1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần tu tạo và phát triển nhà

109 684 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 265,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài sản của doanh nghiệp được phân ra theo làm hai loại là tài sản lưu động và tài sản cố định: Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và chuyển hóa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Lan Anh

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Đức Thịnh

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp

đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với tình cảm chân thành,

Trang 2

em xin bày tỏ lòng biết ơn tới giáo viên hướng dẫn cô Nguyễn Thị Lan Anh đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp Em cũng xin bày tỏ sự tri ân tới các cô chú, các anh các chị nhân viên trong phòng tài chính kế toán cùng toàn thể ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Tu Tạo

Và Phát Triển Nhà đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Do giới hạn về kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và

hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp thêm của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Đức Thịnh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân tôi thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn

Trang 3

1.1.3 Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp

Trang 5

3.2.8 Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quản lý

Trang 7

Biểu đồ 2.3 Biến động tài sản ngắn hạn giai đoạn 2010-2012

Thị trường BĐS đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh

doanh BĐS mà còn ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp, sản xuất, kinh doanh hàng trang trí nội thất Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động cầm chừng, lượng tồn

kho lớn Một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản, không tự cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư Các doanh nghiệp xây dựng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như trong thực hiện các công trình dở dang, công nợ tại các công trình rất lớn

Để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, các doanh nghiệp ngành xây dựng luôn phải chú trọng tớiviệc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp Quá trình đổi mới cơ chế quản lý củacác doanh nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt chính sách quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao, sản phẩm mới có tính cạnh tranh Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu

Trang 8

quả

luôn là vấn đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm

Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà là công ty chuyên xây dựng lắp đặt công trình công cộng, nhà ở, công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông đường bộ,… Trong thời gian qua, Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đã có nhiều cố gắng trong việcquản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, lợi nhuận của công ty đã tăng Tuy nhiên kết quả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn có nhiều điểm chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao Thực tế đó đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động hiệu quả của Công ty Chính vì vậy, để có thể phát triển hơn trong tương lai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay đối với công ty

Thấy được tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tế tại

Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo

hướng dẫn cùng các cán bộ nhân viên trong công ty, đặc biệt là các cán bộ ban tài chính

em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà” để làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình Kết cấu của khóa luận gồm có 3 phần:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài sản và tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty cổ phần Tu

1.1 Khái quát tài sản của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm chung

Tài sản của doanh nghiệp là các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, thể hiện dưới dạng hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.1

Mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào trong quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh, cũng là tối đa hóa lợi nhuận, tăng trưởng và nâng cao giá trị doanh nghiệp Để tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh sức lao động và đối tượng lao động, doanhnghiệp còn cần phải có tư liệu lao động hay còn gọi là tài sản của doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp được phân ra theo làm hai loại là tài sản lưu động và tài

sản cố định:

Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và

chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ 01 năm trở xuống Ví dụ: nguyên, nhiên vật liệu, cáckhoản nợ ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp

Tài sản dài hạn: Là những tài sản trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ

yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, khi

Trang 9

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nhưng giá trị của tài sản cố định đã bị giảm dần và được chuyển vào giá trị sản phẩm, dưới hình thức khấu hao Tài sản cố định được phân thành bất động sản và động sản:

 Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất

đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định;

 Động sản là những tài sản cố định không phải là bất động sản

Như vậy giá trị thực tế của doanh nghiệp gồm tổng giá trị thực tế của toàn bộ tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh.2

1 Trích từ Giáo trình tài chính doanh nghiệp, trang 52, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2002

2 Trích từ Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, trang 40, Nhà xuất bản tài chính, năm 1997

1

1.1.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn

1.1.2.1 Tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh

doanh và thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được chia làm 2 bộ phận: TSNH sản xuất và

TSNH lưu thông

Tài sản ngắn hạn sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm bảo

cho quá trình sản xuất được liện tục như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…

và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như: Sản phẩm dở dang,bán thành phẩm…

Tài sản ngắn hạn lưu thông: Là những tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình

lưu thông của doanh nghiệp như: thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

Để quản lý tài sản ngắn hạn được tốt cần phải phân loại tài sản ngắn hạn Dựa theo những tiêu thức khác nhau có thể phân loại tài sản ngắn hạn thành nhiều loại khác nhau Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:

 Phân loại theo vai trò từng loại tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh

doanh

Theo cách phân loại này tài sản ngắn hạn có thể chia làm ba loại:

 Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên

vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ;

 Tài sản ngắn hạn trong khâu trực tiếp sản xuất: bao gồm các khoản vốn sản phẩm

đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước;

 Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản vốn thành phẩm, vốn

Trang 10

bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn

Phương pháp này cho phép biết được kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

theo vai trò Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ tài sản ngắn hạn trong các

2

khâu của quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích

hợp nhằm tạo ra một kết cấu tài sản ngắn hạn hợp lý tăng tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn

 Phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện

Dựa theo hình thái biểu hiện có thể chia tài sản ngắn hạn thành: tiền, hàng tồn kho

và các khoản phải thu

+ Tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một

loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định;

