biến thái: trong vòng đời côn trùng phải trải qua các pha phát triển khác nhau bao gồm biến thái không hoàn toàn (trứng - sâu non - sâu trưởng thành) và biến thái hoàn toàn (trứng - sâu non - nhộng - sâu trưởng thành) khác nhau ở sự khác biệt sâu non và sâu trưởng thành Ngoài ra còn có biến thái trung gian Ở mỗi pha phát triễn côn trùng yêu cầu dinh dưỡng và đặc điểm sinh thái học khác nhau

- Ngoài ra, côn trùng còn có sức sống và tính thích nghi tương đối mạnh nên dễ tồn tài do thuộc nhóm động vật có máu lạnh, nhiệt độ cơ thể có thể biến đổi theo nhiệt độ của môi trường xung quanh Ở nhiệt độ lạnh (mùa đông) cơ thể côn trùng có thể đi vào giai đoạn ngừng phát dục và chỉ hoạt động trở lại khi điều kiện bình thường

Câu 2: Vai trò của côn trùng trong đời sống con người và sự sống trên trái đất?

Trả lời:

* Lợi ích của côn trùng:

- Hơn 90% côn trùng là có ích (trực tiếp hay gián tiếp) hoặc không gây hại

- Thụ phấn cho cây trồng (ong, ngài, bướm, kiến, ruồi,…): có khoảng 80% cây trồng trong nông nghiệp thụ phấn nhở côn trùng Rất nhiều loại cây trồng đặc biệt là họ Bầu Bí Dưa, cây có múi,… phải dựa chủ yếu vào ong mật để thụ phấn Hàng năm năng suất của các loại thực vật được thụ phấn bởi côn trùng ước lượng khoảng 8 tỷ USD

- Sản phẩm thương mại từ côn trùng: tơ tằm, mật, sáp ong, sữa ong chúa, tinh dầu cà cuống,… là những sản phẩm quý không thể thay thế đối với nhu cầu ăn, mặc, chế tạo hàng hóa của con người

- Côn trùng thiên địch: rất phong phú, hiện diện khắp mọi nơi, gần như nơi nào có côn trùng có hại đều có sự hiện diện của chúng Chúng tấn công (ăn thịt hay ký sinh) làm giới hạn mật số một số loại côn trùng có hại khác VD: Bọ rùa ăn thịt họ Coccinellidae hay ong ký sinh họ Braconidae,…

- Nguồn thực phẩm đầy tiềm năng và có giá trị: là thức ăn cho chim, cá và một số loài động vật có vú khác kể cả con người Côn trùng được xem là thực phẩm của tương lai trước các vấn đề toàn cầu (bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên,…) Ngoài ra, nó còn là một mắt xích

Trang 2

- Dùng trong nghiên cứu khoa học nhất là ruồi dấm Drosophila sử dụng trong công tác nghiên cứu di truyền học

- Sử dụng làm thuốc cho người: chất melittin trong nọc ong có thể trị viêm khớp Ngoài ra côn trùng cũng được sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền như mật ong, sữa ong chúa,

- Côn trùng ăn những chất hữu cơ mục nát (xác bã động thực vật, phân động vật) phân hủy nhanh thành những chất đơn giản cần thiết cho cây trồng, dọn chất bẩn ra môi trường sống của con người

- Côn trùng tấn công những thực vật không có lợi cho con người khác

* Tác hại của côn trùng:

- Có khoảng 10% loài côn trùng gây hại và các loài gây hại nghiêm trọng chỉ nhỏ hơn 1% Tuy nhiên mức độ gây hại của chúng rất lớn trên nhiều lĩnh vực

- Côn trùng gây hại trên cây trồng: hầu như các loài cây trồng đều bị côn trùng gây hại Chúng ăn phá các bộ phận của cây, đẻ trứng trên cây hay làm trung gian môi giới bệnh hại cây trồng gây giảm năng suất hoặc hủy diệt toàn bộ cây

- Côn trùng gây hại trong kho vựa (nông sản tồn trữ) và gây hư hại, phá hủy nhiều công trình bằng gỗ (nhà cửa, đồ đạc,…) như mối

- Côn trùng gây hại trên người và động vật: tiết nọc độc do vết cắn hay chích (ong, bọ xít, ruồi, muỗi,…); ký sinh (chí, rận, bọ chét,…) và truyền nhiều bệnh nguy hiểm như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết được truyền bởi các loại muỗi, các bệnh tiêu chảy, thương hàn được truyền bởi các loại ruồi

- Ngoài ra, nó còn gây ra các hệ lụy gián tiếp như ô nhiễm môi trường, tích lũy độc tố,… do sử dụng hóa chất phòng trị côn trùng có hại

Câu 3: Đặc điểm hình thái đầu côn trùng, Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu phần phụ miệng?

