Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất với quy mô ngày càng lớn, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn... K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM
MÔI TRƯỜNG VÀ CON
NGƯỜI
Trang 2
MỤC LỤC A.ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B.NỘI DUNG 1.Khái niệm về chất thải rắn……… 3
2.Sơ lược về quá trình phát triển………3
3.Phân loại CTR……….4
4.Nguyên nhân ô nhiễm môi trường do chất thải rắn……….8
5.Hiện trạng ô nhiễm……… 8
6.Hậu quả……….14
7.Biện pháp……… 19
Trang 3A.ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nước ta đang trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng với
sự tăng thêm các cơ sở sản xuất với quy mô ngày càng lớn, các khu tập trung dân
cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn Tất cả những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, nângcao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo
ra một số lượng lớn chất thải rắn bao gồm:Chất thải sinh hoạt, chất thải công
nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, v.v…Trên thực tế, việc xử lý ô nhiễm môi trường và quản lý nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước
ta hiện nay
B.NỘI DUNG
1) Định nghĩa chất thải rắn:
Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt đ ng của ộng của con người và đ ng v t tồn tại ở dạng rắn ,được thải bỏ khi không còn hữu dụng ộng của hay khi không muốn dùng nữa
Hình ảnh về chất thải rắn
2) Sơ lược về quá trình phát triển ô nhiễm chất thải rắn:
Chất thải rắn có m t ngay từ khi con người có m t trên Trái Đất.Cặt ngay từ khi con người có mặt trên Trái Đất.C ặt ngay từ khi con người có mặt trên Trái Đất.C on người và động vật đã khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ chođời sống của mình và thải ra các chất thải rắn.Ngày ấy sự thải bỏ các chất thải từ hoạt động của con người không gây ra vấn đề ô nhiễm môi trương trầm trọng bởi vì mật độ dân cư còn thấp.Bên cạnh đó diện tích đất còn rộng nên khả năng đồng hóa các chất rắn rất lớn, do đó đã không làm tổn hại đến môi trường
Trang 4Khi xã hội phát triển con người sống tụ họp thành các nhóm,bộ lạc,làng,cụm dân cư thì sự tích lũy chất thải rắn trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với cược sống của nhân loại.Thực phẩm thừa và các chất thải khác bị thải bỏ một cách bừa bãi trên các bãi dất trống,thị trấn ,đường phố …đã tạo điều kiện thuậnlợi cho sự sinh sản và phát triển của các loài gặm nhấm như chuột…Các loài gặm nhấm là điểm tựa cho các sinh vật kí sinh như là bọ chét sinh sống và phát
triển.Chúng là nguyên nhân gây nên bệnh dịch hạch.Do không có kế hoạch quản lí chất thải rắn nên các mầm bệnh do nó gây ra đã lan truyền rộng rãi ở Châu Âu vào giữa thế kỉ 14
Mãi đến thế kỉ 19, việc kiểm soát dịch bệnh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng mới được quan tâm.Người ta thấy rằng các chất thải rắn như thực phẩm dư thừa phải đượ thu gom và tiêu hủy hợp vệ sinh mới kiểm soát được các loài gặm nhấm ruồi, muỗi,…cũng như các vecto truyền bệnh
Mối quan hệ giữa sức khỏe cộng đồng với việc lưu trữ,thu gom và vận chyển các chất thải không hợp lí đã thể hiện rõ ràng Có nhiều bằng chứng chi thấy các bãi rác không hợp vệ sinh, các căn nhà ổ chuột, các nơi chứa thực phẩm thừa…là nơi thuận lợi cho ruồi, muỗi, chuột và các vecto truyền bệnh phát triển
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 22 căn bệnh lien quan đến việc quản lí chất thải rắn không hợp lí Các phương pháp xử lí chất thải rắn từ đầu thế kỉ 20:
-Thải bỏ vào khu đất trống
-Thải bỏ vào môi trường nước (sông, hồ, biển…)
-Chôn lấp
- Giảm thiểu và đốt
Hiện nay,quản lí chất thải rắn không ngừng phát triển, đặc biệt ở Mỹ và các nước công nghiệp tiên tiến.Nhiều hệ thống quản lí rác thải với hiệu quả cao ra đời nhờ sự kết hợp đúng đắn giữa các thành phằn sau đây:
-Luật pháp và quy định quản lí chất thải rắn
-Hệ thống tổ chức quản lí
-Quy hoạch quản lí
-Công nghệ xử lí
Sự hình thành và ra đời của các luật lệ và quy định việc quản klí chất thải rắn ngay càng chặt chẽ đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lí chất thải rắn hiện nay.3) Phân loại chất thải rắn:
a.Theo nguồn gốc phát sinh:
Trang 5-Chất thải rắn sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị,khu dân cư,làng mạc,các trung tâm dịch vụ,công vên,trường học…
Chợ đô thị công viên -Chất thải công nghiệp:phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp,đa dạng trong đó chủ yếu là các dạng rắn ,lỏng ,khí )
Nhà máy thép Pomina 3xả xỉ ngành may mặc
-Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi,chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
Chai,túi đựng thuốc trừ sâu rơm rạ sau khi thu hoạch lúa
Trang 6-Chất thải xây dựng: là các phế thải từ đất đá,gạch ngói,bê tông vỡ ,nhựa kim loại
do các hoạt động xây dựng tạo ra
Rác thải xây dựng
-Chất thải y tế: là các phế thải sinh ra từ các cơ sở y tế,bệnh viện như: bông
băng,kim tiêm ,ống chích…
Rác thải y tế
Trang 7năng gây sự cố rủi ro,nhiễm đọc ,đe dọa sức khỏe con người và sự phát triển của động thục vật,đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất,nước khong khí.
-CTR không nguy hại: là chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại.Thường là chất thải phát sinh trong sinh hoạt ,gia đình ,đô thị
Rác thải chứa hóa chất độc hại,dễ gây cháy nổ
Rác thải y tế dễ lan truyền bệnh
d.Theo đặc tính tự nhiên:
- CTR vô cơ:gồm các loại phế thải thủy tinh ,sành sứ,kim loại,cao su,nhựa, vải -CTR hữu cơ: gồm cây cỏ,lá rụng ,rau quả hư,đồ ăn thừa,xác súc vật,phân gia súc,gia cầm
-CTR cháy được,không cháy được,kim loại,phi kim
Một số hình ảnh về chất thải hữu cơ
thức ăn thừa lá cây xác súc vật
Trang 84) Nguyên nhân ô nhiễm môi trường chất thải rắn:
-Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường la do chất thải rắn -Nguyên nhân gây ô nhiễm chất thải rắn kéo dài là do công tác xã hội hóa,tư nhân hóa trong việc thu gom và xử lí CTR còn thấp ,nguồn vốn đầu tư cho công tácquản lí còn hạn chế.Việc thực hiện nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền chưa thực sự triệt để,công tác triển khai nghiên cứu ,áp dụng công nghệ tái chế,tái
sử dụng ,xử lí thải bỏ CTR ở Việt Nam còn yếu kém
5) Thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn:
5.1 Ở Việt Nam:
Ước tính hiện nay, tổng lượng chất thải rắn ở Việt Nam vào khoảng 49,3
nghìntấn/ngày
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tổng lượng chất thải rắn của ViệtNamlà không lớn, nhưng lượng chất thải sinh hoạt và chất thải bệnh viện ở hầu hết các địa phương và thành phố còn chưa được xử lý hợp vệ sinh trước khi thải ra môitrường Các chất thải rắn ở các đô thị và các khu công nghiệp hầu như không được phân loại trước khi chôn lấp Tất cả các loại chất thải công nghiệp, sinh hoạt, y tế) đều được chôn lấp lẫn lộn,ngoài ra tỷ lệ thu gom chất thải chỉ đạt 20-30% Lượng chất thải không được thu gom và chôn lấp (70-80%) đã và đang gây nên những tác động xấu tới môi trường, tới đời sống sinh hoạt và các hoạt động kinh tế
Nguyên nhân là do việc bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp không hợp lý, nằm xen kẽ trong các khu dân cư càng làm tăng mức dộ ô nhiễm Theo số liệu thống kê củ Bộ Khoahọc – Công nghệ và Môi trường, 82% trong số 3.311 cơ sở sản xuất kinh doanh đang gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng lại nằm lẫn trong các khu dân cư
Nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở những đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…Các khu đô thị tuy chiếm 24% dân
số của cả nước, nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (gần bằng50% tổng lượngchất thải của cả nước) Nguyên nhân chính là do dân số tập trung cao, nhu cầu tiêu dùnglớn, hoạt động thương mại đa dạng và tốc độ đô thị hóa cao Hiện nay, khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗinăm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam Trong đó 50% lượng chất thảicông nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30%còn lại phát sinh ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
Trang 9Trong các loại chất thải rắn, chất thải nguy hại là mối hiểm họa đặc biệt Trong khi đó lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội
và Thanh Hóa chiếm 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại của cả nước
5.2 Ở ba môi trường đất ,nước,không khí
Môi trường nước:
a Chất thải rắn bị xả xuống biển
Một điểm chung nhất dọc theo ven bờ biển đủ các loại chất thải từ chất thải đô thị, chất thải sinh hoạt, chất thải từ hoạt động nông nghiệp, rác bệnh viện, chất thải từ những hoạtđộng đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, rác từ giao thông vận tải trên biển, rác từ hoạt động khai thác dầu khí, tảo độc, sinh vật từ các khu vực biển bị
“thủy triều đỏ”…đều được thải trực tiếp ra biển Trong các loại chất thải trên có nhiều loại khó phân hủy như: bao ni-lông, cao su, chai nhựa…trôi nổi nhiều ngày trên biển, gây ra sự hủy hoại môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Điều đáng lo ngại nhất là rác thải trôi dạt ven bờ biển thường bắt gặp nhiều ở các cửa sông, khu neo đậu tàu biển, khu dân cư và khu phát triển du lịch.Qua khảo sát tại địa bàn thành phố Phan Thiết hàng ngày lượng rác thải đô thị thải ra khá lớn,
khoảng trên 100 tấn/ngày, lượng rác thải do cơ sở sản xuất ước tính lượng chấtthải rắn từ 20-23 tấn/ngày, chất thải lỏng 150-200 m/ngày Trong mùa chế biến hải sản, rácthải tăng thêm từ 200-300 tấn vỏ nhuyễn thể, trong số đó một lượng chất thải được tuôn ra biển, có lúc tại bờ biển Hòn Rơm- Hàm Tiến rác tấp vào bờ 25-30 tấn/ngày
Chất thải từ hoạt dộng nông nghiệp theo bảy dòng sông lớn đổ ra biển gây ô nhiễm các bãi tắm, khu du lịch Nhất là tại vịnh Phan Thiết chất thải từ hai con sông Cà Ty và sông Cái đổ ra vịnh, ứ đọng dài ngày nhiều loại rác sinh hoạt, sản xuất, chế biến thủy sản thành những “núi” rác nhỏ Ngoài ra, do một số người dân
và khách đến du lịch thiếu ý thức đã thải một lượng rác khá lớn ra bãi biển
Biển đầy rác ô nhiễm ở Vịnh Hạ Long
Trang 10b Chất thải rắn bị xả xuống sông,kênh rạch
Theo Chi cục bảo vệ Môi trường (Sở Tàinguyên- Môi trường thành phố Hồ Chí Minh), hiện mỗi ngày có trên 1.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ dân và các
cơ sở sản xuất bị xả xuống các dòng kênh, con sông trên địa bàn thành phố.Có hàngngàn hộ dân sinh sống trên kênh rạch(trong tổng số 25.000 căn nhà trên kênh rạch cần giải tỏa), nên số lượng chất thải rắn sinh hoạt mà các hộ này thải trực tiếp xuống dòng nước còn khá lớn Đa số các cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải, hoặc có trang bị hệ thống xử lý chất thải nhưng ít sử dụng vì tốn kém nhưng lại đang nằm lẫn trong các khu dân cư,thường xuyên xả chất thải trực tiếp ra hệ thống kênh rạch Tiêu biểu là các nhà máy sản xuất dọc kênh Tham Lương và khu công nghiệp Tân Bình hoặc hàng trăm cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp khác nằm dọc các kênh Tân Hóa – Lò Gốm (thuộc các quận 6, quận11) Mặc dù đã
di dời ra các huyện ngoại thành nhưng hơn 70 cơ sở sản xuất nằm dọc kênh An Thầy Cai (huyện Hóc Môn- Củ Chi), do không có hệ thống xử lý cũng nhanhchónglàm ô nhiễm nguồn nước vốn trong sạch trước đây của hệ thống kênh này
Kênh Nhiêu Lộc tpHCM Kênh 19-5 tpHCM
Môi trường đất:
a Rác thải xây dựng
Nơi tập trung các bãi rác xây dựng tạo điều kiện đẻ hình thành các bãi rác công cộng
b.Rác thải y tế
Theo đánh giá kết quả kiểm tra BV năm 2003 của VụĐiều trị (Bộ Y tế), chỉ mới
có 30% BV trong cả nước có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại, 55% BV chưa có hệ thốngxử lý chất thải lỏng hoặc có không hoàn chỉnh, hay đã ngưng hoạt động vì không có kinh phí, 50% chưa có phương tiện tốt để thiêu đốt chất thải rắn y tế, 55%chưa có nhà chứa rác đúng yêu cầu Và cũng từng ấy thiếu túi ni-lông và hộp an toàn để thu gom chất thải y tế và các vật sắt nhọn nhiễm khuẩn
Trang 11Cuộc điều tra được tiến hành vào tháng 1/2004 chothấy: Phần lớn các bệnh viện chỉ tách riêng vật sắt nhọn ra khỏi rác thải và đựng trong vỏ chai dịch truyền hoặc chứa trong các hộp giấy tận dụng Các chất thải rắn khác thì đựng chung trong thùng rác Một số chất thải rắn rất nguy hại do chứa một số mầm bệnh như bệnh phẩm, tiêu bản xét nghiệm… không được diệt khuẩn trước khi thu gom và vận chuyển tới nơi tập trung rác 94,45% các cơ sở y tế thiếu phương tiện vận chuyển rác chuyên dụng, không có đường vận chuyển riêng mà rác được vận chuyển qua hành lang các khoa, buồng bệnh Rất ít các BV có nhà chứa rác và được xây dựng chắc chắn Rác được “tập kết” trong hố rác, thường không được đào sâu, không đảm bảo yêu cầu vệ sinhvà đặt ngay góc sau BV.
c Bãi chôn lấp
Hiện nay, mỗi ngày thành phố Hồ Chí Minhthải ra khoảng 6.000 - 6.500 tấn chất thải rắn đô thị Phần lớn (75-80%) chất thải rắn đô thị (5.900-6 200 tấn/ngày) đều được thu gom , vận chuyểnvà xử lý tại bãi chôn lấp Gò Cát - Bình Chánh và bãi chôn lấp Phước Hiệp (thuộc khu liên hợp xửlý chất thải rắn Tây Bắc (880ha) -
Củ Chi, với công nghệ duy nhất là chôn lấp vệ sinh.Cả hai bãi chôn lấp này, mặc
dù được đầu tư rất lớn với công nghệ khá hiện đại, nhưng vẫn gây ô nhiễm đến môitrường do nước rỉ rác và khí bãi chôn lấp (kể cả mùi) Đặc biệt công nghệ chôn lấpvệ sinh chiếm đất rất lớn, mỗi năm với khối lượng chất thải rắn đô thị khoảng 5.900-6.200tấn/ngày thành phố Hồ Chí Minh cần 9 - 12ha đất để chôn lấp và diện tích này sẽ khó cóthể sử dụng vào mục đích khác trong thời gian dài (30-50 năm), không những thế, chúng còn cần được bảo trì và giám sát với kinh phí hàng năm (20-25 năm sau khi đóng bãi) khá lớn