+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ phía khách hàng thể hiện ở

số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra trong một số trường hợp mua sắm vật

tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng,

Nguyên vật liệu phụ: là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho

việc hình thành các sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi

Nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ để dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.2.2 Tài sản dài hạn

Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác

Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải

thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toántrên một năm

3

Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một

phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặcchờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay

Trang 11

cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường Một bấtđộng sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:

 Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;

 Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy

Nguyên giá của bất động sản đâu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác

Tài sản cố định: là những tài sản đảm bảo thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn

sau đây:

 Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên;

 Có giá trị từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên;

 Giá trị ban đầu của tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;

 Tạo ra nguồn thu thực sự cho doanh nghiệp

Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong các yếu tố cần được cân nhắc, quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Giải thích cho điều này do tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp Nếu đầu tư hợp lý, sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, đảm bảo được năng suất, chất lượng, tăng giá trị sử dụng của sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, giá trị công nghệ thường có chi phí cao, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành vì vậy việc quản lý tài sản là một yêu tố quyết định đến thành bại của một doanh nghiệp

Tài sản tài chính dài hạn: là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán

có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua

cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp

4

Tài sản dài hạn được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho

những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Thông thường có một số cách thức phân loại chủ yếu sau

 Phân loại tài sản dài hạn theo hình thái biểu hiện:

Theo phương pháp này, toàn bộ tài sản dài hạn của doanh nghiệp được chia thành

hai loại: Tài sản lưu động và tài sản cố định

Tài sản lưu động: là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và

chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ một năm trở xuống Ví dụ: nguyên, nhiên, vật liệu, các khoản nợ ngắn hạn, các khỏan đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp

Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp

nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định Đó là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và vẫn giữ nguyên hình thái vật chấtcủa nó Tài sản cố định hữu hình được phân loại như sau:

Nhà cửa, vật kiến trúc gồm: trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi,

các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tàu, bến

Trang 12

đường thủy, đường bộ, đường không, đường sông và hệ thống thông tin, hệ thống

điện, đường ống nước, băng tải ;

Thiết bị dụng cụ quản lý gồm: máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết

bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt;

Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, gồm: vườn cà phê,

trên như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật

Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác

định được giá trị của nó và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh,

cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài

5

sản cố định vô hình do Bộ Tài chính quy định; tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưmột số chi phí liên quan trực tiếp đến đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát

minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại

 Phân loại tài sản dài hạn theo mục đích sử dụng:

Theo phương pháp này, toàn bộ tài sản dài hạn được chia thành hai loại:

Tài sản dài hạn dùng cho mục đích kinh doanh: là những tài sản cố định đang

dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp

Tài sản dài hạn dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: là

những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý và sử dụngcho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu tài sản dài hạn theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính khấu

hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài

sản dài hạn

 Phân loại tài sản dài hạn theo tình hình sử dụng:

Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản dài hạn, có thể chia toàn bộ tài sản dài hạn của doanh nghiệp thành các loại sau:

 Tài sản dài hạn đang dùng;

 Tài sản dài hạn chưa cần dùng;

 Tài sản dài hạn không cần dùng và chờ thanh lý

Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng tài sản dài hạn trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các tài sản dài hạn hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn.3

1.1.3 Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp

Trang 13

1.1.3.1 Tài sản ngắn hạn

Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể không có tài sản ngắn hạn

dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản tài sản ngắn hạn đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp

3 Trích từ Quản trị tài chính doanh nghiệp, trang 81, Nhà xuất bản thống kê, năm 1998

6

Tài sản ngắn hạn giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được

vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn Trong sản xuất, tài sản ngắn hạn giúp cho

doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng

Tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi duy trì ở một mức độ hợp lý đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán… Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm

được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Tài sản ngắn hạn giúp doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân thuộc thông qua chính sách tín dụng thương mại

1.1.3.2 Tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn là tư liệu lao động thiết yếu, do đó nó có vai trò rất quan trọng tới

quyết định tới hoạt động sản xuất, khối lượng và chất lượng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, xu thế cạnh

tranh là tất yếu “Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào ” là những câu hỏi luôn đặt ra đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải tìm cho được lời giải thích thỏa đáng nhất Muốn vậy doanh nghiệp phải điều tra nắm bắt nhu cầu thị trường, từ đó lựa chon quy trình công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị phù hợp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,

đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Do đó, việc đổi mới tài sản dài hạn trong doanh nghiệp để theo kịp sự phát triển của

xã hội là một vấn đề được đặt lên hàng đầu Bởi vì nhờ có đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ doanh nghiệp mới có thể tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghiệp có uy thế cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Như vậy tài sản dài hạn là một bộ phận then chốt trong các doanh nghiệp sản xuất, có vai trò quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp Tài sản dài hạn thể hiện một cách chính xác nhất năng lực, trình độ trang thiết bị cơ sở vật chất

kỹ

thuật của doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tài sản dài hạn được đổi mới, cải tiến và hoàn thiện tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế mỗi thời kỳ, nhưng phải đảm bảo yêu cầu phục vụ sản xuất một cách có hiệu quả nhất, thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

7

Trang 14

1.1.4 Nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp, tài sản được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác nhau Vấn đề đặt

ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ cấu nguồn vốn tối ưu vừagiảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn cho tình hình tài chính của doanh

nghiệp Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau thì tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các loại nguồn vốn như :

Tài sản hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn:

 Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Tuỳ từng loại

hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao

 Các khoản nợ: là các khoản tài sản được hình thành từ các khoản vay của các ngân

hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, các khoản

nợ khách hàng chưa thanh toán

Tài sản hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:

 Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, bao

gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu tài sản cần thiết của doanh nghiệp

 Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn

 Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vay

ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, được dùng để đáp ứng nhu cầu tài sản có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp

Tài sản hình thành theo phạm vi huy động vốn:

 Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động được từ bản

thân doanh nghiệp Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồnvốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động trong quản lý và sử dụng tài sản của mình

8

 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động

từ bên ngoài, gồm: vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp, nợ khách hàng và các khoản nợ khác , qua việc vay vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có một cơ cấu tài chính linh hoạt, mặt khác có thể làm gia tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu nhanh nếu mức

doanh lợi tổng vốn đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn

Kết luận chung:

Ở mỗi doanh nghiệp, tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau thì sẽ có cơ cấu và nguồn tài sản khác nhau Nó phù hợp với quy mô và khả năng hoạt

Trang 15

động của từng công ty Tiền mặt, khoản phải thu và hàng tồn kho là các yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ công ty nào Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là cần thiết, đặc biệt với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thì hầu hết tài sản là các bất động sản nằm trong bộ phận hàng tồn kho thuộc tài sản ngắn hạn của doanhnghiệp Điều này đặt ra cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phải có sự quản lý và sử dụng chặt chẽ lượng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp mình để đảm bảo hoạt động kinh doanh một cách thuận lợi

Tuy nhiên hiện nay, công tác sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp còn

nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn chưa cao Do đó, việc nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết, quan trọng, nó quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản

trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường Đểđạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có những chiến lượcsách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng Mục đích cuối cùng của họ bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu mà họ đề ra Chính

vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanh nghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến

đó

chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình

độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí

9

Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực xây dựng thì tỷ lệ tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản Đối với các doanh nghiệp này thì tài sản ngắn hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao

sử dụng các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà

doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận từ việc khai thác

và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí

1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác

động khác nhau Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu dưới đây:

1.2.2.1 Khả năng thanh toán

Trong kinh doanh vấn đề làm cho các doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ nần khó đòi, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi, các khoản phải trả không có khả năng

Trang 16

thanh toán Vì vậy doanh nghiệp phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng

kịp thời các khoản nợ ngắn hạn, duy trì các loại hàng tồn kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi Tại các nước trên thế giới theo cơ chế thị trường căn

cứ vào luật phá sản, doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản theo yêu cầu của các chủ nợkhi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả Hiện này luật doanh nghiệp Việt Nam cũng quy định tương tự như vậy Do đó các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm đến các khoản nợ đến hạn trả và chuẩn bị nguồn để thanh toán chúng Vậynên khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn)

10

hạn của doanh nghiệp, như tiền mặt, các khoản phải thu…Hệ số này phản ánh một đồng

nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn

Khi hệ số này ở mức nhỏ hơn 1, thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của

doanh nghiệp là yếu dẫn đến rủi ro tài chính, rủi ro thanh khoản cao Ngược lại, nếu hệ sốnày ở mức lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tương đối tốt, đủkhả năng đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn Song nếu hệ số này quá cao, tức là lượng tài sản ngắn hạn tồn trữ quá lớn và bộ phận tài sản này không vận đông, không sinh lời sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Hệ số này lớn hay nhỏ hơn còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thương mại, tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao Do đó, khi đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của doanh nghiệpcùng ngành Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần xét thêm một số chỉ tiêu khác nữa

Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Khả năng thanh toán nhanh

=

Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các

tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh nhất không tính đến hàng tồn kho

vì hàng tồn kho là tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành tiền, tức là một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao

Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu này,

Trang 17

các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêu

này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn Do

đó, để đánh giá chính xác và chặt chẽ hơn cần xem xét thêm khả năng thanh toán tức thờicủa doanh nghiệp

11

Hệ số khả năng thanh toán tức thời:

Tiền và tương đương tiền

Khả năng thanh toán tức thời =

Nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một số chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng

thanh toán của doanh nghiệp Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang

chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (dưới 3 tháng) có thể chuyển đổi thành tiền bất cứ lúc nào như: chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn hạn… Đây là các tài sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp

Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bất kỳ lúc nào, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn, bởi vì nguồn trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp hết sức linh hoạt

1.2.2.2 Hiệu quả hoạt động

Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Hệ số hoạt động còn

được gọi là hệ số hiệu quả hay hệ số luân chuyển Một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm hàng đầu là sử dụng tài sản sao cho có hiệu quả nhất Muốn làm được điều đó thì doanh nghiệp phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thunhập cho doanh nghiệp Vì vậy, để nâng cao hệ số hoạt động, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau để phân tích:

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

Doanh thu thuần

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ =

Tài sản ngắn hạn trong kỳ

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sản

ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định và thường là một năm Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn mang lại bao nhiêu đồng doanh thu Số vòng quay càng cao, chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp

Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn

360

Thời gian luân chuyển TSNH =

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

12

Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn cho biết trong khoảng thời gian bao nhiêu

Trang 18

ngày thì tài sản ngắn hạn luân chuyển được một vòng Chỉ tiêu này càng nhỏ cho thấy tốc

độ lưu chuyển tài sản ngắn hạn càng nhanh

Suất hao phí tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn bình quân

Suất hao phí TSNH

=

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn thì

mới thu được 1 đồng doanh thu Doanh thu thuần càng lớn thì suất hao phí càng nhỏ và ngược lại Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao Suất hao phí cao hay thấp phụ thuộc vào mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách sử dụng tài sản,

Vòng quay các khoản phải thu

Doanh thu thuần

Vòng quay các khoản phải thu =

Các khoản phải thu

Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà khách hàng nhận

được từ doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được làbao nhiêu Chỉ số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao, tức là khách hàng trả nợ doanh nghiệp càng nhanh Quan sát số vòng quay khoản phải thu

sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp

Thời gian thu tiền trung bình

360

Thời gian thu tiền trung bình

=

Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn của các doanh nghiệp, trên cơ sở

các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng

Trang 19

tồn kho là tốt hay xấu Chỉ tiêu này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho

là nhanh và ngược lại, nếu nó nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp

Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng

càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao trong khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho

các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng Nhưng cũng cần lưu ý là hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu

Thời gian luân chuyển kho trung bình

1.2.2.3 Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng tài sản cho biết một đồng doanh thu thuần được tạo từ bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Tỷ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của

doanh nghiệp càng cao

Doanh thu thuần

1.2.2.4 Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Nó cho biết mỗi đơn

vị giá trị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời của TSNH =

TSNH bình quân trong kỳ

Hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp,

Trang 20

đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng Với công thức trên ta thấy, nếu tài sản ngắn hạn sử dụng bình quân trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường yêu cầu về tài sản ngắn hạn là rất lớn, có thể coi tài sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp Để đánh giá quá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả kinh

tế

và hiệu quả xã hội Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu mang tính bắt buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp

1.3.1 Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý

yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp

1.3.2 Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn

Đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ,công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Thời

gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu

1.3.3 Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạn chiếm dụng, tiết kiệm tài sản ngắn hạn trong luân chuyển Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn còn có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn

Trang 21

thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà

nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước

1.3.4 Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu

quả thậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản

ngắn hạn dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Trong

hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước do đặc thù chịu ảnh

16

hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp trước đây, có kết quả sản xuất kinh doanh yếu kém mànguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém trong quản lý tài chính nói chung và quản lý tài sản ngắn hạn nói riêng gây lãng phí, thất thoát vốn Ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của cácdoanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng Xét từ góc độ quản

lý tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính trong đó chú trọng nâng

cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một nội dung quan trọng không chỉ đảm bảo lợi ích riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế nước nhà

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của nhiều nhân tố

Do đó để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ tiêu nói trên, chúng ta cũng cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sửdụng chúng Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh

nghiệp nhưng về cơ bản có 2 nhóm nhân tố chính là các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.4.1 Nhân tố chủ quan

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng những chỉ tiêu phía trên ta phải nghiên cứu những nhân tố tác động từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực Các

nhân tố chủ quan là những nhân tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp

1.4.1.1 Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản

Trang 22

ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào,

lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho

17

lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng

1.4.1.2 Cơ sở vật chất của doanh nghiệp

Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc tốt Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bị tốt, máy móc đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao

1.4.1.3 Trình độ cán bộ công nhân viên

Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có

những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì

người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sứcquan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn, có kỹ thuật

1.4.2 Nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp, có những lúc thúc đẩy doanh

nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó Sự tác động đó không thuộctầm kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp những nhân tố này các doanh nghiệp luôn

phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với tác động đó

1.4.2.1 Môi trường chính trị - xã hội

Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình

doanh nghiệp mang một đặc thù riêng nó, Nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ mà Nhà nước quy định Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đến khi hoạt động và ngay cả giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theo chế độ hiện hành Đảng và Nhà nước ban hành các luật

18

Trang 23

lệ, chính sách nhằm mục đích tránh sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong

xã hội Sự thắt chặt hay lới lỏng chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến doanh nghiệp

1.4.2.2 Môi trường kinh doanh

Ngày nay thị trường nhân tố sản xuất đầu vào, thị trường dịch vụ hàng hóa phát triển rất nhanh đặc biệt là thị trường tài chính tiền tệ có tác động rất lớn đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Các yếu tố đầu vào của một dự án hay một quá trình sản xuất phần lớn được mua hoặc thuê trên thị trường Thị trường các yếu tố đầu vào đa dạng, phong phú doanh nghiệp sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn Thị trường các yếu tố đầu vào cạnhtranh sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào và làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp và ngược lại Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều thông qua thị trường tài chính

Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối

toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúcđẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát triển sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thị trường tài chính Thị trường tài chính phát triển

thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung

1.4.2.3 Môi trường tự nhiên

Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như nhiệt độ, độ ẩm, ánh

sáng, Nhân tố này ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến quyết định quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cụ thể là mức dự trữ Sở dĩ như vậy là do tính mùa vụ của thị trường cung ứng lẫn thị trường tiêu thụ Hơn nữa, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ phải chi phí nhiều hơn cho công tác dự trữ (chi phí vận chuyển, bảo quản, ), từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.4.2.4 Môi trường khoa học công nghệ

Sự phát triển của khoa học – công nghệ không những làm thay đổi chất lượng, số

lượng sản phẩm mà còn làm phát sinh những nhu cầu mới, khách hàng trở nên khó tính hơn Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tiền, các khoản dự trữ, tồn kho nhờ tăng năng suất, rút ngắn thời gian sản xuất

1.4.2.5 Mức độ cạnh tranh trên thị trường

Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau Cùng là các

doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất

19

lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua Như vậy vấn đề của các doanh nghiệp là thu hút được khách hàng và tất nhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh Hiện nay các doanh nghiệp luôn hướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức

về

giá cả, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh

nghiệp phải quan tâm

1.4.2.6 Ảnh hưởng của thông tin

Hiện nay, thông tin đã trở thành một yếu tố cực kì quan trọng tác động tới mọi hoạt động của doanh nghiệp Những thông tin chính xác, đầy đủ mà doanh nghiệp nhận được

Trang 24

sẽ là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng chính sách quản lý ngân quỹ, các khoản phải thu, dự trữ

1.4.2.7 Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh

nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phảitìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéoléo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh

Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khác như: các vấn đề về tỷ giá, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh… cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của doanh

nghiệp

20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ

2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà

Tên đầy đủ : CÔNG TY CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ

Tên giao dịch : HOUSING RENOVATION AND DEVELOPMENT JOINT – STOCK COMPANY

Trụ sở chính : Số nhà 28 Trần Nhật Duật, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội

Tiến hành xây dựng và lắp đặt, tư vấn đầu tư các công trình là nguồn doanh thu

chính của công ty Khách hàng của công ty đa phần là các dự án lớn và trọng điểm của

Nội như: Dự án mở rộng căn hộ cao cấp 254 Thụy Khuê, Dự án đặc biết gara ngầm tại vườn hoa Hàng Đậu, Dự án Khu đô thị mới Mễ Trì Hạ, Dự án chung cư 9 tầng A6 Giảng Võ,…và ở cả các tỉnh thành khác như Dự án khu nhà ở Hoàn Sơn-Bắc Ninh, Dự án khu nhà ở Đặng Xá-Bắc Ninh,

Ngoài ra, công ty còn kinh doanh thêm một số dịch vụ như :

 Đại lý mua bán ký gửi hàng hoá, kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá, vận chuyển

Trang 25

hành khách, cho thuê kho bãi, trông giữ xe ô tô và xe máy;

 Đại lý kinh doanh các loại xăng dầu, khí đốt, gas;

 Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;

 Tổ chức dịch vụ quản lý, vận hành, khai thác khu đô thị mới và nhà chung cư cao tầng

do cấp có thẩm quyền giao;

21

 Lập, quản lý và thực hiện các dự án đầu tư và xây dựng phát triển nhà khu dân cư và

khu đô thị;

 Môi giới dịch vụ mua bán nhà và xây dựng;

 Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông (Chỉ hoạt động sau khi được cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền cho phép);

 Phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội: Nhi

Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà thuộc Tổng Công ty Đầu tư Và Phát triển

Nhà Hà Nội là một doanh nghiệp kinh tế mạnh của Nhà nước bao gồm 12 đơn vị thành viên với bề dày kinh nghiệm 50 năm, Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà có một đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây lắp, quản

lý, thực hiện các dự án phát triển nhà khu dân cư, khu đô thị mới trên địa bàn Thủ đô và các tỉnh khác

Tiền thân là Công ty sửa chữa nhà cửa Hà nội được thành lập năm 1960 theo quyết định thành lập số 732/UB/TCCQ ngày 10/11/1960 của UBND Thành phố Hà nội, đến năm 1991 đổi tên là Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà theo quyết định số

1301/QĐ/TCCQ ngày 27/7/1991 và quyết định thành lập Công ty số 180/QĐUB ngày 16/1/1993 của UBND Thành phố Hà nội Năm 2006 đổi tên là Công ty CP Tu tạo Và Phát

triển nhà theo quyết định số 1790/QĐ-UB ngày 10/4/2006 của Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố HN về việc chuyển đổi Doanh nghiệp nhà nước Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đã và đang đổi mới, vươn lên tầm cao mới đóng góp to lớn vào việc phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

22

Trang 28

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Tu tạo Và Phát Triển Nhà

ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG

Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan cao nhất của công ty cổ phần; là cơ quan quản lý

công ty, nhân danh công ty để quyết định mọi vấn để có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để

quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc quyền của Đại Hội đồng cổ đông Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị: quyết định các chiến lược phát triển công ty; quyết định phương án đầu tư; giải pháp phát triển

23

thị trường; kiến nghị loại cổ phần và cổ phiếu được chào bán; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc và những cán bộ quản lý khác, quyết định lương và lợi ích khác

