CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1.Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp “Phân tích tài là một công cụ của quản lý, trên cơ sở sử dụn
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP 1.1.Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
“Phân tích tài là một công cụ của quản lý, trên cơ sở sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích phù hợp thông qua các phương pháp phân tích nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian hoạt động nhất định Trên cở sở
đó, giúp cho các nhà quản trị doan nghiệp và các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định nhằm tăng cường quản lý tài chính và đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.” [1,tr.203]
Phân tích tài chính là cơ sở quan trọng trong việc đánh giá một doanh nghiệp từ
đó ra quyết định đầu tư, nó cho biết thực trạng hoạt động, khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại đồng thời dự báo tương lai Do vậy nó cần được dành
sự đầu tư thích đáng trong quá trình phân tích doanh nghiệp
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồm tiêu chí:
- An toàn tài chính (khả năng thanh toán và khả năng quản lý nợ)
- Hiệu quả tài chính (hệ số sinh lợi và tình hình quản lý kinh doanh)
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính
Phân tích tài chính giúp các quyết định của người quan tâm sẽ chính xác hơn nếu
họ nắm bắt được cơ chế hoạt động tài chính thông qua việc sử dụng thông tin của phân tích tài chính Mặc dù việc sử dụng thông tin tài chính của một nhóm người trên những góc độ khác nhau, song phân tích tình hình tài chính cũng nhằm thoả mãn một cách duy nhất cho các đối tượng quan tâm, cụ thể là:
Đối với bản thân doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối quan
tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh đó, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như tạo công ăn, việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường…Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản của kinh doanh là có lãi
và trả được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cục sẽ bị cạn kiệt nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động và đóng cửa Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị
và chủ doanh nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp để thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi và dự đoán tình hình tài chính, những rủi ro trong tài chính nhằm đề ra những quyết định đúng đắn
Trang 2Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan tâm của họ
chủ yếu hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ
sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với các nhà cung cấp: Doanh nghiệp là khách hàng của họ nên họ cần biết
khả năng thanh toán các món nợ của doanh nghiệp có đúng hạn và đầy đủ hay không
Từ đó đặt ra vấn đề quan hệ hợp tác với doanh ngiệp trong lâu dài, cho phép doanh nghiệp mua chịu hàng, thanh toán chậm hay từ chối quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tƣ: Phân tích tình hình tài chính giúp cho họ thấy được khả
năng sinh lợi, mức độ rủi ro hiện tại cũng như trong tương lai của doanh nghiệp để quyết định xem có nên đầu tư hay không Cụ thể hơn, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời họ cũng quan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều
đó đảm bảo tính an toàn và tính hiệu quả cao cho các nhà đầu tư
Các nhóm khác: Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý,
các nhà đầu tư, chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm khác cũng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, các nhà phân tích tài chính, người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp bởi nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng trong hiện tại và tương lai của họ Ví dụ như đối với công nhân viên trong doanh nghiệp, nhóm người này cũng muốn biết về thu nhập của mình có ổn định hay không Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách,
Trang 33
chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình
thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
1.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Thông tin kế toán
1.2.1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng thể, là bảng tổng hợp - cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn hiện có của đơn vị ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của một kỳ báo cáo Thực chất bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản
và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp cuối kỳ hạch toán Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn, và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán ta có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: bên trái là phần tài sản, bên phải là phần nguồn vốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới là phần nguồn vốn
Tài sản = Nguồn vốn hay Tài sản = VCSH+ Nợ phải trả
Phần tài sản: Bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Về mặt pháp lý,
phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn VCSH, phản ánh các
nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn (Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản
nợ (với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước ) Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ
lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 41.2.1.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm :
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến
các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài Thông tin về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác, sẽ giúp người sử dụng dự đoán được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh gồm: Tiền thu được từ việc bán hàng, cung cấp dịch vụ; Tiền thu được từ doanh thu khác; Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hoá và dịch vụ; Tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng,
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc
mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền Các luồng tiền đến từ hoạt động đầu tư như
Trang 55
tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác, tiền thu lãi cho vay,
cổ tức và lợi nhuận nhận được, thu từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các khoản tài sản dài hạn khác,…
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc
thay đổi về quy mô và kết cấu của VCSH và vốn vay của doanh nghiệp Các luồng tiền
từ hoạt động tài chính như:
- Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu;
- Tiền thu từ các khoản đi vay ngắn hạn, dài hạn;
- Tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay…
1.2.1.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng
- Các chính sách kế toán áp dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ Thông qua thuyết minh BCTC, nhiều nhà đầu tư đã có thể tìm hiểu sâu hơn về các khoản đầu tư tài chính (ngắn hạn và dài hạn), tình trạng hàng tồn kho… của công
ty Bởi nếu chỉ nhìn vào bảng cân đối kế toán, có thể chúng ta hoàn toàn không biết hoặc hiểu sai lệch về các thông tin này Từ đó, các nhà đầu tư có thể đưa ra được quyết định đầu tư chính xác nhất
1.2.2 Thông tin ngoài kế toán
Phân tích tài chính nhằm phục vụ cho những dự đoán tài chính, dự đoán kết quả tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra được những quyết định phù hợp Như vậy, không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những bản báo cáo tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, như
Trang 6các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá, các thông tin về ngành kinh tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, về kinh tế đối với doanh nghiệp Cụ thể là:
Các thông tin chung: Thông tin chung là những thông tin về tình hình kinh tế,
chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin về các cuộc thăm
dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ
Các thông tin theo ngành kinh tế: Thông tin theo ngành kinh tế là những thông
tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm của ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển
Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Thông tin về bản thân doanh nghiệp
là những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ
Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, khi phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích còn kết hợp sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau như: Báo cáo quản trị, báo cáo chi tiết, các tài liệu kế toán, tài liệu thống kê, bảng công khai một số chỉ tiêu tài chính Đây là những nguồn dữ liệu quan trọng giúp cho các nhà phân tích xem xét, đánh giá được các mặt khác nhau trong hoạt động tài chính một cách đầy đủ, chính xác
1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu chi tiết và chỉ tiêu tổng quát nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về lý thuyết có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp Dupont, phương pháp chi tiết…
Trang 77
1.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu tài chính Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh của chỉ tiêu phân tích cùng như kỹ thuật so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh Khi phân tích tài chính, nhà phân tích thường sử dụng các gốc sau:
Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trước để đánh giá và dự báo xu hướng của các chỉ tiêu tài chính Thông thường, số liệu phân tích được tổ chức từ 3 đến 5 năm liền kề
Sử dụng số liệu trung bình ngành để đánh giá sự tiến bộ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của ngành Số liệu trung bình ngành thường được các tổ chức dịch vụ tài chính, các ngân hàng, cơ quan thống kê cung cấp theo nhóm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trường hợp không
có số liệu trung bình ngành, nhà phân tích có thể sử dụng số liệu của một doanh nghiệp điển hình trong cùng ngành để làm căn cứ phân tích
Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt các mục tiêu tài chính trong năm Thông thường, các nhà quản trị doanh nghiệp chọn gốc so sánh này để xây dựng chiến lược họat động cho tổ chức của mình
Điều kiện so sánh yêu cầu các chỉ tiêu phân tích phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, có cùng phương pháp tính toán và có đơn vị đo lường như nhau và phải tuân thủ theo chuẩn mực kế toán hiện hành
Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3 hình thức:
- So sánh theo chiều ngang: So sánh theo chiều ngang là phương pháp so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính Phương pháp này phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tài chính Qua đó, xác định được mức biến động tăng hoặc giảm về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ phân tích Ví dụ: khoản mục A của kỳ này tăng lên bao nhiêu phần trăm so với kỳ trước
- So sánh theo chiều dọc: Phương pháp so sánh theo chiều dọc là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất đây là việc phân tích sự
Trang 8biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
VD: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản
- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu Cuối cùng là phương pháp so sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu, phương pháp này được thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kì để phản ánh rõ hơn xu hướng thay đổi của tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên
ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như tỷ lệ về khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn, khả năng hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời,…
Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích Chúng ta sẽ sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp liên
hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất
1.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích số và thương số với kết quả kinh tế Khi sử dụng phương pháp này cần thực hiện theo trình tự sau:
Đầu tiên, cần phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu đó
Thứ hai, cần phải sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một tình tự nhất định nhân tố
số lượng xếp trước, chất lượng xếp sau Trong trường hớp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trật tự này
Trang 99
Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo trật tự nói trên Nhân tố nào được thay thế thì nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố nào chưa được thay thế thì phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân tố phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế
Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
1.3.4 Phương pháp Dupont
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định
Để thực hiện phương pháp Dupont cần phải thu thập số liệu kinh doanh để tính toán và cuối cùng đưa ra kết luận Nếu kết luận xem xét không chân thực thì cần kiểm tra số liệu và tính toán lại
Phương pháp Dupont là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên và có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng Mặc dù vậy, Dupont cũng có rất nhiều hạn chế như dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy, số liệu không bao gồm chi phí vốn, mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào
Phân tích tài chính dựa trên mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn với việc quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị không những có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc toàn diện mà còn có thể đánh giá đầy đủ, khách quan những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó có thể đưa ra được những biện pháp điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
1.4 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Thu thập thông tin: Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin
có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất
Trang 10kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch
Nó bao gồm với những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị…Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Xử lí thông tin: Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý
thông tin đó thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, các phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đó đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân, các kết quả đó đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Dự đoán và đƣa ra quyết định: Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị
những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định tài chính Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm dưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp, tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận Đối với người cho vay và đầu tư vào xí nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư, đối với nhà quản lý thì đưa ra các quyết định về quản lý doanh nghiệp
1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.5.1 Phân tích vĩ mô và phân tích ngành
Trong thời kỳ đất nước chuyển sang giai đoạn cơ chế thị trường cùng với sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định rõ được phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong đầu tư, đề ra các giải pháp quản lý và
sử dụng các nguồn lực vốn có một cách hiệu quả Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến doanh nghiệp của mình
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp gồm có: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Môi trường vĩ mô bao gồm những yếu tố có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp như các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên, kỹ thuật Môi trường vi mô bao gồm những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp như nhà cung ứng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh Phân tích môi trường kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận biết được mình đang phải đối mặt với những vấn
đề gì để từ đó có thể xác định được chiến lược kinh doanh phù hợp
Trang 1111
1.5.1.1 Môi trường vĩ mô
Yếu tố chính trị và luật pháp: tác động mạnh đến việc hình thành và khai thác
cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác
Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận,buôn lậu… Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp
Yếu tố kinh tế: có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc thâm nhập mở rộng thị
trường sản phẩm này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả sản phẩm khác Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm :
- Hoạt động ngoại thương: xu hướng đóng mở của nền kinh tế có ảnh hưởng các
cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế quốc gia về công nghệ, nguồn vốn…
- Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư…
- Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Yếu tố kỹ thuật công nghệ: là yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp Việc áp dụng những thành tựu KHCN đem lại những kết quả đáng kể trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều mẫu
mã đẹp, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái
Yếu tố môi trường tự nhiên: Các yếu tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tự nhiên,
tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, khí hậu, thời tiết,…là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hoá của doanh nghiệp
Trang 12Yếu tố xã hội: Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu dùng Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ qua đó lựa chọn các phương thức kinh doanh phù hợp Thu nhập có ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm và chất lượng đáp ứng, nghề nghiệp tầng lớp xã hội tác động đến quan điểm và cách thức ứng xử trên thị trường, các yếu tố về dân tộc, nền văn hoá phản ánh quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm…
1.5.1.2 Môi trường vi mô
Yếu tố khách hàng: khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng thanh
toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi, giới tính mức thu nhập, tập quán…
Đối thủ cạnh tranh: bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm của
doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế Đối thủ canh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới có khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường, cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn, nâng cao tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi
Nhà cung ứng: đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước
mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không nhỏ, điều đó thể hiện trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá cả, thời gian…
1.5.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính
1.5.2.1 Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản: Phần tài sản thể hiện toàn bộ giá
trị hiện có của doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thức và trong tất cả các giai đoạn kinh doanh Các chỉ tiêu phản ánh trong phần này được sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản trong quá trình sản xuất, được chia làm 2 loại:
Trang 1313
- Theo dõi sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu kỳ cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối của tổng tài sản cũng như chi tiết đối với từng loại tài sản Qua đó thấy được sự biến động về quy
mô, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Khi xem xét vấn đề này cần chú ý đến tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh:
+ Sự chuyển biến của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến thanh khoản tới các khoản nợ đến hạn;
+ Sự biến động lớn của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng bởi quá tình SXKD từ khâu dự trữ đến bán hàng;
+ Sự biến động của TSCĐ cho thấy quy mô và năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn: Nguồn vốn phản ánh nguồn
hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Việc phân tích
cơ cấu nguồn vốn giúp doanh nghiệp nắm được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ tự chủ, chủ động trong sản xuất kinh doanh hoặc những khó khăn mà doanh nghiệp sẽ gặp phải trong quá trình khai thác nguồn vốn
Xác định khái quát mức độ phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp qua việc
so sánh từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ cả về số tuyệt đối lẫn tương đối, xác định và so sánh về tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Nếu nguồn VCSH chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng thì điều đó cho thấy khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp là cao, mức độ phụ thuộc đối với các chủ nợ thấp và ngược lại
1.5.2.2 Phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính quan trọng thứ hai cần phải phân tích phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả hoạt động trong một niên độ kế toán Khi phân tích báo ta cần xem xét, xác định các vấn đề cơ bản sau:
- Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ giữa kỳ này với kỳ trước dựa trên so sánh cả về số tuyệt đối và tương đối trên từng chỉ tiêu giữa kỳ này với kỳ trước Điều này có ý nghĩa quan trọng khi đi sâu xem xét những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của từng chỉ tiêu nhằm xác định tình hình hoạt động của doanh nghiệp;
- Tính toán và phân tích các chỉ tiêu phân tích phản ánh doanh thu, mức độ sử dụng các khoản chi phí, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình doanh thu: Các doanh nghiệp ngày nay đang phải đối mặt
với vấn đề làm thế nào để tăng doanh thu một cách có hiệu quả nhằm đứng vững trên
Trang 14thị trường Doanh thu thuần là doanh thu đã trừ các khoản giảm trừ, là một trong những chỉ tiêu có ý nghĩa nhất đối với tình trạng của một doanh nghiệp trong nến kinh
tế thị trường Để hiện thực hóa được vấn đề trên doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích doanh thu sẽ giúp đánh giá chính xác tình hình thực hiện doanh thu của doanh nghiệp, xem xét mục tiêu đã đề ra đã thực hiện được đến đâu Phân tích doanh thu cũng là một phần tài liệu cần thiết làm cơ sở cho việc phân tích các chỉ tiêu tài chính kinh tế từ đó giúp nhà quản
lý đưa ra quyết định và chỉ đạo kinh doanh Phân tích doanh thu bao gồm đánh giá tình hình tiêu thụ của từng loại hình sản phẩm, dịch vụ công ty kinh doanh cả về con số tuyệt đối, tương đối giữa các năm, các kỳ và với các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực nhằm có sự điều chỉnh kịp thời trong cơ cấu sản phẩm của công ty, tận dụng nguồn lực
và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm theo xu thế của thị trường Sự biến động của doanh thu đồng thời phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất, trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất… Doanh thu là nguồn vốn chủ yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, trang trải các khoản chi phí nguyên vật liệu, lương thưởng cho người lao động, đóng Bảo hiểm xã hội, nộp Thuế theo quy định…
Phân tích tình hình chi phí: Phân tích chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh
thường được các doanh nghiệp tiến hành bằng cách so sánh sự tăng giảm chi phí so với kỳ trước hoặc kỳ kế hoạch hay so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành So sánh có thể được tiến hành theo chỉ tiêu tổng chi phí, chi phí bình quân hoặc tỷ trọng phí theo từng khoản mục hoặc thành từng phần phí Để có thể nhận định được sự thay đổi chi phí luôn cần đặt chúng trong mối liên hệ với khối lượng, sản lượng hàng hóa tiêu thụ Khi so sánh, nếu thay đổi chi phí sẽ dẫn tới gia tăng mức chi phí bình quân hay tăng tỷ trọng chi phí thì cần đặt đặt ra các giả thiết, phân tích cụ thể tìm ra nguyên nhân
Phân tích tình hình lợi nhuận: Bao gồm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
lợi nhuận của từng bộ phận và doanh nghiệp và nhận dạng những nguyên nhân, xác định mức độ ảnh hưởng của từng tác nhân đến tình hình biến động lợi nhuận với mục đích đánh giá số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư… Đồng thời so sánh lợi nhuận thực hiện, lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận các kỳ trước (3 năm gần nhất) để thấy được mức độ tăng giảm của lợi nhuận từ các hoạt động Qua đó, đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp Đồng thời ta cũng cần xem xét tỷ trọng về lợi nhuận của từng loại hình kinh doanh trong tổng lợi nhuận chung của doanh nghiệp để có cái nhìn toàn vẹn hơn
Qua sự phân tích tổng quan báo cáo kết quả hoạt động SXKD trong ba năm, tính toán sự chênh lệch cả về tuyệt đối cùng tương đối với các khoản mục doanh thu bán
Trang 1515
hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần, GVHB, doanh thu tài chính, chi phí tài chính, lợi nhuận cùng các số liệu chứng minh mối quan hệ, thể hiện sự thay đổi trong
cơ cấu từ đó cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.5.2.3 Phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện sự lưu chuyển của dòng tiền, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp trong một chu kì kinh doanh Các số liệu báo cáo sẽ chỉ
rõ được doanh thu, chi phí, lợi nhuận của quá trình kinh doanh nhằm đánh giá tình hình hoạt động, tình hình sử dụng vốn, lao động cùng trình độ quản lý của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu tiền vào đầu kỳ
và còn lại bao nhiêu vào cuối kỳ, nó mô tả công ty đã thu và chi bao nhiêu tiền trong một thời gian cụ thể Việc sử dụng tiền được ghi thành số âm, nguồn tiền được ghi thành số dương Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ rất hữu ích cho việc đánh giá tài chính vì nó cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng chuyển các khoản phải thu thành tiền không, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ
Báo cáo này phản ánh ba loại hoạt động ảnh hưởng đến tiền tệ, có thể tăng hoặc giảm do: hoạt động kinh doanh, mua hoặc bán tài sản hay đầu tư, thay đổi các khoản
nợ, nhập kho hoặc các hoạt động tài chính khác Để phân tích báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, các nhà phân tích có thể tính toán và đánh giá dựa vào các tỷ số: tỷ số lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh trên VCSH và tỷ số lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần Hai tỷ số này sẽ đánh giá cụ thể về tình hình sử dụng tiền
tệ của doanh nghiệp Cụ thể hơn là phân tích khả năng tạo tiền dựa trên việc xác định
tỷ trọng tiền thu vào của từng hoạt động trong tổng dòng tiền thu vào trong kỳ thể hiện vai trò của từng hoạt động: sản xuất kinh doanh, đầu tư, tài chính trong việc tạo tiền của doanh nghiệp
Tỷ trọng dòng tiền thu
vào từng hoạt động =
Tổng tiền thu vào từng hoạt động
Tổng tiền trong kỳ
1.5.3 Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính
1.5.3.1 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đúng thời hạn mà không gặp phải bất kỳ một khó khăn nào, một doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán khi không thanh toán được các khoản nợ tới hạn Khả năng thanh toán được đo lường bằng mức độ thanh khoản, tức là mức độ dể dàng và nhanh chóng
để chuyển một tài sản thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó Thông qua các tỷ số khả năng thanh toán sẽ cho chúng ta thấy thực trạng tài chính của
Trang 16doanh nghiệp Một doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, vẫn gặp phải vấn đề về khả năng thanh toán là bình thường nếu như việc kiểm soát các khoản phải trả kém, không thu được tiền khách hàng, hàng tồn kho nhiều Tóm lại, muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì doanh nghiệp cần có khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán tốt
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: Hệ số này được dùng để đánh giá khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả của doanh nghiệp Hệ số này cho biết, bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác Hệ
số này càng cao hơn một thì được đánh giá là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cao, tuy nhiên chúng ta còn nhận thức rõ bản chất vì sao nó cao thì mới có sự đánh giá chính xác Khả năng thanh toán ngắn hạn cao có thể là quá nhiều các khoản phải thu
mà có nguy cơ không thu hồi được hay doanh nghiệp quá dể dải trong chính sách tín dụng thương mại đối với khách hàng, cũng có thể là hàng tồn kho quá nhiều, trong đó
có nhiều hàng kém phẩm chất, yếu kém trong khâu tiêu thụ, tồn kho nguyên vật liệu quá nhiều do sự yếu kém trong quản trị hàng tồn kho,…Tuy nhiên, nếu hệ số này nhỏ hơn một thì chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp kém, vì nợ ngắn hạn nhiều hơn so với tài sản ngắn hạn, muốn đảm bảo thanh toán thì doanh nghiệp phải bán tài sản dài hạn để thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán
nợ ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp
được đo lường bằng mức độ thanh khoản của các loại tài sản, tính thanh khoản của một loại tài sản là khả năng nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó Vì hàng tồn kho của doanh nghiệp ít nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, chưa nói là không tiêu thụ được, hàng ứ đọng kém phẩm chất, vì vậy tính thanh khoản của nó thấp Để đánh giá khắt khe hơn
về khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta sử dụng tỷ số thanh khoản nhanh, tỷ số này cho biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không bao gồm hàng tồn kho
Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này thông thường biến động từ 0,5 đến 1, lúc đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đánh giá là khả quan Tuy nhiên, để kết luận hệ số này tốt hay xấu
Trang 1717
thì cần phải xem xét đến bản chất và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ
số này < 0,5 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ và để trả nợ thì doanh nghiệp có thể phải bán gấp hàng hóa, tài sản để trả nợ Nhưng nếu hệ số này quá cao thì cũng không tốt bởi vì tiền mặt tại quỹ nhiều hoặc các khoản phải thu lớn sẽ ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng vốn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời: Hệ số thanh toán bằng tiền cho biết doanh
nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán tức thời cho một đồng
nợ ngắn hạn, phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn ở mức cao nhất Tỷ
lệ thanh toán bằng tiền càng lớn thì khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp càng cao; tuy nhiên, tỷ số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì khả năng doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời lớn Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0.5 Khi tỷ lệ này lớn hơn 0.5 thì khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp là khả quan và ngược lại
Hệ số thanh toán tức thời =
Vốn bằng tiền Tổng số nợ ngắn hạn
Số vòng quay của tổng tài sản =
Doanh thu thuần Tổng tài sản Thời gian quay vòng
của tổng tài sản =
365
Số vòng quay của tổng tài sản
Số vòng quay của tổng tài sản cho biết trong kỳ phân tích, tài sản của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng hay cho chúng ta biết bình quân một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này còn thể hiện hiệu suất sử dụng của tổng tài sản tài sản, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động càng nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, sản phẩm dở dang nhiều, làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong doanh nghiệp Thời gian quay vòng của tổng tài sản cho biết tài sản của doanh nghiệp mất
Trang 18bao nhiêu ngày thì quay hết một vòng Số vòng quay tổng tài sản càng cao thì thời gian quay vòng của tổng tài sản càng thấp, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt
Phân tích khả năng quản lý tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giải đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Do vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải thường xuyên phân tích, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Số vòng quay và thời gian quay vòng của tài sản ngắn hạn
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn =
Doanh thu thuần Tổng tài sản ngắn hạn Thời gian quay vòng
của tài sản ngắn hạn =
365
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn cho biết trong kỳ phân tích, tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng Nói cách khác, doanh nghiệ đầu tư 1 đồng tài sản ngắn hạn
sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn là tốt và tài sản ngắn hạn vận động nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận Thời gian quay vòng của tài sản ngắn hạn phản ánh thời gian
1 vòng quay của tài sản ngắn hạn quay trong năm, cho biết tài sản ngắn hạn bao nhiêu ngày thì quay hết 1 vòng, chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ các tài sản vận động càng nhanh, góp phần tạo doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Phân tích khả năng quản lý của hàng tồn kho
Sự hình thành hàng tồn kho là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào ngành nghề của doanh nghiệp mà mức độ tồn kho nhiều hay ít, cũng như chủng loại tồn kho là khác nhau Thông thường thì hàng tồn kho sẽ bao gồm các loại sau: nguyên vật liệu, công cụ - dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm dở dang, hàng hoá, Để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng hàng tồn kho trong việc tạo ra doanh thu thì ta cần phân tích các chỉ tiêu sau đây:
Số vòng quay hàng tồn kho và thời gian quay vòng của hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho Thời gian quay vòng
của hàng tồn kho =
365
Số vòng quay của hàng tồn kho
Trang 1919
Số vòng quay của hàng tồn kho cho biết trong kỳ phân tích, vốn đầu tư cho hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng, đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Thời gian quay vòng của hàng tồn kho cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh, góp phần gia tăng tốc độ quay vòng của tài sản ngắn hạn, giúp làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Công thức xác định:
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho =
Hàng tồn kho Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho càng cao Thông qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị kinh doanh sẽ xây dựng được kế hoạch về dự trữ, thu mua, sử dụng hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm một cách hợp lý hơn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Phân tích tốc độ luân chuyển của các khoản phải thu
Trong chu trình luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp, bắt đầu từ Tiền =>
Hàng tồn kho => Khoản phải thu => Tiền Như vậy ta thấy rằng, nếu doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hàng tồn kho trong khi hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp là chuyện bình thường Điều này muốn nói lên rằng, nếu như doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào khoản phải thu, có nhiều khoản phải thu đã quá hạn, trong khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp lớn, lớn hơn tốc độ thu tiền về thì bắt buộc doanh nghiệp phải huy động nguồn vốn khác để đầu tư vào hàng tồn kho chứ không phải tiền trong chu trình Trong trường hợp này thì rõ ràng là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thấp, biểu hiện tình hình tài chính không lành mạnh, khả năng thanh toán chắc chắn sẽ khó khăn Như vậy, hiệu quả sử dụng các khoản phải thu là góp phần cho hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản phải thu thì ta sử dụng các tỷ số như vòng quay các khoản phải thu và thời gian quay vòng của các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu thể hiện trong kỳ doanh nghiệp đã thu tiền được mấy lần từ doanh thu bán chịu của mình Như vậy, thông qua số vòng quay các khoản phải thu thì ta sẽ thấy được tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp, số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì thì thời gian quay vòng của các khoản phải thu càng nhỏ, chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng cao, giảm bớt vốn bị chiếm dụng,
Trang 20đảm bảo khả năng thanh toán bằng tiền, tái đầu tư vào hoạt động SXKD, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngược lại, nếu số vòng quay khoản phải thu nhỏ thì thời gian quay vòng của các khoản phải thu càng lớn cho thấy khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp thấp hoặc tốc độ thu hồi nợ nhỏ hơn so với tốc độ tăng doanh thu bán chịu, điều này làm cho khả năng thanh toán bằng tiền thấp, có nguy cơ không thu hồi được nợ và hiệu quả sử dụng vốn thấp
Số vòng quay khoản
Doanh thu thuần Khoản phải thu Thời gian quay vòng
của các khoản phải thu =
365
Số vòng quay các khoản phải thu
Phân tích khả năng quản lý tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn của doanh nghiệp là những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của DN Tài sản dài hạn gồm nhiều loại, có vai trò và vị trí khác nhau trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng thường xuyên biến động về quy mô, kết cấu và tình trạng
kĩ thuật Do vậy, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn với mục đích để các nhà quản trị có các quyết định đầu tư tài sản dài hạn hợp lý hơn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Số vòng quay và thời gian quay vòng của tài sản dài hạn
Số vòng quay của tài sản dài hạn =
Doanh thu thuần Tổng tài sản dài hạn Thời gian quay vòng
của tài sản dài hạn =
365
Số vòng quay của tài sản dài hạn
Số vòng quay của tài sản dài hạn cho biết trong kỳ phân tích, tài sản dài hạn của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng Mặt khác, chỉ tiêu này thể hiện hiệu suất sử dụng của tài sản dài hạn Nói cách khác, chỉ tiêu này chi biết doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tài sản dài hạn thì thu về bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản dài hạn hoạt động tốt, thời gian quay vòng của tài sản dài hạn sẽ ngắn hơn, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh
Số vòng quay và thời gian quay vòng của tài sản cố định
Số vòng quay của tài sản cố định =
Doanh thu thuần Giá trị tài sản cố định
Trang 2121
Thời gian quay vòng của tài sản cố định =
365
Số vòng quay của tài sản cố định
Số vòng quay của tài sản cố định cho biết TSCĐ đầu tư trong kỳ quay được bao nhiêu vòng Hay 1 đồng TSCĐ đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của TSCĐ Số vòng quay này càng cao chứng tỏ TSCĐ hoạt động tốt, thời gian quay vòng của tài sản cố định càng thấp, góp phần làm tăng số vòng quay của tài sản dài hạn, từ đó hiệu quả sử dụng tài sản càng được nâng cao
b) Các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý nợ
Hệ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số này cho biết cứ 1 đồng doanh nghiệp đầu tư cho tổng tài sản thì có bao nhiêu đồng là từ đi vay Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp.Hệ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn
Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Công thức tính như sau:
Hệ số nợ trên tài sản = Tổng nợ
Tổng tài sản
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu
Hệ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh với tỷ số bình quân toàn ngành, nếu hệ số này lớn hơn 1 đồng nghĩa với tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu từ các khoản nợ, ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp hình thành chủ yếu bởi nguồn VCSH
Trang 22Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Công thức tính như sau:
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ
Vốn chủ sở hữu
1.5.3.3 Khả năng sinh lời
Đối với doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận không phải là chỉ tiêu để chúng ta đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư - sản xuất - tiêu thụ, khả năng quản lý các mặt của doanh nghiệp Muốn đánh giá được tính hiệu quả của quá trình trên thì chúng ta cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với các yếu tố tạo ra lợi nhuận như doanh thu, vốn, Khả năng sinh lợi là kết quả của các quyết định của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, quyết định nguồn tài trợ, trình độ quản lý tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp Để đánh giá khả năng sinh lời ta căn
cứ vào các tỷ số sau:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ số này cho biết bình quân một trăm đồng doanh thu thuần thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ số này cao hay thấp là phụ thuộc vào tình hình tiêu thụ sản phẩm, giá cả của sản phẩm, chiến lược tiêu thụ của doanh nghiệp; khả năng quản lý các loại chi phí của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản cho biết bình quân một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Trang 2323
Tỷ suất sinh lời của TSNH
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản ngắn hạn
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn được
sử dụng trong kỳ đã đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời của TSDH
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản dài hạn
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn có trong
kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu Đối với chủ sở hũu thì tỷ số quan trọng nhất đối với họ là doanh lợi vốn chủ sở hữu, tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu; tỷ số này cho biết bình quân một trăm đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Mong muốn của các chủ sở hữu là làm cho tỷ số này càng cao càng tốt, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu cao hay thấp phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc sử dụng vốn
và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Trong trường hợp việc sử dụng vốn của doanh nghiệp là hiệu quả, đồng thời mức độ tài trợ bằng nợ cao thì lúc
đó doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ rất cao Ngược lại, nếu việc sử dụng vốn không hiệu quả đến mức lợi nhuận không đủ chi trả lãi vay thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong trường hợp này là gây tổn thất cho chủ sở hữu, thậm chí là mất khả năng chi trả
1.5.3.4 Các chỉ tiêu khác
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS – Earning Per Share)
EPS =
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
Số lượng cổ phiếu đang lưu thông
Trang 24Chỉ số EPS là lợi nhuận tính trên 1 cổ phiếu, phản ánh thu nhập bình quân của cổ phiếu trong kỳ EPS càng cao phản ánh năng lực kinh doanh của công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức càng cao và giá cổ phiếu cũng có xu hướng tăng cao
Cổ tức trả cho 1 cổ phiếu thường (DPS – Dividend per share)
DPS = EPS × PCS
Chỉ số DPS cho ta biết 1 cổ phiếu thường lưu hành trong kỳ sẽ được trả bao nhiêu đồng cổ tức Thông thường chỉ số này rất ổn định vì các công ty thường không muốn phải giảm cổ tức hay cổ tức không ổn định, điều đó có thể ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư trong tương lai và do đó, giá của công ty trên thị trường cũng
bị tác động xấu
Lợi nhuận giữ lại (RE – Retained earnings)
Phần trăm lợi nhuận thuần không dùng để trả cổ tức mà được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư theo các mục tiêu chiến lược hoặc để trả nợ Lợi nhuận giữ lại được
tính toán theo công thức:
RE = EPS × (1- PCS) × N Trong hầu hết các trường hợp, công ty giữ lại lợi nhuận nhằm đầu tư vào các khu vực mà công ty có thể tạo ra các cơ hội tăng trưởng tốt, thí dụ như mua máy móc thiết
bị mới hoặc chi tiền chi nhiều hơn cho việc nghiên cứu và phát triển Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một số
âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp
Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, có dạng:
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
× Doanh thu thuần Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản Hay: ROA = ROS × Số vòng quay của tổng tài sản
Thông qua phương trình này thì nhà quản lý sẽ thấy rằng ROA phụ thuộc vào hai yếu tố đó là lợi nhuận sau thuế trên một trăm đồng doanh thu và bình quân một đồng
Trang 2525
tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Thông qua phương trình này thì sẽ giúp cho nhà quản lý có cách để tăng ROA đó là: Tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có được hoặc tăng khả năng làm ra doanh thu trên tài sản của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
×
Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Hay : ROE = ROA Đòn bẩy tài chính
ROE = ROS × Số vòng quay của tài sản × Đòn bẩy tài chính
Nhìn vào quan hệ trên, ta thấy muốn nâng cao khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu có thể tác động vào 3 nhân tố: tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần (ROS), số vòng quay của tài sản và đòn bẩy tài chính
Doanh nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên
Một là, doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, nhằm nâng cao doanh
thu và đồng thời tiết giảm chi phí, mục đích là gia tăng lợi nhuận sau thuế biên (tỷ suất sinh lời của doanh thu)
Hai là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt
hơn các tài sản sẵn có của mình, nhằm nâng cao vòng quay tài sản.Hay nói một cách
dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có
Ba là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao
đòn bẩy tài chính, hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư Nếu mức lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản (ROA) của doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu tư của doanh nghiệp là hiệu quả
Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích, có thể tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số này qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào, từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của từng nhân tố, góp phần thúc đầy nhanh tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Trang 26Tỷ suất sinh lời của TSNH
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản ngắn hạn
= Số vòng quay của tài sản ngắn hạn × Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần
Nhìn vào phương trình ta thấy tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào hai yếu tố đó là số vòng quay của tài sản ngắn hạn và tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần Vì vậy, muốn nâng cao tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn thì cần có những biện pháp làm tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có được hoặc tăng khả năng làm ra doanh thu trên tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời của TSDH
