Những nguyên tắc chính đằng sau những đề xuất là: Các thông số đặt mục tiêu hướng tới các chất gây ô nhiễm chính Số lượng các thông số thấp Các thông số được đề xuất là một phần của
Trang 1Việt Nam – Đan Mạch Hợp tác phát triển trong lĩnh vực môi trường (DCE) 2005-2010
Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA)
Hợp phần nr 104.Vietnam.806-2
Tiêu chuẩn môi trường Báo cáo cuối cùng
14 Tháng 12 năm 2007.
Trang 2Mục lục.
Danh mục các từ viết tắt
3 Sự liên hệ giữa các tiêu chuẩn môi trường và
5 Các phương pháp và quy trình lập các tiêu chuẩn môi trường p 12
5.2 Các tiêu chuẩn dựa trên đánh giá riêng
5.3 Tiêu chuẩn môi trường cho các hoạt động
6 Các tiêu chuẩn áp dụng tại Châu Âu và các nước thành viên p 14
6.1 Quy định và các tiêu chuẩn cho việc thải nước thải tại Châu Âu và Đan Mạch p 14
6.2 Các chất nguy hiểm - Nước – water p 16
6.3 Quy định đối với nước thải trong tương lai p 17
6.4 Tiêu chuẩn chất lượng không khí p 18
6.5 Tiêu chuẩn môi trường đối với
6.5.1 Cách tiếp cận chung của Châu Âu p 20
6.5.2 Các hoạt động công nghiệp
chủ yếu thải ra nước thải biodegradable p 22
6.5.3 Áp dụng Tiêu chuẩn môi trường p 23
6.5.4 Quy định của các hoạt động công nghiệp mà chỉ thị IPPC
7 Thanh tra và cưỡng chế Tiêu chuẩn môi trường tại Đan Mạch p 25
9 Đề xuất liên quan đến đầu ra số 2 trong Điều khoản tham chiếu p 27
10 Đề xuất liên quan đến đầu ra số 3 trong Điều khoản tham chiếu p 32
10.2 Việc áp dụng Tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam hiện nay p 33
10.3 Đề xuất cho các quy định cụ thể đối với hoạt động
10.3.1 Các quy định chung về quản lý môi trường
10.3.2 Các quy định cụ thể đối với việc áp dụng
Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp (TCVN 5939:2005) p 35
10.3.3 Quy định áp dụng cụ thể đối với
Trang 3Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với
10.4 Áp dụng quy định kỹ thuật quốc gia đối với nước thải p 37
10.5 Góp ý và đề xuất của Chuyên gia tư vấn quốc tế ngắn hạn (ISTA) về việc quy định Tiêu chuẩn môi trường đối với các hoạt động thủ công
10.6 Đề xuất các hướng dẫn xây dựng và vận hành các
10.6.1 Góp ý và đề xuất của ISTA p 39
10.7 Tiến độ áp dụng đối với các hoạt động thủ công và
10.7.1 Góp ý và đề xuất của ISTA p 41
10.8 Đề xuất các hệ số trong quy định kỹ thuật đối vối
các làng nghề thủ công và các khu dân nghèo p 42
10.9 Quy định thanh tra và giám sát p 42
10.9.2 Góp ý và đề xuất của ISTA p 44
11 Các đề xuất liên quan đến đầu ra số 4 trong
10.1 Đề xuất hướng dẫn cho ngành công nghiệp p 45
10.2 Đề xuất hướng dẫn đối với nước thải p 46
10.3 Đề xuất hướng dẫn thanh tra và báo cáo p 46
Trang 4List of abbreviations
BAT: Kỹ thuật tốt nhất hiện có
BREF: Tài liệu tham khảo Kỹ thuật tốt nhất hiện có DCE: Hợp tác Phát triển môi trường
DoE: Vụ Môi trường
ES: Tiêu chuẩn môi trường
EU: Liên minh châu Âu
EQS: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường
IPPC: Chỉ thị Lồng ghép phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễmISTA: Chuyên gia tư vấn quốc tế ngắn hạn
MONRE: Bộ Tài nguyên và Môi trường
MOST: Bộ Khoa học và Công nghệ
NSEP: Chiến lược quốc gia bảo vệ môi trường
NSTA: Chuyên gia tư vấn trong nước ngắn hạn
PC: Ủy ban Nhân dân
PCDA: Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèop.e.: Person equivalent
Trang 5Tóm tắt.
Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường là công cụ chính trong các hoạt động kiểm soát ônhiễm của các cơ quan chức năng tại Việt Nam Cho tới hiện tại đã có nhiều tiêu chuẩn đãđược xây dựng và ban hành nhưng mức độ hiệu quả trong việc áp dụng dường như vẫn bị giớihạn Các đề xuất cho việc làm mới và sửa đổi một số quy định hiện thời đã được chuẩn bị và
đang trong quá trình hearing trong những tháng tới.
Hợp phần sẽ hoạt động tại bốn trong số sáu tỉnh của chương trình, bao gồm Thái Nguyên, HàNam, Quảng Nam và Bến Tre
Báo cáo được biên soạn bởi hai chuyên gia trong nước, Giáo sư Đăng và Phó Giáo Sư Trình
và một chuyên gia tư vấn quốc tế là Poul Nordemann Jensen đến từ Đan Mạch
Nghiên cứu “Tiêu chuẩn môi trường” có 4 đầu ra:
1 Báo cáo đánh giá chung và cho mỗi tỉnh tham gia Hợp phần (được các NSTA chuẩnbị)
2 Quy định về áp dụng các tiêu chuẩn cụ thể
3 Quy định áp dụn Tiêu chuẩn môi trường trong các làng nghề thủ công và các khu dânnghèo
4 Hướng dẫn, tài liệu phổ biến và hệ thống quy định tiêu chuẩn môi trường
Tài liêu này trình bày các đề xuất cụ thể đối với quy định về tiêu chuẩn môi trường cho đầu ra
số 3 (đầu ra kết hợp của các NSTA và ISTA) và các đề xuất và khuyến nghị về mức độ baoquát hơn cho đầu ra 2 và 4 (ISTA) Việc hoàn thiện hai đầu ra sẽ được thực hiện vào năm
2008 sau khi các quy định mới và sửa đổi về tiêu chuẩn môi trường được phê duyệt
Tài liệu trình bày trong 7 chương đầu một số kinh nghiệm và phương pháp thiết lập và ápdụng tiêu chuẩn môi trường tại Châu Âu Các mô tả một phần dựa trên yêu cầu về thông tinquốc tế từ các NSTA và Vụ Môi trường và một số thông tin được bổ sung ví dụ và tham khảotrong phần phụ lục
Cách tiếp cận chung tại Châu Âu trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm là nhằm phòng ngừa ônhiễm và nếu không thể phòng ngừa thì giảm lượng thải tới mức tối thiểu đề cấp đến các khảnăng kỹ thuật và các điều kiện kinh tế khả thi v.v Cách tiếp cận này là rõ ràng nhất trong khuvực công nghiệp ( chỉ thị IPPC), ở đây có hai thuật ngữ quan trọng:
Lồng ghép, có nghĩa là nhìn tổng thể điều kiện môi trường của hệ thống như việc sửdụng nguyên liệu thô, sự phát thải ra không khí, nước, chất thải, hiệu suất năng lượngv.v
Các kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT)
BAT và tiêu chuẩn môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau, as it on the overall level is theuse of BAT, nó sẽ quyết định giới hạn phát thải của một hệ thống cụ thể Giới hạn phát thảicuối cùng sau đó được đưa xuống giới hạn cho phép của hệ thống đề cập đến công nghệ vàkinh tế v.v
Điều này có nghĩa là ở cấp EU, không có danh sách cố định các tiêu chuẩn môi trường mà cácngành công nghiệp phải tuân theo ngoại trừ các chất nguy hiểm được quy định trong cáchướng dẫn cụ thể Thay vào đó, một số hướng dẫn đã được EU chuẩn bị, trong đó mô tả cáckhả năng về BAT và các giới hạn phát thải đi kèm
Kiểm soát ô nhiễm ở cấp chung của EU được phân biệt bởi
Trang 6 Hoạt động, do chỉ thị lồng ghép kiểm soát và phòng ngừa ô nhiễm chỉ bao trùm một sốhoạt động công nghiệp, IPPC (lồng ghép kiểm soát và phòng ngừa ô nhiễm là chỉ thịchính của Ủy ban châu Âu quy định về việc phát thải công nghiệp)
Quy mô, như ví dụ chỉ các trạm xử lý nước thải với một quy mô nào đó được bao trùm
và các trạm xử lý lớn nên tuân theo tiêu chuẩn môi trường sớm hơn các trạm nhỏ hơn
Thời gian, như ví dụ giới hạn thời gian cho việc tuân thủ IPPC là 8 năm cho các hệthống hiện đang tồn tại và giới hạn cho việc tuân thủ tiêu chuẩn môi trường đối vớiviệc thải nước lá tới 14 năm
Kiểm soát các hoạt động gây ô nhiễm không được nói tới trong các chỉ thị của EU ( các trạm
xử lý nước thải quy mô nhỏ hoặc các ngành công nghiệp không được IPPC nhắc đến) là tráchnhiệm của mỗi quốc gia Một số ví dụ về vấn đề này được đưa ra trong báo cáo
Thanh tra các hệ thống gây ô nhiễm là rất quan trọng vì những lý do sau:
Nhằm siết chặt công tác bảo vệ môi trường bằng cách kiểm soát việc tuân thủ các giớihạn phát thải
Có cuộc đối thoại với người chịu trách nhiệm với hệ thống về các biện pháp cần tiếnhành để tuân thủ các giới hạn phát thải
Nhằm khuyến khích người chịu trách nhiệm của một hệ thống có hành động tối ưu vềmôi trường để giảm sự phát thải nhiều nhất có thể (tốt hơn các yêu cầu)
Nhằm hướng mục tiêu tới các tài nguyên, công tác kiểm tra khác biệt được mô tả có đề cậpđến quy mô thải và tuân thủ các điều kiện, do vậy các hệ thống có tuân thủ sẽ bị thanh tra íthơn các hệ thống không tuân thủ
Đề xuất chung đối với các thông số thích hợp cho công tác kiểm soát ô nhiễm (chương 9) bắtđầu với một bộ thông số trong một ngành cụ thể, nó sẽ bao gồm những sự phát thải chính từmột hoạt động nào đó, thay bằng một danh sách cố định có tính bắt buộc không kể đến loạihình sản xuất Thừa nhận là hiện nay bộ tiêu chuẩn môi trường Việt Nam sẽ đủ cho hầu hếtcác ngành Bộ tiêu chuẩn này sẽ bao trùm toàn bộ cả sự phát thải ra không khí và nước Cũng đề xuát rằng bộ tiêu chuẩn môi trường của một ngành cụ thể nên được bổ sung nhữngyêu cầu khác ảnh hưởng đến sự phát thải như việc xây dựng, vận hành v.v, so vậy một hướngdẫn/quy định ngành sẽ đưa ra toàn bộ những yêu cầu cần thiết đối với việc cấp phép nhằm tạothuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền và người chịu trách nhiệm của hệ thống
Thời gian chuyển tiếp được thừa nhận trong các chỉ thị của EU cho các cơ quan chức năngban hành giấy phép và cho người chịu trách nhiệm/người chủ tuân thủ theo quy định mới
Tiến độ thời gian chung cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (cho cả ngànhcông nghiệp và các trạm xử lý nước thải) được đề xuất dựa trên:
Quy mô của hệ thống
Hệ thống mới hoặc đang tồn tại
Tiêu chuẩn môi trường đó phải được phải tuân thủ trong thời gian lâu dài, nhưng mộtbước trung gian với tiêu chuẩn môi trường khắt khe hơn nên được hoàn thành sớmhơn
Tiến độ áp dụng như thế sẽ phòng ngừa sự hủy hoại thêm đối với môi trường, và bảo đảm sựcải thiện từng bước đối với môi trường
Những quy định cụ thể của tiêu chuẩn môi trường đối với các hoạt động thủ công và các khuvực dân cư nghèo được đề xuất trong chương 10 cho 4 tỉnh và các loại hoạt động gây ô nhiễmđược các NSTA mô tả
Trang 7Những nguyên tắc chính đằng sau những đề xuất là:
Các thông số đặt mục tiêu hướng tới các chất gây ô nhiễm chính
Số lượng các thông số thấp
Các thông số được đề xuất là một phần của các quy định hiện có (hoặc sẽ có)
Một kế hoạch áp dụng cũng được đề xuất với việc tuân thủ hoàn toàn tiêu chuẩn môi trườngtrong vòng 5 năm đối với các hoạt động thủ công hiện có, việc xây dựng hệ thống cống thoátnước tại các làng nghề trong vòng 5 năm và tuân thủ hoàn toàn với các tiêu chuẩn môi trường
về nước thải trong vòng 10 năm
Chuyên gia tư vấn quốc tế ngắn hạn nhận thấy kế hoạch này rất khó khăn và không chắc chắn,liệu nó có thực tế hay không
Báo cáo được bổ sung với một số các phụ lục có liên hệ tới các tham khảo, mô tả các tiêuchuẩn môi trường đối với các ngành cụ thể và các ví dụ khác
Trang 81 Giới thiệu.
“Chương trình Hợp tác phát triển trong lĩnh vực môi trường (DCE) 2005 – 2010” được thiết
kế nhằm hỗ trợ chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường và đưa ra sự hợp tác nhất trí giữaChính phủ Việt Nam và Đan Mạch trong lĩnh vực môi trường Hợp phần “Kiểm soát ô nhiễmtại các khu vực đông dân nghèo” là một trong số 5 hợp phần trong chương trình DCE và đượcmong đợi sẽ đóng góp hữu ích cho việc thực hiện chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trườngtại các khu vực trọng tâm về năng lực nhằm bảo vệ môi trườmg từ cấp trung ương đến cấp địaphương
Việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường là một công cụ chính trong các hoạtđộng kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ quan chức năng tại Việt Nam Cho tới nay, có nhiềutiêu chuẩn đã được xây dựng và ban hành nhưng mức độ hiệu quả của việc áp dụng dườngnhư vẫn bị giới hạn Do đó, thời gian này là lúc đánh giá kinh nghiệm hiện nay đối với cáctiêu chuẩn môi trường, xác định xem liệu các tiêu chuẩn này có cần bổ sung và/hoặc điềuchỉnh không, và dựa trên đánh giá này để xây dựng các quy định và hướng dẫn cho việc pháttriển và áp dụng các tiêu chuẩn trong tương lai Nghiên cứu này sẽ xây dựng các hướng dẫncho việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường ở các địa điểm khác nhau và các khu vực liên quanđến kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân cư có thu nhập thấp Hợp phần sẽ hoạt độngtại bốn trong số sáu tỉnh của chương trình, Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Nam và Bến Tre
Hai chuyên gia tư vấn trong nước ngắn hạn đã được thuê tuyển để thực hiện đánh giá chung trong mỗi tỉnh Sau đánh giá này, người đứng đầu của hai NSTA sẽ xây dựng các quy định áp dụng tiêu chuẩn môi trường riêng cho mỗi tỉnh đối với các khu vực công nghiệp, các làng nghề và khu vực dân cư có thu nhập thấp Cuối cùng, cũng chính NSTA đó sẽ xây dựng các hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn môi trường trong các lĩnh vực cụ thể Một chuyên gia tư vấn quốc tế ngắn hạn (ISTA) được thuê tuyển để hỗ trợ NSTA hoàn thiện các quy định và hướng dẫn
Vai trò chính của ISTA là cung cấp hướng dẫn liên quan đến thực tế quốc tế và hỗ trợ chung
và cụ thể như các NSTA yêu cầu
Các đầu ra cụ thể nhiệm vụ kết hợp của ISTA và NSTA là:
1) Báo cáo đánh giá chung và tại môi tỉnh tham gia hợp phần bao gồm các chi tiết sau:
Tổng quan và đánh giá chung về hiện trạng môi trường và các giải pháp bảo vệ/quản
lý môi trường;
Đánh giá quá trình xây dựng tiêu chuẩn môi trường: thiết lập, phổ biến và áp dụng đểhoàn thành công tác bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực côngnghiệp, khu vực đô thị, các làng nghề thủ công và các khu dân nghèo…;
Hiện trạng việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường trong các khu vực trọng điểm đặctrưng (khu công nghiệp, khu đô thị, các làng nghề thủ công, các khu dân nghèo) baogồm đánh giá về các tác động tích cực và tiêu cực của việc áp dụng
2) Các quy định áp dụng các tiêu chuẩn đặc trưng:
Để xuất các thông số phù hợp đề cập đến yêu cầu quản lý đối với mỗi tiêu chuẩn cụthể dựa trên việc áp dụng thực tế (tuân theo Quy định kỹ thuật, thuộc về các điều kiện
cụ thể của các lĩnh vực có thể áp dụng được, các thông số trong các tiêu chuẩn được
Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt có thể được sử dụng để thiết lập các quy định
kỹ thuật, các quy định này có thể ít hơn hoặc nhiều hơn tiêu chuẩn phụ thuộc vào cácđiều kiện thực tế);
Đề xuất các hệ số vùng và kế hoạch áp dụng cho môi tiêu chuẩn cụ thể
Trang 9 Đề xuất các quy định thanh tra/kiểm tra/báo cáo liên quan đến việc áp dụng mỗi tiêuchuẩn môi trường cụ thể.
3) Các quy định về việ áp dụng tiêu chuẩn môi trường tại các làng nghề thủ công và các khudân nghèo:
Đề xuất các thông số phù hợp, đề xập đế yêu cầu quản lý trong các làng nghề thủ công
và các khu dân nghèo;
Đề xuất các hệ số, kế hoạch áp dụng cho môi quy định tiêu chuẩn;
Đề xuất các quy định thanh tra/kiểm tra/báo cáo liên quan đến việc áp dụng mỗi tiêuchuẩn môi trường cụ thể
4) Hướng dẫn, tài liệu tuyên truyền và hệ thống quy định tiêu chuẩn môi trường bao gồm:
Tài liệu tuyên truyền các tiêu chuẩn môi trường hiện nay có thể áp dụng cho các khuvực và chủ đề khác nhau;
Ghi chép việc áp dụng của các tiêu chuẩn môi trường cụ thể (được Bộ Khoa học &Công nghệ ban hành) nhằm chuyển các tiêu chuẩn này thành các quyết định bắt buộc
có thể áp dụng được đối với mỗi tiêu chuẩn môi trường cụ thể;
Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và các quy định áp dụng tiêu chuẩn môi trường đối với:
- Các khu công nghiệp;
- Các làng nghề thủ công;
- Các khu dân nghèo;
Chuyên gia tư vấn trong nước ngắn hạn chính sẽ phối hợp để nhận các bản thảo và báo cáo cuối cùng phù hợp với các đầu ra và phạm vi công việc nói trên Tuy nhiên, ISTA được mong đợi sẽ có những đầu vào chính và khuyến nghị đối với các báo cáo về các quy định và hướng dẫn
2 Cấu trúc báo cáo.
7 chương đầu của tài liệu này đưa ra thông tin cơ sở về việc thiết lập và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường tại châu Âu nói chung và các ví dụ từ một số quốc gia châu Âu, và theo cách này thông tin chung liên quan đến thực tiễn quốc tế
Đánh giá chung việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam được đưa ra trong báo cáo hiện trạng (tham khảo 1) và nói chung không được đưa vào tại liệu này, nhưng sẽ nhắc đến khi thích hợp
Nhìn chung, các vấn đề được mô tả riêng biệt đối với nước và không khí bất cứ khi nào thích hợp
Báo cáo được bổ sung với một số các phụ lục có liên hệ tới một số website có liên quan vàmột số vị dụ chủ yếu dựa trên yêu cầu của các NSTA, tới một mức độ nhất định các ví dụ cụthể đã có thể dử dụng được
Những chương chính của báo cáo này là các chương 8 đến 11, trong đó có một số các đề xuất được mô tả bắt đầu điểm khởi đầu trong các đầu ra của Điều khoản tham chiếu Về đầu ra số
3, chương 10, các đề xuất là đầu vào của các NSTA và các góp ý và đề xuất từ phía ISTA, trong khi các đề xuất và ý tưởng cho đầu ra 2 và 4 chỉ thể hiện quan điểm của ISTA và sẽ sử dụng được đối với các NSTA trong quá trình soạn thảo các quy định và hướng dẫn sắp tới
3 Sự liên hệ giữa các tiêu chuẩn môi trường với các tiêu chuẩn chất lượng môi trường (EQS).
Trang 10Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường (EQS) trong Chỉ thị khung về nước của EU được định nghĩa là nồng độ của một chất ô nhiễm cụ thể hay một nhóm chất ô nhiễm trong nước, cặn hoặc khu sinh vật không được vượt quá giới hạn nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường
Tiêu chuẩn môi trường (ES) được định nghĩa là khối lượng thể hiện dưới dạng các thông số
cụ thể nào đó, nồng độ và/hoặc mức độ phát thải không được vượt quán giới hạn trong suốt một hoặc các chu kỳ thời gian Các giá trị giới hạn thải có thể áp dụng cho các nhóm, gia đìnhhoặc các loại chất
Trong tình trạng lý tưởng, tiêu chuẩn môi trường nên đặt ở một mức có thể đạt được sự đáp ứng EQS tại địa điểm phát thải cụ thể Vì tiêu chuẩn môi trường thường được áp dụng ở mức như nhau không kể đén bản chất của hoạt động và tình trạng môi trường xung quanh hoạt động cụ thể đó, điều kiện lý tưởng này không phải lúc nào cũng đạt được Nếu tiêu chuẩn môitrường đạt được sự đáp ứng EQS ở tất cả các địa điểm , tiêu chuẩn môi trường một là rất nghiêm ngặt, hoặc là EQS rất cao Đôi khi có một sự tương ứng rất tốt, đôi khi EQS is met with a good margin, nhưng trong nhiều trường hợp tiêu chuẩn môi trường nói chung sẽ khôngđáp ứng được EQS ở một địa điểm cụ thể
Báo cáo từ 3 lưu vực sông đưa ra một ví dụ đúng cho điều này Dự báo cho thấy nếu các trạm
xử lý nước thải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường tại các lưu vực sông, nó sẽ dẫn tới sự đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nước trong một số trường hợp, nhưng ở các con sông khác hoặc cácphần của nó thì việc này lại không đủ để tiến tới tình trạng mong muốn của con sông đó
Sự không thống nhất giữa ES và EQS có thể được giải quyết bằng cách thiết lập các ES riêng theo EQS tại một địa điểm cụ thể
Một ví dụ về việc này là WFD của EU, ở đây điểm bắt đầu cho việc thiết lập các giới hạn thải
là mục tiêu đối với nguồn nước tiếp nhận nước thải – và không chỉ là nguồn tiếp nhận sơ cấp (chủ yếu là sông) mà còn là nguồn thứ cấp như hồ hoặc khu vực ven biển Giới hạn thải đối với một hoạt động ô nhiễm cụ thể sau đó phải đặt ở một mức đảm bảo sự thỏa mãn đối với mục tiêu
Tiêu chuẩn môi trường chung đối với xử lý nước thải (xem chương 6) sẽ vẫn có hiệu lực nhưng sẽ đóng vai trò như những yêu cầu tối thiểu phải đạt được ngay cả khi mục tiêu được thỏa mãn với một good margin Do vậy, cách tiếp cận liên kết ES và EQS này nhìn xa sẽ dẫn đến ES nghiêm ngặt hơn tiêu chuẩn chung đối với ít nhất một số trạm xử lý tại châu Âu
4 Áp dụng tiêu chuẩn môi trường tại EU và các nước thành viên.
Pháp luật tại EU phải được nghị viện EU và các quốc gia thành viên thông qua trước khi nó được ban hành và trở thành điều bắt buộc đối với các nước thành viên Trước khi luật được thông qua, a hearing của các đối tác khác nhau và của công chúng phải được tiến hành Điều này có nghĩa rằng có một quy trình rất dài trong hệ thống EU trước khi một bộ quy định có hiệu lực Sau khi phê duyệt lần cuối cùng, các quốc gia thành viên có một khoảng thời gian nhất định (thường là 3 năm đối với những chỉ thị chính được đưa ra trong tài liệu này) để thayđổi các quy định, luật pháp quốc gia và các thủ tục hành chính tuân thủ theo chỉ thị Cuối cùng, các nước thành viên sẽ có một khoảng thời gian nhất định để thực sự thực hiện các biện pháp cần thiết để tuân thủ các yêu cầu trong chỉ thị (như 14 năm đối với việc xử lý nước thải)
Có thể nói rằng có một quá trình rất dài đi từ nhu cầu có một quy định chung trong EU được xác định đến việc các quốc gia thành viên hoàn tòa tuân thủ nó
Trang 11Quá trình chuyển luật của EU vào luật pháp và quy định quốc gia được Ủy ban châu Âu và các giám sát và nước thành viên phải báo cáo trở lại Ủy ban về tình hình thực hiện
Một số chỉ thị như chỉ thị nước thải đô thị (UWWTD) hay chỉ thị về các nhà máy nhiệt điện
có đưa tiêu chuẩn môi trường cụ thể mà các nước thành viên phải đưa vào quy định quốc gia như là tiêu chuẩn tối thiều Do vậy, giấy phép được nhà nước ban hành để cho phép hoạt độngphải bap gồm tiêu chuẩn môi trường đối với các chất được nhắc đến và ở mức tối thiểu như đãđưa ra trong chỉ thị
Các chỉ thị khác là các chỉ thị khung như WFD hay IPPC (xem chương 6.3), các khung được điền vào bởi các hướng dân và cá tài liệu triển khai thực hiện chung v.v
Chỉ thị IPPC không bao gồm tiêu chuẩn môi trường nhưng khá cụ thể cho nội dung của một giấy phép, nó đề ra như sau:
Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng giấy phép bao gồm các biện pháp cần thiếtcho việc tuân thủ các yêu cầu cấp phép nhằm đạt được mức độ cao trong việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp bảo vệ môi trường không khí, nước và đất
Trong trường hợp một hệ thống mới hoặc một sự thay đổi lớn Chỉ thị sẽ đề cập đến các mục đích cấp phép
Giấy phép sẽ gồm có các giá trị giới hạn thải của các chất ô nhiễm, nói riêng, những giá trị được liệt kê (phụ lục 4 trong báo cáo này), có khả năng bị thải ra từ hệ thống có liên quan đến số lượng lớn
Tài liệu chính liên quan đến tiêu chuẩn môi trường đối với các hoạt động công nghiệp do đó
sẽ là giấy phép cho việc hoạt động, ở đó các giới hạn thải bắt buộc được đề ra có kể đến các thông số như các kỹ thuật hiện có, sự xem xét về kinh tế v.v, ( được mô tả chi tiết hơn trong phần 6.3)
Sau khi việc triển khai chính thức các chỉ thị EU với luật pháp Đan Mạch và sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan chức năng, hầu hết trong các trường hợp, sự cần thiết đối với cơ quan chịu trách nhiệm quốc gia (EPA Đan Mạch) là ban hành các hướng dẫn để tạothuận lợi cho các cơ quan chức năng trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm như các ban ngành nhànước ở đại phương và chính quyền các khu tự trị Những hướng dẫn thường rất toàn diện và bao trùm tất cả các vấn đề liên quan đến quy định
Một ví dụ về hướng dẫn cho công tác kiểm soát ô nhiễm không khí, các đầu mục chính là:
Nguyên tắc tỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT)
Áp dụng BAT
Giới hạn mass-flow
Các giá trị giới hạn thải
Tính toán chiều cao đầu ra sử dụng mô hình OML
Lập các điều kiện và quy tắc thanh tra
Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Các giá trị giới hạn thải đối với các nhà máy năng lượng
Các yêu cấu đối với thiết kết các bể và xilô
Các giá trị giới hạn thải đề xuất v.v đối với các hệ thống ôxy hóa nhiệt và xúc tác cho việc loại bỏ các chất hữu cơ hòa tan
Như vậy, hướng dẫn này bao trùm toàn bộ các khía cạnh mà cơ quan chức năng cần đề cấp phép, thanh tra và đánh giá xem liệu các điều kiện trong giấy phép có được đáp ứng không Bên cạnh đó, bình thường nên tổ chức các khóa đào tạo cho các cán bộ có liên quan, coi đây như là sự giới thiệu quy định mới và sau đó bổ sung vào tài liệu hướng dẫn Thực ra, nhiều
Trang 12khóa đào tạo và các buổi họp bổ sung nhằm trao đổi kinh nghiệm được các cơ quan có thẩm quyền hay một tổ chức bố trí thực hiện cho các cán bộ trong ngành môi trường Đặc biệt trongngành công nghiệp, các mạng lưới địa phương được thành lập nhằm nâng cao sự liên lạc giữa ngành công nghiệp nói chung và các cơ quan chức năng.
Một thể chế quan trọng khác để cung cấp hướng dẫn cho các cơ quan chức năng trong việc áp dụng đầy đủ các quy định là hệ thống appealing Trong tất cả các quy định của Đan Mạch, khả năng trợ giúp đối với người áp dụng, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân v.v được đề
ra Các quyết dịnh từ ban trợ giúp được các cơ quan tuân theo, và theo cách này, ban trợ giúp lọc ra những vấn đề chưa chắc chắn trong các quy định
5 Các phương pháp và quy trình thiết lập các tiêu chuẩn.
Các phương pháp thiết lập các tiêu chuẩn môi trường cho dù về tiêu chuẩn thải hay tiêu chuẩnchất lượng khác nhau rất nhiều phụ thuộc vào media (không khí, nước v.v) và các chất đề cập đến
Một số vấn đề cần được cân nhắc như:
Tác động ô nhiễm của chất, bao gồm cả độ độc
Tác động cụ bộ và/hoặc tích lũy (rải rộng)
Độ nhạy của các khu vực nhất định (Zonation)
Sự sãn có về kỹ thuật nhằm phòng ngừa và giảm thải (kỹ thuật tốt nhất hiện có – xem phần 6.3)
Các khuyến nghị quốc tế như WHO về chất lượng không khí xung quanh
Chi phí kinh tế
Hầu hết các tiêu chuẩn môi trường luôn có một số sự mở rộng một yếu tốt nhận xét chuyên môn mà không thể tiêu chuẩn hóa được nhưng có thể kiểm nghiệm qua sự nhất trí của một số chuyên gia (ở EU thướng là bởi các quốc gia thành viên)
5.1 Các tiêu chuẩn về nước.
Các tiêu chuẩn cụ thể đối với việc thải nước được đưa ra trong chỉ thị xử lý nước thải đô thị (UWWT) (xem phần 6.1) Chỉ thị có hiệu lực từ năm1991, do vậy nồng độ thải đưa ra trong chỉ thỉ thể hiện các khả năng công nghệ và các điều kiện kinh tế khả thi tại thời điểm đó (thực
tế một số loại đánh giá kỹ thuật tốt nhất hiện có) Điều này có nghĩa các giới hạn thực tế đối với BOD, Nitơ v.v là kết quả nhận xét của chuyên gia, mức thải nào có thể đạt được từ xử lý
sơ và thứ cấp trong giới hạn chi phí hợp lý
Các tiêu chuẩn cũng thể hiện thực tế rằng việc xử lý nước thải tại nhiều quốc gia vào thời điểm đó là rất kém và thiếu sót Do vậy, một mức xử lý đưa vào tiêu chuẩn môi trường trong chỉ thị sẽ đem tới một sự cải thiện đáng kể tình tràng của các nguồn tiếp nhận tại nhiều quốc gia
Chỉ thị cũng bao gồm zonation vì cá quốc gia thành viên phải xác định các khu vực nhạy cảm (catchments) nơi mà các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn cần được áp dụng tương xứng với xử lý thứ cấp (loại bỏ N và P) Hai khu vực được mô tả:
Các hồ nước ngọt tự nhiên, các nguồn nước ngọt khác, nước ở cửa sông và ven biển được cho rằng là có dinh dưỡng tốt hoặc có thể có dinh dưỡng tốt nếu hành động bảo
vệ không được tiến hành;
Nước mặt sử dụng để sản xuất nước uống nếu như lượng nitơrát vượt quá các giới hạncho phép
Trang 13Đan Mạch như một số các quốc gia thành viên khác phải lựa chọn để xác định tất cả các khu vực khi có đường nước dẫn đến một khu vực nhạy cảm, đó là toàn bộ các trạm xử lý được chỉ thị nhắc đến phải tuân thủ với các tiêu chuẩn khắt khe hơn trong chỉ thị.
Liên quan đến Chỉ thị khung về nước (WFD), một phương pháp được mô tả để thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng môi trường (EQS) đối với các chất nguy hiểm như thuốc trừ sâu Phương pháp được dựa trên độ độc và đề cập đến cả đặc tính độc thường xuyên lặp đi lặp lại
và cấp tính Các phương pháp chỉ sử dụng được cho việc thiết lập nồng độ mà không sử dụng được cho việc đánh giá các tác động tích lũy và sự tồn tại
Đầu vào chính của quá trình là dữ liệu về độ độc nhưn các kết quả kiểm tra v.v từ nghiên cứu quốc tế đối với 3 cấp độ dinh dưỡng khác nhau:
Ít nhất một L(E)50 ngắn hạn từ một trong 3 cấp dinh dưỡng (cá,
Daphnia, and algae)
1000
Hai giá trị NOEC dài hạn từ 2 cấp dinh dưỡng khác nhau 50
Các giá trị NOEC từ ít nhất 3 loài đại diện cho 3 cấp dinh dưỡng 10
EQS sau đó được thiết lập bằng cách lấy nồng độ thấp nhất của các kiểm tra và chia cho hệ sốước đoán, ví dụn có một giá trị NOEC là 1000ug/l, kết quả WQS sẽ là 10ug/l
EQS sau đó có thể là cơ sở cho các hới hạn thải có kể đến sự pha loãng tại điểm thải (được đo như dòng chảy đáy, đó là dòng chảy thấp nhất) và nồng độ các chất phía trên điểm xả
5.2 Các tiêu chuẩn dựa trên các đánh giá riêng của người tiếp nhận.
Vấn đề này được Vụ Môi trường cho rằng một số ví dụ làm cách nào các giới hạn thải riêng biệt có thể áp dụng và sẽ thỏa mãn Để thiết lập các giới hạn thải riêng yêu cầu phải có một EQS, nó có thể liên quan đến điểm phát thải Một bí dụ về việc này được đưa ra trong phần trước để tính toán EQS cho các chất nguy hiểm và làm sao nó có thể áp dụng cho việc thải từ một nguồn cụ thể Điều này tương đối dễ khi EQS là một nồng độ trong nguồn tiếp nhận sơ cấp như các chất nguy hiểm và BOD
Đối với BOD, các giới hạn thải riêng cho công tác xử lý nước thải khắt khe hơn là các hoạt động chung được nhắc tới trong phần 6.1 chủ yếu dựa trên nguyên tắc pha loãng, đó là không vượt qiá một nồng độ nhất định trong một con sông say khi hòa trộn hòan toàn hoặc tăng nồng độ lên một mức giới hạn Đó là điều kiện tiên quyết cho việc tính toán, EQS đối với sông phải tuân theo ít ntấ dòng chảy đáy trung bình, đó là trung bình của các dòng chảy đáy thấp nhất qua một số năm
Khi nó tiến tới tổng số cho một chất, nó trở lên khó hơn Ví dụ như một hồ ở Đan Mạch, ở đay tải lượng phốt pho quá cao là nguyên nhân dẫn đến việc không đáp ứng được mụctiêu Một số trạm xử lý trong khu vực dòng chảy góp phần vào việc quá tải P Với một mô hình, tổng lượng P giảm cần thiết để đáp ứng mục tiêu có thể tính toán được, đó là “khoảng cách
Trang 14đến mục tiêu” Sự giảm bớt này phải được chi nhỏ với một tỷ lệ tương xứng (dựa trên số người tương đương) đối với mỗi trạm xư rlý và sau đó được đưa vào các giấy phép cho các trạm này Điều này có nghãi là các giới hạn thải P theo mg/l đối với các trạm được bàn đến bao gồm dòng thải được chấp nhận nên đảm bào rằng tổng lượng phốt pho thải ra hồn được giảm đến mực chấp nhận được.
5.3 Tiêu chuẩn môi trường đối với các hoạt động công nghiệp.
Trong phần 6.3 sự mô tả chi tiết hơn quy định đối với các hoạt động công nghiệp tại EU được đưa ra Cơ sở của quy định này là các tài liệu BREF cho một số ngành, mô tả một số kỹ thuật sẵn có và các mức thải kèm theo
Phương pháp biên soạn các tài liệu này cũng như các hướng dẫn cho các giới hạn thải là các nhóm kỹ thuật, ở đó các chuyên gia từ các nước thành viên cùng với đại diện từ các ngành công nghiệp cụ thể thảo luận các biện pháp khả thi và các tác động đi kèm Tùy thuộc vào ngành, các nhòm kỹ thuật này thảo luận các chủ đề cho tới vài năm để thông qua nhiều giải pháp kỹ thuật trong nhiều trường hợp và tiến tới sự nhất trí Nếu điều đó là không thể, việc xem xét spilt được đưa ra
Cuối cùng, văn bản được Ủy ban châu Âu thông qua và chuyên qua các nước thành viên Cho tới này các tài liệu BREF đã được biên soạn cho khoảng 30 ngành công nghiệp khác nhau và đây là một khối lượng tài liệu rất lớn đến vài trăm trang Bản tóm tắt đã được chuẩn bị cho mỗi tài liệu đưa ra các findíng chính, tóm tắt những kết luận chính cho BAT và các mức thải
và tiêu thụ kèm theo Danh sách tài liệu BREF hiện có được đưa ra trong phụ lục 4 và liên hệ với trang web với các tài liệu BREF, các phần tóm tắt có thể tìm thấy trong phụ lục 1
6 Các tiêu chuẩn được áp dụng tại EU và các quốc gia thành viên.
6.1 Quy định và các tiêu chuẩn đối với nước thải tại EU và Đan Mạch.
Việc thải nước ở cấp châu Âu được quy định bởi Chỉ thị Xử lý nước thải đô thị (UWWTD) ban hành năm 1992 Chỉ thị thiết lập các tiêu chuẩn đối với nước thải đô thị như được đưa ra trong bảng 6.1
Giới hạn thải tại EU mg/l Giới hạn thải tại Đan Mạch
mg/lChât hữu cơ
Các yêu cầu trong chỉ thị có sự khác biệt theo nhiều cách:
Nguồn tiếp nhận được định hướn do đó nó mang tính địa lý (mức dẫn dòng), do các quốc gia thành viên phải chỉ rõ các khu vực nhạy cảm, ở đó các yêu cầu sẽ nghiêm ngặt hơn mức chung (chỉ đối với các chất dinh dưỡng) Xử lý thứ cấp đối với toàn bộ
Trang 15lượng thải > 10.000 p.e (2.000 đối với khu vực nước ngọt) Các khu vực nhạy cảm: việc xử lý khắt khe hơn đối với các thông số từ agg.> 10.000 p.e (nước ven biển) và 2.000 p.e đối với việc thải ra nguồn nước ngọt
Quy mô, do chỉ thị chỉ bao hàm sự kết tụ với hơn 10.000 p.e nói chung và 2000 trong các dòng dẫn nước đến các khu vực nhạy cảm và thải ra nguồn nước ngọt
Thời gian, do chỉ thị có sự khác biệt về kế hoạch thời gian đối với việc tuân thủ theo chỉ thị Các quốc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng nước thải đô thị đi vào hệ thống thu gom trước khi thải ra sẽ phải qua xử lý thứ cấp hoặc xử lý tương đương như sau:
- muộn nhất vào 31 tháng 12 năm 2000 đối với tất cả các loại nước thải từ sự kết tụ lớn hơn 1500 p.e.,
- muộn nhất vào 31 tháng 12 năm 2005 đối với tất cả các loại nước thải từ sự kết tụ
từ 10000 đến 1500 p.e.,
- muộn nhất vào 31 tháng 12 năm 2005 đối với tất cả các loại nước thải dẫn đến nguồn nước ngọt và cửa sông từ sự kết tụ từ 2000 đến 1000 p.e.,
Như là một điều kiện tiên quyết đối với công tác xử lý, chỉ thị cũng nói rằng tất cả các sự tích
tụ cần được cung cấp hệ thống thu gom đối với nước thải đô thị,
- muộn nhất vào 31 tháng 12 năm 2000 đối với đối với those có hơn 1500 p.e., và
- muộn nhất vào 31 tháng 12 năm 2000 đối với đối với those có từ 2000 đến 15000 p.e.Tất cả các nước thành viên đã phê duyệt chỉ thị thì bây giời phải tuân theo các tiêu chuẩn có trong chỉ thị đó Từ 1991, một số các quốc gia, đặc biệt là các nước Liên bang Xô Viết cũ đã gia nhật EU và đối với họ, việc tuân thủ theo chỉ thị là một vấn đề - một phần vì thời hạn cuối cùng (về kỹ thuật không khả thi để xây dựng các hệ thống) nhưng cũng bởi chi phí kinh thế
để đưa các tiêu chuẩn đến mức của chỉ thị Do đó, kế hoạchthời gian riêng đã được đặt ra cho các nước này với sự khác biệt như nhau, do vậy các nguồn gây ô nhiễm lớn phải tuân thủ theocác tiêu chuẩn đầu tiên
Như một ví dụ, Ba Lan có giai đoạn chuyển tiếp lên tới 13 năm để tuân thủ với các yêu cầu trong chỉ thị, với giai đoạn dài hơn đối với agglomerations nhỏ hơn
Ở một số các nước thành viên, sự cải thiện trong việc xử lý nước thải đã bắt đầu rất lâu trước chỉ thị UWWTD từ năm 1991 Thực ra, một phần lớn nước thải ở Đan Mạch vào năm 1991 đãđược xử lý tới các giới hạn BOD và P trong chỉ thị Chí đối với nitơ thì cần thiết phải nâng cấp công tác xử lý một các tổng thể để tuân thủ được theo các tiêu chuẩn
Một cái nhìn hết sức tổng quan lịch sử của công tác xử lý nước thải tại Đan Mạch
Những năm 1970: Xử lý bậc hai đối với nước thải từ các nhà máy lớn thải ra các water couses
Những năm 1980: Xử lý bậc hai đối với các nhà máy xử lý vừa và nhỏ thải ra các water courses Việc loại bỏ Nitơ tại các nhà máy vừa và lớn hơn, nơi mà nguồn tiếp nhận thứ cấp là hồ
Những năm 1980: xử lý bậc 3 hòan toàn (loại bỏ N và P) cho các nhà máy, nơi mà nguồn tiếp nhận thứ cấp và tam cấp là các hồ và khu vực ven biển
2000 -2007: Nâng cấp xử lý tại nhiều nhà máy Xử lý nước thải từ các khu vực rất nhỏ các làng nhỏ và ngày cả các ngôi nhà đơn lẻ) trong các khu vực nhất định đã được xác định
Đây là ví dụ chỉ để minh họa rằng, ở đó, đằng sau tiêu chuẩn rất cao đối với xử lý nước thải ở Đan mạch ngày nay là cả một lịch xử hơn 30 năm từ khi bắt đầu một hành động có tổ chức hơn để có được môi trường nước tốt đẹp hơn
Trang 16Có thể thấy ở bảng 6.1, Đan Mạch đã lựa chọn để tăng cường yêu cầu của EU đối với hầu hết các thông số Cần chú ý rằng sự cấp phép thải cho hầu hết các nhà máy xử lý nước thải của Đan Mạch đều có các giới hạn khắt khe hơn các tiêu chuẩn quốc gia để bảo về và cải thiện tình trạng môi trường của các nguồn nước riêng lẻ (water courses, hồ và các khu vực ven biển) Nhưng yêu cầu khắt khe hơn này đã được ban hành bởi các cơ quan chức năng địa phương dựa trên dữ liệu giám sát và quyết định chính trị của địa phương đối với các mục tiêu chất lượng nước
Quy mô của
Bảng 6.2:Ví dụ về sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn đối với nước thải
Từ ví dụ trong bảng 6.2 có thể thấy, giới hạn thải tại Đan Mạch đối với chất hữu cơ, P và N cóthể thấp hơn nhiều đối với các nhà máy xử lý lớn hơn và việc xử lý nước thải là bắt buộc đối ngay cả với các ngôi nhà đơn lẻ trong nước nếu phát hiện ra một tác động xấu lên nguồn tiếp nhận
Chỉ thị UWWT cũng bao gồm việc thải nước thải biodegradable trong công nghiệp như ngànhcông nghiệp chế biến cá và các nhà máy đường (xem phụ lục 4) với lượng nước thải tương đương hơn 4.000 p.e Không có giới hạn thải đối với những ngành công nghiệp này trong chỉ thị, nhưng những nước thành viên bắt buộc phải đặt ra các yêu cầu phù hợp cho việc xử lý Chủ để được nói đến chi tiết hơn trong phần 6.3
6.2 Các chất nguy hiểm trong nước.
Qua các năm, EU đã ban hành nhiều chỉ thị hướng mục tiêu vào các chất đặc trưng (thủy ngân, cadimi v.v.) Chỉ thị gần đây nhất bắt buộc các quốc gia thành viên phải đưa ra cac tiêu chuẩn chất lượng nước (WQS) cho danh sách các chất trong bảng 6.3 (từ việc thực hiện của Đan Mạch) Các chất được xác định là chất nguy hiển (Tham khảo Chỉ thị 76/464/EEC ngầy 4tháng 5 năm 1976
về ô nhiễm gây ra vởi các chất nguy hiểm thải vào môi trường nước của cộng đồng)
chất lượng nước đối với nước ngọt
µg/l
Tiêu chuẩn chấtlượng nước đối với nước ngọtNước ven biển
µg/l
Trang 17Bảng 6.3: Tiêu chuẩn chất lượng nước (WQS) đối với các chất nguy hiển.
Cơ quan chức năng cấp giấy phép cho việc thải nước cần đảm bảo rằng việc thải đó không dẫn đến việc vượt quá các tiêu chuẩn chất lượng nước
6.3 Quy định thải nước trong tương lai.
Quy định hiện thời trong Chỉ thị UWWTD có sự khác biệt theo sự nhạy cảm của nguồn nước tiếp nhận nước thải, do các khu vực nhạy cảm được định ra bởi các quốc gia thành viên Tuy nhiên, việc chỉ định này không liên quan đến mục tiêu môi trường đối với nguồn tiếp nhận, ví
dụ đâu là sự giảm nhẹ cần thiết trong tải lượng ô nhiễm để đạt được mục tiêu đối với một nguồn nước cụ thể (sông, hồ hoặc khu vực ven biển)
Việc cải thiện và bảo vệ nước mặt ở toàn châu Âu trong tương lai sẽ chủ yếu được quy định bởi chỉ thị khung về nước (WFD) Hiện nay, chỉ thị đang được triển khai ở các quốc gia thanhviên của EU, và kế hoạch nước đầu tiên bao gồm một chương trình cho các phương pháp phải
có hiệu lực vào cuối năm 2009
Nguyên tắc chính của chỉ thị là thiết lập một mục tiêu cho mỗi nguồn nước (một phần của mộtcon sông, hồ, khu vực ven biển), đó là tiêu chuẩn chất lượng nước chủ yếu dựa trên các chỉ sốsinh học và để quyết định những biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu đó
The programme of measures phải có các phương pháp cần thiết bao gồm các yêu cầu đối với
xử lý nước thải để đạt được mục tiêu của nguồn tiếp nhận, nói chung các nguồn này ở tình trạng sinh học tốt Do vậy, trong tương lai, các tiêu chuẩn môi trường trong Chỉ thị UWWTD
sẽ là yêu cầu tối thiểu mà các nhà máy xử lý liên quan phải áp dụng nhưng nó có thể được củng cố nếu đó là cách hiểu quả kinh tế nhất để đạt được mục tiêu
Như đã nói ở phần trên, cách tiếp cận này đã được sử dụng Đan Mạch trong một số năm và cho thấy việc xét đến mục tiêu cho các nguồn nước riêng sẽ đi tới các giới hạn thải khắt khe hơn các tiêu chuẩn môi trường chung như ở trong Chỉ thị UWWTD Chỉ thị này sẽ vẫn có hiệu lực và sẽ đóng vai trò như là mức tối thiểu đối với công tác xử lý nước thải mà các nhà máy có liên quan ở EU phải tuân theo
6.4 Các tiêu chuẩn chất lượng không khí
Trang 18EU đã rất quan tâm đến ô nhiễm không khí và đã ban hành một số chỉ thị tới các quốc gia thành viên Bên cạnh các tiêu chuẩn chất lượng đối với các chất cụ thể, các chỉ thị cũng có cácyêu cầu giám sát, biện pháp/tiêu chuẩn cho công tác giám sát và ho một số chất báo hiệu ban đầu sẽ sử dụng để cảnh báo cộng đồng
Thông tin công động nói chung là một vấn đề rất quan trọng và các quy định EU nói rằng các quốc gia thành viên phải đảm bảo thông tinh hàng ngày về mật độ không khí của một số chất (như NO2 và CO)
Mục tiêu chỉ thị quốc gia là để thiết lập các tiêu chuẩn dựa trên sức khỏe và mục tiêu đối với một số chất ô nhiễm trong không khí (xem dánh sách các chỉ thị trong phụ lục 1) Những tiêu chuẩn và mục tiêu này từ các chỉ thị khác nhau được tóm trắt trong bảng 6.4 Chúng được áp dụng qua các giai đoạn khác nhau vì các tác động đến sức khỏe theo dõi cùng với nhiều chất ônhiễm xảy ra qua các thời điểm khác nhau
Luật pháp châu Âu về chất lượng không khí được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc đầu tiên là các quốc gia thành viên chia lãnh thổ của mình thành các khu vực và agglomerations Trong các khu vực và agglomerations, các quốc gia thành viên phải tiến hànhcác đánh giá về mức độ ô nhiễm không khí sử dụng các phép đo, mô hình và các kỹ thuật theokinh nghiệm khác Ở nơi có mức độ ô nhiễm cao, các quốc gia thành viên phải chuẩn bị kế hoạch hoặc chất lượng không khí để đảm bảo việc tuân theo giá trị giới hạn trước ngày giá trị chính thức có hiệu lực Thêm vào đó, thông tin về chất lượng không khí phải được phổ biến đến cộng đồng
Ở Đan Mạch, chương trình quan trắc phù hợp với những chỉ thị này bao gồm 8 địa điểm quan trắc – 4 điểm ở 4 thàn phố lớn nhất và 4 điểm ở các khu vực nông thôn đẻ đưa ra nồng độ cơ
lực từ ngày 1.1.2005 (hoặc 1.1.2010 ở vùng lân cận gần nhất, các nguồn công nghiệp đượcthông báo; giá trị giới hạn 1.0 µg/m3 áp dụng
từ 1.1.2005 đến
Không áp dụng
Trang 1931.12.2009)Carbon
monoxide
(CO)
10 mg/m3 Nhiều
nhất trungbình 8h một ngày
Giá trị giới hạn có hiệu lực từ ngày 1.1.2005
Không áp dụng
Benzene 0.5 µg/m3 1 năm Giá trị giới hạn có hiệu
lực từ ngày 1.1.2010 Không áp dụng
nhất trungbình 8h một ngày
Mục tiêu là giá trị có hiệu lực từ 1.1.2010
25 daysaveragedover 3 years
Arsenic (As) 6 ng/m3 1 năm Mục tiêu là giá trị có
hiệu lực từ 1.1.2012
Không áp dụngCadimi(Cd) 5 ng/m3 1 năm Mục tiêu là giá trị có
hiệu lực từ 1.1.2012 Không áp dụngNickel (Ni) 20 ng/m3 1 năm Mục tiêu là giá trị có
hiệu lực từ 1.1.2012 Không áp dụngPolycyclic
Aromatic
Hydrocarbons
1 ng/m3
(như nồng độ của
Benzo(a)pyrene)
1 năm Mục tiêu là giá trị có
hiệu lực từ 1.1.2012
Không áp dụng
Bảng 6.4: Tóm tắt các tiêu chuẩn chung về chất lượng không khí của EU
Dưới luật của EU, một giá trị giới hạn đang có tính bắt buộc pháp lý từ ngày nó có hiệu lực Một giá trị mục tiêu để được càng nhiều càng tốt vào ngành đạt được giá trị mục tiêu đó và do
đó đỡ khắt khe hơn một giá trị giới hạn
Một cách tiếp cận khác mà EU đã thực hiện là giảm ô nhiễm không khí ở khu vực giáp danh biên giới thừa nhận rừng việc cải thiện chất lượng không khí không chỉ là nghĩa vụ quốc gia
mà còn phải đáp ứng tối thiểu trong sự hợp tác giữa một số quốc gia, trong trường hợp này là
cá thành viên của EU
Các chất được nói đến trong quy định là dioxit lưu huỳnh, oxit nitơ, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và amôn Những mục tiêu chính của quy định là nhằm giảm sự axit hóa , nước mặt, đất và các tòa nhà v.v và để phòng ngừa ảnh hưởng xấu về mặt dinh dưỡng tại các khu vực tự nhiên như hồ và các khu vực biển
Những ceilings được đưa ra trong Chỉ thị và như ví dụ đưa ra trong bẳng 6.5 đối với Đan Mạch
Đan Mạch Dioxit lưa huỳnh
tấn/năm
Oxit nitơ tấn/năm
VOC tấn/năm
Amôntấn/năm
Bảng 6.5: Emissions ceilings Đan mạch phải đáp ứng trước năm 2010
6.5 Tiêu chuẩn môi trường đối với các hoạt động công nghiệp.
Vấn đề này rất phức tạp và bao gồm các lộ trình thải khác nhau (nước, không khí, chất thải v.v), một số lượng lớn các chất và do đó có cả các tác động môi trường đối với con người và
Trang 20tư nhiên xung quanh từ những chất này Đối với một số sự phát thải, tác động ở khoảng cách
xa và tại lượng thải cũng phải được xem xét và xử lý qua các tiêu chuẩn môi trường
Chương này sẽ tập trung vào:
Cách tiếp cận chung của EU nhằm phòng ngừa và giảm ô nhiễm từ các hoạt động công nghiệp
Ví dụ về các tiêu chuẩn đề xuất đối với nước thải theo chỉ hị IPPC
Ví dụ về các tiêu chuẩn đề xuất đối với việc thải khí theo chỉ thị IPPC
Vì phạm vi tương đối rộng nên không khể đề cập toàn bộ các hoạt động công nghiệp ở tất các các loại địa điểm và cho tất cả các quy mô hoạt động Do đó, chương này được sắp xếp với sự
mô tả chung về quy định đối với các hoạt động công nghiệp ở EU và như các ví dụ với các tham khảo tới các tài liệu hiện có Chuyên gia tư vấn quốc tế đã được các chuyên gia trong nước yêu cầu cung cấp các tài liệu với tiêu chuẩn môi trường đối với một số ngành công nghiệp Trong chương 12, những viện dẫn cho các ngành này được sẽ được nói đến
6.5.1 Cách tiếp cận chung của EU.
Khung quy định của lĩnh vực này được đưa ra trong một chỉ thị cấp trung ương vào năm
1996, Chỉ thị Lồng ghép phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm (IPPC) Cho tới sau đó, ngành công nghiệp đã được quy định ở các khu vực cụ thể, bao trùm việc phát thải của các chất nguyhiểm nhất định như thủy ngân, cadimi v.v (xem danh sách các chỉ thị trong phụ lục 1) hoặc của các hoạt động cụ thể như các nhà máy nhiệt điện Những chỉ thị “cũ” này vẫn đang có hiệu lực và quy định tối thiểu đối với những chất đặc trưng này hoặc đối với các hoạt động vẫn sẽ phải áp dụng
Những chỉ thị khác như chỉ thị về nước và không khí (xem chương 6.1 và 6.4) cũng phải đượcxem như là các tiêu chuẩn thải tối thiểu cho các hoạt động công nghiệp
Chỉ thị IPPC dựa trên một số nguyên tắc:
1 Cách tiếp cận lồng ghép có nghĩa là sự cho phép phải đề cập đến toàn bộ điều kiện
môi trường của nhà máy, bao gồm, ví dụ như việc thải vào không khí, nước và đất, sự phát sinh chất thải, việc sử dụng vật liệu thô, hiệu suất năng lượng, tiếng ồn, phòng tránh tai nạn, và việc phục hồi lại địa điểm khi kết thúc Mục đích của Chỉ thị là để đảm bảo mức độ bảo vệ cao đối với môi trường ở taken as a whole
2 Điều kiện cấp phép bao gồm các giới hạn thải phải dựa trên Những kỹ thuật tốt nhất
hiện có (BAT), như được định nghĩa trong Chỉ thị IPPC Để hỗ trợ các cơ quan cấp
phép và các công ty xác định BAT, một bộ tài liệu chung đã được thông qua, trong đó
mô tả BAT cho từng hoạt động công nghiệp được đề cập đến trong chỉ thị (xem phụ lục 3) Những tài liệu về BAT này có trên trang web – để truy cập được, xem phụ lục 1
3 Chỉ thị IPPC có các yếu tố mềm mỏng cho phép các cơ quan cấp phép trong quá trình xác định điều kiện cấp phép đề cập đến:
(a) các đặc điểm kỹ thuật của hệ thống,
(b) vị trí địa lý và
(c) điều kiện môi trường địa phương
4 Chỉ thị bảo đảm rằng cộng đồng có quyền tham gia vào quá trình ra quyết định và được thông báo về kết quả của nó bằng cách vào xem
Trang 21(a) các văn bản cấp phép để có thể góp ý,
(b) các giấy phép,
(c) kết quả việc monitoring of releases
Chỉ thị IPPC bao gồm một phạm vi rộng các hoạt động công nghiệp như được đưa ra trong phụ lục 3 Đối với một số hoạt động, có một ngưỡng giá trị đối với việc sản xuất mà hoạt động của nó không được nói đế trong chỉ thị Những hoạt động này sau đó sẽ được quy định bằng các luật khác của EU (như đối với việc phải không khí và nước thải) hoặc sẽ được quy định bằng luật pháp quốc gia
Chỉ thị IPPC bắt buộc các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng một giấy phép được cấp chotất cả các hoạt động nói đến trong chỉ thị và các hệ thống hiện có phải vận hành theo chỉ thị trong vòng 8 ngày (không muộn hơn năm 2004)
Theo cách của mình, EU cho phép một giai đoạn chuyển tiếp cho các hệ thống đang tồn tại đểcác cơ quan chức năng có các cuộc đối thoại cần thiết với những người điều hành tại hệ thống
và trên cơ sở tham vấn này ban hành giấy phép cho các hoạt động công nghiệp hiện tại
Khái niện chính trong quy định đối với các hệ thống công nghiệp là BAT Chỉ thị định nghĩa BAT như sau:
'những kỹ thuật` bao gồm cả công nghệ sử dụng và cách hệ thống được thiết kế, xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và ngừng hoạt động,
Những kỹ thuật “hiện có” có nghĩa là những kỹ thuật được phát triển theo quy mô cho phép việc triển khai thực hiện ở ngành công nghiệp liên quan, dưới điều kiện kinh tế
và kỹ thuật khả thi, xét đến những lợi ích và chi phí, liệu các kỹ thuật có được sử dụng
và sản xuất ở quốc gia thành viên không, chỉ cần nó hợp lý và người điều hành có thể tiếp cận được,
‘tốt nhất’ có nghĩa là hiệu quả cao nhất trong việc đạt được mức độ chung cao trong bảo vệ môi trường
Đây là một khái niệm rất rộng với các khía cạnh như tính khả thi về kinh tế, sự tiếp cận v.v cần phải có một đối thoại thật chặt chẽ giữa cơ quan chức năng và người điều hành (người chủ) của hệ thống để đạt được một các hiểu chung về BAT đối với ngành sản xuất đặc trưng Đây là một lĩnh vực rộng hơn đòi hỏi cán bộ phải có kỹ năng không chi của các cơ quan chức năng mà còn của người điều hành
Để tạo điều kiện cho cả hai phía và cộng đồng, EU quyết định đưa ra những văn bản cụ thể
mô tả BAT đối với các loại hình hoạt động công nghiệp được nói đến trong chỉ thị và được đưa ra trong phụ lục 3 – cái gọi là tài liệu BREF Các chuyên gia từ các quốc gia thành viên cùng với đại diện từ các ngành công nghiệp khác nhau soạn thảo tài liệu rất toàn diện diện và
kỹ thuật này Một tóm tắt của mỗi tài liệu gốc được chuẩn bị để đưa ra những thực tế chung
và những khuyến nghị (danh sách các tài liệu BREF trong phụ lục 4)
Giữa các chủ để khác, các tài liệu BREF bao gồm
Một mô tả về ngành
Dữ liệutiêu thụ và thải
Một mô tả về các khả năng BAT khác nhau
Những giới hạn thải có thể đạt được đối với kỹ thuật cụ thể
Trang 22Một điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng BREF không đặt ra những tiêu chuẩn bắt buốc
có tính pháp lý, nó có ý nghĩa đem thông tin hướng dẫn cho ngành công nghiệp, các cơ quan chức năng trong các quốc gia thành viên và cộng đồng về các mức thải có thể đạt được khi sử dụng những kỹ thuật được xác định
6.5.2 Các hoạt động công nghiệp chủ yếu thải ra nước thải gây biodegradable.
Như đã mô tả trước đây, 11 lĩnh vực công nghiệp chủ yếu thải ra nước thải biodegradable được nói đến trong chỉ thị UWWTD, (xem phụ lục 3) Ba trong số các lĩnh vực trên cũng được nói đến trong chỉ thị IPPC với tài liệu BREF và một khuyến nghị cho các giới hạn thải:
Nguyên liệu động vật thô trừ sữa > 75 tấn sản xuất một ngày
Nguyên liệu thực vật thô > 300 tấn sản xuất một ngày
Xử lý và chế biến sữa > 200 tấn sản xuất một ngày
Các giá trị giới hạn thải đề xuất cho không khí và nước thải, những nguồn ô nhiễm chính, được xác định sẽ là việc sử dụng nước trong sản xuất và năng lượng Những giới hạn thải chính được đề xuất ở đây được trích ra từ phần tóm tắt:
“Kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT) là để áp dụng một chiến lược kiểm soát việc thải khí và trừ phi những cách khác đã được xác định trong chương về BAT, ở đó quá trình lồng ghép BAT giảm thiểu khí thải bằng cách lựa chọn và sử dựng các chất, và việc áp dụng các ký thuật không đạt được mức thải 5 – 20mg/Nm3 đối với bụi khô, 35 – 60 mg/Nm3đối với bụi ướt/dính
và <50 mg/Nm3 TOC, để đạt được những mức này thông qua việc áp dụng abatement
techniques
Trừ phi những cách khác được nói đến trong chương BAT, những mức thải đưa ra trong bảng sau biểu thị các mức sẽ phải đạt được với những kỹ thuật được xét đến trình bày trong BAT Chúng không cần thiết thể hiện những mức hiện nay đã đạt được trong công nghiệp nhưng dựa trên ý kiến chuyên gia của nhóm kỹ thuật (TWG)
Chất lượng nước thải đặc trưng sau xử lý”
Một sự so sánh về các giới hạn thải trong chỉ thị UWWTD và các giới hạn được đề xuất trong tài liệu BREF đưa ra mức như nhau, nhưng BREF chỉ ra rằng nếu áp dụng kỹ thuật xử lý đúng, giới hạn thấp hơn sẽ có thể đạt được đối với một số thông số
Trang 23Nó cũng chỉ ra rằng các giới hạn thải trong chỉ thị UWWTD có thể đạt được đối với các ngành công nghiệp chỉ được nói đến trong chỉ thị.
6.5.3 Áp dụng tiêu chuẩn môi trường.
Nguyên tắc chính trong chỉ thị IPPC là phòng tránh ô nhiễm và nếu không thể thì giảm tác động lên môi trường xung quanh từ các hoạt động công nghiệp nhiều nhất có thể - có tính đếnbản chất của việc sản xuất v.v như đã mô tả ở trên Điều này có nghĩa là một bộ tiêu chuẩn bắtbuộc cố định ở cấp EU là không có đối với phần lớn các chất có thể phát sinh trong sự phát thải từ các hoạt động công nghiệp
Như đã mô tả trước đây, các hướng dẫn cho các giới hạn thải có thể đạt được sử dụng BAT cótrong tài liệu BREF và những giứoi hạn này là điểm bắt đầu cho cuộc đối thoại giữa cơ quan chức năng và người áp dụng
Giới hạn thải bắt buộc có tính pháp lý và cuối cùng này sẽ được đưa vào giấy phép được cơ quan chức năng banh hành, đề cập đến điều kiện địa phương bap gồm tính nhạy cảm của tự nhiên xung quanh, hoạt động của con người, địa điểm, các khía cạnh kỹ thuật và kinh tế v.v
6.5.4 Quy định đối với các hoạt động công nghiệp không được chỉ thị IPPC đề cập đến.
Chỉ thị IPPC chỉ áp dụng cho một số hoạt động nhất định và chỉ cho những hoạt động vượt quá một giới hạn sản xuất nhất định (xem phụ lục 3) Tại Đan Mạch, gần 1.500 hệ thống được nói đến qua các định nghĩa trong chỉ thị IPPC, do đó đa số các công ty Đan Mạch được quy định bởi luật pháp và các tiêu chuẩn quốc gia (….qua các quy định của EU như chỉ thị nước thải) Tất nhiên đây là tình trạng của toàn châu Âu
Ở một số nước châu Âu, các tiêu chuẩn quốc gia đã được đưa ra để tạo điều kiện cho các cơquan chức năng và đề đảm bảo một cách tiếp cận chung tới công tác kiểm soát ô nhiễm đốivới các công ty không được chỉ thị IPPC hoặc các luật khác của EU nhắc tới Ví dụ từ HàLan, Đức và Đan Mạch được mô tả vắn tắt Các mối liên kết đến các văn bản bằng tiếng Anhđược cung cấp trong phụ lục 1
Làm sao các tiêu chuẩn sẽ được áp dụng khác nhau giữa các quốc gia, từ tiêu chuẩn có tính bắt buộc đối với các cơ quan chức năng tới các hướng dẫn không có tính bắt buộc pháp lý (như các tài liệu BREF) Nguyên tắc chính đằng sau các tiêu chuẩn là như nhau như đối với chỉ thị IPPC, đó là các giới hạn thải dựa trên việc sử dụng BAT
Tại Đan Mạch, một bộ yêu cầu tiêu chuẩn bao gồm các giới hạn thải tiêu chuẩn đã được sọan thảo cho khoảng 20 ngành khác nhau Các ngành được chọn cho thủ tục là những ngành với loại hình sản xuất tiêu chuẩn và loại hình thải tương đối quen thuộc Các ngành mà quy định tiêu chuẩn nói tới là rất khác nhau như nhà máy điện (phụ lục 6), các nhà máy làm phân compot từ chất thải, mạ kim loại hoặc các nhà máy phá huỷ phương tiên đi lại Các yêu cầu tiêu chuẩn là bắt buộc đối với các cơ quan và chỉ có thể được tăng cường nếu việc bảo vệ cụ thể môi trường xung quanh là cần thiết
Cả ở Hà Lan và Đức, việc thiết lập tương tự đã được thực hiệ đối với các tiêu chuẩn khí thải với mô tả về các mức thải có thể đạt được khi sử dụng BAT cho phạm vi rộng các hệ thống vàloại hình sản xuất (xem phụ lục 1 để có đường dẫn)
Trang 24Quy định của Hà Lan bao gồm 2 loại: Các chất bắt buộc phải giảm thiểu ( được chia thành những rủi ro cao và các chất giảm thiểu khác) với nỗ lực đạt được mức thải là không dối với các chất các nguy cơ rủi ro cao và giới hạn thải đối với một danh sách dài các chất
Hướng dẫn của Hà Lan có đưa ra, đối với các chất giảm thiểu khác rằng “những yêu cầu này chỉ ra những mức thải nào là khả thi ở mức độ áp dụng lớn nhất của các phương pháp hiện có.Đối với tình hình mới, những giá trị này có thể coi như giới hạn hoàn toàn trên đối với nồng
độ thải mà sự cấp phép đòi hỏi
Đối với tình hình hiện nay, một nồng độ thải cao hơn các giá trị của các yêu cầu có thể được cho phép trên cơ sở cân nhắc khả năng kinh tế và kỹ thuật Với giả thiết điều kiện là các tác động môi trường vẫn giữ ở mức dưới tiêu chuẩn chất lượng không khí Ngay cả nếu các mức mục tiêu được tuân thủ, cần tiếp tục nỗ lực để giảm sự phát thải
Do đó sự hệ thống của Hà Lan khác biệt giữa một nhà máy mới và những hoạt động đang tồn tại, nhưng với mục tiêu đối với cả hai tình huống là giảm thải những chất này tới mức tối thiểu sử dụng nguyên tắc BAT
Ngoài ra, những giới hạn thải chung này còn có các chất rủi ro, hướng dẫn ở Hà Lan đưa ra các đề xuất cho các giới hạn thải của các chất liên quan đối với các hoạt động công nghiệp cụ thể bao gồm một pham vi rộng các cơ sở và việc sử dụng nguyên liệu thô
Quy định của Đức (hướng dẫn kỹ thuật về kiểm soát chất lượng không khí – TA luft) về ô nhiẽm không khí từ các hoạt động công nghiệp về nhiều mặt tương tự với cách tiếp cận của Đan Mạch và Hà Lan
Sự tranh luận về phạm vi của việc áp dụng TA luft nhằm rà soát sự áp dụng để cấp phép xây dựng và hoạt động các hệ thống công nghiệp mới (hay sửa đổi các hệ thống đang tồn tại) và để xác định liệu những hệ thống mới hoặc sửa đổi theo đề xuất sẽ tuânthủ các yêu cầu của TA luft hay không và các yêu cầu của các quy định khí thải ô nhiễm khác được Liên đoàn Kiểm soát ô nhiễm không khí ban hành
Nhứng giới hạn phát thải khí gây ô nhiễm đối với bụi, SO2, NO2, axit flohydric và cáchợp chất flo vô cơ ở thể khí, asen và các hợp chất asen vô cơ, chì và các hợp chất vô
cơ của chì, catmi và các hợp chất vô cơ của catmi, niken và các hợp chất vô cơ của niken, thủy ngân và các hợp chất vô cơ của thủy ngân, tali và các hợp chất vô cơ của tali, amôn từ trang trại và các hoạt động chăn nuôi, khí và hạt vô cơ, chất hữu cơ và các chất khác
Các giới hạn thải có thể cũng được thiết lập đối với các chất nguy hại, độc tính, các chất gây ung thư và mutagenic như một phần việc của TA luft khi rà soát các thủ tục
Những giới hạn khác liên quan đến chiều cao ống khói (đối với các khí từ ống khói hoặc các quá trình thông hơi khác)
Nhiều yêu cầu khác nhau đối với việc lấy mẫu, đo đạc và giám sát sự phát thải
Liệt kê các ngành công nghiệp tùy thuộc vào các yêu cầu của TA luft như khai thác
mỏ, phát điện, kính và gốm sứ, thép, nhôm và các kim loại khác, nhà máy hóa chất, tinh chế dầu, nhựa, thực phẩm và các ngành khác
Một quy định song song đối với nước thải từ các nguồn sinh hoạt và công nghiệp có hiệu lực
ở Đức Nó cũng được chia nhỏ thành các ngành khác nhau của các hoạt động công nghiệp và đưa ra các giới hạn thải không chỉ trực tiếp tới nguồn tiếp nhận mà còn cho các nồng độ cho phép trong nước thải đối với một số chất nguy hại trước khi hòa trộn với nước thải khác để đảm bảo hệ thống sinh học tại trạm xử lý
Trang 25Một số tiêu chuẩn môi trường ở Đức không dựa trên sự phân tích thông thường đối với các hất mà dựa trên những giới hạn tác động, ví dụ như trứng cá, tảo daphnia và các sinh vật nướckhác.
7 Thanh tra và cưỡng chế tiêu chuẩn môi trường tại Đan Mạch.
Mục đích chính của việc thanh tra là để đảm bảo công tác bảo việc môi trường thông qua việckiểm tra việc thực hiện các điều khoản trong giấy phép, bao gồm các giới hạn thải Đặc biệtđối với giới hạn thải, việc thanh tra này có thể được thực hiện mà không cần thanh tra theoquy luật hệ thống, vì việc này chủ yếu bao gồm các kết quả công tác tự giám sát được gửi tới
cơ quan chức năng Rất ít khi các cơ quan chức năng ở Đan Mạch tự mình lấy mẫu trong suốtquá trình thanh tra Ở Đan Mạch, cơ quan chức năng có những trách nhiệm khác ngoại từ vaitrò của một cơ quan kiểm soát:
1 Là sự thể hiện tự nhiên tại hệ thống, đó là việc thanh tra được chủ động
2 Tới mức có thể là một sự đối thoại với người điều hành/chủ
3 Tiếp tục thực hiện các điều khoản chưa được đáp ứng
4 Rằng việc thanh tra được phân biệt
Chủ động thanh tra do vậy có thể nói là điều kiện tiên quyết cho sự đối thoại giữa cơ quanchức năng và người điều hành/chủ Một trong những mục đích của cuộc đối thoại có tính xâydựng là để có gắng tạo dựng một sự hiểu biết chung về đâu là nguyên nhân của việc vượt quácác giới hạn thải và đâu là những biện pháp cần phải áp dụng để đáp ứng đầy đủ các điềukhoản trong giấy phép Bằng cách thu hút người điều hành tham gia vào việc ra quyết địnhđối với các biện pháp sẽ được áp dụng, hy vọng rằng những biện pháp này sẽ có khả năngđược áp dụng và vận hành đúng cách, nhờ vậy các điều khoản sẽ được đáp ứng
Một mục đích quan trọng khác của cuộc đối thoại là để thảo luận về những khả năng để cóđiều kiện môi trường tốt hơn vượt ra những yêu cầu trong sự cho phép Điều đó có thể đạtđược bằng cách thay đổi nguyên liệu thô, việc sản xuất sản phẩm v.v và những nhu cầu khôngcần thiết phải có them chi phí cho doanh nghiệp
Để sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả, công tác thanh tra tại Đan Mạch được đặt mục tiêu hướng tới các hệ thống gặp phải vấn đề trong việc đáp ứng các yêu cầu trong giấy phép hoặc nói chung là việc tuân theo các quy định về môi trường Mặt khác, những hệ thống đáp ứng các điều khoản hay thực hiện tốt hơn cả các quy định sẽ bị thanh tra ít hơn Dường như cũng quan trọng đối với việc thanh tra “những anh chàng tốt” để giữ kênh đối thoại và để chỉ
ra rằng những cố gắng của các doanh nghiệp được cơ quan chức năng đánh giá cao Đối với
cơ quan chức năng đó cũng là một cơ hội quan trọng để có được thông tin về những ví dụ về thực tiễn và công nghệ có thể hữu dụng đối với các hệ thống khác
Thanh tra, đối thoại và các giải pháp bảo vệ môi trường là những nhân tố chính trong việc cưỡng chế tuân thủ quy định môi trường tịa Đan Mạch Không may là nó không đủ trong một tình huống nhất định bởi sự vi phạm nghiêm trọng gây ra ô nhiễm nặng hoặc đe dọa con người hoặc bởi các doanh nghiệp không sẵn sàng sử dụng các biện pháp cần thiết để làm theo các điều khoản Trong những trường hợp này, các quy định của Đan Mạch có khả năng phạt những đối tượng thường xuyên vi phạm một khoản tiền hoặc nếu nghiêm trọng có thể bị tống giam Nếu sự vi phạm có mang lại lợi nhuận, có thể sung công khoản lợi nhuận đó Việc có phạt hay không là quyền quyết định của tòa án
8 Nhận xét chung về tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam.
Trang 26và khu công nghiệp Báo cáo cũng nói rằng nhiều cơ sở đang gây ô nhiễm, mặc dù có giấy phép nhưng các cơ sở này lại không tuân theo các giới hạn thải đươc ghi trong giấy phép.Một điểm thú vị trong báo cáo hiện trạng là dự báo về tình tràng môi trường của các hệ thốngsông vào năm 2010 Các kịch bản khác nhau đã được tính toán đối với chiều hướng phát triển của tình hình cho thấy chất lượng nước sẽ kém hơn nữa nếu việc xử lý nước thải không được cải thiện Mặt khác, một kịch bản mà ở đó các nguồn thải để tuân theo tiêu chuẩn môi trường hiện thời của Việt Nam chỉ ra rằng ở một số khu vực các tiêu chuẩn chất lượng nước sẽ được đáp ứng và mức toàn diện, một sự cải thiện đáng kể về chất lượng nước là có thể
Tuân theo tiêu chuẩn môi trường đối với việc xử lý nước thải có thể không đủ để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng đối với nguồn nước mặt ở mọi nơi, nhưng chắc chắn điều này sẽ chấm dứt xu hướng đi xuống như hiện nay và chuển sang xu hướng đi lên, do đó có thể thấy được
sự cải thiện đối với hiện trạng môi trường
8.1 Tiêu chuẩn môi trường tại Việt Nam.
Báo cáo hiện trạng (tài liệu tham khảo số 5) được biên soạn cho phần này mô tả quy trình thiết lập các tiêu chuẩn tại Việt Nam Quy trình này có vẻ rất toàn diện và có sự tham gia của các cơ quan thiết yếu và các đối tác để đảm bảo các ý kiến được tiếp thu trước khi tiêu chuẩn được phê duyệt Về cơ bản, điều này không khác các quy trình tại châu Âu hoặc Đan Mạch
Số lượng chất với một tiêu chuẩn môi trường là rất lớn tại Việt Nam như được đưa ra trong báo cáo hiện trạng Điều này không nhất thiết có nghĩa là các tiêu chuẩn không liên quan đến việc kiểm soát và giảm thải từ các hoạt động cụ thể nhưng những tiêu chuẩn này nên được đặtmục tiêu hướng tới các chất thải chính từ một hoạt động nhất định
Bản báo cáo hiện trạng đã chỉ ra rằng do tình hình kinh tế xã hội tại Việt Nam hiện nay, ít nhất một số tiêu chuẩn quá khắt khe và là không thể tuân theo được đối với các doanh nghiệp hay với các nhà máy xử lý nước thải Như đã nói ở trên, ít nhất tại một số nguồn nước có sự phù hợp giữa các tiêu chuẩn thải và tiêu chuẩn chất lượng nước, do đó tuân theo tiêu chuẩn môi trường sẽ đi đến việc đáp ứng hòan toàn các tiêu chuẩn chất lượng
Không thể so sánh các từng tiêu chuẩn Việt Nam với tiêu chuẩn của châu Âu chủ yếu do bộ chỉ số không giống nhau, nhiều thông số đối với việc phát thải trong công nghiệp không bị cố định ở châu Âu nhưng một nhận xét ngắn chung được đưa ra cho một số khu vực
Chất lượng không khí xung quanh:
Trang 27Quy định của Việt Nam bao gồm nhiều tiêu chuẩn chât lượng môi trường hơn tiêu chuẩn chung của châu ÂU, nhưng đối với các thông số có thể so sánh được thi không có sự khác biệtlớn nào giữa các mức
Nước thải:
Đối với vấn đề đối với chất hữu cơ, nitơ và photpho, các mức không quá khác nhau khi nhìn vào các tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam đối với việc thải ra các khu vực dễ bị xâm hại (mức A) Đối với hai mức còn lại của tiêu chuẩn môi trường trong quy định của Việt Nam, các tiêu chuẩn không không thể so sánh được vì quy định của châu ÂU chỉ có một mức
9 Các đề xuất liên quan cụ thể đến đầu ra 2 trong Điều khoản tham chiếu
Các quy định đối với việc áp dụng các tiêu chuẩn cụ thể:
Đề xuất các thông số phù hợp đề cập đến nhu cầu quản lý đối với mỗi loại tiêu chuẩn đặc trưng dựa trên thực tế áp dụng (theo Luật quy định kỹ thuật, thuộc về các điều kiện áp dụng cụ thể, các thông số trong các tiêu chuẩn được Bộ KHCN phê duyệt có thể được sử dụng để thiết lập các quy định kỹ thuật có thể thêm vào hoặc bớt đi từ các tiêu chuẩn phụ thuộc vào điều kiện thực tế);
Đề xuất hệ số vùng và kế hoạc áp dụng đối với mỗi tiêu chuẩn cụ thể;
Đề xuất các quy định thanh tra/kiểm tra/báo cáo liên quan đến việc áp dụng từng tiêu chuẩn môi trường cụ thể
9.1 Các bộ thông số
Ở các chương trước, một số nguyên tắc và phương pháp áp dụng tiêu chuẩn môi trường tại
EU và các nước thành viên đã được mô tả Bên cạnh đó, một các tiếp cận trong việc thiết lập các tiêu chuẩn riêng dựa trên BAT đối với các hoạt động công nghiệp đã được mô tả
Trong chương này, một số nguyên tắc và đề xuất được trình bày cách làm cho các kinh nghiệm từ EU và các quốc gia thanh viên trở nên hữu ích đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong những công việc sắp tới về kiểm soát ô nhiễm Phần trình bày được chia ra theo Điều khoản tham chiếu và chương này có cách tiếp cận tổng quát hơn trong khi chương
10 tập trung đặc biệt vào vấn đề mục tiêu đối với hợp phần – các làng nghề thủ công và các khu đông dân cư nghèo
Bộ thông số cần thiết cho công tác kiểm soát một hoạt động nhất định, có thể là công nghiệp hoặc dân sinh hoạt, phải bao hàm những sự phát thải chính và do đó sẽ được đặt mục tiêu tới những hoạt động cụ thể Một số ví dụ về cách tiếp cận này đã được mô tả trước đây và một số
mô tả ngành đặc trưng ở trong chỉ thị IPPC hoặc các quy định quốc gia tại châu Âu có thể được sử dụng như điểm khởi đầu đối với các thông số rồi sau đó hiệu chỉnh vào điều kiện Việt Nam
Những vấn đề cần thiết về các tiêu chuẩn không khí từ các NSTA
Có một số lợi ích của việc thiết lập bộ thông số đối với một ngành hoặc một số ngành với cùng một dạng phát thải:
Các hoạt động cùng loại sẽ được kiểm soát bởi bộ thông số giống nhau
Thực tế áp dụng có thể xét đến việc định nghĩa bộ thông số
Số lượng các thông số xem xét có thể giảm xuống
Giá thành phân tích có thể được giảm xuống
Trang 28 Các tiêu chuẩn môi trường có thể đặt mục tiêu hướng tới khu vực cụ thể của ngành công nghiệp thay vì đang được áp dụng cho tất cả các loại hoạt động
Dễ dàng hơn khi áp dụng bời cơ quan có thẩm quyền
Thời gian từ lức áp dụng đế lúc phê duyệt có thể giảm xuống
Sẽ dễ dàng hơn đói với người áp dụng có cái nhìn tổng quan các yêu cầu
Giá như có sự đền bù cho sự giới hạn trong hiểu biết của cơ quan có thẩm quyền
Đào tạo cho khu vực cụ thể cho cả chính quyền và người điều hành có thể cải thiện đốithoại và sự hiểu biết
Việc trao đổi kinh nghiệm về kiểm soát ô nhiễm từ một hoạt động cụ thể sẽ dễ dàng hơn
Đánh giá tổng quan thì số lượnh các chất với một tiêu chuẩn môi trường bao gồm một phần lớn các sự phát thải có thể xảy ra và bộ tiêu chuẩn môi trường rất tòan diện tại Việt Nam có thể đóng vai trò như là một danh sách chung các thông số, từ đó từng bộ thông sống cụ thể cho mỗi ngành sẽ được lấy ra
Để làm cho các quy định cụ thể cho môi ngành có thể dùng được và hiểu được đối với cả chính quyền và cơ sở chịu trách nhiệm, quan trọng là quy định phải bao gồm tất cả các lĩnh vực (không khí, nước, đất v.v) liên quan đến khu vực cụ thể và không bị chia nhỏ thành nhiều quy định Điều này cũng tương tự với tiêu chuẩn môi trường chung mà các cơ sở phải tuân theo và sau đó các tiêu chuẩn này phải được lặp lại ở bộ tiêu chuẩn môi trường đối với ngành
cụ thể
Việc này sẽ cung cấp cho cả hai bên một cái nhìn tổng quan về tiêu chuẩn môi trường mà cơ quan chức năng phải đưa vào trong giấy phép và trách nhiệm của các cơ sở là phải tuân theo.Các quy định ngành cụ thể phải tách ra từ các tiêu chuẩn môi trường cũng có trong một số cácyêu cầu quy định khác như:
Các yêu cầu vận hành (để giảm thiểu sự phát thải trong việc vận hành hàng ngày – xử
lý nguyên liệu thô, chất thải rắng)
Các yêu cầu về vật chất (các bể, các bề mặt không thấm nước v.v
Kiểm soát
Ví dụ:
Các cơ sở sản xuất nước thải biodegradable như chế biến giấy, bia, sản phẩm có cồn v.v
Chất thải chính là nước thải chứa một lượng hữu cơ và dinh dưỡng lớn, do vậy bộ thông số liên qua cho những hoạt động như vật sẽ là COD, BOD, tổng Nitơ, tổng Photpho và cuối cùng
là dầu và mỡ
Trong trường hợp cơ sở có sản xuất năng lượng riêng và tạo ra lượng thải lớn ra không khí, một bộ thông số đối với việc phát thải ra không khi nên được bổ sung như bụi, CO, Nox và SO2
Nhà máy combustion quy mô vừa
Tác động chính lên môi trường từ loại sản xuất này là ô nhiễm không khí và bộ thông số phải được đặt mục tiêu hướng tới loại nguyên liệu thô sử dụng cho sản xuất như:
Biomass (gỗ, rơm v.v): bụi, CO, PAH, NOx,
Dầu đốt: Bụi, SO2, CO, NOx và các kim loại nặng
Trang 29Các nhà máy xử lý nước thải.
Nhà máy xử lý tiếp nhận chủ yếu nước thải sinh hoạt phải áp dụng một số lượng giới hạn các tiêu chuẩn môi trường như COD, BOD, N và P
Phụ thuộc vào lưu lượng và đặc tính của nước thải từ các hoạt động công nghiệp và khả năng của nhà máy trong việc loại bỏ các chất như trên và các thông số bổ sung phải được xem xét
9.2 Kế hoạch áp dụng.
Có thể là một vấn đề cần thảo luận ở tất cả các quốc gia là làm thế nào hay đặc biệt là khi nào những hoạt động đang gây ô nhiễm phải tuân theo các quy định mới và theo một mức giảm lượng phát thải vào môi trường Tại EU, các giai đoạn áp dụng khác nhau đã được sử dụng, ví
dụ xử lý nước thải đô thị và công nghiệp
Chỉ thị IPPC có nói các cơ sở mới được chỉ thị nhắc đến phải hoạt động với giấy phép được cấp phù hợp với các quy định và nguyên tắc của chỉ thị Điều này có nghĩa là từ năm 1996, tạichâu Âu, bạn không thể bắt đầu công việc sản xuất mới mà không lắp đặt và sử dụng BAT
Từ ngày đầu tiên, các doanh nghiệp mới do đó phải tuân theo các giới hạn thải trong giấy phép dựa trên các khuyến nghị trong tài liệu BREF
Đối với các cơ sở đang tồn tại, chỉ thỉ đã cho phép một giai đoạn chuyển đổi 8 năm để giới thiệu BAT và nhằm tạo thời gian cho cơ quan chức năng ban hành giấy phép mới hoặc để cập nhật các giấy phép đang có Chỉ thị xử lý nước thải có tổng thời gian là 14 năm cho các quốc gia thành viên tuân thủ với các giới hạn thải – nhưng ngẵn hơn đối với các nhà máy lớn
Những ví dụ này từ EU dựa trên quy định mới có thể yêu cầu đầu tư vào việc giảm ô nhiễm bởi các công ty hoặc từ các quỹ công cộng
Về mặt này, tình hình ở Việt Nam có khác, do các quy định có hiệu lực và với một sự áp dụng
mở rộng nhưng những gì đang tồn tại lại không tuân theo các giới hạn thải Dường như việc
áp dụng đầy đủ và tuân theo các quy định và tiêu chuẩn môi trường không thể đạt được trong khoảng thời gian ngắn đối với tất các các dạng hoạt động gây ô nhiễm
Nhu cầu đối với một kế hoạch thời gian phù hợp có hai phương diện
Thời gian cần thiết cho cơ quan chức năng có các buổi đối thoại cần thiết với doanh nghiệpvề các khả năng làm giảm ô nhiễm và để chuẩn bị cá văn bản pháp lý cần thiết
Thời gian cần thiết cho doanh nghiệp triển khai các biện pháp cần thiết, cuối cùng là đào tạo cán bộ để họ có thể làm theo các điều khoản quy định trong giấy phép Thực tế
là sự đầu tư vào kiểm soát ô nhiễm có thể khá cao và việc cần hàng năm để có được nguồn vốn cần thiết không được bỏ qua
Đề xuất kế hoạch áp dụng cung do đó có thể là:
Những cơ sở công nghiệp lớn và mới phải hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn môi trường
từ khi bắt đầu hoạt động Phải xem xét liệu toàn bộ hay một phần các nguyên tắc BATphải áp dụng trong tình hình này
Nhưng cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ mới có thể gặp khó khăn trong việc tim nguồn chi trả cho kiểm soát ô nhiễm bên cạnh chi phí bắt đầu công việc sản xuất Có thể xemxét áp dụng một bộ tiêu chuẩn ít khắt khe hơn (tiêu chuẩn môi trường + 25%?) cho 5
Trang 30năm đầu và sau giai đoạn đó, daong nghiệp phải tuân thủ mức bình thường của tiêu chuẩn môi trường
Những cơ sở công nghiệp lớn đang tồn tại, theo quan điểm việc áp dụng và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường hiên có là thấp, thì một giai đoạn chuyển tiếp phải được xét đến Trong trường hợp này, cách tiếp cận từng bước có thể được xem set, do đó mức tiêu chuẩn môi trường + 25% phải đạt được trong vòng 5 năm, và tuân thủ hoàn toàn với tiêu chuẩn môi trường phải đạt được trong 10 năm
Những cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ đang tồn tại (các làng nghề thủ công được mô tả sau) Tỷ lệ áp dụng tiêu chuẩn môi trường có thể còn thấp hơn các cơ sở quy mô lớn đang tồn tại Nguy cơ ô nhiễm đối với nhóm này mặt khác rất rộng lớn do có rất nhiều
cơ sở Cách tiếp cận từng bước có thể cũng phù hợp cho nhóm này với tiêu chuẩn môi trường + 55% phải đạt được trong vòng 5 năm, và tuân thủ hoàn toàn với tiêu chuẩn môi trường phải đạt được trong 10 năm
Những nhà máy xử lý nước thải mới hải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường từ khi bắt đầu hoạt động
Như khu vực đông đúc với hơn 500.000 p.e phải có hệ thống thu gôm và xử lý tuân thủ tiêu chuẩn môi trường + 25% trong vòng 8 năm và tuân thủ hoàn toàn trong 12 năm
Những nhà máy xử lý đang tồn tại thu nhận nước thải tương ứng với 100-500.000 p.e phải có hệ thống thu gom và xử lý tuân thủ tiêu chuẩn môi trường + 50% trong vòng
10 năm và tuân thủ hoàn toàn trong vòng 15 năm
Những nhà máy xử lý hiện nay tiếp nhận nước thải tương ứng với < 100.000 p.e phải
có hệ thống thu gom và xử lý tuân thủ tiêu chuẩn môi trường + 50% trong vòng 15 năm và tuân thủ hoàn toàn trong vòng 20 năm
Một kế hoạch áp dụng như vậy sẽ phóng tránh tải lượng ô nhiễm tăng lên đáng kể từ những hoạt động mới và đảm bảo sự cải thiện tình trạng chung trong những bước tiếp theo quan giai đoạn 20 năm Những con số và giới hạn thời gian thực tế là những ví dụ và kế hoạch cuối cùng mà Bộ TNMT phải thiết lập và nếu cần thì điều chỉnh đưa vào các mục tiêu chính trị đối với việc cải thiện môi trường và tình hình kinh tế xã hội trong tươmg lai
9.3 Thanh tra và báo cáo.
Thanh tra là một phần rất quan trọng của việc cưỡng chế môi trường và tuân thủ với các yêu cầu trong giấy phép bao gồm các tiêu chuẩn môi trường Về khía cạnh này, công tác thanh tra gồm có:
Lấy mẫu và phân tích sự phát thải vào không khí, nước, đất v.v
Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá việc tuân thủ tiêu chuẩn môi trường
Thanh tra theo điểm – chủ yếu để thanh tra các yêu cầu hoạt động
Hướng dẫn người điều hành
Công tác thanh tra không nên chỉ coi như việc kiểm soát mà cần coi đó là cơ hội để cơ quan chức năng cho đối thoại cần thiết với người chịu trách nhiệm tại các doanh nghiệp để thảo luận về những nguyên nhân dẫn đến việc không tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và những biện pháp có thể áp dụng để đảm bảo việc tuân thủ và nói chung là để đạt được sự hiểu biết chung đối với những yêu cầu trong giấy phép
Do đó, điều quan trọng là cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thanh tra một cách thường xuyên – khong chỉ kiểm tra kết quả phân tích mà kiểm tra thực tế tại các điểm Tần suất thanhtra phải được hiệu chỉnh theo mức độ phát thải lên môi trường sao cho các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm lớn sẽ bị thanh tra với tuần suất cao hơn các cơ sở khác Một điểm khác tiếp sau
Trang 31việc các cơ sở không tuân thủ là phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thắt chặt việc tuân thủ quy định trong tương lai.
Quy định/hướng dẫn cho công tác thanh tra v.v liên quan cụ thể đến tiêu chuẩn môi trường phải bao gồm:
Các phương pháp lấy mẫu không khí, nước và đất bap gồm lựa chọn điểm lấy mẫu và giai đoạn lấy mẫu
Số lượng mẫu liên quan đến quy mô của cơ sở (nguy cơ ô nhiễm thấp – tần suất thấp)
và trung bình (các mẫu đất thì tần suất thấp, mẫu nước thì thường xuyên hơn)
Các phương pháp phân tích được công nhân và các biện pháp lấy mẫu có thể đã được thừa nhận
Các công cụ thống kê cần thiết và/hoặc các mô hình để quyết định nếu tiêu chuẩn môitrường bị vượt quá
Nguyên tắc cơ sở tự quản lý tiêu chuẩn môi trường nên được áp dụng – ít nhất đối với các cơ
sở lớn Về mặt này, quan trọng là giảm số lượng các chất cần phân tích, do đó thường tốn kém, nhưng những phân tích không liên quan được loại bỏ
Nếu thấy phù hợp khi soạn thảo các quy định/hướng dẫn cụ thể cho từng ngành đối với việc
áp dụng tiêu chuẩn môi trường, nó có thể bao gồm các yêu cầu của việc tự kiểm soát
Giám sát media (nước, không khí, đất)
Tần suất quan trắc
Điểm quan trắc
Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Báo cáo cơ quan chức năng
9.4 Hệ số vùng.
Nước mặt ở Việt Nam được chi ra làm các loại phụ thuộc vào việc sử dụng và cùng với tiêu chuẩn chất lượng nước sử dụng khác nhau đi kèm Đây cũng là cách phổ biến trên thế giới trong việc phân biệt giữa các yêu cầu đối với chất lượng nước và cũng phổ biến như hướng dẫn cho các tiêu chuẩn thải khác nhau Một số quy định có đưa ra các hệ số sẽ được sử dụng phụ thuộc vào dòng chảy Đây có thể là một quy định chung phù hợp nếu nó là nồng độ, điều
đó quan trọng nhưng nếu dữ liệu của dòng chảy sông đối với điểm thải thực tế là có sẵn, để xuất sử dụng những quy định này thay vì nói rõ quyết định Cũng đề xuất sử dụng dữ liệu cho dòng chảy cơ sở (dòng chảy đáy) như là cơ sở cho việc tính toán, vì nó có nghĩa là nồng độ (lớn nhất phải tương ứng với tiêu chuẩn chất lượng nước) của một chất chảy xuôi từ điểm thảihầu hết sẽ thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng nước
Đối với sự phát thải ra không khí, vấn đề được xử lý khác nhau ở Đức và ở Đan Mạch Quy định của Đức thiết lập các khoảng cách tối thiểu từ các khu vực dân cư đối với một số hoạt động, ví dụ 300 – 500m đối với việc làm phân compốt phụ thuộc vào loại hệ thống
Quy định của Đan Mạch thì dựa trên mô hình tính toán đưa ra nồng độ của chất tại điểm mà
nó tiến đến ground Để có thêm thông tin chi tiết, xem hướng dẫn của Đan Mạch đối với quyđịnh khi thải (liên kế trong phụ lục 1)
Phương pháp dễ nhất để áp dụng là cách tiếp cận của Đức với một khoảng cách cố định từhoạt động công nghiệp tới các khu dân cư
Trang 3210 Đề xuất theo đầu ra 3 trong Điều khoản tham chiếu.
Quy định áp dung tiêu chuẩn môi trường trong các làng nghề thủ công và các khu dân cư nghèo:
Đề xuất các thông số phù hợp đề cập đến yêu cầu quản lý trong các làng nghề thủ công và các khu dân nghèo;
Đề xuất hệ số, kế hoạch áp dụng đối với mỗi quy định tiêu chuẩn;
Đề xuất các quy định thanh tra/kiểm tra/báo cáo liên quan đến việc áp dụng của từng tiêu chuẩn môi trường cụ thể.
10.1 Giới thiệu chung.
Các báo cáo (xem tài liệu tham khảo số 5) mô tả tình trạng trong các làng nghề thủ công chỉ rarằng, nói chung số lượng các đơn vị gây ô nhiễm là rất lớn, nhưng những đơn vị riêng lẻ lạinhỏ Báo cáo cũng nói rằng chỉ có một số ít các làng nghề thủ công hay các khu vực dân cưnghèo có hệ thống thu gom nước thải, có nghĩa là có sự thải tràn với nhiều điểm thải và nhiềunguồn tiếp nhận khác nhau (kênh, mương, ao v.v)
Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một quy định đơn giản vởi chỉ một số thông số quantrọng bao quát được phạm vi rộng của các hoạt động Dường như còn quan trọng hơn đối vớicác hoạt động công nghiệp hay các khu công nghiệp đã thành lập khi cung cấp cho các cơquan có thẩm quyền một bộ các yêu cầu tiêu chuẩn có thể áp dụng dễ dàng cho một số lượnglớn các cơ sở Số lượng các thông số cũng phải được giữ ở mức thâp để giảm giá thành trongviệc kiểm soát phân tích
Vấn đề chính đối với ô nhiễm nguồn nước ở những khu vực này hiển nhiên liên quan đến việcthải nước thải biodegradable có chữa các chất hữu cơ như những chất gây ô nhiễm sơ cấp.Bên cạnh đó, nước thải chứa các chất dinh dưỡng như nitơ và phốtpho
Những thông số ô nhiễm không khí chính dường như là bụi, thải ra từ hàng loạt các hoạt độngkhác nhau
Theo kế quả khảo sát thực địa của NTSA vào thàng 9 năm 2007, những ngành sản xuất sau làthường gặp nhất ở các tỉnh Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Nam và Bến Tre
Bảng 10.1 Những ngành thủ công chỉnh tại các tỉnh tham gia Hợp phần.
1 Chăn nuôi gia súc (100 – 1000 đầu gia súc/trang trạifarm) Thái Nguyên, Hà Nam,
Quảng Nam, Bến Tre
2 Thủy sản (tôm và các 1.0 – 100 ha/trang trại) Quảng Nam, Bến Tre3
Lò nung gạch (sản xuấtgạch) (> 10,000 sản phẩm/ngày) Thái Nguyên, Hà Nam,Quảng Nam, Bến Tre
4 Chế biến cá, bao gồm nước mắm (> 1,000 kg/ngày) Quảng Nam, Bến Tre
Trang 338 Sản xuất kim loại (> 1,000 kg/ngày) Thái Nguyên, Hà Nam
Hiệu suất của việc áp dụng những tiêu chuẩn môi trường hiện nay tại 4 tỉnh tham gia dự án (cũng như tại các tỉnh của Việt Nam) còn bị giới hạn/ Theo lĩnh vực nghiên cứu của các NSTA (xem tham khảo), những nguyên nhân chính của sự hạn chế trong việc áp dụng các tiêuchuẩn môi trường là:
- Giới hạn của các cán bộ địa phương trong việc hiểu nội dung của các tiêu chuẩn môitrường ( các thông số, các giới hạn cho phép, phạm vi áp dụng)
- Giới hạn về hiểu biết, công nghệ và tài chính cho việc thu gom và xử lý chất thải
- Không có hướng dẫn/quy định cho việc áp dụng thực tế các tiêu chuẩn môi trườngtrong mỗi ngành sản xuất/kinh doanh
- Không đào tạo cho các cơ quan chức năng địa phương và các đối tượng liên quan trongviệc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường
Từ những nguyên nhân chỉ ra ở trên, việc chuẩn bị và ban hành “Quy định áp dụng tiêu chuẩnmôi trường đối với các làng nghề thủ công và các khu dân nghèo” kế hợp với các hướng dẫn
là cần thiết, vì Quy định này có thể giúp các cơ quan môi trường địa phương tăng cường côngtác quản lý môi trường Nó có thể giúp các hộ sản xuất thủ công và người dân địa phương ápdụng đúng các tiêu chuẩn môi trường/quy định kỹ thuật môi trường trong suốt hoạt động củamình
Các đề xuất đối với quy định tiêu chuẩn môi trường cho các hoạt động thủ công và các khuvực đông dân nghèo được các NTSA chuẩn bị ILTA đã trình bày nhận xét và đề xuất khi cầnthiết theo Điều khoản tham chiếu
10.2 Việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường hiện nay ở Việt Nam.
Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và các Quy định kỹ thuật là các văn bản pháp lý bắt buộc ápdụng chung đối với tất cả các loại sản xuất, các ngành dịch vụ Tuy nhiên, xem xét (i) cácđiều kiện kỹ thuật và kinh tế ít phát triển hơn tại các khu dân nghèo và các làng nghề và (ii)năng lực giới hạn của các Sở TNMT địa phương trong công tác quản lý môi trường, bao gồmquan trắc, thanh tra tuân theo các Tiêu chuẩn môi trường/Quy định kỹ thuật, các nguyên tắcsau được đề xuất:
(i) Các Quy định kỹ thuật/Tiêu chuẩn môi trường quốc gia và/hoặc của tỉnh về chất
lượng môi trường xung quanh là bắt buộc đối với tất cả các khu vực thành thị,nông thôn, và khu vực công nghiệp tại Việt Nam mà không tính đến mưc độ pháttriển kinh tế xã hội Lý do là các Tiêu chuẩn và Quy định đối với chất lượng môitrường xung quanh liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ sức khỏe con người vàđộng vật hoang dã Danh sách các Tiêu chuẩn môi trường đối với chất lượngkhông khí xung quanh được đưa ra trong Box 1
Box 1: Danh sách các Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam đối với chất lượng môi trường xung quanh
TCVN 5937 : 2005: Chất lượn khôg khí xung quanh
TCVN 5938 : 2005: Chất lượn khôg khí xung quanh,các giới hạn cho phép của các chất ô nhiễm gây độc
TCVN 5941 : 1995: Chất lượng đât – các giới hạn cho phép đối với thuốc trừ sâu
Trang 34TCVN 5942 : 1995: Chất lượng nước mặt
TCVN 5943 : 1995: Chất lượng nước ven biển
TCVN 6733 : 2000: Chất lượng nước tưới
TCVN 6774: 2000: Chất lượng nước nuôi thủy sản
(ii) Tiêu chuẩn môi trường và Quy định kỹ thuật đối với chất thải (Box 2) cũng bắt
buộc áp dụng nhưng với kế hoạch thời gian hợp lý và có xem xét đến quy mô, vịtrí và điều kiện kỹ thuật của các cơ sở sản xuất (nguồn gây ô nhiễm)
Box 2: Các Tiêu chuẩn môi trường liên quan đến chất thải
TCVN 5939 : 2005 Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chât vô cơ
TCVN 5990 : 2005 Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với các chất hữu cơ
TCVN 5945 : 2005 Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp
TCVN 5948 : 1995 Tiêu chuẩn tiếng ồn đối với các phương tiện
TCVN 5949 : 1998 Tiêu chuẩn tiếng ồn đối với khu dân cư
TCVN 6436 : 1998 Tiêu chuẩn tiếng ồn đối với các phương tiện khi đỗ
TCVN 6438: 1998 Tiêu chuẩn khí thải từ các phương tiện giao thông
TCVN 6772 : 2000 Tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt
10.3 Đễ xuất các quy định cụ thể đối với các hoạt động thủ công.
10.3.1 Các quy định chung của công tác quản lý môi trường đối với các hoạt động thủ công.
Để áp dụng đúng tiêu chuẩn môi trường, bộ quy định chung được đề xuất
(i) Ủy ban nhân dân địa phương nên thực hiện việc quy hoạch sử dụng đất cho từng xã để tập trung toàn bộ các hoạt động thủ công/công nghiệp nhỏ vào một khu đặt xa khu dân cư
(ii) Ở mỗi công nghiệp/thủ công, hệ thống thu gom và xử ký nước thải phải đượcxây dựg đầy đủ và hoạt động tuân thủ với Tiêu chuẩn môi trường/ Quy định
kỹ thuật Việt Nam
(iii) Ở mỗi khu công nghiệp/thủ công, hệ thống thu gom, phân loại và lưu trữ
được UBND của địa phương và/hoặc quản lý các khu công nghiệp lắp đặt vàvận hành đúng cách Mỗi khu vực phải có hợp đồng với công ty môi trường địa phương đẻ vận chuyển và xử lý chất thải rắn
(iv) Cấm thải chất thải rắn, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại ra sông,
kênh và ao hồ
(v) Toàn bộ chất thải rắn, nước thải phát sinh phải được thu gom và xử lý đúng
cách tuân thủ theo Tiêu chuẩn môi trường/ Quy định kỹ thuật
(vi) Khí khải từ các cơ sở sản xuất phải được xử lý theo các Tiêu chuẩn môi
trường/Quy định kỹ thuật
(vii) Các nguyên liệu gây độc bị các cơ quan chính quyền cấm thì không được sử
dụng trong sản xuất
Trang 3510.3.2 Các quy định cụ thể đối với việc áp dụng tiêu chuẩn khí thải (TCVN 5939 : 2005).
Tiêu chuẩn Việt Nam 5939 : 2005 đặt ra các giá trị giới hạn cho khoảng 20 thông số vật lý,hóa học tuy nhiên, dựa trên bản chất thành phần cấu tạo hóa lý của khí thải của mỗi ngànhsản xuất thì chỉ một số các thông số được đề xuất sử dụng có mỗi ngành thủ công phục vụ choviệc thiết kế các hệ thống kiểm soát ô nhiễm và công tác tự quan trắc sự phát thải và tạo điềukiện cho các cơ quan về môi trường đánh giá sự tuân thủ của một cơ sở sản xuất thủ công (hộgia đình) đối với các tiêu chuẩn môi trường
Những thông số được đề xuất có thể là chỉ số cho các chất ô nhiễm chính vào không khí từmỗi ngành sản xuất Ở bảng dưới đây, “Ưu tiên thứ nhất” chỉ ra những chỉ số quan trọng nhất
mà trong mọi trường hợp cần phải được quan trắc hoặc sử dụng để đánh giá mức độ ô nhiễm
và hiệu suất xử lý của các phương tiện xử lý chất thải Những chỉ số này cũng có giá thànhphân tích rẻ, do đó các hộ sản xuất và cơ quan môi trường địa phương có thể dễ dàng quantrắc thường xuyên “Ưu tiên thứ hai” cho thấy các chỉ số bổ sung có thể phải áp dụng và giámsát trong những trường hợp mà sự phát thải của các chất có tác động môi trường đáng kể đếnmôi trường xung quanh
Danh sách những thông số được lựa chọn để đánh giá sự tuân thủ TCVN 5939:2005 đối vớingành thủ công đặc trưng được để nghị trong Bảng 10.2
Bảng 10.2 Các thông số trong TCVN 5939:2005 cần lựa chọn trong quan trắc nội vi và quan trắc ngoại vi và thiết kế hệ thống kiểm soát chất thải đối với một số loại hình sản xuất thủ công nghiệp ở làng nghề
5939:2005
Nuôi trồng thủy sản Không áp dụng TCVN 5939:2005
CO, SO2, NOx
Sản xuất bánh, kẹo, bún miến:
- trong trường hợp có thiết
Trang 36- trong trường hợp không có
thiết bị sấy Không áp dụng TCVN
5939:2005
Ghi chú: Quan trắc nội vi là việc quan trắc do các hộ sản xuất tự thực hiện
Quan trắc ngoại vi là việc quan tắc do các cơ quan quản lý môi trường thực hiện
10.3.3 Các quy định riêng về việc áp dụng các Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp – Các chất thải hữu cơ TCVN 5940:2005.
TCVN 5940:2005 đưa ra giới hạn của 100 chất ô nhiễm do các nguồn thải công nghiệp
Do 8 loại hình sản xuất tại các làng nghề ở 4 tỉnh thuộc Hợp phần (bảng 10.1) hầu như khôngtạo ra các chất hữu cơ như đã được liệt kê trong tiêu chuẩn TCVN 5940:2005 nên tiêu chuẩnnày không cần áp dụng
10.3.4 Các quy định riêng đối với việc áp dụng Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải TCVN 5945:2005)
Hầu hết các loại hình sản xuất tại các làng nghề thủ công ở 4 tỉnh thuộc Hợp phần tạo ra mộtlượng lớn nước thải, chứa khối lượng lớn các chất ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng và cácchất rắn lơ lửng Do vậy, việc bắt buộc áp dụng TCVN 5945:2005 là rất cần thiết để có thểkiểm soát ô nhiễm và quản lý môi trường (quan trắc, thanh tra)
Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các làng nghề thủ công chỉ có một nguồn tài chính hạn chế choviệc lắp đặt các hệ thống xử lý và công nghệ sản suất lạc hậu Do vậy, việc sử dụng 37 thông
số về các chất gây ô nhiễm đưa ra trong bảng tiêu chuẩn là không khả thi Vì vậy chỉ nên lựachọn một vài thông số - chỉ thị trong Tiêu chuẩn để quản lý môi trường (quan trắc, kiểm tra,
và thiết kế hệ thống xử lý chất thải) đối với các hộ sản xuất
Bảng 10.3 Danh sách các thông số trong TCVN 5945:2005 được lựa chọn để áp dụng trong công tác kiểm soát ô nhiễm và thiết kế hệ thống xử lý tại các làng nghề ở 4 tỉnh.
1 Chăn nuôi gia súc pH, mùi, SS, BOD, NH4+,
coliform
màu, COD, Sunfua, tổng
N, tổng P
3 Nuôi trồng thủy sản pH, mùi, BOD, SS, NH4+ Cl-, tổng N, tổng P,
coliform
4 Chế biến cá Mùi, SS, BOD, dầu động
vật, NH4+ pH, màu, COD, sunfua,Cl-, tổng N, tổng P,