Trang 29

Ban kiểm soát: có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong quản lý, điều hành

hoạt động sản xuất kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của công ty, báo cáo trước hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực hợp pháp của việc ghi chép, lưu trữ tài liệu và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính và những báo cáo khác

Tổng giám đốc: là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty,

thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh;

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong công ty; quyết định lương, phụ cấp

đối với người lao động trong công ty Tổng giám đốc chịu sự giám sát của Hội đồng quản

trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao

Phó tổng giám đốc: là người quản lý tổ chức và chỉ đạo công tác kinh doanh của

công ty, là người giúp đỡ Tổng giám đốc về giao dịch ký kết hợp đồng với khách hàng, tuyển dụng lao động và các giao dịch khác khi Tổng giám đốc đi vắng

Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc bố trí cán

bộ công nhân, đảm bảo cho bộ máy quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật quản lý, tay nghề cho các cán bộ nhân viên; tổ chức công tác bảo vệ trị an công ty, quản lý xe con và sắp xếp bố trí việc đi công tác cho cán bộ trong công ty; bố trí sắp xếp nơi làm việc và trang thiết bị văn phòng; quản

lý con dấu và thực hiện các nhiệm vụ văn thư

Phòng tài chính kế toán: căn cứ nhiệm vụ sản xuất lập kế hoạch tài chính của công

ty kể cả kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn; quản lý sử dụng vốn và tài sản công ty chặtchẽ, an toàn và có hiệu quả; hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ công tác kế toán cho các đội công trình; thực hiện đôn đốc thanh toán, đối chiếu công nợ, vay trả trong và ngoài công ty; thực hiện báo cáo tài chính năm, quý, tháng một cách chính xác và đầy đủ, kịp thời; thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước

Phòng đầu tƣ và quản lý kinh doanh xây lắp: lập ra các kế hoạch phát triển công

ty, kế hoạch về các dự án phát triển công ty để trình lên Tổng giám đốc đồng thời quản lýchất lượng sản phẩm chất lượng công trình do công ty thực hiện, chịu trách nhiệm kiểm tra kiểm soát chất lượng công trình trước hội đồng cổ đông công ty và cơ quan Nhà nước

Ban quản lý dự án: tìm hiểu, tiếp cận và giao dịch với các ngành, các tổ chức, cá

nhân có kế hoạch đầu tư mới; xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể trình lên Hội đồng quản trị duyệt; duy trì quan hệ với các đối tác truyền thống tạo cơ hội có thêm hợp đồng

24

mới để ổn định và gia tăng doanh số; phối hợp với phòng kỹ thuật triển khai hợp đồng, tổchức bàn giao thanh lý hợp đồng

Các chi nhánh: nhận công trình từ các ban quản lý dự án và tiến hành thiết kế bản

vẽ, bóc tách sơ bộ bản vẽ thi công; cập nhật các thông tin mới về bóc tách dự toán để có thiết kế tiết kiệm nhất; thiết kế bản vẽ đảm bảo hợp lý, đảm bảo tiết kiệm nguyên vật liệu

Các công ty chi nhánh: nhận công trình từ các ban quản lý dự án và tiến hành triển

khai xây dựng theo bản vẽ thiết kế; chịu trách nhiệm quản lý, bảo đảm sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị, nhà xưởng; tham gia công tác kiểm tra quản lý chất lượng công trình thi công

Các xí nghiệp trực thuộc: cung ứng vật tư kịp thời, đầy đủ cho các công trình; tìm

Trang 30

kiếm thị trường vật tư, những vật tư thay thế, vật tư cùng chức năng có giá thành hạ; báo cáo ban quản lý dự án các thông tin có liên quan tới thị trường giá cả

Các trung tâm tƣ vấn: tư vấn thiết kế, kiểm tra bản vẽ thi công, đảm bảo tính kỹ

thuật, thẩm mỹ cao cho công trình, dự án; báo cáo Tổng giám đốc khi có yêu cầu từ chủ đầu tư như thay đổi thiết kế, phát sinh thêm

2.2 Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà giai đoạn 2010-2012

2.2.1 Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà

Để có thể phân tích chi tiết về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty ta cần

có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt động của công ty trong những năm gần đây Thông

qua các báo cáo tài chính hàng năm, ta có những đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty sau đây:

Trang 32

599

124

(660) (52,42) (475) (79,30)

9 Chi phí quản lý doanh nghiệp

30.866

14.235

20.481

(16.631) (53,88) 6.246

43,88

10 Lợi nhuận thuần

từ hoạt động kinh 7.139

12 Chi phí khác 3.949

Trang 33

sự sụp đổ của thị trường bất động sản, ngành xây dựng nói chung và công ty cổ phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà nói riêng đã rơi vào cảnh khó khăn khi mà ba nhóm ngành thuộc ngành xây dựng chịu ảnh hưởng nặng nề của suy giảm kinh tế đó là xây dựng nhà chung

cư cao cấp, nhà ở cho người thu nhập thấp và tư vấn thiết kế xây dựng – những ngành chủ

đạo mà công ty đang kinh doanh Thế nhưng sự phục hồi của doanh thu trong năm 2012

là tín hiệu cho thấy công ty đã biết kiểm soát tình hình và thực hiện tốt chiến lược kinh doanh Doanh thu năm 2012 phần lớn đến từ các hợp đồng xây dựng do sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của các công trình đô thị Qua đó chứng tỏ công ty có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường, thu hút được sự quan tâm của các khách hàng

Trang 34

Giảm trừ doanh thu trong cả 3 năm đều bằng 0 do trong năm công ty không có hàng bán bị trả lại và việc giảm giá hàng bán không diễn ra Điều này chứng tỏ việc quản lý chất lượng sản phẩm của công ty tốt qua các năm, hầu hết các sản phẩm được sự chấp nhận của phía khách hàng, đảm bảo đúng yêu cầu do khách hàng đưa ra

Doanh thu tài chính của công ty đến từ lãi tiền gửi, tiền cho vay Hiện tại, công ty

còn thực hiện đầu tư cổ phiếu, trái phiếu… trên thị trường tài chính vì vậy doanh thu hoạtđộng tài chính luôn đóng góp đều đặn trong tổng doanh thu Như vậy, công ty hiện vẫn đang chú trọng vào hoạt động này

Chi phí:

Tổng chi phí của công ty bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, và chi phí khác Tổng chi phí của công ty ở mức khá cao và có xu hướng

tăng lên Một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng lớn nhất quyết định đến tổng chi phí là giá vốn hàng bán Tương ứng với sự thay đổi của doanh thu, giá vốn hàng bán năm 2011 cũng sụt giảm 13,77% so với năm 2010, và trong năm 2012 đã tăng 8,65% so với năm

2011 lên tới con số 295.108 triệu đồng Đây là những con số rất lớn so với doanh thu và

tỉ

lệ tăng của giá vốn cao hơn doanh thu, cho thấy nguyên nhân xuất phát từ yếu tố lạm phát, giá cả tăng mạnh và đặc biệt là công tác quản lý chi phí của công ty còn nhiều yếu kém Năm 2012, chỉ tiêu này tăng lên là do thị trường bất động sản và thị trường tài chínhgặp phải nhiều khó khăn Lạm phát cả năm 2012 tăng 6,81% trong đó nhóm nhà ở và vật

27

liệu xây dựng tăng 0,15% khiến cho chi phí đầu tư mua mới, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư tăng cao Chính vì việc giá vốn hàng bán quá cao đã là nguyên nhân dẫn đến giảm khá nhiều lợi nhuận gộp của công ty Giá vốn hàng bán tăng lên tương ứng với doanh thu thuần cho thấy công ty đã thực hiện sản xuất kinh doanh khá hợp lý và hiệu

quả Nhưng với mức tăng tương đối lớn của các chi phí đầu vào này đã làm sụt giảm nguồn lợi nhuận của công ty

Bên cạnh đó, chi phí tài chính đang có xu hướng tăng lên, đặc biệt năm 2012 so với chi phí này tăng vọt lên tới 460,73% so với năm 2011 Chiếm 98% chi phí này là lãi tiền vay, còn lại là các khoản dự phòng Chi phí lãi vay là chi phí công ty phải trả do vay ngânhàng ngắn hạn và dài hạn, trong đó chủ yếu là lãi vay ngắn hạn Có thể thấy chi phí lãi vay tăng lên là do trong cả 3 năm công ty đều sử dụng chính sách vay nợ khiến các khoản

nợ ngắn hạn ngày càng tăng lên Năm 2010 và 2011, công ty được hưởng lãi suất ưu đãi

từ ngân hàng và khoản vay tương đối nhỏ nên chi phí lãi vay ko đáng kể Tuy nhiên từ năm 2012 trở đi, công ty phải chịu lãi suất theo hiện hành tương đối cao (khoảng 13%), cộng với khoản vay thêm ngắn hạn nên làm cho chi phí lãi vay tăng mạnh Như vậy, trong

những năm tới công ty cần phải cân nhắc lựa chọn nguồn vay với chi phí phù hợp hơn Chi phí bán hàng đang có xu hướng giảm xuống Năm 2011 chi phí bán hàng giảm hơn một nửa so với năm 2010 từ 1.259 triệu đồng xuống còn 599 triệu đồng Kế tiếp năm

2012 khoản chi phí này còn giảm mạnh hơn khoảng 79,3% so với năm 2012 Sự giảm xuống này nằm ở chi phí cho nhân viên và chi phí dịch vụ mua ngoài Chi phí giảm mà doanh thu tăng lên trong năm 2012 cho thấy hiệu quả trong chính sách giảm thiểu chi phí

Trang 35

của công ty

Nhìn vào số liệu của công ty trong ba năm, ta thấy một trong những lý do chính dẫn tới việc lợi nhuận giảm là chi phí quản lý doanh nghiệp Đây là các khoản chi phí dành cho việc chi trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao tài sản

cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng;dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ…) và các chi phí bằng tiền khác Nếu so sánh với chi phí bán hàng sẽ thấy công ty hiện đang không quản lý tốt chi phí này Khi dòng chi phí quản lý doanh nghiệp lớn và đang liên tục tăng thì đây là vấn đề nghiêm trọng công ty cần giải quyết trong những năm tiếp theo

Trong tất cả các loại chi phí thì chi phí doanh nghiệp luôn chiếm tỉ trọng và giá trị

cao nhất Năm 2011 chi phí này giảm khoảng 53,88% tương đương 16.631 triệu đồng so với năm 2010 Lý giải cho sự giảm đi do công ty đã tiết kiệm được trong hoạt động sản

28

xuất như các chi phí điện nước, điện thoại, chi phí cho văn phòng phẩm, tiếp khách Năm 2012 chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng lên 43,88% so với năm 2011 do công ty nhận được nhiều dự án do đó nhu cầu về nhân sự cùng các chi phí quản lý ở các bộ phận phát sinh, do đó chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng theo

Lợi nhuận:

Hoạt động kinh doanh chính của công ty tập trung chủ yếu vào thi công xây dựng

công trình Từ năm 2010 đến năm 2012, công ty liên tục đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh và đầu tư tài chính ngắn hạn Có thể nói hoạt động đầu tư này đang là ưu tiên chiếnlược của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà trong tương lai bởi dấu hiệu khả quan từ tiền lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia đóng góp đáng kể và ổn định vào lợi nhuận

của công ty Năm 2011 lợi nhuận của công ty giảm khoảng 2.475 triệu đồng tương ứng giảm 21,54% so với năm 2012 do ngành xây dựng thực sự gặp khó khăn, công ty có tiềm lực tài chính hạn chế, phải vay vốn từ ngân để triển khai các dự án Thị trường bất động sản đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

còn gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, doanh nghiệp xây dựng Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2012 tăng mạnh so với năm 2011 là 4.109triệu đồng, tương ứng tăng 45,57% so với năm 2011 Đây là một mức tăng khá cao sau khi công ty trải qua năm 2011 đầy khó khăn cùng với áp lực lợi nhuận giảm Tuy phải đốimặt với chi phí giá vốn hàng bán và đặc biệt là chi phí lãi vay tăng rất nhiều so với năm

2011 nhưng nhờ các chính sách đầu tư đúng đắn cũng như luôn đặt chữ tín lên hàng đầu, công ty luôn làm vừa lòng khách hàng với những dự án mà mình thực hiện Chính nhờ các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính đạt kết quả khả quan đã giữ cho công ty đạt được mức lợi nhuận khả quan

2.2.2 Phân tích cơ cấu tài sản và nguốn vốn kinh doanh của Công ty Cổ Phần Tu Tạo

Và Phát Triển Nhà

Để đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ta cần tìm hiểu thực trạng tài sản của doanh nghiệp trong những năm qua Trong quá trình sản xuất kinh doanh, công ty đã có những thay đổi về quy mô và tỉ trọng của tài sản và

Trang 36

nguồn vốn kinh doanh được thể hiện như sau:

2.2.2.1 Phân tích cơ cấu tăng trưởng tài sản

Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà là một doanh nghiệp kinh doanh lĩnh

vực xây dựng với lượng tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn thì việc phân bổ tài sản ngắn hạn của công ty sao cho hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tính quyết định tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh của công ty

Trang 37

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán)

Ta thấy tổng tài sản có sự thay đổi qua ba năm Năm 2010, tổng tài sản ở mức

648.594 triệu đồng Sang năm 2011, tổng tài sản tăng 12,66% tương ứng 730.710 triệu đồng Kế tiếp, năm 2012, tổng tài sản vẫn tiếp tục tăng tuy nhiên ở mức thấp hơn là 7,76% tương ứng 788.913 triệu đồng Cùng với sự thay đổi về quy mô tài sản, cơ cấu tài sản cũng có sự thay đổi theo, luôn chiếm tới hơn 90% trong tổng cơ cấu tài sản là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn chiếm khoảng 5% trong tổng cơ cấu tài sản của công ty CP

Tu

Tạo Và Phát Triển Nhà Cả ba năm, tỷ trọng tài sản dài hạn thấp hơn tỷ trọng tài sản ngắnhạn, điều này cho thấy, sự mở rộng quy mô tài sản chủ yếu tập trung vào tài sản ngắn hạn

Cũng dễ hiểu vì tài sản ngắn hạn đáp ứng nhanh nhu cầu sử dụng vào đầu tư của công ty

và do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên cần có lượng tiền và các khoản tương đương tiền lớn để phục vụ cho việc thanh toán Sở dĩ tổng tài sản của công ty CP

Tu Tạo Và Phát Triển Nhà tăng là do công ty đã liên tục nhận được nhiều dự án có quy

mô và đang đưa vào thực hiện, chính vì vậy cần phải có một lượng tài sản nhất định để dùng vào mục đích kinh doanh và tiêu dùng cho các dự án này Để có cái nhìn trực quan hơn về thực trạng sự biến động của tài sản ta sẽ xem xét những con số tính toán phần trăm

được thể hiện trong biểu đồ 2.1 dưới đây:

30

Ngày đăng: 18/12/2014, 13:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Tu tạo Và Phát Triển Nhà - giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần tu tạo và phát triển nhà
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Tu tạo Và Phát Triển Nhà (Trang 28)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w