Quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; nhận xét đánh giá nêu ý kiến cá nhân về nội dung đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo. Áp dụng vào tình hình thực tế nếu ra các ưu, nhược điểm, thực trạng giáo dục hiện nay.
Trang 1Câu hỏi: Quan điểm đổi mới căn bản toàn diện về quản lý nhà trường
trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm của cá nhân về đổi mới nhà trường trong giai đoạn hiện nay
BÀI LÀM
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cần thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế”, và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” Hội nghị lần thứ Tám BCH Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW chính là hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về giáo dục và đào tạo, nhằm thống nhất nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; huy động các nguồn lực đầu tư, sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục
1 Mục tiêu tổng quát
Trang 2Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản
lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, khoa học – công nghệ ngày càng tiến triển mạnh mẽ, nhiều vấn đề về môi trường, dân số, khí hậu… nảy sinh theo chiều hướng ngày càng gay gắt Để đáp ứng yêu cầu mới, rõ ràng giáo dục không thể cứ như hiện nay mà cần phải có sự thay đổi căn bản và toàn diện
Muốn giáo dục thay đổi căn bản và toàn diện thì các quyết sách về giáo dục không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt mà còn phải tạo
cơ sở để phát triển toàn bộ hệ thống giáo dục với tầm nhìn vài thập kỷ Mục tiênu được đưa ra thay đổi toàn diện giáo dục trong Nghị quyết 29 của Trung ương đẩm bảo được các yêu cầu này, hứa hẹn mang lại một nền giáo dục mới phát triển
2 Mục tiêu chụ thể
Một trong những vấn đề hết sức cấp thiết là tình trạng mất cân đối giữa
ba bộ phận chính: giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Nghị Quyết xác định rõ vị trí và mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, cũng như từng cấp học, từ đó cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghĩa là điều chỉnh về tổ
Trang 3chức và hoạt động của mỗi bộ phận và cả hệ thống từ: cấp học mầm non, phổ thông, đại học, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp
3 Nhiệm vụ giải pháp
Nghị quyết nêu rõ các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện nhằm mang lại hiệu quả cao đối với việc thực hiện đổi mới giáo dục toàn diện:
3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo
Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Với vai trò là hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước Sự lãnh đạo chính trị của Đảng được thể hiện thông qua quyền quyết định và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị
Đảng quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển của đất nước Quyền lực chính trị của Đảng được kết tinh trong cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, chủ trương tạo lập khung chính trị cho sự phát triển của đất nước, của từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp trong mỗi giai đoạn phát triển trong đó có Giáo dục và đào tạo
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với đổi mới giáo dục
và đào tạo cần:
+ Hoàn thiện quy định về Đảng theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Trang 4Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc"
+ Để thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nghiên cứu bổ sung trong Hiến pháp quy định "Tổ chức và hoạt động của Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình trước nhân dân" Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước Do vậy, vị trí cầm quyền, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội phải chịu sự giám sát của nhân dân và phải được hiến định để tạo cơ sở luật hóa theo đúng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
+ Nâng cao hiệu lực chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ trong việc thực hiện chiến lược, chính sách phát triển giáo dục Đổi mới chỉ đạo việc thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục trong thực hiện chiến lược phát triển giáo dục Hội đồng này có bộ phận giúp việc, huy động lực lượng các nhà khoa học, giáo dục, hoạt động kinh tế - xã hội, có uy tín thuộc các lĩnh vực khác nhau tham gia quá trình xây dựng, thẩm định các chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển, đánh giá chất lượng, hiệu quả các hoạt động giáo dục một cách thống nhất và đồng bộ
3.2 Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các
chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người
Trang 5Để thực hiện được nhiệm vụ này cần:
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Giáo dục sẽ giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt
đời Học sinh sẽ hình thành những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết
để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức
và sáng tạo
- Thực hiện dạy học phân hóa phù hợp với đối tượng, giảm tải nội dung, chương trình các môn học trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và mục tiêu giáo dục toàn diện; kết hợp hài hòa “dạy chữ”, “dạy người” với “dạy nghề”
- Xây dựng chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị, từng đối tượng học sinh; tăng cường các hoạt động giáo dục ngoại khóa, sinh hoạt tập thể; tích hợp, liên môn, lồng ghép các nội dung giáo dục truyền thống, kỹ năng sống, giáo dục môi trường, pháp luật, giáo dục địa phương; dạy học gắn với di sản, gắn với sản xuất nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học
Việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học được xem là chìa khóa để đổi mới giáo dục Và để thực hiện, đổi mới nội dung này thì giải pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực cần phải xác định chính xác ngưỡng nhận thức năng lực phù hợp của người học Ngoài ra, cần điều chỉnh lại mục tiêu, thiết kế xây dựng lại nội dung cho từng cấp, bậc và ngành học; bổ sung điều kiện quan trọng khác như giáo trình, sách giáo khoa, Đây là yếu tố quan trọng, hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng, đủ sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế
3.3 Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
Trang 6Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội
Đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá ở mỗi cấp học là khác nhau;cần có sự lựa chọn phù hợp với nội dung kiến thức và mục đích kiểm tra Tuy nhiên Nghị quyết nhấn mạnh việc đổi mới cần hướng tới:
Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá và thi cử theo định hướng đánh giá phẩm chất, năng lực Kiểm tra, đánh giá có vai trò kép: Kích thích, tạo động lực điều chỉnh, phát triển, hoàn thiện chương trình dạy học, hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt động quản lý bảo đảm chất lượng giáo dục; xác nhận thành tích học tập theo quy chuẩn chất lượng đạt mục tiêu giáo dục Kiểm tra, đánh giá phải vừa là phương pháp, vừa là nội dung giáo dục, vừa là hoạt động quản lý chất lượng giáo dục
Chương trình giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đòi hỏi phương thức đánh giá là đánh giá quá trình kết hợp với đánh giá tổng kết Phương thức này sẽ khắc phục được các bất cập, nhược điểm hiện nay và đặc biệt tạo được sự chuyển biến các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục: đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực; liên tục tổ chức điều chỉnh quá trình giáo dục để khắc phục được những hiện tượng như “ngồi nhầm lớp”, “nhầm cấp học”, “nhầm chọn nghề”; một cách tích cực, tự giác ngăn chặn hoặc hạn chế tiêu cực trong thi cử; giảm áp lực, tốn kém trong tổ chức thi,… Đặc biệt, công tác kiểm tra mới yêu cầu tư duy phê phán, tư duy phản biện sẽ kích thích hứng thú học tập, tạo môi trường học tập dân chủ, sáng tạo
Cơ cấu lại hệ thống giáo dục đáp ứng nhu cầu của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm tổ
Trang 7chức hệ thống giáo dục tiên tiến trên thế giới phù hợp với điều kiện Cơ cấu lại các trình độ đào tạo theo hướng chuẩn hóa Cải tiến tín chỉ, đổi mới tuyển sinh,
đa dạng hóa phương thức đào tạo, xây dựng các quy chuẩn về liên thông,
chuyển tiếp giữa các cấp bậc học, trình độ đào tạo, giữa các cơ sở đào tạo và thực hiện các giải pháp khác hỗ trợ việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục phù hợp với điều kiện của chúng ta tạo mọi điều kiện cho người đi học, cho tất
cả đối tượng học tập
3.4 Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Đa dạng hóa các phương thức đào tạo
Sự phát triển nhanh của khoa học-công nghệ ở nông thôn trong những năm đổi mới ở nước ta cũng đã mở ra nhu cầu mới về học tập suốt đời cho mọi đối tượng, tầng lớp kể cả những người nông dân
Việc đưa khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào phát triển nông nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn ở trình độ cao hơn trong hệ thống sản xuất Kết quả yêu cầu người nông dân cần đa dạng hơn với nhiều kiến thức, kỹ năng để sản xuất phát triển
Mặt khác với truyền thống của một dân tộc hiếu học, ngoài tác động của tiến trình chuyển đổi kinh tế và tiến bộ của khoa học-công nghệ, bản thân mỗi nông dân ngày càng quan tâm hơn đến các nhu cầu cá nhân riêng biệt trong nâng cao chất lượng đời sống bản thân, gia đình, họ tộc và cộng đồng Do vậy học tập suốt đời còn là nhu cầu thực sự của mỗi nông dân để tự thỏa mãn mình
Cần có những biện pháp nhằm tạo điều điện cho mọi người dân, đối tượng có nhu cầu được tham gia học tập:
Trang 8- Xây dựng và phát triển hệ thống học tập suốt đời, một công việc to lớn
có vai trò quan trọng nhằm phát huy nguồn lực con người; yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, làm cho giáo dục và đào tạo không chỉ đóng kín trong nhà trường mà còn có thể tiến hành các hoạt động giáo dục - đào tạo thông qua nhiều hình thức tổ chức phong phú, linh hoạt, tổ chức đào tạo liên thông, mềm dẻo, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi được học thường xuyên, liên tục, suốt đời, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống
- Giáo dục - đào tạo được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau; xóa bỏ ngăn cách giữa các ngành học và cấp học, giữa giáo dục chính quy
và giáo dục thường xuyên Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, liên thông liên kết từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến cao đẳng, đại học và sau đại học
- Tổ chức có hiệu quả thực chất việc phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông Phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục theo hướng khắc phục các bất hợp lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề và cơ cấu vùng miền, gắn nhà trường với xã hội, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và ứng dụng Ưu tiên phát triển các trường cao đẳng kỹ thuật, công nghệ và các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
- Tăng cường đầu tư, phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động các cơ sở giáo dục thường xuyên để xây dựng một hệ thống giáo dục mở, tạo điều kiện cho người dân được học mọi lúc, mọi nơi khi có nhu cầu, đẩy mạnh việc xây dựng xã hội học tập;
3.5 Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng
Trang 9Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương
Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo
Trên thực tế giáo dục chúng ta mới tăng quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm ở các trường đại học và các trường tư thục Còn ở các cơ sở giáo dục, trường công chịu sự quản lý chặt chẽ của cấp trên chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp
Để tăng quyền tự chủ các cơ sở giáo dục, đào tạo, cần:
+ Hoàn thiện chính sách, pháp luật, văn bản pháp quy; văn bản hướng dẫn thực hiện các điều khoản tự chủ tự chịu trách nhiệm các cơ sở giáo dục;
+ Đẩy mạnh công tác phân cấp, phân quyền, chịu trách nhiệm của các bộ phận, các cấp;
+ Gắn liền trách nhiệm và quyền lợi với các cấp quản lý, mỗi cơ sở giáo dục; mỗi trường học;
+ Tiến hành công khai minh bạch các khoản chi tiêu, tài chính, chính sách tuyển dụng, hoạt động của nhà trường, của cơ sở giáo dục; chịu sự giám sát của đối tượng giáo dục; của xã hội;
Đối với các trường đại học, cao đẳng các vấn đề được tự chủ, tự chịu trách nhiệm:
+ Tự chủ trong quản lý điều hành nhà trường;
+ Tự chủ tài chính
Tự chủ tài chính phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài chính được cung cấp
và của nhà tài trợ về việc sử dụng nguồn tài chính đó Ngoài ra, học phí, hợp
Trang 10đồng cung cấp dịch vụ, các khoản vay và thu phí khác cũng là nguồn thu lớn của các trường đại học
+ Tự chủ trong tuyển dụng và quản lý đội ngũ cán bộ và xác định điều kiện làm việc của họ
Quyền tự chủ của các trường đại học trong quản lý đội ngũ thể hiện ở sự
tự do tuyển chọn, bố trí giảng viên và cán bộ vào các vị trí lao động cần thiết Các cơ sở đại học còn có quyền tự chủ trong việc xác định các điều kiện cho cán bộ và đặc biệt giảng viên làm việc thuận lợi
- Tự chủ trong hoạt động đào tạo, tuyển sinh
Hoạt động đào tạo gồm các nội dung như: tuyển sinh; ngành đào tạo; chương trình, giáo trình đào tạo; phương pháp giảng dạy…Tuyển sinh là một khâu quan trọng của quá trình đào tạo Số lượng tuyển sinh phải trên cơ sở nhu cầu học tập, nhu cầu nhân lực của xã hội, phụ thuộc vào năng lực về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, tài chính, khả năng quản lý giảng dạy của từng trường
- Tự chủ trong xác định các chuẩn mực và phương pháp đánh giá
Việc đánh giá phải đáp ứng yêu cầu theo các tiêu chuẩn và chất lượng chung Phương pháp đánh giá chủ yếu được sử dụng theo truyền thống nhà trường và ít bị can thiệp từ bên ngoài Sự can thiệp của bên ngoài chủ yếu tập trung ở việc xác định các cơ chế, quy trình không những cho việc đánh giá mà
cả quá trình giáo dục - đào tạo
Tự chịu trách nhiệm đối với:
+ Trách nhiệm với xã hội với người học
Là trách nhiệm đảm bảo chất lượng như cam kết và trách nhiệm sử dụng hiệu quả và minh bạch kinh phí đóng góp của người học và của xã hội
Thông qua cơ chế công khai, người học cũng như người sử dụng lao động
có điều kiện giám sát việc thực hiện các cam kết của các trường về mục tiêu đào