* Đặc điểm hình thái đầu côn trùng:

- Đầu là phần trước cơ thể côn trùng, Tập trung các cơ quan thụ cảm do 6 đốt hình thành chia thành các khu:

Trán – chân môi / Môi trên / Cạnh – đỉnh đầu / Gáy- Gáy sau / Má dưới

- Đầu trên đó mang 1 đôi anten (râu đầu), 1 đôi mắt kép, 2 - 3 mắt đơn và phần phụ miệng

- 3 kiểu đầu côn trùng:

+ Đầu miệng trước: có miệng hướng về phía trước đầu, trục dọc của đầu song song với trục dọc cơ thể Kiểu đầu này thuận lợi cho những loài lao về phía trước tấn công con mồi và đục khoét thực vật (mọt, đục thân)

+ Đầu miệng dưới: có miêng ở phía dưới đầu, trục dọc của đầu gần thẳng góc với trục dọc cơ thể Kiểu đầu này gặp phổ biến ở các loài ăn thực vật, theo kiểu vừa bò vừa gặm ăn (như châu chấu, dế mèn, dế dũi,…)

+ Đầu miệng sau: có miệng kéo dài ra phía sau đầu hướng về mặt bụng, trục dọc đầu cùng trục dọc thân tạo thành góc nhọn Kiểu đầu này gặp ở côn trùng có kiểu miệng chích hút (như ve sầu, bọ rầy, bọ xít,…)

Trang 3

- Chi phụ đầu:

Râu đầu

- Râu đầu côn trùng (anten) là đôi phần phụ có chia đốt, có thể cử động được, mọc phía trước trán giữa 2 mắt kép

- Rất đa dạng: khác nhau giữa các loài, giữa các giới tính => thường dùng trong định danh và phân biệt giới tính

- Các dạng râu đầu: sợi chỉ, lông cứng, chuỗi hạt, hình chùy, hình đầu gối, răng cưa, hình lông chim, râu lá lợp,…

- Râu đầu là cơ quan cảm thụ hóa học để xác định tìm kiếm nguồn: Thức ăn, giao phối, đẻ trứng…

- Gồm 3 phần:

+ Chân râu: đốt gốc của râu, thô và ngắn, có cơ thịt điều khiển hoạt động của râu

+ Cuống râu: đốt thứ 2 thường là đốt ngắn nhất, có cơ điều khiển hoạt động của râu

+ Roi râu: phần tiếp theo đốt cuông râu, phần phát triển nhất của râu, có tính đặc thù khác biệt cho từng loài và giới tính

Mắt

- Gồm: 1 mắt kép, 2 - 3 mắt đơn hoặc không có mắt đơn tùy loài

- Mắt kép gồm hàng ngàn phần tử ứng mới mỗi ô mắt

- Mỗi phần tử có 1 đường dẫn ánh sáng từ 1 hướng riêng, qua các thấu kính riêng

- Các hình ảnh đơn được tổng hợp tại hệ thần kinh trung ương

- Quan sát được toàn bộ không gian xung quanh

- Độ phân giải thấp do thiếu “võng mạc” trung tâm với khả năng điều chỉnh hội tụ + sự ghép hình rời rạc

Miệng

- Nói chung miệng côn trùng gồm 5 phần: môi trên, đôi hàm trên, đôi hàm dưới, môi dưới và lưỡi

- Có thể phân thành hai kiểu miệng cơ bản: miệng gặm nhai và miệng chích hút Miệng gặm nhai là loại miệng nguyên thủy, các kiểu miệng khác đều từ miệng gặm nhai biến hóa thành

- Chức năng miệng là cơ quan thu nhận chức năng

* Ý nghĩa nghiên cứu phần phụ miệng: là một trong những yếu tố định danh côn trùng do rất đa dạng và khác nhau ở các loài; kiểu miệng phản ánh tập tính ăn và thức ăn; từ triệu chứng gây hại có thể nhận xét loại côn trùng gây hại có thể chọn thuốc hóa học phòng trừ: với sâu miệng nhai dùng thuốc có tác dụng tiếp xúc, xông hơi, nội hấp, vị độc; với sâu miệng chích hút dùng thuốc nội hấp là có tác dụng nhất và có thể dùng kết hợp các loại thuốc trên

Câu 4: Mô tả miệng và các phần phụ miệng cùa kiểu miệng nhai Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu phần phụ miệng? Trả lời:

* Mô tả miệng và các phần phụ miệng cùa kiểu miệng nhai:

- Miệng gặm nhai: là kiểu miệng ăn các thức ăn động, thực vật dạng thể rắn VD: cào cào, chấu chấu, chuồn chuồn… Đây là kiểu miệng nguyên thủy nhất

+ Kiểu miệng nhai ăn thực vật đặc trưng ở châu chấu hai bên trái phải có 2 chiếc hàm lớn với nhiều răng cưa, thích hợp phá hoại mùa màng

+ Kiểu miệng nhai bắt mồi: Hàm trên cong, nhọn hướng về phía trước thích nghi cho việc bắt mồi giết và ăn thịt con mồi

- Cấu tạo miệng nhai: Gồm 5 phần: Môi trên, đôi hàm trên, đôi hàm dưới, môi dưới và lưỡi

+ Môi trên: là một mảnh cứng, cử động được để đậy kín mặt trước miệng côn trùng

+ Hàm trên: là đôi xương cứng nằm ngay phía dưới môi trên và được chia làm hai phần: phía trước hàm là răng cắn, phía sau hàm là răng nhai Răng nhai thô và to, dùng để nghiền nát thức ăn

Trang 4

+ Hàm dưới: là đôi xương cứng nằm phía dưới hàm trên Hàm dưới gồm 5 phần: Đốt chân hàm, đốt thân hàm, lá trong hàm, lá ngoài hàm, râu hàm dưới Râu hàm dưới có 1-5 đốt dùng để nếm hoặc ngửi thức ăn

+ Môi dưới: chia làm 5 phần: cằm sau, cằm trước, lá giữa môi, lá cạnh môi và đôi râu môi dưới

+ Lưỡi: là phần u lồi nằm giữa hàm trên và hàm dưới Lưỡi không phải là phần phụ của đầu nhưng cũng tham gia cấu tạo miệng

* Ý nghĩa nghiên cứu phần phụ miệng:

- Là một trong những yếu tố định danh côn trùng do rất đa dạng và khác nhau ở các loài;

- Phản ánh tập tính ăn (bắt mồi hoặc ăn thực vật) và thức ăn (rắn);

- Từ triệu chứng gây hại có thể nhận xét loại côn trùng gây hại có thể chọn thuốc hóa học phòng trừ: gây những tổn thương nhìn thấy rất rõ trên các bộ phận cây trồng như lá bị cắn thủng hoặc mất từng mảng, thân cây hay hoa quả bị đục rỗng hoặc bị gặm nham nhở với sâu miệng nhai dùng thuốc có tác dụng tiếp xúc, xông hơi, nội hấp, vị độc để phòng trừ;

Câu 5: Mô tả miệng và các phần phụ miệng cùa kiểu miệng chính hút, Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu phần phụ miệng?

Trả lời:

* Mô tả miệng và các phần phụ miệng cùa kiểu miệng chính hút:

- Từ miệng gặm nhai biến hóa thành miệng hút Đặc điểm chung của loại miệng này là các chi phụ đều kéo dài để thích nghi cho việc lấy thức ăn ở dạng lỏng (máu, dịch cây, mật ong, ) Loại này có nhiều kiểu biến dạng:

+ Miệng gặm hút: đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là hàm trên, môi trên còn giữ theo kiểu miệng nhai; hàm dưới, môi dưới kéo dài ra thành vòi hút Điển hình là ong, thích nghi với tập tích hút mật hoa và ăn phấn hoa (ăn được cả thức ăn dạng lỏng và rắn)

+ Kiểu miệng hút: thường gặp ở bộ cánh vảy (Lepidoptera) như ngài, bướm Môi trên, dưới, đôi hàm thoái hóa; hàm dưới phát triển tạo vòi hút dài Thích nghi với tập tích hút mật hoa (ăn thức ăn dạng lỏng)

+ Kiểu miệng liếm hút: điển hình ở ruồi nhà Hàm trên, dưới thoái hóa; Môi dưới kéo dài thành vòi ngắn, đầu mút môi dưới phình to thành 2 đĩa môi hình quả thận có tính đàn hồi (ngắn thô dạng lòng máng), có thể dùng đĩa môi để liếm và hút thức ăn dạng lỏng, nhão hoặc các hạt rắn nhỏ bé trên bề mặt thức ăn Môi trên và lưỡi hợp lại tạo thành ống dẫn thức ăn, trong lưỡi có ống tiết nước bọt

+ Kiểu miệng cứa liếm: thường gặp ở ruồi trâu Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là 2 hàm trên và 2 hàm dưới phát triển hoạt động theo chiều ngang, cứa rách da động vật cho chảy máu để đĩa môi liếm và hút Đoạn cuối môi dưới phình to tạo thành đĩa vòi để liếm và hút chất lỏng Môi trên và lưỡi tạo thành ống dẫn thức ăn, trong lưỡi có ống dẫn nước bọt

+ Kiểu miệng chích hút: thường gặp ở rệp, bọ rầy, bọ xít, muỗi Loại miệng này có thể chích vào mô cây để hút dịch hay chích vào cơ thể động vật để hút máu Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là các phần của miệng đều kéo dài, môi dưới thành vòi có tác dụng bảo vệ miệng Xoang miệng và cuống họng hợp lại thành bộ phận bơm hút Căn cứ vào nguồn lấy thức ăn người ta chia thành miệng chích hút thực vật và miệng chích hút động vật

Trang 5

+ Ngoài ra, còn có kiểu miệng dũa hút và miệng sâu non bộ Cánh vẩy

* Ý nghĩa nghiên cứu phần phụ miệng:

- Là một trong những yếu tố định danh côn trùng do rất đa dạng và khác nhau ở các loài;

- Phản ánh tập tính ăn (hút thức ăn) và thức ăn (lỏng);

- Từ triệu chứng gây hại có thể nhận xét loại côn trùng gây hại có thể chọn thuốc hóa học phòng trừ: khó nhận biết hơn côn trùng miệng nhai tuy nhiên có thể tìm các vết chích hút trên các bộ phận bị gây hại với côn trùng miệng chích hút dùng thuốc nội hấp là có tác dụng nhất và có thể dùng kết hợp các loại thuốc khác (tiếp xúc, xông hơi,

vị độc,…)

Câu 6: Đặc điểm hình thái ngực côn trùng Nêu các kiểu cánh côn trùng thường gặp trong sản xuất nông nghiệp? Trả lời:

* Đặc điểm hình thái ngực côn trùng:

- Ngực côn trùng chi làm 3 đốt ngực: đốt trước / đốt ngực giữa / đốt ngực sau

- Trung tâm của sự vận động: 3 cặp chân, 1 - 2 đôi cánh

- Côn trùng là loài chân đốt duy nhất có khả năng bay

- Mỗi đốt ngực gồm 4 mặt: mảnh lưng ngực/ mảnh bụng ngực/ hai mảnh bên

- Mỗi đốt ngực có một đôi chân có tên tương ứng là chân trước, chân giữa và chân sau Giai đoạn trưởng thành nếu

có 2 đôi cánh: đôi cánh trước ở đốt ngực giữa, đôi cánh sau ở đốt ngực sau Nếu chỉ có một đôi cánh như ruồi, muỗi thì đôi cánh sau thoái hoá và biến đổi thành một cấu tạo hình chuỳ làm nhiệm vụ giữ thăng bằng khi bay

- Kích thước, hình dáng của chân và cánh là các yếu tố quan trọng trong định danh

- Các phần phụ của ngực:

Chân ngực

- Chân côn trùng có thể thay đổi nhiều tùy loài phù

hợp với chức năng cũng như điều kiện sống và có

các dạng chân côn trùng sau: chân chạy, chân bắt

mồi, chân nhảy, chân bơi, chân đào bới,…

- Chủ yếu là vận động đi lại, bám đậu Ngoài ra có

loài dùng để bắt mồi, lấy phấn

- Gồm 5 đốt: đốt chậu, đốt chuyển, đốt chày, đốt bàn chân, đốt cuối bàn chân (móng, vuốt)

Cánh

- Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất

có cánh Xuất phát từ phần phụ đốt cơ thể nguyên

thủy

- Do mảnh lưng ngực phát triển kéo dài ra

- Chức năng: Phát tán kiếm ăn, tìm đôi giao phối,

trốn tránh kẻ thù Ngoài ra ở 1 số loài cánh còn có

chức năng khác như: Điều chỉnh nhiệt độ cơ thể

(ong mật), phát ra tiếng kêu dẫn dụ sinh học (châu

chấu), bảo vệ cơ thể (bọ cánh cứng), dự trữ không

khí (niềng niễng)

- Cánh có cấu tạo bằng da dẹp, mỏng hình tam giác

- Trên cánh có nhiều mạch cánh (còn gọi là gân cánh) có tác dụng làm giá chống đỡ, trong gân có mạch máu, dây thần kinh và khí quản

- Mạch cánh có: mạch dọc là mạch chạy từ gốc cánh theo chiều dọc của cánh ra mép cánh; mạch ngang là mạch ngắn nối liền giữa hai mạch dọc

Trang 6

* Các kiểu cánh thường gặp trong sản xuất nông nghiệp:

- Cánh cứng: cánh trước cứng như sừng, luôn che phủ bảo vệ cánh sau như cánh trước của bọ hung, bọ rùa thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera)

- Cánh màng: của chuồn chuồn, ong và phần lớn cánh sau của côn trùng bằng chất màng mỏng, trong suốt hoặc mờ gọi là cánh màng

- Cánh da: Thường là cánh trước, cánh này trở lên dày hơn bằng chất sừng gần giống da Cánh trước của châu chấu, gián

- Cánh nửa cứng: Nửa phía gốc của cặp cánh trước dày, cứng, nửa sau của cánh là phần cánh màng, mềm như cánh trước bọ xít thuộc bộ cánh nửa (Hemiptera)

- Cánh vảy: Cấu tạo bằng chất màng mỏng phủ đầy vảy Cánh của các loài ngài, bướm

- Cánh tơ: hẹp, dài, xung quanh có nhiều lông dài Như cánh của bọ trĩ thường thuộc bộ cánh tơ (Thysanoptera) Câu 7: Nêu cấu tạo chi tiết bụng côn trùng

Trả lời:

- Bụng là trung tâm của qúa trình trao đổi chất và sinh dục gồm 5 - 12 đốt hợp lại, côn trùng cấp cao không vượt quá

10 đốt Các đốt bụng nối với nhau bằng 1 lớp màng mỏng, đầu của đốt sau lồng vào dưới mép sau của đốt trước Nhờ đó mà bụng côn trùng có thể kéo dài ra hoặc co ngắn lại khi côn trùng vận động

- Các đốt bụng Không gắn chắc với nhau nên có thể linh động: phồng, xẹp, co dãn…dễ dàng cho hô hấp, ghép đôi, sinh sản

- Ở mỗi đốt có 4 mảnh: mảnh lưng của bụng, mảnh bụng của bụng và 2 mảnh bên của bụng và trên mỗi đốt bụng có một cặp lỗ thở ở 2 bên sườn

- Chi phụ của bụng: không mang cơ quan vận động và chỉ có 2 loại phần phụ là cơ quan sinh dục ngoài và lông đuôi

Đặc điểm, cấu tạo, chức năng Lông đuôi

Là phần phụ của đốt bụng thứ 11 được mọc từ mảnh trên hoặc mảnh bên hậu môn Lông đuôi nói chung chia đốt, dài, mảnh Có loài lông đuôi biến thành dạng gọng kìm Lông đuôi của côn trùng là cơ quan cảm giác

Bộ phận sinh dục ngoài

Đực

Bộ phận sinh dục ngoài của con đực gồm có dương cụ và quặp âm cụ

- Dương cụ là vật kéo dài ra ngoài của da từ màng giữa đốt phía sau của đốt bụng thứ 9 Dùng để đưa tinh trùng vào cơ thể con cái,

- Quặp âm cụ phần lớn là do gai lồi của đốt bụng thứ 9 tạo thành Cũng có loại quặp âm cụ do lông đuôi biến hoá thành (như ở chuồn chuồn) Dùng giữ chặt bộ phận sinh dục ngoài của con cái (âm cụ) để giao phối.,

Cái

Bộ phận sinh dục ngoài của con cái là bộ phận đẻ trứng Bộ phận đẻ trứng thường do chi phụ của đốt bụng thứ 8 và thứ 9 tạo thành, có dạng máng hoặc ống, nên được gọi là ống đẻ trứng (hay máng đẻ trứng)

Cấu tạo ống đẻ trứng bó sát vào nhau mà thành:

- Đôi máng đẻ trứng dưới xuất phát từ đốt bụng thứ 8;

- Đôi máng đẻ trứng giữa xuất phát từ đốt bụng thứ 9;

- Đôi máng đẻ trứng trên xuất phát từ đốt bụng thứ 9

Ống đẻ trứng vừa là công cụ khoan vừa là máng dẩn trứng vào nơi cần đẻ

Trang 7

Câu 8: Khái quát cấu tạo da côn trùng?

Trả lời:

- Cấu tạo da côn trùng gồm 3 lớp

Lớp biểu bì

Là lớp ngoài cùng của cơ thể côn trùng, không có cấu tạo tế bào, được hình thành bởi các chất tiết ra của tế bào nội bì Biểu bì da côn trùng được chia thành 3 lớp:

- Biểu bì trên: là lớp ngoài cùng, mỏng nhất, chỉ chiếm 1 - 7 % độ dày da Gồm 3 lớp là lớp men, lớp sáp, lớp Poliphenol và lớp cuticulin Thành phần hoá học của biểu bì trên chủ yếu là Lipoprotein nên lớp này có chức năng là ngăn ngừa nước và chất hoà tan từ ngoài thấm vào cơ thể, đồng thời hạn chế sự thoát hơi nước của cơ thể ra ngoài

- Biểu bì ngoài: Là lớp cứng nhất của da côn trùng do lớp này có chứa kitin kết hợp với loại protein hoá cứng (sclerotin) theo cấu trúc mạng lưới

- Biểu bì trong: Là lớp dày nhất của biểu bì song không cứng như biểu bì ngoài, mà có tính dẻo và đàn hồi

Lớp nội bì

Là 1 lớp tế bào đơn thường có dạng hình trụ, giữa các tế bào có xen kẽ những tế bào hình thành lông và tế bào hình thành các tuyến (tế bào tuyến, tế bào cảm giác, tế bào màu)

Chúng tiết ra các chất để tạo thành lớp biểu bì mới, tiết ra dịch tiêu hoá lớp biểu bì cũ và hấp thụ trở lại các chất đã tiêu hoá để tạo ra lớp biểu bì mới, có khả năng hàn gắn các vết thương Mặt khác, một số tế bào nội bì có thể phân hoá để tạo thành cơ quan cảm giác và các tuyến trên

da

Lớp màng đáy Là lớp màng mỏng nằm sát ngay dưới đáy lớp tế bào nội bì và có cấu trúc không định hình Vi

khí quản và đầu mút các dây thần kinh cảm giác phân bố rất nhiều ở đây

Câu 9: Khái quát cấu tạo và hoạt động tiêu hóa của côn trùng?

Trả lời:

* Cấu tạo hệ tiêu hóa côn trùng:

- Bộ máy tiêu hoá của côn trùng là một ống dài nằm dọc theo chiều dài cơ thể và ở giữa thể xoang, bắt đầu từ miệng

ở phía đầu và kết thúc là lỗ hậu môn ở đốt cuối bụng Nó được chia làm 3 phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau

Ruột trước

Gồm có miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày cơ (dạ dày trước)

- Diều là bộ phận phình to sau thực quản, làm nhiệm vụ cất giữ thức ăn để chuyển dần xuống dạ dày trước hoặc ruột giữa Đối với côn trùng bộ cánh cứng, cánh thẳng thì thức ăn ở đây được tiêu hoá một phần

- Dạ dày trước là 1 túi cơ, vách cơ dày và có nhiều gờ kitin cứng hình răng, làm nhiệm vụ nghiền nát thức ăn Đối với côn trùng ăn thức ăn rắn dạ dày trước rất phát triển, côn trùng ăn thức ăn dạng lỏng không phát triển dạ dày này

Ruột giữa

Là 1 ống dài tương đối đồng đều 1 đầu nối với ruột trước, phía sau nối với ruột sau Phía trước có nhiều nhánh kéo dài gọi là túi thừa (manh tràng) trong chứa nhiều vi sinh vật giúp tiêu hóa Trong ruột giữa có màng mỏng và trên đó có nhiều sợi lông, tăng tiết diệ n hấp thu các chất dinh dưỡng Ruột giữa có chứa các loại men do các tế bào vách ruột tạo nên, những tế bào này có khả năng chọn lọc, thẩm thấu hoặc hấp thu các chất dinh dưỡng chuyển vào xoang cơ thể

Chức năng chính của ruột giữa là tiêu hoá và hấp thụ thức ăn đồng thời đẩy các chất bã xuống ruột sau để thải ra ngoài

Ruột sau

Ruột sau có bao phủ kitin phía trong và chia ra: ruột non, ruột già, ruột thẳng Đầu ruột sau (giáp van Pilo) có các ống Malpighi của bộ máy bài tiết đổ vào Ruột sau không làm nhiệm vụ tiêu hoá

mà chỉ thu hồi nước trong phân trước khi thải ra ngoài

Trang 8

* Hoạt động của hệ tiêu hóa:

- Thức ăn khi đưa vào cơ thể không thể sử dụng ngay được mà phải qua nhiều khâu tác dụng cơ học và hoá học mới được hấp thụ vào cơ thể

+ Tác động cơ học: Là quá trình nghiền nhỏ thức ăn bằng hàm (nước bọt chứa các men tiêu hóa trộn lẫn vào thức ăn) trên của côn trùng kiểu miệng gặm nhai và sự co bóp của dạ dày trước trước khi vào ruột giữa ở một số côn trùng khác Trong tuyến nước bọt có amilaza, mantaza thủy phân Gluxit trong thức ăn thành đường Monosaccarit

(C6H10O5)n + nH2O → n(C6H12O6) + Tác động hoá học: Là sự thuỷ phân 3 chất chính trong thức ăn là protit, gluxit, lipit nhờ các men tiêu hóa Proteaza, cacbohydraza và lipaza khi đến ruột giữa Các hợp chất cao phân tử được chuyển hoá thành các chất đơn giản, dung dịch thấm qua vách ruột giữa đi nuôi cơ thể Khi vào máu các chất đơn giản lại được tổng hợp thành các chất gluxit, lipit, protit cung cấp cho côn trùng sinh trưởng phát triển, những chất cặn bạ xuống ruột sau và thải ra ngoài bằng hệ thống ống Malpighi Men lipaza phân giải lipit thành glyxerin và axit béo Men proteaza, peptidaza phân giải protit thành axit amin

- Tiêu hoá ngoài ruột: Là hình thức tiêu hoá đặc biệt Côn trùng tiết men tiêu hoá từ tuyến ruột vào thức ăn, làm thức

ăn mềm nhũn ra (lỏng hóa) trước khi hút vào cơ thể Đây là kiểu tiêu hóa đặc trưng của côn trùng ăn thịt và 1 số loài ăn thực vật Ví dụ: Ấu trùng bọ rùa, bọ xít ăn sâu, ve,…

* Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu hệ tiêu hóa: Có tác dụng trong việc lựa chọn thuốc trừ sâu nhất là thuốc trừ sâu vị độc phù hợp với dịch tiêu hóa của mỗi loại côn trùng

Câu 10: Khái quát cấu tạo và hoạt động hệ tuần hoàn của côn trùng?

Trả lời:

* Cấu tạo hệ tuần hoàn của côn trùng:

- Tuần hoàn của côn trùng là tuần hoàn hở, máu tràn ngập khắp trong xoang cơ thể, trong khe hở giữa các cơ quan Chỉ một phần máu lưu thông trong 1 mạch máu duy nhất gọi là mạch máu lưng Mạch máu lưng nằm ở xoang lưng gồm 2 phần: Chuỗi tim và động mạch chủ

+ Chuỗi tim: Là hệ thống các buồng tim nối tiếp nhau, bắt đầu từ đốt bụng cuối cùng đến đốt bụng thứ 2 Đa số côn trùng có 9 tim Mỗi tim có lỗ ở phía trước và phía sau, qua lỗ này máu từ xoang cơ thể được hút vào buồng tim; 2 van tim ở hai bên

+ Động mạch chủ: Là 1 ống thẳng tiếp nối với chuỗi tim, bắt đầu từ đốt bụng thứ nhất và kết thúc ở phía trong đầu Chức năng là dẫn máu được bơm từ chuỗi tim ra phía trước

* Hoạt động hệ tuần hoàn côn trùng: được thực hiện qua hiện tượng co bóp buồng tim của các vách ngăn ở mỗi buồng tim Buồng tim hoạt động cùng chu kỳ nhưng lệch pha với buồng tim bên cạnh, tức là buồng tim sau bóp thì buồng tim trước giản Máu được chuyên từ sau ra trước theo hình gợn sóng

- Khi tim phình ra (tim trương), lỗ tim trước đóng lại, lỗ tim sau và 2 van tim mở ra Máu từ tim sau và hai bên xoang máu dồn vào

Trang 9

- Khi tim bóp lại (tim thu), lỗ tim trước mở ra, tim sau và 2 van tim đóng lại, máu được đẩy dồn lên tim trước Cứ như vậy máu được được dồn từ bụng lên đầu Từ đầu máu chảy xuyên qua các xoang đi khắp cơ thể sau

- Số lần co bóp của phòng tim phụ thuộc vào loài, vào trạng thái sinh lý của côn trùng và vào điều kiện môi trường,

từ 15 - 150 lần/phút

- Máu (chứa chất dinh dưỡng và cặn bả) đến được từng cơ quan riêng biệt như râu đầu, mắt… nhờ có sự hỗ trợ của bầu co bóp ở từng nơi, đến chân là nhờ hoạt động của các màng ngăn ở chân

Câu 11: Khái quát cấu tạo và hoạt động hô hấp của côn trùng?

Trả lời:

* Cấu tạo hệ hô hấp côn trùng:

- Hệ hô hấp côn trùng gồm 1 mạng lưới ống dẫn khí nằm rải rác khắp cơ thể gọi là ống khí quản Ống khí quản liên

hệ trực tiếp với bên ngoài qua lỗ thở và thông với tất cả các mô tế bào qua mạng lưới ống vi khí quản Ở một số loài côn trùng có đoạn ống vi khí quản phình to gọi là túi khí

+ Khí quản: có nguồn gốc do tầng phôi ngoài và có cấu tạo giống da côn trùng Mặt trong có gờ xoắn ốc hóa kitin nhờ đó làm cho khí quản không bị bẹp khi vận động Khí quản có kích thước 2 - 5µm Hai lỗ thở ở mỗi đốt được nối với 2 khí quản dọc hai bên cơ thể gọi là khí quản dọc bên, từ vị trí đó khí quản chia 3 nhánh: một nhánh đi về phía lưng phân bố vào mạch máu lưng và các cơ lưng; một nhánh đi về phía bụng phân bố vào thần kinh và các cơ bụng; một nhánh đi vào giữa phân bố quanh ống tiêu hoá, bộ máy sinh dục và thể mỡ Ngoài ra còn có khí quản dọc lưng, dọc bụng và dọc ruột Các khí quản này thông với khí quản dọc bên bằng những nhánh ngang

+ Vi khí quản: Là những ống nhỏ, có kích thước ≤ 1µm đi vào từng tế bào của cơ thể côn trùng Chúng không có cấu tạo kitin và gờ xoắn ốc như khí quản Trong vi khí quản chứa đầy huyết dịch để đảm bảo cho quá trình trao đổi khí dễ dàng

+ Lỗ thở: Phân bố dọc hai bên sườn mỗi đốt cơ thể trừ đốt đầu, đốt ngực trước và đốt cuối cùng của bụng là không

có lỗ thở Số lỗ thở tuỳ thuộc vào loài côn trùng và chia ra 3 loại chính: loại nhiều lỗ thở có ít nhất 8 đôi lỗ thở; loại

ít lỗ thở có ít nhất 1 - 2 đôi; loại không có lỗ thở: Là loài hoặc là hoàn toàn không có lỗ thở hoặc có lỗ thở nhưng đã

bị bịt kín không hoạt động được

* Hoạt động hô hấp của côn trùng

- Ở khí quản hô hấp theo 2 cơ chế: khuếch tán (thụ động) và thông khí qua lỗ thở (chủ động)

+ Khuếch tán được thực hiện do chênh lệch nồng độ khí CO2 và O2 giữa bên trong cơ thể và bên ngoài

+ Thông khí được thực hiện do côn trùng chủ động cử động làm thay đổi thể tích của bụng để bơm hút không khí qua lỗ thở

- Trong quá trình lưu thông, không khí tiếp xúc trực tiếp với các mô, các tế bào

- Toàn bộ hoạt động hô hấp của côn trùng là do chuỗ i hạch thần kinh ngực, bụng chi phối

- Ngoài ra, còn có các kiểu hô hấp đặc biệt khác:

Trang 10

+ Hô hấp bằng da: Là phương thức hô hấp điển hình của những loài côn trùng không có hệ thống khí quản: VD: Ruồi

+ Hô hấp bằng mang: Điển hình là loài côn trùng sống dưới nước VD: Niềng niễng, bọ xít nước…

+ Hô hấp của côn trùng sống ký sinh: Lấy O2 qua đường hô hấp của vật chủ VD: ruồi, ong ký sinh có ống thở hình móc câu xuyên qua lớp da ký chủ để lấy không khí bên ngoài, có loài ống thở vươn đến khí quản của ký chủ để lấy

O2

* Ý nghĩa nghiên cứu hệ hô hấp côn trùng:

- Hô hấp là quá trình hút O2 và thải CO2 Trong phòng trừ sâu hại ta ức chế được 1 trong 2 yếu tố này thì côn trùng

sẽ chết

- Côn trùng có hệ thống khí quản dày đặc, rất thuận lợi cho việc dùng các loại thuốc hơi độc để phòng trừ Trước hết tìm các loại thuốc có tác dụng bịt kín lỗ thở hoặc phá vỡ vách khí quản, vi khí quản hoặc hoà tan chất béo của các mô côn trùng (ví dụ các nhóm dầu nhờn hoặc dầu hỏa) Các loại thuốc xông hơi có tác dụng gây rối loạn quá trình hô hấp của côn trùng, côn trùng sẽ bị chết

Câu 12: Khái quát cấu tạo và hoạt động hệ thần kinh của côn trùng?

Trả lời:

* Cấu tạo hệ thần kih côn trùng:

- Bộ máy thần kinh côn trùng được chia làm 3 hệ: hệ thần kinh trung ương; hệ thần kinh giao cảm ; hệ thần kinh ngoại vi

+ Những hệ thần kinh này đều do thần kinh nguyên và hạch thần kinh cấu tạo nên Căn cứ vào chức năng của thần kinh nguyên chia làm 3 loại: Thần kinh nguyên cảm giác, thần kinh nguyên vận động và thần kinh nguyên liên hệ Tập hợp của nhiều tế bào thần kinh nguyên cảm giác, vận động và liên hệ là hạch thần kinh

Hệ thần kinh

trung ương

Giữ vai trò điều hòa toàn bộ cơ thể Gồm 3 nhóm hạch thần kinh:

- Hạch não chia làm 3 phần:

+ Não trước: Phát triển hơn cả, là trung tâm điều khiền của mắt kép và mắt đơn + Não giữa: Phân nhánh tới râu, là trung tâm điều khiển hoạt động của râu đầu + Não sau: Điều khiển hoạt động của môi trên và là nơi xuất phát của thần kinh phản hồi

- Hạch thần kinh dưới cuống họng: chi phối hoạt động của bộ phận miệng, tuyến nước bọt, phần trước của ống tiêu hoá và các cơ quanh cổ

- Chuỗi hạch thần kinh bụng: là 1 chuỗi các đôi hạch thần kinh gồm 3 đôi hạch thần kinh ngực

và 8 đôi hạch thần kinh bụng Các đôi hạch ngực điều khiển hoạt động của chân và cánh, các đôi hạch bụng điều khiển sự đóng mở của các lỗ thở, bộ phận sinh dục ngoài và lông đuôi

Hệ thần kinh

giao cảm

Thần kinh giao cảm chi phối hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể và hệ cơ, được chia thành 3 phần chính

- Phần miệng – dạ dày: Điều khiển hoạt động của môi trên, ruột trước, tim, động mạch và động tác nuốt của 1 số loài côn trùng

- Phần bụng: Điều khiển hoạt động của cơ và cánh côn trùng

- Phần đuôi: Điều khiển hoạt động của ruột sau và bộ máy sinh dục

Hệ thần kinh

ngoại vi

Hệ thần kinh ngoại vi nằm ở phía ngoài, gồm ngọn của các thần kinh nguyên cảm giác Nhờ

có thần kinh ngoại vi mà thần kinh trung ương, thần kinh giao cảm liên hệ được với các cơ quan khác

Ngày đăng: 27/06/2016, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w