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản dài hạn
= Số vòng quay của tài sản dài hạn × Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn có trong
kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này bị ảnh hưởng bởi hai yếu
tố, đó là: số vòng quay của tài sản dài hạn và tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần Vì vậy muốn tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn cao thì cần có biện pháp nâng cao hai yếu
tố ảnh hưởng này lên
1.5.5 Phân tích đòn bẩy
1.5.5.1 Phân tích đòn bẩy kinh doanh
a) Phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán ra vừa đủ bù đắp hết các chi phí hoạt động kinh doanh đã bỏ ra gồm cả chi phí cố định và chi phí biến đổi Điều này có nghĩa tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp không có lãi cũng không bị lỗ (lợi nhuận bằng không)
Trang 27Điểm hòa vốn được xác định dựa trên những giả định sau:
- Biến phí đơn vị sản phẩm cố định và tăng tỷ lệ theo theo khối lượng sản phẩm, sản xuất hoặc tiêu thụ
- Giá bán và Tổng định phí không đổi
Những giả định trên phù hợp trong trường hợp phân tích ngắn hạn hay trong điều kiện quy mô sản xuất đã được xác lập và giá không đổi Giới hạn sản lượng là công suất thiết kế tối đa, nếu sản lượng tăng vượt mức công suất tối đa thì tất cả các giả định trên không còn phù hợp nữa vì lúc này tổng định phí sẽ tăng và biến phí cũng có thể thay đổi Phân tích hòa vốn là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí cố định, cho phí biến đổi, lợi nhuận và số lượng tiêu thụ
Biều đồ Đồ thị phân tích điểm hòa vốn
Doanh thu và chi phí
Có hai cách để xác định điểm hòa vốn, đó là dựa trên chỉ tiêu sản lượng hòa vốn
và doanh thu hòa vốn
Phân tích điểm hòa vốn theo sản lƣợng:
Gọi P là đơn giá bán sản phẩm FC là tổng định phí
QBE là sản lượng hòa vốn S là tổng doanh thu
Trang 28Với Q > QBE thì sản lượng mà doanh nghiệp đạt được lớn hơn sản lượng hòa vốn Điều này chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi
Phân tích điểm hòa vốn theo doanh thu:
Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, giá bán đơn vị khác nhau thì không thể tính điểm hòa vốn theo sản lượng hòa vốn Vì vậy người ta đưa ra mô hình phân tích điểm hòa vốn theo doanh thu Doanh thu hòa vốn là
mức tiêu thụ tại sản lượng hòa vốn : S BE =
Ưu điểm của phương pháp này là dễ tính toán, tìm được điểm hòa vốn cho trường hợp sản xuất tiêu thụ nhiều sản phẩm với giá bán khác nhau và chỉ cần đến 3 chỉ số là tổng doanh thu, tổng định phí và tổng biến phí Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao
b) Độ bẩy của đòn bẩy kinh doanh
Đòn bẩy kinh doanh (còn gọi là hệ số đòn bẩy hoặc đòn cân định phí) là mức sử dụng định phí hoạt động của công ty, nhằm nỗ lực gia tăng lợi nhuận (EBIT) Chúng ta chỉ phân tích trong ngắn hạn bởi vì trong dài hạn tát cả các chi phí đều thay đổi (có nghĩa tất cả đều là biến phí) Các yếu tố cơ bản của đòn cân định phí:
- Yếu tố tác động: Doanh thu thay đổi
- Điểm tựa: Định phí
- Vật cần bẩy: EBIT DOL =
% Thay đổi lợi nhuận trước thuế
= EBIT+FC
% Thay đổi sản lượng hoặc doanh thu EBIT Đòn bẩy kinh doanh dùng đo lường sự nhạy cảm của lợi nhuận – sử dụng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Mức độ nhạy cảm tỷ lệ thuộc vào cơ cấu chi phí (tức tỷ lệ định phí hay biến phí) của doanh nghiệp
Hệ số đòn bẩy kinh doanh là hệ quả của cơ cấu chi phí Tỷ số này rất có ích cho các nhà phân tích tài chính để xem xét xem hiệu quả của từng mức độ đòn cân nợ hoạt động đối với việc tạo ra thu nhập dự kiến cho doanh nghiệp Tỷ số này có thể cũng được sử dụng để công ty quyết định xem mức độ tối ưu trong tỷ lệ đòn cân nợ là bao nhiêu nhằm tối đa hoá EBIT của doanh nghiệp
Nếu tình hình tốt thì DOL sẽ khuyếch đại EBIT Nếu tình hình xấu thì DOL sẽ khiến cho lỗ nhiều hơn Nếu công ty có đòn bẩy hoạt động kinh doanh càng lớn thì lợi
Trang 2929
nhuận đạt được sẽ càng nhạy cảm với những biến động của doanh thu Đòn bẩy hoạt động kinh doanh càng lớn thì rủi ro của công ty càng cao
1.5.5.2 Phân tích đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có định phí Dùng
để đo lường sự nhạy cảm của lợi nhuận sau thuế - tức lãi ròng cho vốn chủ sở hữu trước sự thay đổi của lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh – tức EBIT (lợi nhuận trước thuế và lãi) Độ nhạy cảm này phụ thuộc vào đòn cân nợ - tức tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Gọi tắt đòn bẩy tài chính là FL, có thể viết như sau:
DFL =
Tốc độ thay đổi của lợi nhuận ròng Tốc độ thay đổi của EBIT Lưu ý rằng, tỷ lệ nợ vay, lãi suất tiền vay, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giả sử không đổi, tốc độ thay đổi của lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế) bằng với tốc
độ thay đổi của thuế thu nhập và lợi nhuận trước thuế Để đơn giản chứng minh công thức và cũng phù hợp với chỉ tiêu trước thuế dưới mẫu số, ta có thể viết lại FL với tử
số là lợi nhuận trước thuế như sau:
Nhưng lãi vay được phép hạch toán vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập, nói cách khác lãi vay đã tạo ra một lá chắn thuế Vì vậy lãi vay trên đây được tính là lãi vay sau thuế Thể hiện bằng công thức EBIT (1-T%) = Lãi ròng + Lãi vay (1-T%) Công thức tính FL được viết lại như sau:
Hệ số đòn bẩy tài chính là hệ quả của cơ cấu tài chính Doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy tài chính càng lớn sẽ càng làm tăng sức sinh lời của vốn chủ sở hữu khi hoạt động có hiệu quả (EBIT > lãi vay hay suất sinh lời của tổng tài sản tính trên EBIT > lãi vay) Ngược lại, khi hoạt động không có hiệu quả mọi rủi ro sẽ dồn lên vai vốn chủ sở hữu (ưu tiên thanh lý của vốn chủ sở hữu sau cùng) Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng sẽ làm gia tăng lợi nhuận cho cổ đông Nếu sử dụng phù hợp, công ty có
Trang 30thể sử dụng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả cho việc huy động vốn có chi phí
cố đinh Phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ đông
1.5.5.3 Phân tích đòn bẩy tổng hợp
Đo lường sự biến động của lãi ròng – lợi nhuận cuối cùng cho các VCSH (các cổ đông) trước sự biến động của tình hình kinh doanh Sự thay đổi của lãi ròng – hay độ lớn của đòn bẩy tổng hợp phù thuộc vào độ lớn của đòn bẩy kinh doanh DOL và đòn bẩy tài chính DFL
Hoặc DTL =
% Thay đổi của EPS
% Thay đổi của doanh thu Đòn bẩy tổng hợp là việc công ty sử dụng kết hợp cả chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định Khi sử dụng kết hợp đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có tác động đến EPS khi sản lượng tiêu thụ thay đổi qua 2 bước Bước thứ nhất số lượng tiêu thụ thay đổi làm thay đổi EBIT (tác động của đòn bẩy hoạt động) Bước thứ 2, EBIT thay đổi làm EPS thay đổi khi số lượng tiêu thụ thay đổi (tác động của đòn bẩy tài chính)
1.5.6 Phân tích SWOT
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc mở cửa, giao lưu kinh tế - văn hóa với các nước là điều không thể tránh khỏi và rủi ro trên thương trường đối với các doanh nghiệp cũng không nhỏ Mô hình SWOT sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho việc kết nối các nguồn lực và khả năng của doanh nghiệp với môi trường cạnh tranh mà doanh nghiệp đó hoạt động Mô hình SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ SWOT được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ Cho phép phân tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp SWOT là vết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ):
Trang 3131
Strengths
Strengths là thế mạnh của doanh nghiệp, tổng hợp tất cả các thuộc tính, các yếu
tố bên trong làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh Hay nói cách khác đó là tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động,
sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh Thế mạnh của doanh nghiệp thường thể hiện ở lợi thế của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Như lợi thế về quy cách, mẫu mã, chí phí, thương hiệu, tính chất quản lý, phẩm chất kinh doanh, uy tín doanh nghiệp trên thị trường Strengths thường trả lời cho câu hỏi:
- Hãy đánh giá xem công ty mình làm tốt những công việc nào?
- Điều gì khiến bạn nổi bật so với các đối thủ cạnh tranh?
- Nguồn lực nào mình cần, có thể sử dụng?
- Bạn có lợi thế gì so với các doanh nghiệp khác?
Phải xem xét và trả lời các vấn đề từ trên phương diện bản thân của doanh nghiệp
và của các doanh nghiệp cùng trong ngành một cách chính xác Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao thì một quy trình sản xuất với chất lượng như vậy không phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường
Weaknesses
Weaknesses là những điểm yếu của doanh nghiệp, là tất cả những thuộc tính làm suy giảm tiềm lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và dành được thế mạnh, sự thắng lợi trên thị trường cạnh tranh, đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra Weaknesses thường trả lời cho các câu hỏi:
- Những lĩnh vực mà doanh nghiệp đang gặp khó khan là gì?
- Có thể cải thiện điều gì?
- Khách hàng phàn nàn về những điều gì?
- Cần tránh làm gì?
Phải xem xét các vấn đề trên cơ sở bên trong và bên ngoài Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật Strengths và Weaknesses của một doanh nghiệp được coi là yếu tố bên trong doanh nghiệp Mỗi yếu tố bên trong của doanh nghiệp vừa là điểm yếu vừa là điểm mạnh trong quá trình kinh doanh trên thị trường Vấn đề là doanh nghiệp đó phải
cố gắng phát huy, phát hiện, khai thác, phân tích cặn kẽ các yếu tố nội bộ để tìm ra
Trang 32những ưu điểm, hạn chế, yếu kém của mình so với đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm giảm bớt nhược điểm, phát huy thế mạnh của doanh nghiệp
để đạt được lợi thế tối đa trong cạnh tranh
- Cơ hội tốt đang ở đâu?
- Xu hướng đáng quan tâm nào đã biết? Có phù hợp với doanh nghiệp hay không ?
Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh
vự hoạt động của công ty, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang , từ các sự kiện diễn ra trong khu vực Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không Cũng có thể làm ngược lại, rà soát các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu loại bỏ được chúng
Threats
Threats là nguy cơ của doanh nghiệp, là những đe doạ nguy hiểm, bất ngờ xảy ra
sẽ gây thiệt hại, tổn thất hoặc mang lại tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thiệt hại về hàng hoá, tài sản, thu hẹp thị trường và tổn hại đến uy tín thương hiệu Threats thường trả lời cho các câu hỏi:
- Những trở ngại mà doanh nghiệp đang gặp phải?
- Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì?
- Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không?
- Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không?
- Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền?
- Liệu có yếu điểm nào đang đe doạ công ty?
Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng Opportunities và Threats là những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp Quá trình tự do thương mại là thời cơ đem lại cho các doanh nghiệp được tự
Trang 3333
do kinh doanh, ít gặp rào cản thương mại, tự do mở rộng thị trường mua bán sản phẩm của mình nhưng cũng đặt doanh nghiệp trước những thách thức như cạnh tranh trên thị trường sẽ gay gắt hơn cả về mức độ và phạm vi, chỉ doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt thì tồn tại, doanh nghiệp cạnh tranh kém thì dẫn đến thua lỗ, phá sản
Ý nghĩa của SWOT: Phân tích SWOT không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong việc hình thành chiến lược kinh doanh nội địa mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành chiến lược kinh doanh quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Một khi doanh nghiệp muốn phát triển, từng bước tạo lập uy tín, thương hiệu cho mình một cách chắc chắn và bền vững thì phân tích SWOT là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
1.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.6.1.Những yếu tố bên trong
Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của doanh nghiệp, bao gồm:
- Yếu tố con người: Con người là yếu tố vô cùng quan trọng, đó là các cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và
là người chịu trách nhiệm mọi vấn đề tài chính của doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng
- Yếu tố về công nghệ sản xuất: Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào máy móc, thiết bị công nghệ là rất cần thiết Khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc, thiết bị thì doanh nghiệp phải khấu hao trong nhiều năm Do đó, nếu doanh nghiệp nhận thấy có sự sụt giảm của các khoản khấu hao thì doanh nghiệp cần phải phân tích lý do vì sao có sự sụt giảm đó, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hay
do doanh nghiệp không có dự án đầu tư mới, dẫn đến nguy cơ sụt giảm sản xuất, giảm sút năng lực cạnh tranh
- Yếu tố về chiến lược kinh doanh: Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu Trên thực tế, một doanh nghiệp luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều chuyển sang mua của một nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn đối với khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khan lâu dài về mặt
Trang 34tài chính Vì vậy, điều quan trọng của doanh nghiệp là không nên tập trung quá nhiều vào một nhóm đối tượng khách hàng
- Yếu tố hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp: Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp
tư nhân, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp như việc tổ chức huy động vốn, quản lý vốn, phân phối kết quả kinh doanh hay phân phối lợi nhuận Chúng ta có thể thấy ví dụ như đối với doanh nghiệp nhà nước thì nhà nước quy định quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Mặt khác, đối với doanh nghiệp tư nhân, có thể huy động vốn bằng hình thức vay nhưng không được phép phát hành chứng khoán để tăng vốn Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn do các thành viên đóng góp, nên việc tăng vốn có thể do kết nạp thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hay đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán…
1.6.2.Những yếu tố bên ngoài
- Yếu tố lãi suất: Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khan, ngân hàng nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ để giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc dự án thực sự có hiệu quả với mức độ rủi ro cho phép Như vậy, nếu lạm phát tăng cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp Lãi suất là biến số của nền kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội Về phương diện lý thuyết và thực tiễn của các nước đã chứng minh, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động đến sản xuất và giá cả Người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các khoản chi phí và thu nhập đó xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền Giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để
sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc tiền thuê vốn để sử dụng
- Yếu tố tỷ giá: Trong tài chính, tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giá trị đồng tiền của một quốc gia này đối với một quốc gia khác Như vậy tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp Chênh lệch tỷ giá hối đoái là khoản chênh lệch dương
Trang 3535
hoặc âm giữa giá trị nợ phải thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ chuyển đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có thể làm làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội: Bao quanh doanh nghiệp là mội trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động, đó cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế biến động có thể gây nên những rủi ro cho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí đầu tư, ảnh hưởng nhu cầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng phát triển của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong kinh doanh của doanh nghiệp…Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế về tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp (như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng và lãi suất, chính sách ngoại hối…) phù hợp với môi trường tài chính vĩ mô sẽ ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đàu tư, phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
Trang 36CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN VICEM VẬT TƯ VẬN TẢI VICEM 2.1.Giới thiệu khái quát chung về doanh nghiệp
2.1.1.Quá trình thành lập và phát triển
Công ty Vật Tư Vận Tải Xi Măng là doanh nghiệp nhà nước hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam Công ty được thành lập theo quyết định số 842/BXD – TCCB ngày 03/12/1990 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng trên cơ
sở hợp nhất Xí nghiệp cung ứng vật tư thiết bị xi măng và Công ty vận tải - Bộ Xây dựng Công ty chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 05/01/1991
Ngày 12/02/1993 Bộ trưởng Bộ Xây dung ban hành quyết định số 022A/BXD - TCLD thành lập lại Công ty Vật tư Vận tải Xi Măng
Ngày 22/02/2006, Bộ trưởng đã có quyết định số 280/QD – BXD về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty Vật Tư Vận Tải Xi Măng thành Công ty Cổ phần Vicem Vật Tư Vận Tải Xi Măng Công ty chính thức đi vào hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày 24/04/2006 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0103011963 do Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp
Tên giao dịch: Công ty CP Vicem Vật Tư Vận Tải Xi Măng Địa chỉ: 21B - Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội
Điện thoại: 043.8434509 Fax: 043.8457186 Website: vtvxm.vn
2.1.2.Cơ cấu bộ máy quản lý
Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực có thẩm
quyền cao nhất của Công ty gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp mỗi năm
ít nhất 01 lần ĐHĐCĐ quyết định những vấn đề được Luật pháp và điều lệ Công ty quy định Đặc biệt, ĐHĐCĐ sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty
và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, sẽ bầu hoặc bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của Công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ Công ty
Hội đồng quản trị: Hội đồng Quản trị là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân
danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến SXKD và quyền lợi của Công ty như quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước
Trang 3737
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Vicem Vật Tư Vận Tải Xi Măng
(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động)
Ban kiểm soát: Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do
Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm soát mọi mặt hoạt động quản trị và điều hành sản xuất của Công ty
Giám đốc: Đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và
trước cơ quan quản lý Nhà nước Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Phòng Kinh doanh vận tải biển
Phòng Đầu tư xây dựng
Phòng Kinh doanh vận tải
Trang 38Công ty, báo cáo Hội đồng Quản trị về các hoạt động của Công ty Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật
của Nhà nước
Phó Giám đốc: là người giúp đỡ cho Giám đốc trong việc quản lý công ty, có
chức năng tham mưu cho Giám đốc, giải quyết các công việc do Giám đốc ủy quyền,
được thay mặt Giám đốc giải quyết công việc khi Giám đốc vắng mặt
Phòng Kinh tế kế hoạch: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty
và tổ chức thực hiện các quyết định về công tác kế hoạch hóa, công tác quản lý sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển của Công ty, đảm bảo hiệu quả kinh doanh Phòng chịu trách nhiệm kinh doanh mặt hàng than cám Giúp Giám đốc Công
ty tổng hợp thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, đề xuất các biện pháp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Phòng Tổ chức lao động: là bộ phận có chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc
Công ty về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý trong Công ty, công tác lao động tiền lương
và thực hiện chế độ chính sách đối vơi người lao động theo quy định của Nhà nước và Công ty
Phòng Tài chính kế toán thống kê: Tham mưu cho Ban Giám đốc Công ty và
chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc Công ty trong việc tổ chức chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán – thống kê – tài chính trong toàn Công ty theo đúng Luật Kế toán
Phòng Kỹ thuật: Tham mưu cho Giám đốc Công ty và tổ chức thực hiện công
tác quản lý về chất lượng sản phẩm hàng hóa, quản lý kỹ thuật xe máy, thiết bị máy móc; quản lý chi nhánh tuyển xỉ Phả Lại; tham mưu quản lý toàn bộ hệ thống định mức kỹ thuật, quy định giao nhận, hao hụt vật tư, định mức sử dụng nguyên nhiên vật liệu, vật tư trong Công ty; nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất kinh doanh
Văn phòng công ty: Là đơn vị quản lý công tác, hành chính quản trị; hậu cần an
ninh; an toàn cơ quan; mua sắm và quản lý các tài sản thuộc cơ quan Công ty; phục vụ
và chăm lo điều kiện làm việc, sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên trong toàn Công
ty
Phòng Kinh doanh vận tải: Tham mưu cho Giám đốc Công ty về công tác vận
tải và kinh doanh vận tải nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty; tổ chức thực hiện công tác vận tải và kinh doanh vận tải
Phòng Kinh doanh vận tải biển: Tham mưu cho Giám đốc Công ty và tổ chức
thực hiện các công tác vận tải và kinh doanh vận tải biển nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 3939
Phòng Đầu tƣ và xây dựng: Tham mưu cho Giám đốc Công ty và tổ chức thực
hiện các công tác thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản, đầu tư, nghiên cứu phát triển đa dạng hóa ngành nghề của Công ty
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của Công ty
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty là chế biến than đá và các loại phụ gia dùng cho sản xuất xi măng Công ty mua than của TKV (Tập đoàn Than - Khoáng sảnViệt Nam) tại các mỏ than ở Quảng Ninh, sau đó than được vận chuyển bằng đường bộ hoặc thủy và giao trực tiếp cho các nhà máy xi măng tại nhà máy: Xi Măng Hải Phòng, Xi Măng Hoàng Thạch Với các công ty xi măng khác, Công ty tiến hành vận chuyển kết hợp cả đường thủy và đường bộ Ngoài ra, Công ty còn kinh doanh vật liệu xây dựng, nhiên liệu (xăng, dầu, khí đốt), dịch vụ vận tải, phụ tùng ô tô, bảo dưỡng, sữa chữa ô tô, cho thuê văn phòng, nhà kho, cửa hàng, bến bãi và một số ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật
2.2 Phân tích tình hình tài chính của Công ty cổ phần Vicem Vật Tƣ Vận Tải Xi Măng
2.2.1 Phân tích vĩ mô và phân tích ngành
Lĩnh vực hoạt động chính và chủ yếu của Công ty cổ phần Vicem Vật Tư Vật Tải
Xi Măng là cung cấp một số nguyên vật liệu chính như than cám, đá bazan… và cung cấp dịch vụ vận tải cho các nhà máy xi măng Vì vậy, có thể nói tình hình của thị trường xi măng có tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty
Năm 2011, đứng trước những thách thức không nhỏ của nền kinh tế như ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình trạng lạm phát cao, chênh lệch giá ngoại
tệ có những diễn biến rất phức tạp… các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đặc biệt là ngành công nghiệp xi măng gặp rất nhiều khó khắn như: giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, thị trường xi măng cung lớn hơn cầu, mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt Đặc biệt, sự siết chặt vốn vay của các ngân hàng, càng nhiều công trình đầu tư công và một số dự án xây dựng trong nước bị cắt giảm, khiến cho các doanh nghiệp trong ngành xi măng không khỏi bị lao đao Sang năm 2012 và các năm tiếp theo, mức đầu tư toàn xã hội giảm, đặc biệt đầu tư công đến năm 2015 chỉ còn 225.000 tỷ đồng/ năm, tổng mức đầu tư toàn xã hội giảm chỉ còn 25%, nhu cầu tiêu thụ xi măng bị ảnh hưởng
Năm 2014, với sự phục hồi chung của nền kinh tế, nhiều dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là các dự án bất động sản, cơ sở hạ tầng, giao thông đã được triển khai xây dựng trở lại Sản lượng xi măng tiêu thụ trong nước đã tăng khoảng 3% so với năm
2013, đồng thời sản lượng clinker, xi măng xuất khẩu tăng mạnh, tăng khoảng 26,5%
Trang 40so với năm trước Đây là một nỗ lực rất lớn của các nhà sản xuất và cũng được xem như là một tín hiệu tốt cho khu vực sản xuất này
2.2.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính
2.2.2.1 Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
Qua việc so sánh, phân tích các số liệu Bảng cân đối kế toán 3 năm 2012 – 2014 giúp ta thấy được sự biến động của tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, cơ cấu tài sản, nguồn vốn và nguồn hình thành nên các tài sản đó Từ đó đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty
a) Phân tích tình hình biến động của tài sản
Đánh giá khái quát tình hình tài sản Công ty
Bảng 2.1 Bảng phân tích tổng quát tình hình sử dụng vốn tại Công ty
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán)
Tổng tài sản của doanh nghiệp có xu hướng giảm từ năm 2012 đến năm 2013 do
sự sụt giảm mạnh của tài sản dài hạn (41,24%) Sang năm 2014, tổng tài sản của Công
ty lại tăng nhanh với tốc độ 25,82% Nguyên nhân là do trong năm 2014, Công ty tăng đầu tư vào cả tài sản ngắn hạn (tăng 17,01%) và tài sản dài hạn (tăng 78,81%) Điều này cho thấy Công ty không những chỉ quan tâm đầu tư theo chiều rộng mà còn chú trọng hơn đầu tư theo chiều sâu với việc hiện đại hóa máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất nhằm tăng năng suất lao động, giảm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu từ đó làm giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Phân tích từng khoản mục trong tài sản ngắn hạn
Năm 2013, tài sản ngắn hạn của Công ty tăng 4,73% so với năm 2012 chiếm 85,73% trong tổng tài sản của Công ty Năm 2014, tài sản ngắn hạn tiếp tục tăng 17,01% so với năm 2013 và chiếm 79,73% trong tổng tài sản Công ty Có thể thấy tài sản ngắn hạn đang tăng lên, năm sau tăng nhanh hơn năm trước, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản cũng được tăng lên, giúp công ty chủ động hơn trong việc luân chuyển vốn và thanh khoản Để có cái nhìn chính xác hơn về tình hình tài sản ngắn hạn của Công ty ta sẽ đi sâu phân tích biến động trong từng khoản mục: