Phân loại tài sản lưu động trong doanh nghiệp Để sử dụng và quản lý TSLĐ một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của TSLĐ, từ đó có các biệ
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU
ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tài sản lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài sản lưu động
Các yếu tố chính để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà một doanh nghiệp cần phải có đó là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kì sản xuất kinh doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động
“Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và
dự trữ tồn kho Giá trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng Quản lý sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp” (Nguồn: Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Lưu Thị Hương, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2013, trang 214-215)
TSLĐ của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại là TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông TSLĐ sản xuất bao gồm vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…, sản phẩm đang trong quá trình sản xuất: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…TSLĐ lưu thông gồm các loại tài sản trong quá trình lưu thông: thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, TSLĐ bằng tiền, TSLĐ trong thanh toán Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn thay thế cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành thuận lợi và liên tục
1.1.2 Đặc điểm của tài sản lưu động
TSLĐ góp phần duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, không bi gián đoạn do đó nó là một thành phần không thế thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy tài sản lưu động có những đặc điểm sau:
TSLĐ có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh toán của
DN
Trang 2 TSLĐ dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ dễ dàng mà không chịu chi phí lớn Tuy nhiên điều này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát
Không như đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu tư cho TSLĐ thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém Điều đó có được
là do, TSLĐ phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất Đổi lại, TSLĐ thường chịu sự lệ thuộc khá nhiều vào những dao động mang tính mùa vụ
và chu kỳ trong kinh doanh
1.1.3 Vai trò của tài sản lưu động
Tài sản lưu động của DN trong nền kinh tế thị trường được ví như dòng máu tuần hoàn trong cơ thể con người Tài sản lưu động được ví như vậy có lẽ bởi sự tương đồng về tính tuần hoàn và sự cần thiết của TSLĐ đối với doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, một DN muốn hoạt động thì không thể không có TSLĐ bởi TSLĐ
có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh từ: dự trữ, sản xuất đến lưu thông
Tài sản lưu động giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN được vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn Trong sản xuất, TSLĐ giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo qui trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, TSLĐ đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng
TSLĐ giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi duy trì ở một mức độ hợp lý nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
TSLĐ còn có khả năng quyết định đến qui mô hoạt động của DN Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng TSLĐ nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng TSLĐ nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Thời gian luân chuyển tài sản lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động luôn diến ra thường xuyên, liên tục Với vai trò to lớn như vậy,
Trang 33
việc tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong
DN là nhu cầu tất yếu
1.1.4 Phân loại tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Để sử dụng và quản lý TSLĐ một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của TSLĐ, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng TSLĐ Tài sản lưu động trong doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú Mỗi loại có tính chất là công dụng khác nhau, vì thế nó được phân loại khác nhau tùy theo mục đích và tiêu chí áp dụng Ta có thể phân loại TSLĐ theo lĩnh vực tham gia luân chuyển hoặc theo tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn
Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
Theo tiêu chí này, TSLĐ được phân thành: TSLĐ sản xuất, TSLĐ lưu thông, TSLĐ tài chính, TSLĐ dự trữ
TSLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm các tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất như nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu…và tài sản trong sản xuất như sản phẩm
dở dang, bán thành phẩm…
TSLĐ lưu thông: là toàn bộ các tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông của doanh nghiệp bao gồm: thành phẩm, hàng gửi bán và các tài sản trong quá trình lưu thông như khoản phải thu, vốn bằng tiền,
TSLĐ tài chính: là những khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục đích sinh lời, bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư liên doanh
TSLĐ dự trữ: là những tài sản tồn tại trong quá trình dự trữ còn lại
Phân loại theo tính thanh khoản
Đây là cách phân loại dưa trên khả năng huy động cho việc thanh toán
Tiền: bao gồm tiền măt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền như vàng, bạc, đá quý…Đây là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toàn Loại tài sản này có thể
dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán Chính vì vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toàn nhưng cũng không quá lớn dẫn đến lãng phí,
ứ đọng vốn của doanh nghiệp
Các khoản phải thu (tín dụng thương mại): bao gồm các khoản phải thu khách hàng…là một loại tài sản rất quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại Muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ và tạo dựng mối liên hệ lâu dài, doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng, chính vì vậy đã phát sinh ra các khoản tín
Trang 44
dụng thương mại Tín dụng thương mại có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số,
từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi doanh nghiệp không thể hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng
Các khoản ứng trước: bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác Một số khoản trả trước có thể có mức độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước
Hàng tồn kho: trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng, không bán được, mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng Nó gồm nhiều chủng loại khác nhau như: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu và các loại dầu mở, thành phẩm
1.1.5 Chính sách quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.1.5.1 Chính sách quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt đề cập đến vấn đề quản lý tiền mặt trong két và các khoản tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản có tính thanh lỏng cao Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò quan trọng vì nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có tính thanh khoản cao vì các loại chứng khoán này cho hiệu suất sinh lời cao và lúc cần cũng dễ dàng chuyển sang tiền mặt Vì thế, doanh nghiệp cần phải quản lý tiền và chứng khoản để có thể thực hiện giao dịch, đối phó với các biến cố bất thường xảy đến với doanh nghiệp hoặc đầu tư sinh lời Tuy nhiên dự trữ loại tài sản này vừa có lợi ích song cũng tiềm ẩn những rủi ro không mong muốn Về mặt lợi ích, doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán từ đó cải thiện được
uy tín và vị thế của doanh nghiệp, nếu mang tiền đi đầu tư còn có thể có lãi Ngược lại, rủi ro khi dự trữ tiền mặt cũng dễ xảy ra, nếu dự trữ quá ít sẽ giảm khả năng thanh toán; nếu dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời của số tiền đó, đồng thời doanh nghiệp phải phát sinh tăng chi phí quản lý cho số tài sản này Quản lý tiền và chứng khoán có tính thanh khoản cao cần tập trung vào các quyết định sau: Quản lý hoạt động thu - chi của tiền mặt; xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý ngân quỹ
a) Quản lý hoạt động thu – chi
Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu – giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản cần phải chi trả Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có càng nhiều tiền
Trang 55
nhàn rỗi để đầu tư sinh lời Để chọn được một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần
so sánh giữa lợi ích và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối với doanh nghiệp Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá:
ΔB = Δt * TS * I * (1 – T)
ΔC = (C2 – C1) * (1 – T)
Trong đó:
ΔB = Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất
ΔC = Phần chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất
T = Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất
+ Đối với phương thức thu tiền: là số ngày được rút ngắn
+ Đối với phương thức chi tiền: là số ngày tăng thêm
TS = Quy mô chuyển tiền
I = Lãi suất đầu tư
T = Thuế suất thuế TNDN
C1 = Chi phí của phương thức đang sử dụng
C2 = Chi phí của phương thức đề xuất
Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau:
ΔB > ΔC: chuyển sang phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm
ΔB = ΔC: bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp
ΔB < ΔC: giữ nguyên phương thức cũ do phương thức mới không đem lại lợi ích lớn hơn mà doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để bù đắp cho hình thức này
b) Xác định mức dự trữ tiền tối ưu
Xác định mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có ý nghĩa quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán bằng tiền mặt cần thiết trong kỳ, tránh được rủi ro không
có khả năng thanh toán Giữ được uy tín với các nhà cung cấp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh tốt, tạo khả năng thu được lợi nhuận cao
Để xác định được mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như có thể dựa vào kinh nghiệm thực tế, có thể sử dụng mô hình quản lý dự trữ EOQ
Trang 66
Mô hình EOQ: được xây dựng trên các giả định:
Tình hình thu chi tiền mặt ổn định và đều đặn
Không tính đến tiền thu trong kỳ hoạch định
Không có dự trữ cho mục đích an toàn
Theo mô hình này lượng tiền dự trữ tối ưu được xác định như sau:
√
Trong đó
S: là tổng lượng tiền cần thiết trong kỳ
i: là lãi suất tiền gửi
F: Chi phí cố định cho một lần vay
c) Quản lý ngân quỹ
Ngân quỹ có thể được hiểu là toàn bộ khoản tiền thu chi của một tổ chức hay đoàn thể Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thục tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ trong điều kiện biến động của môi trường Do vậy mà việc quản trị dòng tiền luôn được coi trọng, doanh nghiệp nên duy trì mức tồn quỹ hợp lý là bao nhiêu để phù hợp với hoạt động kinh doanh, tận dụng tối đa khả năng sinh lời của dòng tiền, không để tiền chết một chỗ quá lâu
Dưới đây là mô hình Miller Orr, một mô hình quản lý tiên tiến và khoa học và được áp dụng cho doanh nghiệp có nhu cầu về tiền là không ổn định hay doanh nghiệp không dự đoán được chính xác các khoản thực thu và thực chi ngân quỹ
Sơ đồ 1.1 Quản lý ngân quỹ theo mô hình Miller-orr
(Nguồn: Giáo trình Quản trị TCDN- GS.TS Phạm Quang Trung)
Trang 77
Qua sơ đồ trên, mức tồn quỹ dao động lên xuống và không thể dự toán được cho đến khi đạt được giới hạn trên Doanh nghiệp sẽ can thiệp bằng cách sử dụng số tiền vượt quá mức cho với mức tồn quỹ thiết kể để đầu tư vào các chứng khoán hay đầu tư ngắn hạn và lúc đó, cân đối tiền trở về mức thiết kế
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cân đối tiền lại tiếp tực dao động cho đến khi tụt xuống dưới giới hạn dưới là lúc doanh nghiệp phải
có sự bổ sung tiền để đáp ứng cho những hoạt động cần thiết, chẳng hạn việc bán một lượng chứng khoán để đáp ứng nhu cầu tiền của mình Như vậy, mô hình này cho phép quản lý ngân quỹ ở mức độ hoàn toàn tự do
Khoảng dao động của mức cân đối tiền phụ thuộc vào ba yếu tố được chỉ ra trong công thức sau:
Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của mức cân đối tiền
Mức tiền theo = Mức tiền mặt + Khoảng dao động tiền mặt
thiết kế giới hạn dưới 3
1.1.5.2 Chính sách quản lý khoản phải thu
Khoản phải thu là sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bán cho khách hàng và đang trong quá trình chờ khách hàng thanh toán Quản lý khoản phải thu khách hàng rất quan trọng bởi nếu không thu được tiền đúng hạn doanh nghiệp sẽ thiếu một khoản thu, tốc độ quay vòng vốn chậm lại, doanh nghiệp lại phải phát sinh thêm chi phí quản
lý, chi phí thu hồi nợ, Nói cách khác, đây cũng chính là một rủi ro trong thanh toán
mà doanh nghiệp phải đối mặt Chính vì vậy, để đảm bảo giảm thiểu rủi ro thấp nhất
có thể, doanh nghiệp cần quản lý các khoản phải thu một cách hợp lý và linh hoạt Các chính sách tín dụng và thu tiền của doanh nghiệp
Áp dụng mô hình cơ bản: mô hình này so sánh giá trị hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của các năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước
NPV= CF t
k
Trang 88
[ ]
Trong đó:
CFt: Dòng tiền thu được sau thuế trong mỗi thời kỳ
CFo: Dòng tiền đầu tư vào khoản phải thu khách hàng
k: Tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu
VC: Luồng tiền ra biến đổi, được tính theo tỷ lệ % dòng tiền vao
S: Doanh thu dự kiến trong từng thời kỳ
ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày)
BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu
CD: Luồng tiền gia tăng của bộ phận tín dụng
T: Thuế suất thuế TNDN
Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng:
Số lượng sản phẩm bán (Q): Nếu coi số lượng sản phẩm bán trước khi cung cấp tín dụng là Q0 và số lượng sản phẩm khi cho khách hàng nợ là Q1 thì Q1 > Q0 do việc cung cấp tín dụng sẽ tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiêu thụ và làm tăng doanh số bán
Trang 99
Giá bán trên một sản phẩm (P): Giá bán sau khi cung cấp tín dụng thường cao hơn giá bán trước khi cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sẽ đánh đổi rủi ro thất thoát vốn khi cho khách hàng nợ với lợi nhuận kiếm được từ hoạt động bán hàng
Chi phí bình quân (AC): Chi phí của doanh nghiệp sẽ đội lên (AC1 > AC0) khi doanh nghiệp quyết định cấp tín dụng do có nhiều khả năng sẽ gặp phải những khoản nợ xấu và phải xóa nợ hay nới lỏng chính sách tín dụng, khoản này được coi là chi phí nợ xấu và làm tăng chí phí hợp lý của doanh nghiệp
Xác suất thanh toán: khi doanh nghiệp không cung cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì xác suất thanh toán lúc này là 100%, do tất cả các lần bán của doanh nghiệp đều thu ngay bằng tiền Nếu gọi h1 là xác suất thanh toán của doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất này sẽ nhỏ hơn 100% do khả năng xảy ra việc khách hàng không thanh toán là rất cao
Thời gian nợ: Khi doanh nghiệp không cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì thời gian cho khách hàng nợ là bằng 0 Ngược lại, khi doanh nghiệp cấp tín dụng thì sẽ có một khoảng thời gian t kể từ khi khách hàng xác nhận nợ cho đến khi khách hàng thanh toán khoản nợ đó
Tỷ lệ chiết khấu: Đại diện cho chi phí cơ hội của việc đầu tư vào tài khoản phải thu khách hàng, là lãi suất được hưởng khi đầu tư vào tài sản sinh lời khác thay vì
bị ứ đọng vốn trong khoản phải thu khách hàng Để đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng hay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án:
Trong đó:
= Giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng
= Giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng
: Giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng
: Giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng
h: Xác suất thanh toán
: Tỷ suất chiết khấu thanh toán
Cơ sở để ra quyết định:
NPV1 > NPV0: cấp tín dụng
Trang 10NPV2: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng và có sử dụng đến thông tin rủi ro
C: chi phí sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
√
Trong đó :
Q*: mức dự trữ tối ưu
D: toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng
: Chi phí mỗi lần đặt hàng (Chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hóa
: Chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa (chi phí bốc xếp, bảo quản, bảo hiểm hàng hóa )
Về mặt lý thuyết, người ta giả định khi nào lượng hàng hóa kỳ trược hết mới nhập kho hàng hóa mới, nhưng thực tế hầu như không bao giờ như vậy Sẽ có rủi ro nếu hàng hóa không về kịp kho, doanh nghiệp sẽ dự trữ thêm để hạn chế rủi ro tức là
Trang 1111
đặt hàng trong khi vẫn còn hàng Nhưng nếu doanh nghiệp đặt hàng quá sớm, sẽ làm tăng lượng NVL tồn kho, phát sinh chi phí Do đó, doanh nghiệp cần xác định điểm đặt hàng hợp lý
Lượng dự trữ an toàn, nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định
mà chúng biến động không ngừng Do đó để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp cần duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn Lượng dự trữ an toàn tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hóa dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng
Tóm lại, nếu thực hiện tốt công tác quản trị vốn tồn kho dự trữ, doanh nghiệp có thể tăng khả năng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế mà công cần tăng thêm thu cầu
về tài sản lưu động cho sản xuất kinh doanh Do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động thì doanh nghiệp cần phải đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị vốn tồn kho dự trữ
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận Trong đó hiệu quả sử dụng TSLĐ gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu đã đề ra Bởi vì quản lý tài sản lưu động không những đảm bảo sử dụng tài sản lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Tóm lại, “hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu tăng trưởng với chi phí tối thiếu trong một khoản thời gian nhất định”
Trang 1212
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dựng tài sản lưu động là yêu cầu mang tính bắt buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp
Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản lưu động là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tài sản lưu động nói riêng là một yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp
Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản lưu động
Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn Tài sản lưu động là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Thời gian luân chuyển tài sản lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, rút ngắn thời gian tài sản lưu động nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản lưu động chiếm dụng, tiết kiệm tài sản lưu động trong luân chuyển
Trang 1313
Tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động cũng có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước
Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại các doanh nghiệp
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản lưu động, tốc độ luân chuyển tài sản lưu động thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước
do đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp trước đây, có kết quả sản xuất kinh doanh yếu kém mà một nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém trong quản lý tài chính nói chung và quản lý tài sản lưu động nói riêng gây lãng phí, thất thoát vốn
Ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng Xét từ góc độ quản lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính, trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Các chỉ tiêu tổng hợp tình hình kinh doanh chung
1.2.3.1 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn = T i sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bằng tiền hay các khoản tương đương tiền khi nợ ngắn hạn đã đến khi thanh toán Cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn để đảm bảo cho một đồng nợ ngắn hạn Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn <1, doanh nghiệp không đảm báo đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp
Trang 1414
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán ngắn nhanh = T i sản ngắn hạn ồ
Nợ ngắn hạn
Đây là tỉ số giữa tài sản lưu động quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn Tài sản lưu động quay vòng nhanh là những tài sản nhanh chóng chuyển đổi thành tiền được: chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu Dự trữ hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán, vật tư chưa thể bán nhanh, hoặc khấu trừ, đối lưu ngay được thì khó chuyển thành tiền hơn Do đó tỷ số này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn mà không phụ thuộc vào việc bán các tài sản dự trữ (tồn kho)
Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào lượng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn lớn hay bé, nợ ngắn hạn nhỏ hay lớn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thờ = Tiền v các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có
đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn không Chỉ tiêu này cao (>1) chứng tỏ khả năng thanh toán tức thời tốt, tuy nhiên chỉ số này quá cao có thể dẫn tới vốn bằng tiền của doanh nghiệp nhàn rỗi, ứ đọng và dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản thấp Chỉ tiêu này thấp quá và kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến
uy tín của doanh nghiệp và có thể dẫn tới doanh nghiệp bị phá sản
1.2.3.2 Khả năng quản lý tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh thu, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu suất sử dụng tổng tài sản có thể xác định bằng công thức như sau:
Hiệu suất sử dụng tổng t i sản = ổ doanh thu thuần
Giá trị tổng t i sản
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng hay 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi
Trang 1515
phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý
để tăng tốc độ quay vòng của tài sản
1.2.3.3 Khả năng quản lý nguồn vốn
có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở h u= Nợ phải trả
Giá trị vốn chủ sở h u
Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu Tỷ
số này càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, doanh nghiệp có ít rủi ro tài chính hơn Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng
tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế
1.2.3.4 Khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số từ mọi giai đoạn kinh doanh Nói cách khác đây, là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh doanh thu
ỷ ấ ờ trên = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tỷ suất này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trên thực tế, tỷ suất sinh lời trên doanh thu giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ có hệ số này cao hơn Xét từ góc độ nhà đầu tư, một công ty có điều kiện phát triển thuận lợi sẽ có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của
Trang 1616
ngành và có thể liên tục tăng Ngoài ra, một công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở h u
Khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu của các nhà quản trị, chỉ tiêu này được tính như sau:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở h u
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích thì 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp, điều đó sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh
Có thể nói, bên cạnh các hệ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời Đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng một công ty có thể sinh lời trong tương lai Thông thường, ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn chủ sở hữu, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Trong quá trình tiến hành những hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, nhằm tăng trưởng mạnh, do vậy nhà quản trị thường đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản đã đầu tư có thể xác định bằng công thức
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng t i sản
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích thì 100 đồng tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố giúp nhà quản trị đầu tư theo chiều rộng như xây dựng nhà xưởng, mua thêm máy móc thiết bị Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp Hệ số ROA thường có chênh lệch giữa các ngành Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại,… thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
Trang 1717
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá tổng quát tài sản lưu động
Tốc độ luân chuyển tài sản lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển tài sản lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng có tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất kinh doanh cao hay thấp Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển TSLĐ có thể giúp doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
Vòng quay tài sản lưu động
Vòng quay t i sản lưu động = Doanh thu thuần
T i sản lưu động
Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của tài sản lưu động trong một thời ký nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ trong mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số tài sản lưu động của doanh nghiệp Số vòng quay tài sản lưu động trong kỳ càng cao thì càng tốt
Thời gian luân chuyển tài sản lưu động
Thời gian lu n chuyển t i sản lưu động = 360
Vòng quay t i sản lưu động
Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của tài sản lưu động hay số ngày bình quân cần thiết để tài sản lưu động thực hiện một vòng quay trong kỳ Ngược với chỉ tiêu số vòng quay tài sản lưu động trong kỳ, thời gian luân chuyển tài sản lưu động càng ngắn chứng tỏ tài sản lưu động càng được sử dụng có hiệu quả
Khi tính hiệu suất luân chuyển của từng bộ phận TSLĐ cần phải dựa theo đặc điểm luân chuyển vốn của mỗi khâu để xác định mức luân chuyển cho từng bộ phận vốn Ở khâu dự trữ sản xuất, mỗi khi nguyên, vật liệu được đưa vào sản xuất thì TSLĐ hoàn thành giai đoạn tuần hoàn của nó Vì vậy mức luân chuyển để tính hiệu suất bộ phận vốn ở đây là tổng số chi phí tổn tiêu hao về nguyên vật liệu trong kỳ Tương tự như vậy, mức luân chuyển TSLĐ dùng để tính tốc độ luân chuyển bộ phận tài TSLĐ sản xuất là tổng giá thành sản xuất sản phẩm hoàn thành nhập kho, mức luân chuyển của bộ phận TSLĐ lưu thông là tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm
Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động
Trang 1818
Hệ số đảm nhiệm t i sản lưu động = T i sản lưu động
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng TSLĐ Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của một đồng TSLĐ sẽ tăng lên Do đó qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị tài chính xây dựng kế hoạch về đầu tư TSLĐ một cách hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Mức tiết kiệm tài sản lưu động
Mức tiết kiệm tài sản lưu động có được do tăng hiệu suất sử dụng tài sản lưu động được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối
Mức tiết kiệm tài sản lưu động tuyệt đối: Nếu quy mô kinh doanh không thay
đổi, việc tăng hiệu suất sử dụng tài sản lưu động đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng tài sản lưu động có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Công thức xác định số tài sản lưu động tiết kiệm tuyệt đối:
Mức tiết kiệm tài sản lưu động tương đối: Nếu quy mô kinh doanh được mở
rộng, việc tăng hiệu suất sử dụng tài sản lưu động đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm tài sản lưu động hoặc bỏ ra số tài sản lưu động ít hơn so với trước Công thức xác định số tài sản lưu động tiết kiệm tương đối:
Trong đó:
Vtktđ1: Tài sản lưu động tiết kiệm tuyệt đối
Vtktđ2: Tài sản lưu động tiết kiệm tương đối
M0, M1: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này
V0, V1: Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động kỳ trước và kỳ này
Tỷ suất sinh lời trên tài sản lưu động (ROLA)
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời của TSLĐ = Lợi nhuận ròng
TSLĐ ình qu n
Trang 1919
Phân tích hiệu quả sử dụng TSLĐ thông qua mô hình Dupont
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở
Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối lien kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta
có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định
Để phân tích tỷ suất sinh lời của TSLĐ có thể xác định thông qua mô hình sau
ROLA= Tỷ suất sinh lời trên doanh thu x Vòng quay TSLĐ
Qua công thức trên có thể thấy hai nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên TSLĐ là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dụng TSLĐ, như vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ thì nâng cao hai tỷ số trên
Tóm lại, đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức doanh nghiệp
Qua chỉ tiêu này giúp các nhà quản trị xác định mức dự trữ vật tư, hàng hóa hợp
lý trong chu kì sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng nhanh, hàng hóa không bị ứ đọng nhiều và càng làm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiệu quả hơn
Trang 2020
Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Thời gian quay vòng h ng tồn kho = 360
Số vòng quay h ng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày chu chuyển hàng tồn kho có quan hệ tỷ lệ nghich với nhau
Thời gian quay vòng HTK càng nhanh cho thấy doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả, hàng tồn kho luân chuyển nhanh và ngược lại
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Hệ số đảm nhiệm h ng tồn kho = H ng tồn kho
Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có được một đồng doanh thu thì phải
bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào hàng tồn kho Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ hiệu vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao
1.2.4.3 Chỉ tiêu về các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Bình qu n các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ biến đổi của các khoản phải thu thành tiền mặt, chỉ tiêu này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm
sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền ình qu n = 360
Số vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì thời gian thu tiền bình quân càng nhỏ Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước Thời gian thu tiền cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thế kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục
Trang 211.2.4.4 Chỉ tiêu về khoản phải trả
Thời gian trả nợ trung bình
Thời gian trả nợ trung ình = 360
Hệ số trả nợ
Hệ số trả nợ = Giá vốn h ng án + Chi phí chung án h ng, quản l
Phải trả người án + lương, thưởng, thuế phải trả
Thời gian trả nợ thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp Từ đó giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định, chính sách thanh toán phù hợp nhắm nâng cao uy tín và hạn chế rủi ro tài chính Thời gian trả nợ cho biết thời gian mà doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn của các đối tượng khác Thời gian này dài thì doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn lâu song cũng ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp
Hệ số trả nợ (hay chính là vòng quay trả nợ) và thời gian trả nợ trung bình là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bán hàng vừa phản ánh khả năng trả
nợ của doanh nghiệp Đối lập với vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho có xu hướng ngày càng tăng càng tốt thì đối với doanh nghiệp càng chậm trả nợ thì càng tốt, vậy nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến vòng quay phải trả thấp Vòng quay phải trả thấp, số ngày trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy công ty rất
có uy tín và là khách hàng tốt nhất của nhà cung cấp nên được cho trả chậm, nhưng cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ đến hạn
1.2.4.5 Thời gian vòng quay tiền
Thời gian quay vòng tiền trung bình
Thời gian quay vòng tiền
trung bình =
Kỳ thu tiền ình quân
+
Thời gian quay vòng
h ng tồn kho
-
Thời gian trả nợ trung bình
Trang 2222
Chỉ tiêu này cho biết sau bao nhiêu ngày thì số vốn của doanh nghiệp được quay vòng để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra Thời gian của vòng quay tiền ngắn tức là doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh, bởi chỉ khi nào dòng tiền thực sự trở lại doanh nghiệp thì kinh doanh với mới thực sự đạt hiệu quả Ngược lại, nếu thời gian của vòng quay tiền dài thì doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn chậm, hoạt động kinh doanh chưa thực sự có hiệu quả
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.2.5.1 Nhân tố chủ quan
Khả năng quản lý doanh nghiệp
Việc quản lý và sử dụng TSLĐ là cần thiết đòi hỏi trình độ cán bộ phải hiểu biết
và có chuyên môn cao trong lĩnh vực quản lý Đó là khả năng lập kế hoạch sản xuất và
dự trữ Người quản lý phải tính toàn và dự trữ được nhu cầu cũng như những biến động trong tương lai để đưa ra một kế hoạch phù hợp Trong quá trình sử dụng tài sản lưu động cần phải quản lý sao cho không bị lệch kế hoạch cũng như phù hợp với tình hình phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy trình độ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định tới hiệu quả sử dụng TSLĐ
Trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng chính trong bất cứ doanh nghiệp nào Nhân lực chính là những người góp phần tạo dựng chính sách sử dụng, quản lý và thực hiện chính sách đó Như vậy sẽ góp phần quyết định hiệu quả của việc sử dụng TSLĐ Nếu doanh nghiệp có một đội ngũ nhân viên có đủ trình độ và năng lực sẽ đưa ra được những chính sách và phương pháp sử dụng TSLĐ một cách hiệu quả nhất
Cơ sở hạ tầng
Khi doanh nghiệp có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo sẽ giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tận dụng tối đa các nguồn lực, do đó hiệu quả sử dụng TSLĐ cũng được tăng lên tương ứng
Cơ cấu TSLĐ trong tổng tài sản
Từng loại hình doanh nghiệp sẽ có nhu cầu về tài sản lưu động và tài sản cố định khác nhau Nếu trong doanh nghiệp lượng TSLĐ quá nhiều so với nhu cầu của doanh
Trang 231.2.5.2 Nhân tố khách quan
Tốc độ phát triển của kinh tế
Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng, các doanh nghiệp sẽ dự trữ nhiều hơn, các khoản phải thu cũng giảm xuống, khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt hơn, chứng tỏ hiệu quả trong việc sử dụng TSLĐ cao hơn Nếu ngược lại,
kế hoạch sản xuất kinh doanh và dự trữ của doanh nghiệp cũng phải thay đổi, như vậy
sẽ tác động tới hiệu quả sử dụng TSLĐ Nhà quản trị doanh nghiệp phải nhận thức được sự thay đổi của môi trường kinh tế để đưa ra những quyết sách phù hợp
Thị trường cạnh tranh
Thị trường ngày càng mở rộng và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng cũng có muôn vàn thách thức Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt Muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải luôn
có những thay đổi phù hợp, nâng cao chất lượng, hạ giá sản phẩm Muốn hạ được giá thành, thì nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản lưu động nói riêng là điều kiện cần Dự đoán được trước nhu cầu thị trường, hiểu tâm lý khách hàng, xác định được khách hàng mục tiêu là những bước cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động trong sản xuất
Rủi ro
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường gặp phải những rủi ro bất thường trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với nhau Ngoài ra doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên nhiên gây ra như động đất, lũ lụt, núi lửa…mà các doanh nghiêp khó có thể lường trước được
Trình độ phát triển khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tác động đến tất cả các mặt của nền kinh tế xã hội, doanh nghiệp chịu rất nhiều tác động của công nghệ, nếu áp dụng công nghệ đúng chỗ và tiên tiến sẽ giúp doanh nghiệp phát triển sản phẩm, từ đó tạo ra những ưu thế về mặt công nghệ trước các đối thủ cạnh tranh và hiệu quả sử dụng TSLĐ cũng tăng lên
Chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước
Trang 2424
Chính sách quản lý của nhà nước có tác động tới toàn bộ nền kinh tế, trong đó có TSLĐ Chính sách này ảnh hưởng tới chính sách quả lý và sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Có thể đó là các chính sách tác động làm thay đổi nguồn tài trợ TSLĐ, hoặc có thể tác động tới kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự trữ của doanh nghiệp Chẳng hạn như khi lạm phát cao buộc chính phủ phải tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm đồng nghĩa với lãi suất cho vay cũng tăng lên, như vậy nguồn vốn vay tài trợ cho TSLĐ trở nên đắt đỏ hơn, vì vậy doanh nghiệp cần phải có biện pháp nhằm quản lý và sử dụng tài sản lưu động một cách tiết kiệm và hợp lý nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
Trang 2525
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương 1 của khóa luận đã trình bày về cơ sở lý luận tài sản lưu động và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp, từ đó giúp người đọc có cái nhìn khái quát về nội dung của đề tài
Trước hết, chương 1 đã làm rõ những vấn đề cơ bản về tài sản như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại, các chính sách quản lý tài sản lưu động và các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lý, sử dụng tài sản lưu động và cuối cùng là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Thông qua tài sản lưu động cũng như những vấn đề lý luận liên quan đến tài sản lưu động Cơ sở lý thuyết này sẽ tạo nền tảng để tìm hiểu, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty cổ phần điều khiển tự động DKT ở chương tiếp theo
Trang 2626
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỀU KHIỂN TỰ ĐỘNG DKT 2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần điều khiển tự động DKT
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần điều khiển tự động
DKT
Tên công ty : Công ty cổ phần điều khiển tự động DKT
Tên giao dịch bằng tiếng anh: DKT Joint Stock Company Control & Strucment
Địa chỉ giao dịch : 94B Đường Bưởi, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Mã số thuế : 0101550169
Người đại diện : Văn Thọ Nam
Vốn điều lệ : 4.500.000.000 đồng (bốn tỉ năm trăm triệu đồng)
Công ty cổ phần điều khiển tự động DKT là doanh nghiệp được chính thức thành lập vào 2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103005455 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 4 tháng 10 năm 2004
Công ty được thành lập với sự tham gia góp vốn của 2 thành viên: ông Văn Thọ Nam (hiện là Giám đốc Công ty cổ phần điều khiển tự động DKT) với số vốn góp 3.150.000.000 đồng, chiếm 70% tổng giá trị vốn góp và bà Hoàng Thu Trang (hiện là Phó Giám đốc Công ty cổ phần điều khiển tự động DKT) với số vốn góp 1.350.000.000 đồng, tương đương 30% tổng giá trị vốn góp
Công ty được thành lập với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tự động hóa
Tại thị trường Việt Nam, Công ty Cổ phần điều khiển tự động DKT không chỉ cung cấp những sản phẩm chất lượng cao của các hãng trên mà còn hoạt động trong những lĩnh vực sau: Thiết kế lắp đặt, chìa khoá trao tay các hệ thống đo lường và điều khiển tự động trong các phòng thí nghiệm cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty luôn chủ động trong việc áp dụng những công nghệ hiện đại, cùng với đội ngũ công nhân lành nghề và máy móc, trang thiết bị tiên tiến
Hiện nay, Công ty đang nỗ lực hoàn thiện công tác tổ chức quản lý và đặc biệt chú trọng trong việc tuyển chọn, đào tạo các công nhân lành nghề, có kĩ thuật và trình
độ chuyên môn cao, tạo dựng một vị trí vững chắc trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt, nhất là khi nền kinh tế ngày càng khó khăn
Trang 27 Chủ trì thực hiện nhiệm vụ thu và chi, kiểm tra việc chi tiêu các khoản tiền vốn, sử dụng vật tư, theo dõi đối chiếu công nợ
Triển khai công tác nghiệp vụ kế toán tài vụ trong tài khoản
Phó Giám đốc
Phòng kinh doanh
Phòng tổ chức hành chính
Trang 28 Căn cứ kế hoạch sản xuất kinh doanh để xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư
và cung cấp vật tư nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho các đơn vị trong Công ty
Thống kê ghi chép (thẻ kho, phiếu nhập xuất kho, biên bản bàn giao máy móc thiết bị, sổ theo dõi cung cấp vật tư vv…) theo quy định của Công ty và Nhà nước
Chịu trách nhiệm thống kê và cung cấp số lượng vật tư đã xuất ra khi phương tiện hoàn thành đối chiếu với dự toán ban đầu để làm cơ sở quyết toán từng phương tiện
Phòng tổ chức hành chính
Phòng tổ chức hành chính là phòng tham mưu, giúp việc cho giám đốc công
ty và tổ chức thực hiện các việc trong lĩnh vực tổ chức lao động, quản lý và bố trí nhân lực, bảo hộ lao động, chế độ chính sách, chăm sóc sức khỏe cho người lao động, bảo
vệ quân sự theo luật và quy chế công ty, kiểm tra, đôn đốc các bộ phận trong công ty thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế công ty
Trang 2929
Phòng có nhiệm vụ chính trong: tổ chức và lao động tiền lương, hành chính quản trị, công tác quân sự và bảo vệ, công tác an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh
Công ty có các hoạt động kinh doanh như sau:
Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, dụng cụ, thiết bị máy móc cơ khí, điện, điện tử, tin học, tự động hóa, đo lường, điều khiển
Bảo hành, bảo trì các dây chuyền tự động nhập ngoại
Cung cấp các linh kiện thiết bị chất lượng cao
Thiết kế cung cấp lắp đặt các hệ thống cân điện tử trong công nghiệp, các hệ thống điện tử trung và hạ thế, các hệ thống tủ điện phân phối
Dịch vụ tư vấn, thiết kế, sửa chữa, nâng cấp thiết bị, dây chuyền cơ khí hóa, tự động hóa, điều khiển (không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình và thiết kế phương tiện vận tải)
Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
Xuất nhập khẩu các loại hàng hóa mà công ty kinh doanh
Ngoài những hoạt động cung cấp lắp đặt các hệ thống công ty còn tập trung vào lĩnh vực thương mại sau:
Cung cấp, lắp đặt tủ máy cắt
Cung cấp, lắp đặt tủ biến tần
Cung cấp thiết bị điện
Cung cấp các thiết bị làm than
Cung cấp các thiết bị băng tải
2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty
2.2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần điều khiển
tự động DKT
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong ba năm
2011, 2012, 2013 ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh qua các năm có những sụt giảm đáng kể về doanh thu, lợi nhuận Điều này là do tình hình kinh tế khó khăn trong những năm gần đây, lạm phát toàn cầu làm ảnh hưởng lớn đến tình sản xuất kinh doanh của công ty Cụ thể như sau:
Trang 30(+/-)
Tương đối
%)
Tuyệt đối (+/-)
Tương đối (%) Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ 16.889.616.666 15.269.810.439 13.872.074.745 (1.619.806.227) (9,59) (1.397.735.694) (9,15) Các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu thuần 16.889.616.666 15.269.810.439 13.872.074.745 (1.619.806.227) (9,59) (1.397.735.694) (9,15) Giá vốn h ng án 14.627.647.878 12.707.517.821 12.159.466.926 (1.920.130.057) (13,13) (548.050.895) (4,31) Lợi nhuận gộp 2.261.968.788 2.562.292.618 1.712.607.819 300.323.830 13,28 (849.684.799) (33,16)
Doanh thu hoạt động tài chính 7.757.889 2.711.661 3.821.762 (5.046.228) (65,05) 1.110.101 40,94 Chi phí tài chính 13.947.602 1.404.018 12.422.728 (12.543.584) (89,93) 11.018.710 784,80 Chi phí lãi vay
Chi phí quản lý doanh nghiệp 2.181.818.472 2.462.052.165 822.005.930 280.233.693 12,84 (1.640.046.235) (66,61)
Lợi nhuận thuần 73.960.603 101.548.096 55.396.040 27.587.493 37,30 (46.152.056) (45,45)
Thu nhập khác
Chi phí khác 4.176.186 5.222.569 (4.176.186) (100) 5.222.569
Lợi nhuận trước thuế 69.784.417 101.548.096 50.173.471 31.763.679 45,52 (51.374.625) (50,59)
Chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp 19.135.232 5.677.432 10.034.694 (13.457.800) (70,33) 4.357.262 76,75
Lợi nhuận sau thuế 50.649.185 95.870.664 40.138.777 45.221.479 89,28 (55.731.887) (58,13)
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Trang 3131
Tình hình doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng năm 2012 là
15.269.810.439 đồng, giảm 1.619.806.227 đồng tương đương 9,59% so với năm 2011, năm 2013 giảm 1.397.735.694 đồng, tương ứng giảm 9,15% so với năm 2012 Do nền kinh tế gặp khó khăn, nhiều công ty rơi vào tình trạng phá sản nên ảnh hưởng tới số lượng khách hàng của công ty giảm đi Bên cạnh đó, chính sách thu hút khách hàng mới của công ty chưa thực sự hiệu quả Sự giảm đi về doanh thu của công ty là một dấu hiệu tiêu cực cho thấy sự giảm sút của công ty trong những năm gần đây
Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong cả ba năm 2011, 2012, 2013 công ty
không phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại Đây là một ưu điểm của công ty thể hiện công ty quản lý tốt chất lượng của hàng hóa, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Doanh thu từ hoạt động tài chính: Doanh thu hoạt động tài chính của công ty
chính là khoản thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cơ bản trên cổ phiếu, lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại số dư cuối năm của các khoản nợ dài Doanh thu
từ hoạt động tài chính của công ty năm 2012 là 2.711.661 đồng, giảm 5.046.228 đồng tương ứng 65,04 % so với năm 2011 Do tình hình kinh doanh của công ty năm 2012 không được tốt nên tiền trong tài khoản tiền gửi ngân hàng của Công ty được dùng để chi trả các khoản nợ đến hạn trả, làm cho khoản lãi nhận được năm 2012 ít hơn năm
2011 Năm 2013 doanh thu tài chính tăng 1.110.101 đồng, tương ứng tăng 40,94% so với năm 2012 Mặc dù 1.110.101 đồng không là khoản tiền lớn, nhưng phản ánh tình hình quản lí tài chính tốt hơn nên được hưởng khoản chiết khấu của doanh nghiệp bán Điều này góp phần vào việc tăng uy tín cũng như danh tiếng của công ty, đối với các doanh nghiệp bạn
Về chi phí
Giá vốn hàng bán: GVHB năm 2012 là 12.707.517.821 đồng, giảm
1.920.130.057 đồng tương ứng 13,13% so với năm 2011, đến năm 2013 là 12.159.466.926 đồng, giảm 4,31% so với năm 2012 Do doanh thu giảm, tình hình bán hàng cũng không được thuận lợi như năm trước dẫn đến việc nhập hàng hóa của công
ty cũng giảm sút Và do trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn công ty cũng chú trọng quản
lý giá cả đầu vào làm hạn chế chi phí của công ty, ngoài ra công ty còn tìm thêm các
nhà cung cấp mới để đảm bảo nguồn hàng cũng như hạn chế chi phí ở mức tối thiểu Chi phí tài chính: Chi phí tài chính bao gồm các khoản như chi phí lãi vay, lỗ
bán ngoại tệ, chi phí hoa hồng Chi phí tài chính của công ty trong ba năm qua có sự biến chuyển khá lớn trong khi chi phí tài chính của năm 2011 là 13.947.602 đồng thì
Trang 3232
sang đến năm 2012 chi phí tài chính giảm đáng kể chỉ còn 1.404.018 đồng, giảm 12.543.584 đồng tương ứng giảm 89,93% Sang năm 2013 chi phí tài chính là 12.422.728 đồng, tăng 11.018.710 đồng tương ứng tăng 784,8% so với năm 2012 là do công ty mở rộng lĩnh vực kinh doanh nên cần phải vay vốn để đầu tư mua sắm tài sản
cố định và bổ sung nguồn vốn lưu động, làm chi chi phí phải trả cho việc vay vốn tăng Tuy nhiên chi phí tài chính lại tăng quá cao so với doanh thu tài chính chứng tỏ việc đầu tư tài chính của công ty chưa hiệu quả
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Năm 2012 chi phí quản lý doanh nghiệp là
2.462.052.165 đồng, tăng 822.005.930 đồng tương ứng tăng 12,84% so với năm 2011
do chi phí các khoản tiếp khách và các khoản chi phí về lương nhân viên bộ phận quản
lý doanh nghiệp (tiền lương, phụ cấp…) tăng lên Tuy nhiên đến năm 2013, chi phí quản lý doanh nghiệp là 822.005.930 đồng, giảm 1.640.046.235 đồng tương ứng giảm 66,61% Nguyên nhân của sự giảm mạnh này là công ty đã có nhiều chính sách đối với doanh nghiệp để hạn chế chi phí tối đa như: cơ cấu lại tổ chức bộ máy, phòng ban của công ty và chính sách quản lý có hiệu quả hơn
Về lợi nhuận
Lợi nhuận gộp: Năm 2012 là 2.562.292.618 đồng, tăng 300.323.830 đồng tương
ứng 13,28 % so với năm 2011 Năm 2013 lợi nhuận gộp là 1.712.607.819 đồng, giảm 849.684.799 đồng tương ứng giảm 33,16% so với năm 2012 Mức giảm này là điều dễ hiểu do hoạt động kinh doanh của công ty không tăng trưởng, giá vốn bán hàng cũng
giảm kéo theo đó dẫn đến giảm lợi nhuận gộp trong năm 2013
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận gộp về bán bán hàng và
cung cấp dịch vụ tăng, chi phí quản lý kinh doanh tăng là nguyên nhân làm cho lợi nhuận thuần về hoạt động kinh doanh năm 2012 tăng Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2012 là 101.548.096 đồng, tăng 27.587.493 đồng, tương ứng tăng 37,3% so với năm 2011 Sang đến năm 2013, khoản chi phí quản lý kinh doanh và doanh thu thuần giảm, thêm vào đó khoản chi phí tài chính tăng làm cho lợi nhuận thuần năm 2013 giảm, mức giảm 46.152.056 đồng, tương ứng giảm 45,45% so với năm 2012
Lợi nhuận sau thuế: là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp Lợi nhuận sau thuế năm 2012 là 95.870.664 đồng tăng 45.221.479 đồng tương ứng tăng 89,28% so với năm 2011 Năm 2013 là 10.138.777 đồng, giảm 55.731.887 đồng tương ứng giảm 55,13% so với năm 2012 Nguyên nhân chính là do sự giảm xuống của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cùng chi phí để duy trì hoạt động của công ty trong năm 2013 đầy khó khăn Lợi nhuận sau thuế giảm đi cho thấy tình hình kinh doanh của công ty có chiều hướng đi xuống Ban lãnh đạo cần xem xét để
Trang 332.2.2 Tình hình Tài sản-Nguồn vốn của công ty cổ phần điều khiển tự động DKT
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn
bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của công ty tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có theo cơ cấu tài sản-nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành tài sản đó Thông qua bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Trên cơ sở
đó, có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh Dưới đây là tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty trong ba năm 2011,2012 và năm 2013
Trang 34(+/-)
Tuyệt đối (%)
Tương đối (+/-)
Tuyệt đối (%) TÀI SẢN
A TÀI SẢN NGẮN HẠN 16.734.862.112 15.966.750.808 21.174.488.806 (768.111.304) (4,59) 5.207.737.998 32,62
I Tiền và các khoản tương đương tiền 4.328.580.931 1.121.357.942 2.493.580.983 (3.207.222.989) (74,09) 1.372.223.041 122,37
II Các khoản phải thu ngắn hạn 4.949.160.028 4.475.437.863 3.905.577.828 (473.722.165) (9,57) (569.860.035) (12,73) III Hàng tồn kho 7.406.610.656 10.295.825.711 14.609.324.526 2.889.215.055 39,01 4.313.498.815 41,90
IV TS ngắn hạn khác 50.510.497 74.129.292 166.005.469 23.618.795 46,76 91.876.177 123,94
1 Thuế GTGT được khấu trừ 29.675.473 74.129.292 166.005.469 44.453.819 149,80 91.876.177 123,94
2 Thuế và các khoản khác phải thu nhà nước 20.835.024 (20.835.024) (100) -
Trang 3535
Chênh lệch 2012/2011 Chênh lệch 2013/2012 Tương đối
(+/-)
Tuyệt đối (%)
Tương đối (+/-)
Tuyệt đối (%) Nguồn vốn
A NỢ PHẢI TRẢ 12.932.446.870 12.075.544.906 17.217.806.453 (856.901.964) (6,63) 5.142.261.547 42,58
I Nợ ngắn hạn 12.932.446.870 12.075.544.906 5.217.806.453 (856.901.964) (6,63) (6.857.738.453) (56,79)
1 Vay ngắn hạn 5.000.000.000 2.100.000.000 2.100.000.000 (2.900.000.000) (58,00) - -
2 Phải trả người bán 6.965.616.870 8.977.076.268 2.980.484.152 2.011.459.398 28,88 (5.996.592.116) (66,80)
3 Người mua trả tiền trước 966.830.000 978.513.150 11.683.150 1,21 (978.513.150) (100)
4 Thuế và các khoản phải nộp
1 Vốn đầu tư của chủ sở hữu 4.500.000.000 4.500.000.000 4.500.000.000 - - - -
2 Lợi nhuận sau thuế chưa phân
phối (421.761.869) (395.891.205) (437.990.543) 25.870.664 (6,13) (42.099.338) 10,63
TỔNG NGUỒN VỐN 17.010.685.001 16.179.653.701 21.279.815.910 (831.031.300) (4,89) 5.100.162.209 31,52
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Trang 3636
Về tài sản: Năm 2012 tổng tài sản giảm 831.031.300 đồng, tương ứng giảm
4,89% so với năm 2011 Tuy nhiên sang năm 2013, tổng tài sản có sự tăng mạnh, tăng 5.100.162.209 đồng, tương ứng tăng 31,52% so với năm 2012 Trong đó, chủ yếu là đầu tư vào tài sản ngắn trong khi đầu tư vào tài sản dài hạn có sự giảm nhẹ
Tài sản ngắn hạn: Năm 2012, tài sản ngắn hạn giảm 768.111.304 đồng,
tương ứng giảm 4,59% so với năm 2011, năm 2013 có sự nhảy vọt về đầu tư tài sản ngắn hạn, tăng 5.207.737.998 đồng, tương ứng tăng 32,62% so với năm 2012 Tài sản ngắn hạn năm 2012 giảm do các khoản phải thu năm 2012 giảm một lượng là 473.722.165 đồng , giảm 9,57% so với năm 2011 Cũng trong năm 2012 hàng tồn kho tăng 2.889.215.055 đồng, tương ứng tăng 39,01% so với năm 2011 Do đặc thù là đơn
vị sản xuất, kinh doanh sản phẩm máy móc cơ khí, điện tử, tự động hóa nên tỷ trọng hàng tồn kho lớn trong tổng tài sản của công ty để đảm bảo cung ứng kịp thời trong kinh doanh và sản xuất Năm 2013, tài sản ngắn hạn tăng 5.207.737.998 đồng, tương ứng tăng 32,62% so với năm 2012 Nguyên nhân là do năm 2013 hàng tồn kho tăng 4.313.498.815 đồng, tương đương 41,9% so với năm 2012 Công ty tăng hàng tồn kho
để có đủ nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài
ra công ty còn nhập khẩu thêm các NVL, hàng hóa phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh Hàng tồn kho lớn giúp công ty đủ khả năng để đáp ứng các đơn hàng Tuy nhiên khi dự trữ hàng tồn kho quá nhiều có thể gây ra tình trạng ứ đọng vốn và tăng chi phí quản lý kho bãi Do vậy việc tìm ra một lượng hàng tồn kho dự trữ tối ưu là điều quan trọng đối với mọi doanh nghiệp Các khoản phải thu trong năm 2013 giảm 569.860.035 đồng, tương ứng giảm 12,73% trong khi lượng tiền mặt lại tăng 1.372.223.041 đồng, tương ứng tăng 123,37% so với năm 2012 Dưới tác động tổng hợp trên làm cho tài sản ngắn hạn tăng cao hơn trong năm 2013
Tài sản dài hạn: Năm 2012, tài sản dài hạn tại Công ty giảm 62.919.996
đồng, tương ứng giảm 22,81% so với năm 2011 Trong đó, giảm chủ yếu là do TSCĐ giảm, TSCĐ giảm 68.638.179 đồng, tương ứng giảm 29,12% và tài sản dài hạn khác tăng 5.718.183 đồng, tương ứng tăng 14,24% so với năm 2011 Tại công ty cổ phần điều khiển tự động DKT, TSCĐ chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng tài sản Điều này phù hợp với một doanh nghiệp kinh doanh các thiết bị máy móc cơ khí, điện
tử, tin học…Năm 2013, tài sản dài hạn của công ty giảm thêm 107.575.789 đồng, tương ứng giảm 50,53% so với năm 2012 Trong năm 2013, công ty không đầu tư cho TSCĐ
Về nguồn vốn: Năm 2012, nguồn vốn giảm 831.031.300 đồng, tương ứng giảm
4,89% so với năm 2011 Đến năm 2013, nguồn vốn tăng 5.100.162.209 đồng, tương ứng tăng 31,52% so với năm 2012 Cụ thể:
Trang 3737
Nợ phải trả: Năm 2012, tổng nợ phải trả là 12.075.544.906 đồng, giảm
856.901.964 đồng tương ứng giảm 6,63% so với năm 2011 Trong đó chỉ tiêu nợ ngắn hạn giảm tương ứng do không có vay dài hạn Trong ngắn hạn, do các sản phẩm mà Công ty cung cấp đều là những sản phẩm có tốc độ triển khai trong thời gian dưới 1 năm ngoài ra do nhu cầu kinh doanh của công ty cần phải vay thêm từ bên ngoài nên Công ty cần sử dụng đến các nguồn vay ngắn hạn Tuy nhiên, khoản vay ngắn hạn năm 2012 giảm đi 2.900.000.000 đồng, giảm 58% trong khi khoản vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp phải trả người bán lại tăng 2.011.459.398 đồng, tăng 28,88% so với năm
2011 Khoản tăng này là do hàng hóa, nguyên vật liệu thu mua và nhập về còn nợ người bán, khoản tín dụng được người bán cấp cho tăng mạnh, điều này cho thấy mối quan hệ của công ty với nhà cung cấp đang phát triển tốt Được hưởng nhiều khoản tín dụng từ người bán sẽ rất tốt cho doanh nghiệp để có thể mở rộng hoạt động kinh doanh, điều này sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho công ty, hưởng tín dụng thương mại nghĩa là Công ty đang gián tiếp sử dụng vốn của người bán mà không phải chi trả lãi nếu Công ty có thể tận dụng thời hạn tín dụng không mất phí Tuy nhiên khoản phải trả này cũng có chi phí cơ hội, đó là gây mất lòng tin cho nhà cung cấp nếu không trả
đúng thời hạn, bị xếp hạng tín dụng thấp
Năm 2013, công ty sử dụng nguồn vốn vay từ phía ngân hàng là 2.100.000.000, không đổi so với năm 2012 Công ty cũng nợ Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước một khoản 19.358.196 đồng, giảm 597.292 đồng so với năm 2012
Nguồn vốn chủ sở h u: Vốn chủ sở hữu trong 3 năm qua không có biến động
mạnh, nếu như năm 2012 là 4.104.108.795 đồng thì năm 2013 là 4.062.009.457 đồng, giảm 42.099.338 đồng tương ứng giảm 1,03% Trong năm 2013, công ty không có khoản đầu tư thêm hay rút vốn của chủ sở hữu Nguyên nhân của sự sụt giảm này chủ yếu là phần lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, con số này thể hiện doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả hơn so với năm 2012 Công ty nên gia tăng vốn chủ sở hữu để tăng
khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp