1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN TẬP DỊCH HẠI TRONG KHO

14 590 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 245,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vi sinh vật gây hại nông sản bảo quản làm thay đổi chất lượng cảm quan thay đổi màu sắc nông sản, chất lượng giống, chất lượng dinh dưởng không những là mất dinh dưỡng mà làm xuất hi

Trang 1

Câu 1: Phân tích những thiệt hại do dịch hai sau thu hoạch gây ra?

Trả lời:

- Hao hụt về lượng bao gồm số lượng và khối lượng Tức là, có sự hao hụt về số lượng cá thể trong khối nông sản và hao hụt về chất khô hay thủy phần của nông sản do hoạt động gây hại của các đối tượng dịch hại nông sản sau thu hoạch (cắn phá, ăn mất, hô hấp, ) có sự chênh lệch về trọng lượng của hàng hóa trước và sau hoạt động bảo quản Hầu hết thiệt hại về lượng thường do côn trùng hại nông sản sau thu hoạch và chuột hại gây ra Theo FAO (2005), thiệt hại chung toàn thế giới về nông sản dự trữ khỏng 10% (13 triệu tấn/năm) do côn trùng ăn mất Vấn đề này ở khối asean là 15% Thiệt hại ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới cao hơn cả Ở Việt Nam cũng không tránh khỏi, thiệt hại 10% sản lượng lúa (2,3 triệu tấn) và 20% sản lượng cây lấy củ (số liệu năm 1995)

- Mất phẩm chất hàng hóa: mọi hao hụt về lượng đều dẫn tới mất mát về phẩm chất hàng hóa Tuy nhiên, hao hụt về lượng không được dùng làm chỉ tiêu để đánh giá mức độ mất mát phẩm chất hàng hóa Việc xuất hiện xác côn trùng, lông chuột, các bụi bẩn khác, các chất bài tiết của đối tượng dịch hại nông sản thấm vào nông sản và biến đổi các thành phần hóa học trong nông sản đều làm mất phẩm chất hàng hóa nông sản Theo FAO (2005), côn trùng ăn mất 13 trệu tấn nông sản trên toàn thế giới thì nó cũng làm mất giá trị hàng hóa nông sản hết 100 triệu tấn Các vi sinh vật gây hại nông sản bảo quản làm thay đổi chất lượng cảm quan (thay đổi màu sắc nông sản), chất lượng giống, chất lượng dinh dưởng (không những là mất dinh dưỡng mà làm xuất hiện mùi, màu do các hoạt động phân giải của chúng)

- Làm bẩn hàng hóa: làm mất sự thuần khiết của nông sản bảo quản, là do chúng thải loại các cặn bả như phân, nước tiểu và các sản phẩm khác (tổ, xác ấu trùng, nhộng,…) thông qua các hoạt động trao đổi chất của các đối tượng dịch hại nông sản (côn trùng kho, nấm mốc, chuột hại kho,…) Ngoài ra, các chất thải còn là môi trường cho vi sinh vật phát triển (phân đóng vai trò như chất dinh dưởng, nước tiểu làm tăng ẩm độ) từ đó sinh ra các độc tố gây hại cho người

và động vật nuôi và làm mất chất lượng hàng hóa VD: loài chuột hại kho số lượng hàng hóa nông sản bị chúng làm nhiễm bển gấp hơn 3 lần lượng hàng hóa nông sản mà chúng ăn,…

- Làm mất sức nảy mầm của hạt giống: với côn trùng trước hết phải kể tới việc làm giảm hoặc phá hủy vật chất dẫn tới việc vật chất dự trữ hay lưu trữ bị giảm hoặc hoàn toàn mất làm cho hạt giống mất khả năng nảy mầm Đối với vi sinh vật, khi chúng phát triển mạnh sẽ tấn công lớp tế bào ngoài rồi tấn công cả phần nội nhủ và phôi hạt, phân hủy các chất dinh dưỡng dự trữ của hạt cho hoạt động sống, sinh sản và lây lan, làm biến màu phôi, làm giảm sức sồng hoặc chết phôi trường hợp bị nặng có thể giảm tỷ lệ nảy mầm hạt đến 80 – 100%

- Làm mất uy tín (tín nhiệm) trong thương mại: do các tổn thất nêu trên ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng hàng hóa nông sản thương mại, tốn thời gian cho công tác diệt trừ đối tượng dịch hại từ đó ảnh hưởng đến thời gian giao hàng,

- Chi phí cho công tác xử lý và giải quyết hậu quả Phí nhập khẩu thuốc khử trùng hàng nông sản năm 2012 là 5,5 triệu USD

- Phát sinh các vấn đề khác như bị phá hủy các tài liệu, tư liệu hồ sơ, sách báo trong kho, trang thiết bị kho, mất hạt giống cho vụ mùa màng tiếp theo

Trang 2

Câu 2: Phân tích các yếu tố sinh vật và phi sinh vật gây tổn thất nông sản sau thu hoạch?

Trả lời:

a Các yếu tố sinh vật (yếu tố hữu sinh)

- Bao gồm tất cả những sinh vật có mặt gây hại trong kho, chúng sử dụng nông sản kho làm thức ăn, làm nơi cư trú để phát triển như: côn trùng hại kho (sâu mọt); vi sinh vật (nấm mốc, vi khuẩn) và động vật (chim, chuột) Ngoài ra cá quá trình biến đổi sinh lý, sinh hóa của nông sản bảo quản

- Các vi sinh vật sử dụng chất dinh dưỡng trong nông sản làm dinh dưỡng cho cơ thể của chúng Ngoài ra, chúng còn gây cho nông sản những màu sắc xấu, mùi vị khó chịu và có thể tích lũy độc tố do chúng tiết ra Các độc tố chủ yếu do nấm mốc tiết ra

- Đặc điểm của côn trùng hại kho là đa số là loài đa thực có khả năng nhịn ăn tốt, sức sinh sôi nảy nở mạnh và có phâ bố rộng Trong các hoạt động sống trong kho nông sản, côn trùng thải ra một lượng nước, khí CO2 và một lượng nhiệt đáng kể làm cho nông sản bị nống ẩm và thúc đẩy các quá trình hư hỏng khác như:

tự bốc nóng, gây ẩm mốc, tăng hô hấp của nông sản, và chất thải làm cho nông sản bị bẩn mất phẩm chất và tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển

- Ngoài ra, các quá trình sinh lý, sinh hóa của nông sản bảo quản (sự hô hấp, sự nảy mầm, sự chín sau thu hoạch và sự mất nước) cũng góp phần gây ra sự tổn thất của nông sản sau thu hoạch

b Các yếu tố phi sinh vật (yếu tố vô sinh)

- Bao gồm các tác nhân của điều kiện ngoại cảnh, điều kiện bảo quản như: ẩm độ; nhiệt độ; rơi vãi, bể vỡ do tổn thương cơ học và công nghệ bảo quản;

- Nhiệt độ: nhìn chung, hoạt động của các hoạt động sinh lý, sinh hóa của nông sản và các đối tượng dịch hại thường được đẩy mạnh bởi sự tăng nhiệt độ + Mỗi loài sâu mọt trong kho bảo quản, muốn hoàn thành quá trình phát dục của mình đều cần một lượng nhiệt độ nhất định – tổng tích ôn hữu hiệu Nếu không được cung cấp đầy đủ nhiệt độ thì nó sẽ không hoàn thành được quá trình phát dục của mình, dẫn đến tình trạng chết giữa chừng

+ Một loài vi sinh vật gây hại nông sản, trong quá trình sống không được cung cấp nhiệt đổ để sinh trưởng và phát triển, sẽ chúng không thể tồn tại hoặc bào tử không thể nảy mầm được

Trang 3

- Ẩm độ: là yếu tố quan trong thứ 2 sau nhiệt độ Khi nông sản bị nhiễm ẩm chưa một lượng nước cao (thủy phần cao) vì lý do nào đó thì các hoạt động nội tại của nông sản và đối tượng gây hại nông sản có thể gây hại và phá hủy nhanh chóng nông sản

+ Ẩm độ quá cao thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát sinh mạnh và ngược lại;

+ Sâu mọt là nhóm côn trùng chịu hạn, nhìn chung độ ẩm nông sản khoảng dưới 15% thì khả năng gây hại của chúng bị hạn chế, chỉ cần độ ẩm nhích thì khả năng gây hại của chúng đã tăng lên rất nhiều

- Lượng gió: tạo ra một bầu không khí thoáng đãng Luôn làm cho nhà khô được khô ráo; nguồn gió hài hòa làm cho mật độ sâu mọt bớt tăng cao và hạn chế khả năng phát sinh của vi sinh vật

- Ánh sáng: nơi nào tăm tối thì càng có nhiều sâu mọt và nấm mốc vì bản chất nấm mốc không thích ánh sáng và nhiều loài sâu mọt thích nơi tăm tối, bẩn thỉu

từ đó chúng gây hại cho nông sản

- Lượng mưa: thực chất ở đây lượng mưa là vấn đề ẩm độ Nếu nhà kho dột nát, nông sản bị ướt, chuột bọ lại xâm nhập

- Công nghệ bảo quản: quy mô bảo quản (hộ gia đình, kho lưu trữ); công nghệ bảo quản (truyền thống, hiện đại); môi trường bảo quản và vận chuyển cũng ảnh hưởng đến hiệu quả bảo quản nông sản sau thu hoạch;

- Trong quá trình thu hoạch, vận chuyển và bảo quản không thể tránh hỏi việc rơi vãi nông sản, bể vỡ do các tổn thương cơ học làm thất thoát về số lượng và phẩm chất nông sản (nhiễm bẩn)

- Ngoài ra còn các yếu tố phi sinh vật không đáng kể khác như: bụi; khí độc; hỏa hoạn;

=> Yếu tố phi sinh vật không chỉ trực tiếp làm hư hỏng nông sản, hàng hóa, phương tiện bào quản mà còn gián tiếp tạo điều kiện cho các yếu tố sinh vật có thể gây hại

Trang 4

Câu 3: Phân tích những đặc thù của sâu mọt hại nông sản?

Trả lời:

- Trạng thái ngủ nghỉ:

+ Trạng thái ngủ nghỉ hay đình dục là biểu thị cho một thời kỳ trong chu trình sống mà thường việc trao đổi chất bị giảm xuống mức cực tiểu khi gặp điều kiện bất lợi về nhiệt, ẩm độ hay thiếu thức ăn, thủy phần thấp

+ Thông thường nhất thể hiện ở côn trùng kho là sự xuất hiện trạng thái ngủ nghỉ ở vào giai đoạn ấu trùng tuổi cuối

+ Trạng thái ngủ nghỉ có thể là bắt buộc, không thể tránh khỏi như tập tính phổ biến ở đa số ngài trong kho và đã được sử dụng để sống sót qua mùa đông ở các vùng ôn đới

+ Trạng thái ngủ nghỉ là tùy ý như một sự xen vào trong quá trình sống và chỉ xảy ra khi điều kiện môi trường bất lợi như kể trên và hiện tượng này kéo dài cho đến khi các điều kiện môi trường trở nên thuận lợi cho loài VD:

nghỉ

Ấu trùng tuổi cuối của loài mọt cứng đốt Trogoderma granarium Quần thể đông đúc, thiếu thức ăn Ngài thóc Sitotroga cerealella Ẩm độ thấp

+ Lưu ý, trạng thái ngủ nghỉ tùy ý do điều kiện bất lợi tức là sâu mọt đã có sự chuẩn bị thay đổi điều kiện sinh lý cơ thể để đối phó kịp thời với điều kiện bất lợi đó VD: khi tiến hành xử lý diệt trừ sâu mọt hại kho (hóa học hay vật lý) mà nhiệt độ thấp lúc này như mùa đông ở miền bắc nước ta trước đó thì sâu mọt

đã ở trạng thái ngủ nghỉ ngưng mọi hoạt động trao đổi chất nên hiệu quả diệt trừ không cao

- Shock hôn mê: Là hiện tượng khi côn trùng bị tác dộng đột ngột bởi điều kiện bất lợi (nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp hay bị ngộ độc hóa chất,…) thì côn trùng sẽ ngừng hoạt động, sự trao đổi chất bị giảm sút, cường độ trao đổi chất trong trạng thái hôn mê Đó là trạng thái cơ thể chưa kịp chuẩn bị những điều kiện sinh lý

để đối phó với điều kiện bất lợi Nếu cường độ tác động của các yếu tố quá mạnh thì trao đổi chất bị tổn thương nghiêm trọng, cơ thể lâu phục hồi trở lại trạng thái ban đầu VD: Khi xử lý HCN cao đột ngột nhưng chưa tới mức giết hại sẽ làm cho côn trùng hôn mê Tuy nhiên, sẽ làm giảm hiệu quả diệt trùng do côn trùng đã ở trạng thái hôn mê như khử trùng CH3Br hoặc PH3 không hiệu quả sau khi gây hôn mê côn trùng bằng HCN

Trang 5

- Các pha phát dục:

+ Hầu hết các sâu mọt hại kho thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) đều thuộc kiểu biến thái hoàn toàn Do vậy, trong quá trình kiểm soát côn trùng đặc biệt là khử trùng không chỉ chú ý đến pha trưởng thành mà còn phải chú ý đến các pha phát dục khác

+ Pha trứng (pha khởi đầu của quá trình phát triển của sâu mọt) và nhộng (chúng nằm yên thực hiện các quá trình sinh học quan trọng) do đó không gây hại cho hàng hóa nông sản, ít trao đổi với môi trường ngoài nên khó diệt trừ bằng thuốc khử trùng xông hơi

+ Pha sâu non do cơ thể cấu tạo chủ yếu là để tích lũy dinh dưỡng nên mức độ gây hại rất nặng hàng hóa nông sản; Pha trưởng thành một số loài sâu mọt có tính ăn thêm sau khi hóa trưởng thành, cơ quan sinh dục chưa hình thành đầy đủ cần tích thêm dinh dưởng để chin muồi về sinh dục để tiến hành sinh sản VD:

mọt thuốc lá Lasioderma serricorne Do đó, cần tiến hành diệt trừ sâu mọt ở các pha này (bằng thuốc xông hơi,…) do chúng có các hoạt động sống và phá hoại

nặng

Câu 4: Cơ sở phân nhóm sâu mọt gây hại nông sản sau thu hoạch? Cho ví dụ mỗi nhóm?

Trả lời:

- Theo Cotton và Good (1937), có 4 nhóm côn trùng trong kho nông sản:

+ Nhóm 1 – nhóm gây hại chính: thuộc nhóm này là các loài gây tổn hại đáng kể cho nông sản bảo quản; chúng là các dạng điển hình gây nên sự hỏng chất lượng và hao hụt trọng lượng; thường xâm nhiễm trực tiếp vào hàng hóa, phát triển với mức quần thể lớn và có thể thay đổi một phần tiểu khí hậu trong kho

VD; mọt Sitophilus oryzea

+ Nhóm 2 – nhóm gây hại thứ yếu bao gồm những loài gây hại có tính chất cục bộ và có thể diễn ra chỉ sau khi có việc xâm nhiễm và phát triển của các loài

gây hại chính VD: mọt Oryzaephirus surinamensis

+ Nhóm 3 – nhóm vãng lai (hay nhóm gây hại ngẫu nhiên) là nhưng loài côn trùng xâm nhiễm vào kho, hàng hóa do khi mở cửa kho, bao gói hoặc trong quá trình vận chuyển, Chúng bị lôi cuốn do sức hấp dẫn của ánh sáng, mùi thơm hay chỉ với mục đích làm nơi trú ẩn VD: ruồi, bớm hay các loài côn trùng khác hoặc nhóm động vật chân khớp như rết, v.v

+ Nhóm 4 – Nhóm côn trùng ký sinh hay thiên địch gồm những côn trùnng xâm nhiễm vào kho hàng để ký sính hay ăn thị các côn trùng hại kho co mặt trong

đó VD: ong ký sinh và một số loài thuộc họ Carabidae

Trang 6

- Theo các tác giả Việt nam trước đây: Phan Xuân Hương, 1963; Vũ Quốc Trung, 1982 côn trùng hại ko được chia ra làm 2 nhóm:

+ Nhóm sâu mọt sơ cấp (trực tiếp tấn công ăn hại) có khả năng tấn công phá hoại nông sản còn nguyên (thóc) VD: mọt Sitophilus oryzea

+ Nhóm 2 – Nhóm sâu mọt thứ cấp gây hại trên nông sản sơ cấp (gạo, bột, ) hoặc mãnh vở do sâu mọt sơ cấp phá hoại – tận dụng các phần bị gặm phá của

sâu mọt sơ cấp VD: loài Oryzaephirus surinamensis

Câu 13: Các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ẩm độ) ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của dịch hại nông sản? Phân tích tổng lượng nhiệt hữu hiệu?

Trả lời:

a Các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ẩm độ) ảnh hưởng đến sựu sinh trưởng, phát triển của dịch hại nông sản

- Nhiệt độ:

+ Nhiệt độ là yếu tố quan trọng mang tính số lượng ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của côn trùng

+ Ở nhiệt độ thấp, sự phát triển của cá thể côn trùng diễn ra rất chậm và tỷ lệ chết cao; sự vận động cũng rất chậm Làm tốc độ tăng trường của quần thể rất thấp Khi nhiệt độ tăng lên, tốc độ phát triển của các cá thể cũng tăng theo, hoạt động cũng tăng, tỷ lệ chết giảm vì vậy tốc dộ tăng trưởng của quần thể tăng rất cao

+ Ở mỗi loài đều có một nhiệt độ tối ưu mà tại đó tăng trưởng quần thể đạt cực đại Khi nhiệt độ vượt qua nhiệt độ tối ưu, thì các điều kiện lại trở nên tương đối không thuận lợi cho côn trùng và tốc độ tăng trưởng quần thể giảm xuống

+ Nhìn chung, các loài sâu mọt hại kho nhiệt đới đều có nhiệt độ tối ưu 25 – 35oC Việc kéo dài mức nhệt độ thấp qua các thời kỳ phát triển của sâu mọt sẽ rất cần để loại bỏ nhiều loài gây hại Nhiệt độ tăng cao đột ngột cũng sẽ giết chết hầu hết các loài côn trùng gây hại

+ Nhiệt độ có vai trò chủ yếu trong sự sinh trưởng của hệ sợi nấm, mốc; nó cũng tác động đến việc sản sinh bào tử và đến sự nảy mầm của chúng Phần lớn nấm mốc phát triển trong khoảng 15 – 30oC và sinh trưởng tốt nhất ở khoảng 25 – 30oC Ở nhiệt độ thấp chúng không phát triển được, tuy nhiên ở một số loài Penicillium bào tử của nó không chết

Trang 7

- Thủy phần hay ẩm độ của hàng hóa nông sản – lượng nước tự do có trong hàng hóa nông sản Mà đối tượng dịch hại nông sản tấn công hàng hóa nông sản, nên thủy phẩn sẽ có ảnh hưởng tới sự phát triển của chúng

+ Ở thủy phần thấp hoặc cao thì tốc độ phát triển quần thể côn trùng hại kho sẽ thấp Còn ở thủy phần cực thuận thì tốc độ đạt mức cao nhất

+ Thủy phần thấp không nhất thiết giết chết côn trùng ngay tức khắc, chúng vẩn tồn tại nhưng tốc độ phát triển rất hạn chế

+ Thủy phần cao sự tăng trưởng của nấm mốc và các vi sinh vật khác phát triển mạnh từ đó hình thành sự cạnh tranh với côn trùng hại kho, làm giảm nhanh chóng khả năng sống sót của hầu hết côn trùng hại kho, rồi sau đó thay thế bằng các loài ăn nấm

- Ẩm độ hay ẩm độ tương đối không khí:

+ Nhìn chung, ảnh hưởng của ẩm độ có quan hệ mật thiết với thủy phần hàng hóa nông sản thông qua việc tồn tại sự cân bằng giữa thủy phần và ẩm độ Do đó,

ở trên bề mặt khối hàng hóa nông sản ẩm độ bao quanh có thể thấp hơn nhiều so với ở dưới sâu khối hàng, là nơi ẩm độ bị điều chỉnh bởi thủy phần của hàng hóa nông sản

+ Ở trên bề mặt khối hàng, côn trùng dễ bị làm khô nên các giai đoạn trước trưởng thành (nhất là sâu non và nhộng) hiếm gặp trên bề mặt khối hàng ở điều kiện khô ráo

+ Sâu mọt là nhóm côn trùng chịu hạn, nhìn chung độ ẩm nông sản khoảng dưới 15% thì khả năng gây hại của chúng bị hạn chế

+ Cũng như nhiệt độ, ẩm độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của hệ sợi nấm mốc và sự sinh sản bào tử cũng như sự nảy mầm của chúng Tùy loài mà

có sự đòi hỏi về ẩm độ khác nhau và có thể phân biệt thành các loại:

Ẩm độ để bào tử nảy mầm Ẩm độ mà nấm mốc sinh trưởng tốt nhất

Ưa khô < 80% < 95%

Ưa ẩm vừa 80 – 90% 95 – 100%

Ưa ẩm cao > 90% Ở 100%

Trang 8

b Phân tích công thức tổng lượng nhiệt hữu hiệu:

Công thức: K = Xn(Tn – To) Trong đó:

K: là tổng lượng nhiệt hữu hiệu (hằng số)

Xn: là thời gian phát dục (tính bằng giờ hoặc ngày)

Tn: là nhiệt độ trung bình của môi trường trong thời gian phát dục

To: là nhiệt độ phát dục

- Để hoàn thành một giai đoạn phát dục, mỗi loài côn trùng đòi hỏi phải có một tổng nhiệt lượng hữu hiệu nhất định Tổng nhiệt lượng này là một hằng số cho từng loài và được gọi là tổng tích ôn hữu hiệu

- Vì K và To là hằng số, nên khi nhiệt độ môi trường Tn càng cao thì thời gian phát dục Xn càng ngắn, nghĩa là tốc độ phát dục càng lớn Từ đó, tốc độ phát dục (V) được tính theo công thức: V = (Tn – To)/K

- Dựa vào công thức trên, có thể suy ra tốc độ phát triển của côn trùng ở các mức nhiệt độ của môi trường Nhiệt độ môi trường càng cao thì hiệu số (Tn – To) càng lớn và K là hằng số cho nên V càng lớn suy ra tốc độ phát triển cao và ngược lại ở nhiệt độ thấp Từ đó có thể áp dụng biện pháp xử lý nhiệt trong phòng trừ côn trùng hại kho – khi nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp hơn đáng kể so với ngưỡng nhiệt độ phát dục thì hoạt động của chúng diễn ra không bình thường như shock hôn mê, rơi vào trạng thái ngủ nghỉ hay thậm chí là chết

Trang 9

Câu 14: Nêu các đặc tính cần có của thuốc khử trùng nông sản sau thu hoạch Khi lựa chọn thuốc khử trùng cân nhắc những yếu tố nào?

Trả lời:

a Các đặc tính cần có của thuốc khử trùng nông sản sau thu hoạch:

- Dễ hóa hơi;

- Ít bị hấp thụ bời hàng hóa khử trùng;

- Khả năng thẩm thấu cao;

- Ít độc hại, ít dư ượng trong hàng hóa nông sản khử trùng;

- Khả năng cháy nổ thấp

- Ngoài ra, thuốc khử trùng cần phải dễ sử dụn, ít nguy hiểm với người và ít ăn mòn kho tăng, thiết bị kho

b Những yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn thuốc khử trùng:

- Yêu cầu thời gian sử dụng thuốc;

- Ảnh hưởng của thuốc tới hàng hóa nông sản và dư lượng;

- Loại côn trùng cần diệt;

- Hiệu quả kinh tế hàng hóa nông sản cần xử lý;

- Cân nhắc về an toàn môi trường

- Ngoài ra, còn phải cân nhắc đến yếu tố nguồn gốc, gốc gác của thuốc có chất lượng hay không và yếu tố con người có đầy đủ nhân lực có trình độ chuyên môn hay không

Trang 10

Câu 15: Nêu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác khử trùng nông sản sau thu hoạch?

Trả lời:

- Loại thuốc khử trùng: là loại thuốc gì? Có những đặc tính gì hay những đặc điểm vật lý, hóa học của thuốc Những đặc điểm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả dung thuốc và an toàn như: độ bay hơi, tỷ trọng hơi, tốc độ bay hơi, khả năng khuếch tán vào không khí, khả năng bị hấp thụ bởi bề mặt vật được xử lý VD: tỷ trọng hơi liên quan đến kỹ thuật xông hơi thuốc khử trùng Nếu tỷ trọng hơi lớn hơn 1 (CH3Br) hay nặng hơn không khí khi sử dụng thuốc phải đặc thuốc ở vị trí cao (trên đống hàng hóa) và ngước lại; Khi sử dụng Mg2P3 thì thao tác phải nhanh hơn so với dung AlP do tốc độ giải phóng PH3 nhanh

- Nồng độ thuốc: là lượng thuốc phân tán trong không khí ở thời điểm nhất định và phụ thuộc vào liều lượng sử dụng thuốc Được sử dụng tùy thuộc vào loại thuộc, loại dịch hại cần diệt, loại hàng hóa nông sản, thời gian khử trùng và nhiệt độ không khí Nếu nồng độ xông hơi thì thời gian xử lý phải kéo dài và ngược lại, muốn giải phóng hàng hóa nhanh (rút ngắn thời gian xông hơi) thì phải tăng nồng độ xông hơi Tuy nhiên, với PH3 nếu tăng nồng độ thuốc quá mức cũng không làm tăng hiệu quả khử trùng, mà còn làm cho sâu mọt rơi vào trạng thái shock hôn mê do hóa chất Vì vậy, với PH3 kéo dài thời gian xông hơi quan trọng hơn là tăng nồng độ thuốc

- Thời gian ủ thuốc: tức là thời gian xử lý hàng hóa nông sản để đảm bảo hiệu quả diệt trừ đối tượng dịch hại nông sản từ đó hạn chế thấp nhất phát sinh các chi phí cho kho tang, bến bãi, công tác khắc phục xử lý lại, chi phí cho nhân viên Thời gian ủ thuốc phụ thuộc vào tính chất vật lý, hóa học của thuốc, nồng độ thuốc VD:

Thời gian ủ thuốc tối thiểu (tùy theo thị trường)

Đi Châu Á (Philippine, Indonesia, Malaysia, )

Đi xa (Nga, Trung Đông, Châu Phi, Mỹ, Úc ) Methyl bromide (CH3Br) 48 giờ 72 giờ

Phostoxin/Phosphine (ALP) 72 giờ 7-10 ngày

- Nhiệt độ môi trường: Do nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng đến những đặc điểm vật lý, hóa học của thuốc khử trùng cho nên tùy theo nhiệt độ môi trường mà

sử dụng loại thuốc cũng như kỹ thuật sử dụng thích hợp, tránh được tình trạng thuốc không phát huy hết hiệu quả Nhiệt độ cao làm tăng độ bay hơi, khuếch tán của thuốc làm tăng hiệu quả diệt trừ côn trùng, do thuốc xông hơi xâm nhập vào hệ thống hô hấp của côn trùng qua các lỗ thở Mặt khác, cường độ hô hấp của côn trùng càng tăng càng dễ bị tiêu diệt Vì vậy, ở nhiệt độ thích hợp để côn trùng hô hấp mạnh, hiệu quả diệt trừ sẽ cao Ở nhiệt độ thấp hơn côn trùng hoạt động giảm, hô hấp yếu hơn thì đòi hỏi liều lượng thuốc cao hơn hoặc thời gian ủ thuốc phải dài hơn Lưu ý, không sử dụng PH3 khi nhiệt độ dưới 15oC

- Tính mẫn cảm của sâu mọt với thuốc khử trùng: Mỗi loại hoá chất có độc tính khác nhau với mỗi loài côn trùng và với từng giai đoạn sinh trưởng Côn trùng

ở trạng thái ngủ nghỉ hoặc tiềm sinh tính chống chịu thuốc cao Một số côn trùng có tính kháng thuốc (do có khả năng giải độc, tích luỹ chất độc, quá trình trao đổi chậm, phản ứng bảo vệ,…)

Ngày đăng: 18/01/2016, 04:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w