1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN TẬP CÔN TRÙNG CHUYÊN KHOA

15 519 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 173,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự liên quan này thể hiện ở các điểm chủ yếu sau: mỗi loài cây có những nhóm sâu hại khác nhau; trong cùng một loài cây trồng, nhưng giống cây khác nhau có mức độ phát triển và tác hại c

Trang 1

ÔN TẬP CÔN TRÙNG CHUYÊN KHOA

Câu 1: Phân tích tính tương quan giữa cây trồng và dịch hại

Trả lời:

Côn trùng là nhóm sinh vật có số lượng loài lớn nhất trong thế giới sinh vật, với ước ước tính hàng triệu loài Tuy nhiên, không nhiều trong số đó là sâu hại cây trồng

Có rất nhiều sâu hại ăn cây trồng gây ra thiệt hại vô cùng lớn, có điều chấp nhận là sự thiệt hại gây ra ra cho cây trồng bởi sâu hại là qui luật tự nhiên không thể tránh khỏi Vậy làm thế nào để cây trồng có thể tồn tại? Nó có đặc tính nào để hấp dẫn hoặc không hấp dẫn dịch hại và nó phản ứng thế nào với chúng?

Cây trồng là nơi trực tiếp sinh sống và là thức ăn của sâu nên có liên quan rất mật thiết đối với sâu hại Sự liên quan này thể hiện ở các điểm chủ yếu sau: mỗi loài cây có những nhóm sâu hại khác nhau; trong cùng một loài cây trồng, nhưng giống cây khác nhau có mức độ phát triển và tác hại của sâu khác nhau; tình hình và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng cũng có liên quan rất rõ đến sự phát triển và tác hại của sâu Điều này được hình thành qua quá trình thích ứng lâu dài giữa sâu hại với các đặc tính của cây trồng Đặc tính của cây trồng được trình bày cụ thể sau đây:

* Tính mẫn cảm của cây trồng:

- Trên những cây trồng mẫn cảm sâu hại có thể ăn tự do và nhân mật số do không vấp phải sự phản ứng bất kỳ nào của cây trồng chống lại sự tấn công của loài sâu hại đó Cây trồng chịu đựng sự thiệt hại

Tính mẫn cảm với sâu hại (tính nhiễm sâu hại) biểu hiện ở tỷ lệ bị hại và mật độ sâu cao Tính mẫn cảm với sâu hại không phải là đặc tính bất biến , chúng có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện gieo trồng, thời tiết và nhiều yếu tố ngoại cảnh

- Muốn gây hại cho cây, trước hết sâu hại phải bám vào được vào các bộ phận của cây Các phản ứng đầu tiên là cây tạo ra những trở ngại không cho sâu hại bám vào các bộ phận của cơ thể hoặc các phản ứng xua đuổi chúng hoặc bằng mọi cách cây trồng không cho sâu hại cắn phá được vách tế bào Ở những cây chống sâu hại có các đặc điểm: lớp biểu bì dày, lớp cutin, lớp sáp trên bề mặt cây dày, v.v Trên những cây mẫn cảm

Trang 2

(giống nhiễm sâu hại) không có các đặc tính này, trong khi các cây chống sâu hại thể hiện rất rõ

- Ngoài ra, cây mẫn cảm với sâu hại do chúng có những đặc tính thu hút sâu hại như: các chất bay hơi trong không khí, một số thì do màu sắc của hoa, của lá hoặc nó là thức

ăn thích hợp của sâu hại Thực tế cho thấy, giống lúa có lá màu xanh đậm thường bị rầy

xanh đuôi đen (Nephotettix spp.) phá hại mạnh hơn là các giống lúa có lá màu xanh

vàng

* Tính chịu đựng:

- Giống cây trồng có tính chịu đựng là giống bị một sâu hại sống trên đó và tấn công gây hại, nhân mật số sâu, nhưng vẫn sinh trưởng phát triển và cho năng suất bình thường Cây có thể đền bù với thiệt hại hoặc cơ chế làm giảm nhẹ thiệt hại do sâu hại gây ra

- Khả năng đền bù là khả năng cây có thể bù đắp những thiệt hại do sâu bệnh gây ra Chủ yếu xảy ra ở những giai đoạn cây còn non sinh trưởng mạnh, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng nhanh về thân, lá, nảy chồi, đẻ nhánh Ở giai đoạn này, nếu sâu phá hại thì sức sinh trưởng mạnh mẽ của cây có thể vượt qua những ảnh hưởng của sâu hại tiếp tục tiến lên các giai đoạn phát triển sau một cách bình thường và cuối cùng không ảnh hưởng gì đến năng suất Khi đã qua giai đoạn sinh trưởng bước vào giai đoạn phát dục hình thành hoa quả, khả năng đền bù của cây giảm đi Lúc này sâu hại thì rất rễ ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây trồng

- Khả năng đền bù những tác hại do sâu hại gây ra là một thể hiện quan trọng về tính chịu đựng của cây trồng và cần chú ý lợi dụng trong quản lý tổng hợp để bớt đi can thiệp của thuốc hóa học Ví dụ: lời khuyên không nên thuốc hóa học phòng trừ bọ trĩ, rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân, trong phạm vi trước 30 ngày sau sạ, nếu chăm sóc tốt thì cây vẫn phát triển và cho năng suất không giảm là xuất phát từ khả năng đền bù mạnh của cây lúa và sự phát triển mạnh của thiên địch

Trang 3

* Tính kháng:

- Trên cây trông có mang đặc tính kháng thì sâu hại không thể cắn phá và nhân mật số

- Tính kháng sâu hại là đặc tính của cây trồng có khả năng chống lại sự tấn công của một loài sâu hại nào đó hoặc làm giảm tác hại do sâu hại gây ra Tính kháng sâu hại của cây trồng còn gọi là tính miễn dịch của cây trồng Tính miễn dịch là khả năng kháng của cây trồng đối với các tác động gây hại của sâu hại

- Không phải cây trồng nào cũng có giống kháng sâu hại Giống cây trồng kháng với sâu hại này nhưng không kháng với sâu hại khác Chưa có những giống cây trồng cùng kháng nhiều loài sâu hại Ví dụ: Giống lúa CR-203 kháng rầy nâu, nhưng nhiễm rầy lưng trắng

- Cây trồng kháng lại sâu hại là do chúng mang các cơ chế kháng khác nhau như:

Cơ chế thụ động Cơ chế tại chổ: trước khi sâu hại tấn công: lông của lá, lớp cutin

dày lên, gây khó khăn cho việc đeo bám cắn phá của sâu hại

Các dòng vi khuẩn có thể làm cho cây ít bị thiệt hại

Ký chủ đặc chủ: các loài dịch hại chuyên biệt cần những chất chuyên biệt và sẽ không ăn nếu cây trồng thiếu những chất đó Ví

dụ: sâu tơ (Plutella xylostella), bọ nhảy (Phyllotreta striolata) chỉ

hại rau cải mà không hại rau khác

Cây chuyển gen mang tính kháng Ví dụ: bông vải Bt, bắp Bt

Cơ chế không ưa thích được hinh thành do một hoặc nhiều đặc điểm của cây trồng tác động lên mức độ hấp dẫn hay xua đuổi của cây đối với sâu hại và tac động có hại lên phản ứng tập tính của sâu hại khi tìm nơi dinh dưỡng, đẻ trứng hoặc trú ẩn Ví dụ: màu

đỏ giống lúa Crava không hấp dẫn rầy nâu

Cơ chế chủ động Côn trùng tấn công dẫn đến kích thích phản ứng của cây trồng:

- Sản sinh chất ức chế men tiêu hóa của sâu hại Ví dụ: phức polyphenols và terpemoid;

- Các phản ứng sinh hóa: giúp tạo ra những cơ chế chủ động có thể là tương tự với bệnh

Trang 4

Một số cây trồng có thể phát ra mùi: để phản ứng lại sự tấn công của dịch hại, thu hút các loài thiên địch

=> Hiểu được cơ chế kháng của cây trồng sẽ cung cấp thêm con đường dẫn đến cây trồng kháng lại sự cắn phá của sâu hại

Câu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của một quần thể sâu hại Trả lời:

Quần thể sâu hại là tập hợp các cá thể sâu hại trong cùng một loài, cùng sinh sống trong khoảng không gian xác định, vào một thời gian nhất định, có khả năng sinh sản và tạo thành những thế hệ mới Như vậy, quần thể dịch hại thường lớn hơn số lượng cá thể mà

ta thấy

Trong một mùa vụ, có thể có nhiều thế hệ gối lên nhau: trứng - ấu trùng – nhộng – trưởng thành Do đó, sự phat triển của từng pha phát dục cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của quần thể sâu hại:

* Yếu tố thức ăn – ký chủ:

- Các loài sâu hại thuốc nhóm ăn thực vật Các loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại thuộc nhóm ăn thịt

- Thành phần sâu hại và mật độ mỗi loài sâu hại phụ thuộc vào cây trồng là ký chủ (cả

về chất lượng và số lượng) – “Cây nào sâu ấy” – cây quyết định sự phân bố của sâu hại, thành phần dinh dưỡng trong cây ảnh hưởng đến mọi chỉ tiêu sinh học của sâu hại sử dụng nó làm thức ăn

- Thành phần và số lượng cá thể các kẻ thù tự nhiên lại phụ thuộc vào ký chủ của chúng, bắt đầu từ các sâu hại cây trồng

- Sâu hại có thể có tính ăn nhiều loại (có phổ ký chủ rộng) hay ăn ít loại (có phổ ký chủ hẹp Nhiều loài có tính ăn rộng phân bố rộng theo ký chủ của nó Với loài có phổ ký chủ hẹp, biện pháp luân canh cây trồng – cắt nguồn thức ăn là biện pháp khả thi

Trang 5

- Việc tìm hiểu ảnh hưởng của số lượng và chất lượng thức ăn đến đời sống sâu hại có

ý nghĩa quan trọng công tác dự tính số lượng và tình hình phân bố của loài sâu hại

* Nơi đẻ trứng

- Sâu hại rất đa dạng về cách thức đẻ trứng cũng như nơi đẻ trứng Có loài đẻ trứng rải rác, trần trụi trên bề mặt giá thể, có loài đẻ trứng thành từng ổ và được con mẹ gập lá đậy kín hoặc phủ long độc để bảo vệ hoặc đẻ trứng trong một bọc kín Có loại đẻ trứng vào đất, có loài đẻ vào nước, v.v Các kiểu đẻ trứng này và lựa chọn nơi đẻ trứng của sâu hại có ý nghĩa chuẩn bị điều kiện thức ăn, nơi ở cũng như khả năng trốn tránh kẻ thù tốt nhất cho sâu non duy trì một mật độ tối ưu trong quần thể sâu hại Ví dụ: loài ngài sâu khoang hại rau lại đẻ trứng ở mặt dưới các lá bánh tẻ, vì đây là vị trí thích hợp

để đàn sâu non đông đúc cắn phá tích lũy dinh dưỡng cho đến lúc đủ lớn đề phát tán sang cây khác

* Nhiệt độ - yếu tố môi trường

- Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của côn trùng nói chung cũng như sâu hại nói riêng Ở nhiệt độ thấp sự phát triển

cá thể sâu hại diễn ra rất chậm và tỷ lệ chết cao, sự vận động của từng cá thể diễn ra cũng chậm, kết quả tốc độ tăng trưởng quần thể rất thấp Khi nhiệt độ tăng lên tốc độ phát triển của cá thể cũng tăng theo, hoạt động của quần thể cũng tăng, tỉ lệ chết giảm tốc độ tăng trưởng quần thể cao

- Mỗi loài sâu hại đều có một nhiệt độ tối ưu, ở nhiệt độ đó sự tăng trưởng của quần thể sâu hại có khả năng đạt cực đại Khi nhiệt độ vượt quá nhiệt độ tối ưu, thì các điều kiện trở nên tương đối không thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại và tốc độ tăng trưởng của quần thể sâu hại giảm xuống Nhiệt độ quá thấp cũng sẽ giết chết hầu hết các loài, nhưng cũng có không ít các loài chống chịu đáng kinh ngạc

- Khi sâu hại nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp thì: sức đẻ của thành trùng sẽ tăng lên; tỷ lệ nở trứng và tỷ lệ sống của sâu non đều đạt cao nhất; sức ăn phá của ấu trùng

và thành trùng ăn phá mạnh do nó đòi hỏi cung cấp nhiều thức ăn do sâu hại phát triển mạnh; do đó, sâu hại phát triển mạnh mật số rất cao

Trang 6

* Ẩm độ, ánh sáng, lượng mưa - yếu tố môi trường:

- Giống với nhiệt độ , ẩm độ ảnh hưởng sự sinh trưởng và phát triển của sâu hại như ảnh hưởng đến sức sinh sản, tỷ lệ sống, sức ăn phá và vòng đời của sâu hại Trong phạm

vị thích hợp, các yếu tồ này của sâu hại được tiến triến một cách thuận lợi làm cho sâu hại phát triển tăng mật độ và gây hại Ở miền bắc, từng nhiều lần ghi nhận năm nào có mưa lớn, ẩm độ cao, ít ánh sáng thì sâu keo và sâu cắn gié phát triển rộ và gây hại nặng

* Tác động kỹ thuật:

- Các tác động kỹ thuật của con người như biện pháp canh tác và thủ công, cơ giới, hóa học, tạo ra những biến đổi sâu sắc ảnh hưởng không chỉ sâu hại và kẻ thụ tự nhiên của nó Mục tiêu của con người điều khiển quần thể sâu hại theo hướng có lợi cho họ - dưới ngưỡng thiệt hại kinh tế và cải biến điều kiện cho kẻ thù tự nhiên của sâu hại để hạn chế quần thể sâu hại

- Các biện pháp cánh tác và ảnh hưởng của nó ảnh hưởng của nó đến quần thể sâu hại: + Luân canh và xen canh: Thay đổi đột ngột điều kiện sinh thái làm cho sâu hại chết hàng loạt chính vì thế quần thể sâu hại giảm mạnh Đối vơi sâu hại có khả năng kiếm

ăn xa thì cần phải tiến hành trên diện tích lớn

+ Làm đất và tưới nước: thay đổi môi trường sống đột ngột, mất nguồn thức ăn hoặc trực tiếp tiêu diệt nhộng, trứng sâu hại, làm giảm sức sống, sinh sản và mức độ phát triển có ngĩa làm giảm mật độ quần thể sâu hại trong đất Vì vậy, tùy theo đối tượng mà quyết định thời gian, cách thức, độ sâu, số lần làm đất

- Dùng sức người và dụng cụ thô sơ cũng như cơ giới để tiêu diệt sâu hại có tác dụng tích cực, hỗ trợ các biện pháp khác mà không có biện pháp nào thay thế được cũng làm giảm mật độ quần thể sâu hại Ví dụ: cắt cành bị hại, dùng vợt hay rung cây bắt sâu,

- Biện pháp hóa học đây là biện pháp được dùng rộng rãi trong việc khống chế cũng như làm giảm mật độ sâu hại Quần thể sâu hại thường bị tiêu diệt nhanh, mật số giảm

rõ rệt do biện pháp này hiệu quả cao và đa dạng sản phẩm phòng trừ, Tuy nhiên, dễ hình thành các nòi sâu hại kháng thuốc

Trang 7

* Các yếu tố sinh học hay kiểm soát sinh học (Biocontrol):

- Ở nước ta kết quả điều tra bước đầu cho thấy thành phần và số lượng thiên địch rất

phong phú thuộc nhiều bộ, họ khác nhau Chỉ riêng với rầy nâu (Nilaparvata lugens) có

58 loài thiên địch Thiên địch bao gồm: thiên địch ăn thịt và thiên địch ký sinh chúng góp phần quan trọng làm giảm số lượng và tác hại hại của sâu hại cây trồng

+ Thiên địch bắt mồi sức ăn rất lớn, phổ vật mồi rộng có ở khắp mọi nơi Ví dụ: 1 con kiến vàng mỗi ngày ăn 5 – 10 rệp cam

+ Thiên địch ký sinh: các loài này được xếp vào nhóm ký sinh giết vật chủ có thể làm giảm đáng kể số lượng sâu hại trong tự nhiên Ví dụ: một số loài thuộc họ ong mắt đỏ - Trichogrammatidae

- Vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại làm chết hàng loạt làm suy giảm quần thể sâu hại:

+ Vi Khuẩn Bt – Bacillus thurigeiensis với hàng chục nòi chuyên gây bệnh cho nhiều

loài sâu hại khác nhau;

+ Nấm gây hại cho sâu hại thường gặp nhất nấm trắng Beauveria bassiana, nấm xanh Metarhizium flavoviridae

+ Nhóm virus nhân đa diện NPV – Nucleo Polyhedrosis Virus

Câu 3: Phân tích các phương cách kiểm soát dịch hại

Trả lời:

Kiểm soát dịch hại nhầm duy trì mật độ các loài dịch hại dưới ngưỡng thiệt hại kinh tế tức là hạn chế hay trực tiếp tiêu diệt dịch hại để giảm thiệt hại về năng suất, phẩm chất của cây trồng tiến tới nâng cao năng suất phẩm chất cây trồng, bảo vệ môi trường cho một nền nông nghiệp sạch và bền vững

Phương hướng của kiểm soát dịch hại chính là: ngăn ngừa; gia tăng tính chịu đựng hoặc tính kháng của cây trồng; trấn áp sự tăng trưởng của quần thể dịch hại

Để đạt được mục tiêu cũng như duy trì phương hướng trên chủ yếu thực hiện các phương cách kiểm soát dịch hại sau:

Trang 8

* Kiểm dịch:

- Trong thiên nhiên sự phát triển và phân bố của các loài dịch hại đều bị giới hạn theo điều kiện sinh thái mà cụ thể là giới hạn theo các vùng địa lý Qua các hoạt động kinh

tế, thương mại mà nó lan truyền từ nước này sang nước khác hoặc vùng này sang vùng khác Các loài dịch hại mới này xâm nhập này nhanh chóng phát triển, thuần hóa và phá hại cây trồng dữ dội Do đó phải tiến hành công tác kiểm dịch – ngăn ngừa sự xâm nhập

và lan truyền các loài dịch hại từ nước ngoài vào (kiểm dịch đối ngoại) hoặc giữa các vùng trong nước (kiểm dịch đối nội)

- Kiểm dịch là kiểm tra phát hiện các loài dịch hại có trong giống cây và nông sản Nếu phát hiện có dịch hại thì phải tiến hành sử dụng các biện pháp khử trùng để tiêu diệt

- Kiểm dịch thực vật là biện pháp mang tính nhà nước, dựa vào pháp lệnh, điều lệ để ngăn chặn dịch hại lây lan để bảo vệ cây trồng và nông sản Mỗi quốc gia đều có cơ quan kiểm dịch chuyên trách và xây dựng một danh mục các loài dịch hại cần phát hiện

và không được du nhập (danh mục đối tượng kiểm dịch) và có các quy định rất chặt chẽ

về kiểm tra và khử trùng

- Phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách nhiệm của mỗi người nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường

* Vệ sinh đồng ruộng và biện pháp vật lý:

- Các biện pháp vật lý, thủ công và vệ sinh đồng ruộng rất phong phú, đơn giản, dễ làm,

ít tốn kém, nhiều trường hợp có hiệu quả rất rõ

- Vệ sinh đồng ruộng bao gồm việc phòng trừ cỏ dại, cắt bỏ tiêu hủy tàn dư cây trồng các cành lá rườm rà, vô hiệu, cành lá bị sâu bệnh không những có tác dụng trực tiếp diệt sâu bệnh, mà còn làm cho ruộng vườn thông thoáng, loại bỏ ký chủ phụ của dịch hại; Tiêu diệt cỏ dại, tiêu hủy tàn dư cây trồng cần làm đúng lúc để tiêu diệt được nguồn sống nhờ hoặc tiềm sinh ở đó Ví dụ: rầy nâu, rầy xanh sau khi thu hoạch lúa chúng sống trên lúa chét, cỏ dại ven bờ Để thực hiện tốt biện pháp này dựa trên những hiểu biết cụ thể về đặc tính sinh sống, khả năng di chuyển của các loài dịch hại

Trang 9

- Các biện pháp vật lý thường dùng là bẫy đèn, bẫy bả để bắt sâu trưởng thành, dùng nước nóng xử lý hạt giống và trái cây

+ Dùng bẫy đèn sử dụng tính hướng ánh sáng của côn trùng ban đêm Nguồn ánh sáng thu hút là ánh sáng đèn thủy ngân và đèn tử ngoại tiến hành trên diện tích lớn nếu lẻ tẻ thì có tác dụng ngược Có thể bắt được các loài ngài, bướm sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu hại lúa, Việc sử dụng bẫy đèn đơn giản ít tốn kém tuy nhiên có thể tiêu diệt

cả thiên địch

+ Dùng bã độc tức là lợi dụng xu tính mùi vị, xu tính màu sắc để tiêu diệt côn trùng trưởng thành: dùng bả chua ngọt cho họ ngài đêm; bả rau xanh dùng để bẫy sâu đất, dế,

bọ hung, ; bả tanh hôi và trái cây chín để thu hút ruồi đục quả; dùng chất dẫn dụ - pheromone – chất dẫn dụ con cái; v.v

+ Dùng nhiệt độ để tiêu diệt sâu hại nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng Ví dụ: xử lý hơi nước nóng để tiêu diệt côn trùng kho

+ Dùng ẩm độ để điều khiển sự phát triển của côn trùng Biện pháp này có hiệu quả trong việc tồn trữ ngũ cốc ở ẩm độ dưới 13%

+ Các biện pháp vật lý khác như: dựng hàng rào, quét vôi, bao bọc cây, thủ công – bắt sâu, làm cỏ,…

* Biện pháp canh tác:

- Các biện pháp canh tác nhằm tạo điều kiện sinh thái mới không phù hợp với nhu cầu sinh sống của dịch hại làm cho chúng phát triển kém, phải di chuyển đi nơi khác hoặc chết mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng

- Phương pháp này đơn giản nhưng rất cơ bản mang ý nghĩa phòng ngừa tích cực, dễ thực hiện và có hiệu quả kinh tế rõ rệt, bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong thực tế một loài cây trồng có nhiều loài dịch hại Do đó, hiệu quả biện pháp canh tác sẽ không giống nhau đối với tất cả đối tượng dịch hại, có những kỹ thuật bất lợi cho loài này nhưng thích hợp cho loài khác v.v

Trang 10

- Các biện pháp cụ thể như:

+ Làm đất: thay đổi môi trường sống, mất nguồn thức ăn hoặc trực tiếp tiêu diệt nhộng, trứng sâu hại Vì vậy, tùy theo đối tượng mà quyết định thời gian, cách thức, độ sâu, số lần làm đất

+ Điều chỉnh mùa vụ và thu hoạch: né tránh thời kỳ phá hại nghiêm trọng Thời vụ gọn

dễ thực hiện các biện pháp phòng chống Thu hoạch đúng lúc có thể hạn chế dịch hại

do hoa quả rôi rụng và trong phần thân cây trên ruộng thu hoạch

+ Bón phân hợp lý thì cây phát triển tốt, có sức chống chịu cao Bón phân thúc đẫy hoặc kìm hãm né thời kỳ phá hại nghiêm trọng Một số loại phân có thể hạn chế hoặc làm chết một sâu hại Ví dụ: NH4NO3 hạn chế sâu thuộc họ bổ củi (Elateridae),

+ Tưới nước: Hạn chế hoặc giết chết dịch hại sống trong đất hay tạo môi trường không thích hợp Ví dụ: ngâm nước sau khi cày lật gốc rạ để diệt sâu đục thân lúa còn trong gốc rạ,

+ Luân canh và xen canh: cắt nguồn thức ăn của sâu hại có phổ thức ăn hẹp, làm đa dạng thực vật góp phần thu hút thiên địch,

+ Bẫy cây trồng: Thu hút và tập trung sâu hại vào một nơi nhất định để tiêu diệt, ngăn chặn chúng xâm nhập vào cây trồng chính Ví dụ: Trồng xen cây hướng dương vào mép liếp đậu phộng để thu hút bướm sâu xanh, sâu khoang đến đẻ trứng

+ Các kỹ thuật chăm sóc khác: cắt tỉa cành làm thay đổi mật độ hợp lý làm thay đổi tiểu khí hậu, thu bắt và diệt côn trùng; thả gia sức; vệ sinh đồng ruộng; ngườn giống,…

* Biện pháp hóa học:

- Biện pháp hóa học là biện pháp sử dụng thuốc trừ dịch hại từ các chất hóa học để ngăn ngừa hoặc diệt trừ chúng Biện pháp này là biện pháp quan trọng được dùng rộng rãi vì

có nhiều ưu điểm: hiệu quả cao; tiêu diệt nhanh, triệt để; đa dạng sản phẩm và dụng cụ thiết bị sử dụng Tuy nhiên, nó cũng tiêu diệt cả thiên địch, động vật và ảnh hưởng sức khỏe con người; gây mất cân bằng sinh thái; tạo ra những nòi sâu chống thuốc; gây ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 27/06/2016, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w