1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ

43 457 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 396,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó pháp luật còn quy định một số hạn chế về quyền của các cổ đông sáng lập đối với loại cổ phần phổ thông mà họ sở hữu trongthời hạn 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

- 

 -TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ

TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY

CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ

Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ THỊ LANH

Nhóm sinh viên thực hiện đề tài tiểu luận:

TP Hồ Chí Minh 09.2011

Trang 2

ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN

CÔNG TY CỔ PHẦN

THỦY ĐIỆN THÁC MƠ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến tập thể giảng viên khoa Tài chính doanh nghiệp, những người đã trang bị cho chúng tôi đầy đủ kiến thức cần thiết và bổ ích để hoàn thành bài tiểu luận này Đặc biệt, nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Lê Thị Lanh, người đã trực tiếp giảng dạy, tạo điều kiện và cổ vũ tinh thần cho chúng tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện đề tài.

Mặc dù bài tiểu luận được hoàn thành với khá nhiều công sức của tất cả các thành viên trong nhóm Tuy nhiên, do kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn hẹp, cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Nhóm chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía quý thầy cô

để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.

Nhóm tiểu luận

Trang 5

A.MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề

iệc ước định giá cổ phiếu cho phép người đầu tư có thể so sánh và đối chiếuvới giá cổ phiếu trên thị trường để xem xét cổ phiếu đang được thị trườngđánh giá cao hay thấp, từ đó có thể giúp người đầu tư ra quyết định đầu tưđúng đắn

V

Trong suốt những năm qua thị trường chứng khoán có tính tăng cường biến động

và không ổn định Các thị trường tài chính thống nhất luôn bị ảnh hưởng bởi các vấn

đề đột biến tầm vĩ mô mà gây ra ảnh hưởng thị trường quy mô toàn cầu

Theo quan điểm của một nhà đầu tư, điểm yếu của thị trường là ở chỗ không dựđoán được và không chắc chắn được, vì những điều kiện của thị trường không luônphán đoán được chỉ với sự hỗ trợ của các công cụ và thước đo tài chính Những ngườitham gia thị trường thì luôn dựa vào tính hiệu quả của thị trường và hành vi hợp lý củacác nhà đầu tư khác để ra quyết định Tuy nhiên, ý kiến dựa vào các nhà đầu tư, nhữngngười mà luôn muốn tối đa hóa lợi ích của mình và thể hiện tài tự kiểm soát hoàn hảo,trở nên không hiệu quả Trong suốt những năm gần đây, có nhiều dẫn chứng cho thấythị trường thiếu hiệu quả do những nhận định sai lệch của nhà đầu tư

II Mục tiêu

tích, tổng hợp

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào làm rõ định nghĩa về cổ phần và

cổ phiếu cũng như các cách định giá về cổ phần, cổ phiếu và các ảnh hưởng của việcđịnh giá ấy vào thị trường chứng khoán thực tiễn

Vì những điều kiện khách quan và chủ quan chúng tôi chỉ thực hiện khảo sát trên

những thông tin thu nhập được từ internet và những thông tin đại chúng có liên quan

B.TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN

I Nguồn gốc và quá trình phát triển của cổ phần, cổ phiếu?

ịch sử cổ phần gắn liền với lịch sử của việc giao dịch chứng khoán trên thịtrường.Trong thế kỷ 12 ở nước Pháp, các courratiers de change lo lắng về việcquản lý và điều chỉnh các khoản nợ của các phường hội nông nghiệp với ngânhàng Bởi vì những người đó giao dịch nợ, nên có thể coi họ là những người môi giớibuôn bán đầu tiên.Tuy nhiên, có lẽ giả thuyết chính xác hơn là ở cuối thế kỷ 13, nhữngnhà buôn hàng hoá ở Bruges đã tụ tập tại ngôi nhà của một người đàn ông tên là Vander Burse, và năm 1309 họ đã chính thức hoá việc gặp gỡ không nghi thức đó cho tớitận ngày nay và trở thành "Bruges Bourse" Ý tưởng này nhanh chóng lan ra quanh

L

Trang 6

vùng Flanders và các tỉnh xung quanh và "Bourses" nhanh chóng được mở tại Ghent vàAmsterdam.

Vào giữa thế kỷ 13, những ông chủ ngân hàng tại Venice bắt đầu mua bán chứngkhoán chính phủ Năm 1351, Chính phủ Venice đặt ra ngoài vòng pháp luật những lờiđồn thổi với chủ ý làm hạ giá quỹ công trái chính phủ Trong thế kỷ 14, người dân ởPisa, Verona, Genoa và Florence cũng bắt đầu buôn bán các trái phiếu chính phủ Điềunày chỉ là có thể bởi vì có các thành bang độc lập không bị cai trị bởi một công tước màbởi một hội đồng những công dân có uy tín

Hà Lan sau này bắt đầu có các công ty cổ phần, cho phép những người giữ cổphần đầu tư vào doanh nghiệp kinh doanh và thu được một phần chia từ lợi nhuận của

nó – hay một phần thua lỗ Năm1602, Công ty Đông Ấn Hà Lan phát hành những cổphần đầu tiên trên Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam Đây là công ty đầu tiên pháthành cổ phần và khế ước nợ

Cổ phần là phần vốn nhỏ nhất của công ty cổ phần Vốn điều lệ của công ty cổphần được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần Người sở hữu cổphần gọi là cổ đông Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức Tùy theo loại cổ phần họ

sở hữu mà có thể có tên gọi khác nhau

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ hoặc dữliệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó

Trang 7

Cổ phần phổ thông Cổ phần ưu đãi

Cổ phần ưu đãi biểu quyết

Cổ phần ưu đãi cổ tức

Cổ phần ưu đãi hoàn lại

Thông thường cổ phần được phân thành: Cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi

Theo pháp luật Việt nam hiện hành, cổ phần bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần

ưu đãi Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông Cổ phần phổ thông khôngthể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phầnphổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông

Là cổ phần bắt buộc phải có của công ty cổ phần Người sở hữu cổ phần phổthông được gọi là cổ đông phổ thông Là người chủ sở hữu của công ty cổ phần nên họ

có quyền quyết định những vấn đề rất quan trọng liên quan đến công ty cổ phần (Điều

79 và 80 Luật doanh nghiệp 2005) Bên cạnh đó pháp luật còn quy định một số hạn chế

về quyền của các cổ đông sáng lập đối với loại cổ phần phổ thông mà họ sở hữu trongthời hạn 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh (Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005)

Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ

phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ

quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết

Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức

của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức là số tiền được trích ra từlợi nhuận, được chia hằng năm bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố

Trang 8

định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể

và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổtức Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức bị tước bỏ một số quyền cơ bản của cổđông

Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo

yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần

ưu đãi hoàn lại Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại bị tước bỏ một số quyền cơbản của cổ đông

II Phân loại và ý nghĩa mỗi loại

Cổ phiếu thường là chứng chỉ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty

và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty Người sở hữu cổ phiếu thường là cổ đông thường và là đồng sở hữu của công ty

cổ phần

Các hình thức giá trị của cổ phiếu thường:

Mệnh giá của cổ phiếu thường: Mệnh giá là giá trị danh nghĩa mà công ty cổphần quy định cho một cổ phiếu được ghi trên cổ phiếu

Mệnh giá của cổ phiếu không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó vàthường được dùng để tính toán giá trị kế toán của cổ phiếu thường trong bảng cân đối

kế toán của công ty

Giá trị sổ sách: Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác

định dựa trên số liệu sổ sách của công ty Nếu công ty chỉ phát hành cổ phiếu th ườngthì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng tổng giá tri tài sản ròng( phần chênh lệch giữa tổng giá trị tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số

cổ phiếu thường đang lưu hành Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu ưu đãithì phải lấy tổng giá trị tài sản ròng trừ đi tổng giá trị cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho

số cổ phiếu thường đang lưu hành

Giá thị trường: Giá trị thị trường là giá trị của cổ phiểu trên thị trường tại thời điểm

hiện tại, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận Giá trị thị trườngcòn được gọi là thị giá của cổ phiếu, phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, được xác địnhbởi quan hệ giữa cung và cầu, do vậy nó có thể thay đổi thường xuyên

Là loại cổ phiếu có thu nhập phụụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty.Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏphiếu quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử vàứng cử vào Hội đồng quản trị của công ty

Tương tự như cổ phiếu phổ thông nhưng cổ đông sở hữu nó không được thamgia bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị, nhưng lại có quyền được: hưởng thu nhập

Trang 9

cố định hàng năm theo một tỷ lệ lãi suất cố định không phụ thuộc vào lợi nhuận củacông ty, được ưu tiên chia lãi cổ phần trước cổ đông phổ thông cổ phiếu ưu đãi cổ tức)hoặc có quyền được biểu quyết với số phiếu cao hơn so với cổ phần phổ thông ( cổphiếu ưu đãi biểu quyết) hoặc có quyền đòi lại phần vốn góp bất cứ khi nào yêu cầu (cổphiếu ưu đãi hoàn lại)

Là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty

đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó

Là cổ phiếu hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ.III Định giá cổ phần – sự cần thiết phải định giá cổ phần

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một quyêt sách của Đảng và Nhà Nước

ta trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang định hướng kinh tế thị trường

xã hội chủ nghĩa

Những năm qua chủ trương cổ phần hóa đã đi vào đời sống kinh tế xã hội vàphát huy tác dụng tích cực trở thành một trong những nhân tố đóng góp vào sự pháttriển kinh tế Việc đẩy mạn công tác cổ phần hóa có ý nghãi thiết thực trong việc tạo racác cơ sở tiền trong phát triển nội lực khi Việt Nam hội nhập AFTA và WTO

Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động chodoanh nghiệp Nhà Nước, một trong những vấn đề cốt lõi là phi xác nhận đầy đủ, chínhsách giá trị thực tế của doanh nghiệp Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp sẽ là cơ sở

để định giá cổ phần và điều kiện cơ cấu bán cổ phần cũng như xây dựng chính sách ưuđãi nội bộ với người lao động trong doanh nghiệp , người sản xuất và cung cấp nhiênliệu

Việc xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp căn cứ vào số liệu trong sổ sách kếtoán và thực tế kiểm kê số lượng , chất lượng tài sản của doanh nghiệp tính đến thờiđiểm cổ phần hóa Ngoài ra còn căn cứ vào vị thế kinh doanh của doanh nghiệp như:

Vị trí địa lý, uy tín kinh doanh, tính chất độc quyền về sản phẩm , mẫu mã, thương hiệu

và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Thứ nhất là dự báo được những dòng tiền trong tương lai, thứ hai là đưa giá trịcủa những dòng tiền đó về hiện tại bằng cách chiết khấu chúng theo một tỷ lệ lãi suấtxác định

Trang 10

Không có kỳ hạn và không hoàn vốn

Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần Chỉ cóchiều góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có kỳ hạn (Khi công ty phásản hoặc giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu)

Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả SXKD của doanh nghiệp

Cổ tức cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và

vì kết quả kinh doanh không ổn định nên cổ tức cũng không thể cố định Khi doanhnghiệp làm ăn phát đạt thì cổ đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loạichứng khoán khác có lãi suất cố định Ngược lại, khi làm ăn khó khăn hoặc thua lỗ, cổtức có thể rất thấp hoặc không có cổ tức

Khi phá sản, cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh lý

Giá cổ phiếu biến động rất mạnh

Giá biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tác động củanhiều nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty

"Bên cạnh đó, theo quan điểm của những nhà đầu tư, Cổ phiếu có các đặc điểm sau:"

Tính thanh khoản cao

Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng Tuy nhiên tính thanhkhoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Thứ nhất, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu niêm

yết) Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếucủa công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường.Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả không trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếucủa công ty sẽ giảm giá và khó bán

Thứ hai, là mối quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường cổ

phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của qui luật cung cầu Giá

cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công ty mà còn phụ thuộcrất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư Tuy một loại cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường

Trang 11

đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá Ngượclại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơncũng có thể bán dễ dàng Tuy nhiên cũng cần chú ý đến sự đầu cơ trong thị trưòng,một số nhà đầu tư sở hữu một phần lớn lượng cổ phiếu trong thị trường, đẩy giá lênxuống theo ý mình để trục lợi.

Có tính Lưu thông

Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu nhưtính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cầnthiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động nhưthừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình

Tính Tư bản giả

Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền Tuy nhiên cổ phiếu khôngphải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền Mệnh giá của cổ phiếukhông phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu

Tính Rủi ro cao

Tính rủi ro phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triển, chính trị Giá trị cổ phiếuluôn biến động theo các yếu tố này

Cung cấp thêm thông tin cho nhà đầu tư để có thể lựa chọn, suy xét, cũng nhưphân tích, đánh giá các công ty tiềm năng và khả năng sinh lợi từ việc đầu tư Cũng nhưxác định thời điểm mua vào, bán ra thích hợp để đạt lợi nhuận đầu tư cao nhất, manglại doanh thu tối ưu

Làm cho việc giao dịch trên thị trường một cách nhanh chóng và hiệu quả, công

ty có thể lập danh mục cổ phần đầu tư tiềm năng cũng như các loại cổ phần đầu tưkhông hiệu quả trong đầu tư, có rủi ro cao Dễ dàng cho việc tư vấn khách hàng, đápứng nhu cầu đa dạng của khách hàng

Việc định giá cổ phần giúp xác định giá trị hiện tại của công ty thể hiện giá trịtoàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, khả năng sinh lời trong tương lai của bản

Trang 12

thân công ty.Định hướng cho việc phát triển công ty theo mục tiêu đề ra Đồng thời,giúp công ty có khả năng nguồn vốn tối ưu tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc sản xuất

2 Những vấn đề liên quan tới định giá

Cặp khái niệm này dùng để chỉ giá trị của doanh nghiệp dưới hai giác độ khác

nhau Giá trị thanh lý (liquidation value) là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp hay tài sản không còn tiếp tục hoạt động nữa Giá trị hoạt động (going-concern

value) là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục hoạt động.

Hai loại giá trị này ít khi nào bằng nhau, thậm chí giá trị thanh lý đôi khi còn cao hơn cả

giá trị hoạt động

Khi nói giá trị sổ sách (book value), người ta có thể đề cập đến giá trị sổ sách của

một tài sản hoặc giá trị sổ sách của một doanh nghiệp Giá trị sổ sách của tài sản tức là

giá trị kế toán của tài sản đó, nó bằng chi phí mua sắm tài sản trừ đi phần khấu hao tíchlũy của tài sản đó Giá trị sổ sách của doanh nghiệp hay công ty tức là giá trị toàn bộ tàisản của doanh nghiệp trừ đi giá trị các khoản nợ phải trả và giá trị cổ phiếu ưu đãi

được liệt kê trên bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp Giá trị thị trường (market

value) là giá của tài sản hoặc doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường Nhìn chung,

giá trị thị trường của doanh nghiệp thường cao hơn giá trị thanh lý và giá trị hoạt độngcủa nó

Cặp giá trị này thường dùng để chỉ giá trị của chứng khoán, tức là giá trị của các

loại tài sản tài chính Giá trị thị trường (market value) của một chứng khoán tức là giá trị của chứng khoán đó khi nó được giao dịch mua bán trên thị trường Giá trị lý

thuyết (intrinsic value) của một chứng khoán là giá trị mà chứng khoán đó nên có dựa

trên những yếu có liên quan khi định giá chứng khoán đó Nói khác đi, giá trị lý thuyếtcủa một chứng khoán tức là giá trị kinh tế của nó và trong điều kiện thị trường hiệuquả thì giá cả thị trường của chứng khoán sẽ phản ánh gần đúng giá trị lý thuyết củanó

IV Các phương pháp định giá

Phương pháp cơ bản nhất để định giá trị một cổ phiếu hay bất kỳ tài sản nào đó

là chúng ta phải định giá tất cả những dòng tiền mà chúng ta nhận được từ cổ phiếuhay tài sản đó trong tương lai

Về mặt lý thuyết thì đây thực sự là một phương pháp khá tuyệt vời, tuy nhiêntrên thực tế, chúng ta có thể gặp vài khó khăn khi dùng phương pháp chiết khấu dòng

Trang 13

tiền để định giá cổ phiểu Một số phương pháp định giá khác cũng hữu ích, chúng giúpchúng ta có được một cái nhìn tòan diện hơn về giá trị của cổ phiếu Phương pháp địnhgiá theo DCF dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất là ước tính giá trị tất cả các luồng thunhập tự do mà tổ chức phát hành sẽ thu được trong tương lai và quy chúng về giá trịhiện tại bằng cách chiết khấu các luồng thu nhập này theo một mức lãi suất chiết khấuthích hợp.

Lý thuyết chiết khấu dòng tiền phát biểu rằng giá trị của tất cả dòng tiền tạo ra tàisản bao gồm từ những thu nhập cố định cho đến các khoản đầu tư đối với tòan bộdoanh nghiệp thực ra chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mong đợi trong tương laiđược chiết khấu về hiện tại với một chiết khấu hợp lý Đối với định giá doanh nghiệpthì người ta hay dùng khái niệm dòng tiền tự do Mức chiết khấu hợp lý đối với doanhnghiệp chính là chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) của chính doanh nghiệp đó Công thức thường dùng là:

Trong đó : PV là giá trị hiện tại

FCFi là dòng tiền tự do năm thứ i

r : lãi suất chiết khấu

TFCF giá trị dòng tiền tự do còn lại vào cuối thời kỳ

g : tốc độ tăng trưởng giả định là liên tục trong suốt thời gian dự báo

n : số năm được sử dụng trong mô hình định giá

Theo DCF thì để xác định được giá trị của doanh nghiệp cần phải xác định khoảngthời gian dự báo (thường là 5-10 năm đối với các doanh nghiệp đã tương đối vữngmạnh) rồi ước lượng các dòng tiền tự do, xác định mức chiết khấu hợp lý, ước đóanmức tăng trưởng của doanh nghiệp và xác định giá trị còn lại vào cuối kỳ dự báo Gía trịcòn lại vào cuối kỳ dự báo( terminal value) chính là thành phần [TFCF / (k - g)] /(1+k)^n-1 trong công thức trên

Lấy giá trị hiện tại PV chia cho số cổ phần đang lưu hành của doanh nghiệp ta sẽđược giá trị hợp lý của mỗi cổ phần Đó chính là giá trị mà bạn đang tìm kiếm đấy! Đếnđây có vẻ như phương pháp DCF cũng không mấy khó khăn để sử dụng Nhưng thực tếthì bạn sẽ gặp phải một số vấn đề sau:

Trang 14

Có lẽ một trong các giả định quan trọng nhất của mô hình DCF chính là các giảđịnh về mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng Có khá nhiều cách để xác định mức chiếtkhấu trong mô hình DCF định giá cổ phần

Các nhà phân tích thường sử dụng công thức mức chiết khấu R=Rf + β(Rm - Rf)hoặc là sử dụng chi phí sử dụng vốn trung bình WACC của doanh nghiệp như một tỷ lệchiết khấu hợp lý khi sử dụng DCF để định giá doanh nghiệp

Giả sử một cổ phiếu được nắm giữ đến năm thứ n, cổ tức chi trả từ năm 1 đếnnăm n lần lượt là Biết giá bán cổ phiếu vào năm thứ n là Pn và tỷ lệ lợi tức yêu cầu (lợisuất dự kiến) của nhà đầu tư là r không đổi, ta có công thức định giá cổ phiếu theophương pháp chiết khấu luồng cổ tức như sau:

Trong đó: : Mức chia cổ tức năm t

r: Tỷ lệ lợi tức yêu cầu (hay còn gọi là lãi suất chiết khấu hoặc chi phí vốn cổ phần)Như vậy, theo phương pháp này, giá cổ phiếu chính là giá trị quy về hiện tại củatoàn bộ các luồng thu nhập trong tương lai

Nếu cổ phiếu được người đầu tư nắm giữ vô hạn, có nghĩa là n sẽ tiến tới 8(thông thường, quãng đời của cổ phiếu là vô hạn vì nó không có thời gian đáo hạn) Khi

đó, giá trị hiện tại của vốn gốc Pn/ sẽ tiến tới 0 và công thức trên sẽ trở thành:

Định giá CP áp dụng phương pháp P/E là phương pháp thông dụng và phổ biếnnhất, phù hợp với tất cả NĐT, đặc biệt rất hiệu quả đối với các NĐT cá nhân vì phươngpháp này có ưu điểm dễ tính và dễ hiểu

NĐT cần xác định liệu một CP của Cty có giá trị gấp bao nhiêu lần thu nhập hiệntại của nó, giá CP trên thị trường là đắt hay rẻ có phản ánh đúng giá trị nội tại của CP

Các nhân tố ảnh hưởng tới P/E

EPS (thu nhập trên mỗi CP): Tỉ lệ tăng trưởng EPS càng cao thì hệ số P/E có xu hướng

cao theo

Hệ số đòn bẩy tài chính: Nguồn vốn của Cty được hình thành từ vốn nợ và vốn chủ sở

hữu, nên khi một Cty có hệ số đòn bẩy tài chính cao thì P/E của Cty đó sẽ thấp hơn sovới một Cty khác tương đương trong ngành

P/E toàn thị trường: P/E toàn thị trường có ảnh hưởng rất lớn tới P/E riêng lẻ của từng

loại CP Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ tại TTCK VN khi TTCK điều chỉnh tăng haygiảm thì đa số các Cty đơn lẻ cùng tăng hoặc cùng giảm dẫn đến P/E của các Cty nàytăng giảm theo

Trang 15

P/E của các CP cùng ngành: Phần lớn CP của các Cty trong cùng một ngành thường có

xu hướng biến động cùng chiều Cách so sánh nhanh nhất để biết CP một Cty trongngành là cao hay thấp là so sánh P/E của Cty với P/E trung bình ngành

Lĩnh vực kinh doanh đa dạng: Một Cty có nhiều mảng hoạt động kinh doanh thì đồng

nghĩa với việc phân tán rủi ro, ổn định thu nhập và sự đa dạng này sẽ giúp làm giảm sựbiến động mạnh về thu nhập mỗi CP của Cty đó Những Cty đa dạng hoá họat độngkinh doanh thường được NĐT đánh giá cao

Lãi suất thị trường: Giá cả các loại CK chịu tác động nhiều từ yếu tố lãi suất Nếu lãi

suất thị trường cao sẽ dẫn đến giá CK và hệ số P/E thấp hơn vì giá trị hiện tại của cáckhoản thu nhập tương lai của Cty sẽ thấp hơn do phải chiết khấu ở mức lãi suất cao

Lựa chọn P/E trong định giá CP

Khi sử dụng phương pháp định giá bằng P/E ta có thể lựa chọn một trong cáccách sau:

Xác định hệ số P/E theo công thức:

Với: Re- tỉ lệ chiết khấu; g- tốc độ tăng trưởng thu nhập; b- tỉ lệ chia cổ tức D1:

Cổ tức tại năm dự đoán.

Sau đó nhân hệ số P/E này với thu nhập dự kiến của Cty để đạt được mức giá dựkiến hợp lý

Xác định hệ số P/E bình quân của nhóm Cty tương đương trong ngành về kỹ thuật,

mạng lưới khách hàng, quy mô, cơ cấu vốn và nhân hệ số này với thu nhập dự kiến củaCty để có mức giá hợp lý

Xác định hệ số P/E trung bình các Cty tương đương cùng ngành các nước trong khu

vực và nhân hệ số này với thu nhập dự kiến để có mức giá hợp lý

Xem xét CP có ý định đầu tư đắt hay rẻ không chỉ đơn thuần dựa vào hệ số P/E

mà cần phải kết hợp nhiều yếu tố và phương pháp khác để có kết quả chính xác hơn.Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể sử dụng hệ số P/E như mộtphương pháp tham khảo để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý

chỉnh

Quan điểm chung của phương pháp này cho rằng, một công ty có giá trị khôngkém hơn tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng của nó trừ đi các khoản nợ của nó.Tài sản riêng ở đây được hiểu bao gồm cả những giá trị lợi thế của công ty Giá cồ phầncủa công ty có thể được tính theo phương pháp tổng quát sau:

Giá cổ phần = (Giá trị tài sản ròng + Giá trị lợi thế)/Tổng số cổ phần định phát hành

Trang 16

Phương pháp này thường được sử dụng để tính toán giá tham chiếu và so sánh.

ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng phổ biến cho các Doanh nghiệp Nhà nướcthực hiện cổ phần hóa Tuy nhiên, giá trị tài sản ròng của công ty dù được định giáchính xác đến đâu cũng chỉ thể hiện giá trị thanh lý của công ty, trong khi đó đối vớingười đầu tư mua cổ phần thì tương lai của công ty mới là điều đáng quan tâm hơn cả.Trong các Doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam có nhiều loại tài sản mà chúng

ta không xác định được giá do không có thị trường cho các loại tài sản này Nhưng cómột loại tài sản mà ai cũng thấy rõ là đang góp phần khiến cho các Doanh nghiệp Nhànước cổ phần hóa được định giá thấp là giá trị quyền sử dụng đất

Quan sát cho thấy, việc quyền sử dụng đất trong các Doanh nghiệp Nhà nước cổphần hóa được định giá thấp hơn giá cả trên thị trường nhà đất từ 4 đến 5 lần khôngphải là hiện tượng cá biệt Hơn thế nữa, trong nhiều Doanh nghiệp, quyền sử dụng đất

là một tài sản có giá trị cao nhất, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công

ty

Chúng ta sẽ dựa trên một số số liệu về cổ phần hoá, tính những thiếu hụt trongquá trình định giá của các Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần bằng cách nhân tổng giá trịtài sản ròng của công ty lên 2 lần Tuy nhiên, theo những tính toán nêu trên thì giá cổphần vẫn chưa thể hiện được hoàn toàn về các giá trị thực của công ty mà nó phảnánh Để có thể hiểu được một cách rõ nét và toàn diện hơn, chúng ta cần phải đi sâuvào phân tích những yếu tố phi định lượng khác nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đếnnhững kết quả tính toán nêu trên

Mô hình này áp dụng cho cổ phiếu đang trong giai đoạn ổn định với tốc độ tăngtrưởng cổ tức không đổi và bền vững Thay vì tính giá trị hiện tại của từng dòng cổ tức

và cộng lại, Giáo sư Myrin Gordon đã phát triển công thức tính giá trị nội tại hết sứcđơn giản như sau:

Giá trị nội tại của cổ tức = Cổ tức kỳ vọng năm tới / (Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng - Tỷ

lệ tăng trưởng của cổ tức)

Khi dự đoán tỷ lệ tăng trưởng, chúng ta phải lưu ý rằng, không chỉ một mình cổtức tăng trưởng với tốc độ đó, mà các chỉ số tài chính quan trọng khác, nhất là lợinhuận cũng phải tăng trưởng với cùng tốc độ Khi đó tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức sẽđược lợi nhuận và các chỉ số khác hỗ trợ, và vì thế được duy trì bền vững Ngoài rachúng ta phải lưu ý rằng tỷ lệ tăng trưởng bền vững này chỉ có thể nhỏ hơn hay caonhất là bằng tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế Không có doanh nghiệp nào có thể tăngtrưởng mãi với tốc độ cao hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của nền kinh tế

Mô hình này áp dụng cho cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cao trong một số năm,sau đó trở về tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững

Trang 17

Giá trị nội tại của cổ phiếu = giá trị hiện tại của cổ tức trong thời gian tăng trưởng nóng (giai đoạn 1) + giá trị hiện tại của cổ tức trong thời gian tăng trưởng

so với lợi nhuận Mô hình này cũng định giá thấp giá trị của các công ty có nhiều tài sảnkhông hoạt động - nghĩa là tài sản không đóng góp vào việc tạo ra cổ tức

V Các nhân tố ảnh hưởng tới định giá cổ phần

1 Lạm phát

Hiện nay Việt Nam đang phải chịu đồng thời bốn dạng lạm phát: lạm phát do tiền

tệ, tức là một lượng cung tiền lớn đã được đưa vào lưu thông; lạm phát do cầu kéo,trong khi nguồn cung hàng hóa giảm sút; lạm phát do chi phí đẩy, tức các chi phí đầuvào tăng giá và cuối cùng là lạm phát “ngoại nhập”, do giá các sản phẩm trên thị trườngthế giới tăng ảnh hưởng đến giá sản phẩm trong nước Ngoài bốn nguyên nhân trên,còn có một nhân tố khác góp phần tăng áp lực lên lạm phát, đó là đầu cơ, cố tình làmgiá để thu lợi

Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán chưa hẳn là thước đo sức khỏe của nền kinh

tế bởi vì trên thị trường chứng khoán có nhiều ngành mà các doanh nghiệp niêm yếtchưa phải là doanh nghiệp đầu ngành để có thể đại diện cho ngành đó như ngân hàng,viễn thông Nhiều ngành mũi nhọn trong nền kinh tế vẫn còn do Nhà nước nắm giữ,

số lượng người dân tham gia thị trường chứng khoán vẫn còn ít Tuy nhiên với bối cảnhtoàn cầu hóa hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn có sự tương quan khá rõnét với sự phát triển kinh tế, xã hội Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của nềnkinh tế cũng ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán

Những nguyên nhân gây ra lạm phát cũng tương quan với những nguyên nhângây suy giảm thị trường chứng khoán Với nguyên nhân thứ nhất, việc cung tiền ra lưuthông lớn gây ra lạm phát, trong đó có một lượng lớn tiền được đưa vào thị trườngchứng khoán Do đó khi lượng cung tiền bị “siết” lại (bắt đầu từ Chỉ thị 03 của Ngânhàng Nhà nước) thì TTCK cũng bắt đầu giảm nhiệt

Với nguyên nhân thứ hai, việc cung hàng hóa giảm sút sẽ làm các mặt hàng trởnên khan hiếm và đương nhiên giá cả sẽ tăng vọt Điều này khiến nhiều nhà đầu tư(NĐT) phải cân đối lại nguồn tiền để đầu tư và để đảm bảo nhu cầu cuộc sống Chưa kểviệc giá cả tăng cao làm lượng cung tiền ra lưu thông tăng theo để bù lại phần chênhlệch do giá tăng khiến lạm phát có lý do để tiếp tục tăng

Trang 18

Việc lạm phát do các chi phí đầu vào, nguyên nhiên vật liệu tăng là yếu tố kháchquan, kéo theo vốn đầu tư của nhiều dự án tăng Đây chỉ là yếu tố bề nổi; còn có yếu tốlạm phát “ngầm” do đầu tư kém hiệu quả Điều này đồng thời làm xói mòn niềm tincủa NĐT vào các doanh nghiệp thực hiện dự án và cả các cơ quan quản lý Khi đó cácNĐT sẽ có xu hướng tháo chạy ra khỏi thị trường để bảo toàn đồng vốn của mình, gópphần đẩy thị trường chứng khoán “lao dốc”.

Trong thời đại toàn cầu hóa, yếu tố ngoại nhập đóng vai trò rất lớn, ảnh hưởngđến nền kinh tế Việc giá cả trên thế giới tăng cao ảnh hưởng đến những mặt hàng cónguyên nhiên vật liệu phải nhập khẩu Thậm chí có những mặt hàng Việt Nam đã sảnxuất đủ nhưng biện pháp quản lý không tốt cũng dễ bị đầu cơ đẩy giá lên để trục lợinhư trường hợp giá gạo vừa qua Điều này cũng làm các NĐT mất niềm tin Các doanhnghiệp khi đó phải tăng chi phí quản lý, chi phí sản xuất kinh doanh, với các doanhnghiệp quản lý kém sẽ dẫn đến thua lỗ thậm chí phá sản Các NĐT lúc đó sẽ thu hồi vốn

về đề phòng những rủi ro có thể gặp phải từ các doanh nghiệp này

Như vậy việc lạm phát tăng cao cũng là lý do khiến thị trường chứng khoán suygiảm Việc lạm phát tăng cao, không được khống chế sẽ làm cho NĐT mất niềm tin và

họ sẽ không dám đầu tư trên thị trường chứng khoán do sợ rủi ro

Hậu quả là nhiều chính sách của Nhà nước sẽ không thực hiện được như quátrình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ chậm lại, một số chính sách mới sẽ khóđược thực thi như việc đánh thuế thu nhập chứng khoán đồng thời các doanh nghiệpcũng khó huy động thêm vốn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh do thị trườngchứng khoán mất đi tính thanh khoản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh

tế Còn thị trường chứng khoán sẽ mất đi ý nghĩa của nó là một kênh huy động vốn củacác tổ chức kinh tế và của cả Nhà nước Chưa kể những hậu quả khác như mất niềm tincủa NĐT, kể cả NĐT nước ngoài do thấy Việt Nam không còn là môi trường đầu tư hấpdẫn

Đầu tư trong bối cảnh lạm phát, nên hay không nên?

Đây là một câu hỏi khó cho nhiều NĐT trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên với sựphân tích và quan sát tốt vẫn có câu trả lời thỏa đáng thị trường chứng khoán suygiảm trong bối cảnh lạm phát cao nhưng những ngành sản xuất kinh doanh các mặthàng thiết yếu cho nhu cầu cuộc sống lại tăng trưởng mạnh bất kể thị trường chứngkhoán liên tục suy giảm Cổ phiếu các ngành như lương thực thực phẩm, nguyên vậtliệu, hàng tiêu dùng thiết yếu là nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ sauTết đến nay, đặc biệt các doanh nghiệp đầu ngành là tăng trưởng mạnh nhất

Ngoài ra, thông tin cho thấy thị trường tài chính Mỹ đã qua được giai đoạn khókhăn nhất, nhiều khả năng phục hồi sớm hơn dự kiến Một trong những chỉ số quantrọng của thị trường chứng khoán Mỹ là Dow Jones cũng đã phục hồi vượt qua mức13.000 điểm sau một thời gian dài ở trong ngưỡng 12.000 điểm Đây sẽ là những thôngtin hỗ trợ cho việc khống chế lạm phát tại Việt Nam và cũng chính là động lực cho cácNĐT quay trở lại thị trường tài chính (trong đó có thị trường chứng khoán) nhất là vớinhững NĐT dài hạn

Trang 19

Mà định giá cổ phần lại là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với thị trườngtài chính nên lạm phát có ảnh hưởng lớn đến định giá cổ phần.

2 Lãi suất

Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu: đây là mối quan hệ không trực tiếp vàkhông hoàn toàn diễn ra theo một chiều Lý do ở chỗ, dòng tiền thu nhập của cổ phiếukhông cố định như của trái phiếu, mà chúng có thể thay đổi cùng với lãi suất và mứcthay đổi này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn thay đổi của lãi suất

Lãi suất tăng - giá cổ phiếu ổn định hoặc tăng: xảy ra khi giá hàng hóa bán ra của các

công ty có thể tăng, dẫn đến thu nhập của công ty tăng lên cùng với lạm phát do chi phíđầu vào tăng Do vậy, giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì lãi suấtchiết khấu tăng và dòng thu nhập tăng bù đắp được cho nhau

Lãi suất tăng - giá cổ phiếu giảm: xảy ra khi các dòng thu nhập tương lai của công ty

tăng không nhiều hoặc thậm chí giảm, vì trước đó công ty phải huy động vốn với lãisuất cao, đến khi hàng hóa được sản xuất và bán ra thì lại gặp phải sự cạnh tranh gaygắt, trong khi sức mua lại có hạn, thu nhập của công ty giảm sút, công ty không có khảnăng tăng giá hàng hóa để bù lại mức lạm phát Khi lãi suất giảm thì cũng có thể xảy racác khả năng tương tự

Nhiều nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường làquan hệ ngược chiều, nhất là trong giai đoạn ngắn hạn, nhưng điều này không phải lúcnào cũng đúng

Nếu chỉ xét trong mối tương quan giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu thì trênthực tế, thông thường quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngượcchiều Điều này có thể lý giải như sau: khi dự đoán lãi suất thị trường tăng, tức là giátrái phiếu sẽ giảm, thì người đầu tư có xu hướng chuyển từ cổ phiếu sang mua tráiphiếu và làm cho giá cổ phiếu giảm

3 Tác động của chính phủ

Giá cổ phiếu trong thời gian qua đã chịu tác động của rất nhiều nhân tố, cả nhân

tố vĩ mô lẫn những nhân tố vi mô Việc nghiên cứu những nhân tố tác động tới giá cổphiếu trên thị trường chứng khoán là hết sức quan trọng, nó cho chúng ta có những cáinhìn chính xác nhất về những biến động về giá cổ phiếu trong thời gian qua, đồng thời

có được căn cứ chính xác dự báo về giá cổ phiếu trong thời gian tới

Chính sách tài khóa:

Kiểm soát lạm phát, hạn chế thâm hụt ngân sách, hạn chế nhập siêu và ổn địnhgiá trị đồng tiền là những ưu tiên mà thị trường đòi hỏi Thiếu vắng niềm tin ở tươnglai kinh tế vĩ mô, triển vọng phát triển ngành hay doanh nghiệp thì không những nhàđầu tư tổ chức mà nhà đầu tư cá nhân cũng không xác định đầu tư dài hạn vào thịtrường chứng khoán Khi không xác định được tương lai thì trào lưu đầu tư ngắn hạntheo kiểu lướt sóng là không tránh khỏi Chính sách tài khóa có mối quan hệ nhân quả

Trang 20

với lạm phát Nếu thâm hụt ngân sách quá mức có thể dẫn đến lạm phát cao Đặc biệt,nếu bù đắp thâm hụt ngân sách bằng việc phát hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát.Khi nền kinh tế tăng trưởng nóng thì chính sách tài khoá thắt chặt có thể làmgiảm tổng cầu và từ đó làm giảm tốc độ tăng giá giảm lạm phát, ngược lại, khi chínhsách tài khóa mở rộng có thể làm tăng lạm phát Chính sách tài khoá tác động đến lạmphát khi Chính phủ buộc phải in tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách Từ đó sẽ tácđộng đến việc định giá cổ phiếu của các doanh nghiệp

Nếu Chính phủ tung ra chính sách tài khóa lớn có thể làm tăng lãi suất thị trườngtài chính và với một thị trường năng động, lãi suất sẽ phản ứng ngay lập tức, hoặc dotăng nhu cầu vốn, hoặc qua kỳ vọng về sự mất giá trên thị trường tài chính

Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽkhông bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bị hạthấp khiến giá cổ phiếu giảm Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu

sẽ tăng giá và ngược lại

Ngoài tác động đến hệ số định giá đối với cổ phiếu, lạm phát còn là một yếu tố kỹthuật quan trọng Kết quả nghiên cứu thực chứng cho thấy mức độ lạm phát có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch với hệ số định giá cổ phiếu Tình trạng giảm phát trong nền kinh tếnhìn chung ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu

Chính sách tiền tệ:

Thị trường chứng khoán chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất ổncủa nền kinh tế vĩ mô, đồng thời nó cũng chịu những tác động trực tiếp của chính sáchtiền tệ thắt chặt Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán gặp khó khăn do thịtrường giảm sút, giá cổ phiếu xuống dưới mệnh giá, mặt bằng lãi suất cao

Lãi suất, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay đổi.Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi suất và chúng takhông thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có làm tăng hay bù đắpcho mức biến động về lãi suất hay không

Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vìcông ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí Trong trường hợp này,giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận

đã được đền bù một phiếu hay toàn bộ bởi phiếu tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập

và cổ tức Mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếu là một vấn đề đòi hỏiphải có kinh nghiệm và ảnh hưởng của chúng thay đổi theo từng thời kỳ Do vậy, mặc

dù mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và thu nhập từ cổ phiếu là tiêu cực, nhưng điềunày không phải lúc nào cũng đúng Hơn nữa, ngay cả khi điều này là đúng trên toàn bộthị trường, thì vẫn tồn tại một số ngành nhất định có thể có thu nhập và cổ tức tạo ảnhhưởng tích cực từ những biến động về lạm phát và lãi suất Trong trường hợp này, giá

cổ phiếu có mối quan hệ tốt với lạm phát và lãi suất

Trang 21

Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với doang nhiệp Chi phí này được chuyểncho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà doanh nghiệp dùng để thanh toán cổtức Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đốivới nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ởbất cứ nơi nào có lãi suất cao Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọngphát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn

là liều lĩnh dùng số tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽdẫn đến giá cổ phiếu giảm Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vìchi phí vay giảm và giá cổ phiếu thường tăng lên

Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phảnứng tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xuhướng chủ đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động củathị trường chúng khoán Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảmkhiến giá cổ phiếu tăng cao hơn Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá cổ phiếu

sẽ giảm Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng,đầu tư vào thị trường chứng khoán thường mang lại nhiều lãi Bởi vì trong trường hợpnày, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng

Thuế:

Thuế cũng có những tác động nhất định đối với việc định giá cổ phiếu Nếu khoảnthuế đánh vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu

tư giảm xuống, từ đó làm cho giá chứng khoán giảm

Chính phủ cần có những giải pháp về thuế để hỗ trợ cho hoạt động của thịtrường chứng khoán Khi doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền hoặc cổ phiếu thì đều

có tác động đến giá cổ phiếu giảm Thuế đánh trên cổ tức nhận được bằng tiền mặt sẽnặng hơn thuế đánh trên chênh lệch do chuyển nhượng vốn, là kết quả của sự chênhlệch do lợi nhuận giữ lại làm gia tăng giá trị thật của cổ phiếu so với giá trị trước đây Với quy định của luật thuế thu nhập cá nhân không tính thuế thu nhập đối vớikhoản thu nhập giữ lại, sẽ là cơ hội cho các công ty cổ phần sử dụng khoản thu nhậpsau thuế để tái đầu tư, giảm chi phí sử dụng vốn, gia tăng giá trị công ty và đem lại lợiích cho cổ đông qua trì hoãn được khoản thuế thu nhập cá nhân phải nộp

Việc qui định tính thuế TNCN đối với cổ tức nhận bằng cổ phiếu, trên cơ sở quiđổi theo giá thị trường tại thời điểm nhận cổ phiếu để xác định thu nhập tính thuế, làmột vấn đề cần được xem xét Với quy định này của Luật Thuế Thu nhập cá nhân chưathật sự khuyến khích các công ty cổ phần sử dụng nguồn thu nhập giữ lại để đầu tưthông qua hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Việc áp dụng thuế suất thấp (5%) đốivới thu nhập là cổ tức bằng tiền mặt nhưng lại tính thuế trên cổ tức được chia bằng cổphiếu theo giá thị trường tại thời điểm chi trả, khi mà khoản thu nhập này cổ đôngchưa thật sự nắm giữ trên tay không thể hiện định hướng khuyến khích các công ty cổphần sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư

Ngày đăng: 22/01/2016, 19:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Ngành nghề kinh doanh - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 1 Ngành nghề kinh doanh (Trang 24)
Bảng 2: Giá trị sản phẩm dịch vụ qua các năm  Đơn vị: Triệu đồng, % - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 2 Giá trị sản phẩm dịch vụ qua các năm Đơn vị: Triệu đồng, % (Trang 25)
Bảng 3: Tổng hợp các khoản chi phí  Đơn vị: triệu đồng,% - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 3 Tổng hợp các khoản chi phí Đơn vị: triệu đồng,% (Trang 26)
Bảng 9 Đvt: triệu - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 9 Đvt: triệu (Trang 32)
Bảng 11 Đvt: triệu - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 11 Đvt: triệu (Trang 33)
Bảng 13 Đơn vị tính: đồng - ĐỊNH GIÁ CỔ PHẦN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY ĐIỆN THÁC MƠ
Bảng 13 Đơn vị tính: đồng (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w