1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay

114 727 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ THU PHƯỢNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CĂN B

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU PHƯỢNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU PHƯỢNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ

MÃ SỐ: Đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Ngọc Liêu

Hà Nội, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Liêu- người đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và trách nhiệm cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin được trân trọng cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các thầy

cô giáo, các cán bộ nhân viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là tập thể giảng viên, nhân viên Khoa Khoa học quản lý đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Trường THCS Hưng Hóa, Trường THCS Quang Húc, Trường TH Hưng Hóa- Tam Nông- Phú Thọ đã tạo điều kiện để tác giả theo học và hoàn thành chương trình Cao học Khoa học quản

lý tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Lãnh đạo Sở Giáo dục

và Đào tạo Phú Thọ, các Sở, ban, ngành của tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình thu thập tài liệu và nghiên cứu

Xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè thân thiết cùng sát cánh, hết lòng giúp đỡ, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần để tác giả có thể hoàn thành tốt đẹp khóa học!

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 13

4 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Mẫu khảo sát 14

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Kết cấu của luận văn 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 16

1.1 Một số khái niệm cơ bản 16

1.1.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 16

1.1.2 Giáo viên và chất lượng giáo viên 19

1.2 Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở và người giáo viên Trung học cơ sở 21

1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở 21

1.2.2 Vị trí, vai trò của người giáo viên Trung học cơ sở 22

1.3 Những yêu cầu về hoạt động nghề nghiệp và chuẩn nghề nghiệp của giáo viên Trung học cơ sở trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo 26

1.3.1 Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo 26

1.3.2 Những quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở 29

1.4 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao chất lượng giáo viên của một số nước trên thế giới 31

* Tiểu kết Chương 1 37

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG

HỌC CƠ SỞ TỈNH PHÚ THỌ 38

2.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, văn hóa- xã hội tỉnh Phú Thọ 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội 39

2.2 Số lượng và chất lượng giáo viên trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ những năm qua 41

2.2.1 Về số lượng giáo viên 41

2.2.2 Về chất lượng giáo viên 46

2.3 Chính sách đãi ngộ giáo viên và công tác đánh giá giáo viên, thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyên môn ở các trường Trung học cơ sở 55

2.3.1 Chính sách đãi ngộ giáo viên 55

2.3.2 Công tác đánh giá giáo viên và thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyên môn ở các trường Trung học cơ sở 57

* Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ VÀ NỘI DUNG CỦA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH PHÚ THỌ 65

3.1 Cơ sở của việc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ 65

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế- xã hội và phát triển giáo dục đào tạo của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 65

3.1.2 Yêu cầu của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI 67

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên Trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ 76

3.2.1 Xây dựng quy hoạch phát triển giáo viên trung học cơ sở đến năm 2020 76

3.2.2 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại giáo viên 80

Trang 6

3.2.3 Tăng cường đánh giá giáo viên và thanh tra, kiểm tra chuyên môn ở

các trường Trung học cơ sở 91

3.2.4 Hoàn thiện chế độ đãi ngộ, chính sách, cơ chế tài chính đối với giáo viên Trung học cơ sở 95

* Tiểu kết Chương 3 98

KẾT LUẬN 99

KHUYẾN NGHỊ 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Định mức biên chế GV THCS 42

Bảng 2.2 Thống kê số lượng GV THCS (từ năm 2009- 2014) 43

Bảng 2.3 Cơ cấu ĐNGV THCS theo độ tuổi (từ năm 2009- 2014) 44

Bảng 2.4 Trình độ đào tạo của GV THCS năm học 2013- 2014 47

Bảng 2.5 Kết quả xếp loại GV THCS (theo Chuẩn nghề nghiệp GV) 52

Bảng 2.6 Kết quả thanh tra hoạt động sư phạm ĐNGV THCS 53

Bảng 2.7 Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh THCS 54

Bảng 2.8 Kết quả xếp loại học lực học sinh THCS 54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH - BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Mô hình hoạt động của người GV 26 Biểu đồ 2.1 Quy mô ĐNGV THCS chia theo giới tính 44 Biểu đồ 2.2 Kết quả khảo sát về năng lực GV THCS 50 Biểu đồ 2.3 Kết quả khảo sát về phẩm chất, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của GV THCS 52 Biểu đồ 2.4 Kết quả khảo sát về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với GV 57

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế- văn hóa, xã hội

của đất nước Đại hội Đảng khóa IX đã chỉ rõ: “Tiếp tục quán triệt quan điểm

giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo”, coi “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ XI một lần nữa khẳng định “Phát triển giáo dục và đào

tạo cùng với sự phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu

tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển” Sự nghiệp giáo dục, suy

cho cùng, cũng chính là sự nghiệp xây dựng và phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước

Thực tế lịch sử cho thấy, quốc gia nào quan tâm, chăm lo và sử dụng hợp

lý, có hiệu quả nguồn nhân lực thì sẽ dẫn đến thành công Để đào tạo ra những con người có đức có tài, hội tụ đủ những tố chất đáp ứng được như cầu phát triển của đất nước, ngành giáo dục và đào tạo cần một ĐNGV có trình độ chuyên môn vững vàng, có khả năng đáp ứng được yêu cầu giảng dạy trong giai đoạn hiện nay

Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ nhà giáo trong sự nghiệp trồng người, Đảng và Nhà nước, các Bộ, ban ngành đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm mục đích nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho những đối tượng này, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của

xã hội đối với ngành giáo dục Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát

triển đất nước giai đoạn 5 năm 2011- 2015: “Phát triển, nâng cao chất lượng

Trang 11

giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức” Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020

xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân

lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” và phát triển đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục là giải pháp then chốt để thực hiện Chiến lược Ở

cấp Bộ, ngày 29/12/2011, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo có Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020; Thông tư số 26 /2012/TT-BGDĐT ngày ngày 10 tháng

7 năm 2012 ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ

thông và giáo dục thường xuyên, Công văn số 5735/BGDĐT-NGCBQLD ngày 21 tháng 8 năm 2013 về việc hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2013- 2014

về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

cơ sở giáo dục Mới đây, ngày 30 tháng 9 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào

tạo ban hành Kế hoạch số 5344 /BGDĐT- KHTC về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo 5 năm 2016-2020, trong đó có nội dung đánh giá tình hình phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (về số lượng, cơ cấu, trình độ )

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THCS có vị trí, vai trò quan trọng, là mắt xích trong hệ thống giáo dục phổ thông hoàn chỉnh (vừa tiếp nối vừa chuyển tiếp), góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Mục tiêu của giáo dục THCS là nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Có thể thấy, việc nâng cao chất lượng GV và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nói chung, GV THCS nói riêng được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm, chú trọng

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, điều kiện kinh tế- xã hội còn khó khăn so với cả nước nhưng cùng với sự phát triển của các lĩnh vực khác trong toàn tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây, ngành GD&ĐT tỉnh cũng đã

Trang 12

từng bước phát triển Chất lượng GV toàn tỉnh nói chung, GV THCS nói riêng từng bước được cải thiện Bên cạnh những thành tích đạt được thì đội ngũ này cũng còn có những hạn chế nhất định trong chất lượng, chưa đáp ứng được thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước cũng như quốc tế trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã

khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong

đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt”, “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng trong xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” Ngày 4-

11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã ký ban hành Nghị quyết số 29/ NQ- TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với quan điểm

chỉ đạo “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề chất lượng giáo dục và chất lượng nhân lực trong ngành GD&ĐT nói chung đã được nhiều công trình khoa học ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu Tác giả Cù Thị Hồng Yên, Học viện hành chính Quốc gia, thực hiện đề

tài “Tăng cường quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục tỉnh

Phú Thọ” năm 2011 cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính

công của mình Trong luận văn, tác giả trình bày những lý luận chung quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục, phân tích thực trạng nguồn nhân lực ngành giáo dục Phú Thọ, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục Phú Thọ

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp lớp Cao cấp lý luận chính trị- hành chính (2011)

“Nâng cao chất lượng giáo dục Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Chương trong tình hình hiện nay” của tác giả Lê Văn Nam, huyện Thanh

Chương, tỉnh Nghệ An đã trình bày những quan niệm về chất lượng giáo dục hiện nay, phân tích thực trạng chất lượng giáo dục ở các trường THCS huyện Thanh Chương, đánh giá những kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra, qua

đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục THCS

và đưa ra những kiến nghị để thực hiện những giải pháp đó

Về vấn đề nâng cao chất lượng GV, tác giả Trần Bá Hoành có bài “Chất

lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001 Ở bài này, tác giả

đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng ĐNGV Qua

đó, tác giả đề xuất các giải pháp cho vấn đề nâng cao chất lượng GV Cũng

trên Tạp chí Giáo dục, tác giả Trần Thanh Hoàn với bài “Chất lượng giáo

viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” tháng 4/2003 đã

trình bày những nghiên cứu của mình về chất lượng giáo viên và đưa ra

những chính sách để cải thiện chất lượng giáo viên thời điểm đó

Trong chuyên khảo “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất độ ngũ

giáo viên”- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Đặng Quốc Bảo và

những người khác, sau khi đề cập những vấn đề chung về phẩm chất- năng

lực của người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới; nhóm tác giả đã

đề ra các con đường để người thầy nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu đối với nhà giáo trong điều kiện đất nước hội nhập

và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa

Nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung

Ương về “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

giáo dục gia đoạn 2005- 2010”, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục

(thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã thực hiện “Nghiên cứu đánh giá đội ngũ

nhà giáo Việt Nam” làm căn cứ cho các quyết định, chính sách đối với đội

Trang 14

ngũ nhà giáo Khi đề câp vấn đề GV trong giáo dục, báo cáo khuyến nghị những khía cạnh cần được đặc biệt quan tâm, nhất là năng lực về chuyên môn cho cả ĐNGV: a) Khả năng sử dụng những thiết bị cho hoạt động nghề nghiệp; b) Khả năng gắn kết giảng dạy khoa học với thực tế lao động sản xuất; c) Khả năng biết vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy; d) Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa- xã hội

Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm thuộc Hội Khoa học Tâm lý

giáo dục Hà Nội có bài viết “Cấp bách nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

để nâng cao chất lượng giáo dục” Trong bài này, tác giả đã trình bày vai trò

của nhà giáo, hiện trạng chất lượng nhà giáo với hạn chế về tay nghề được chỉ

ra, từ đó đặt ra yêu cầu về đổi mới công tác bồi dưỡng nghiệp vụ nhà giáo

Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học

phổ thông vùng ven thành phố Đà Lạt đáp ứng xây dựng trường chuẩn quốc gia” của tác giả Đỗ Nguyên Tuấn, trường Đại học Đà Lạt (2013) đã trình bày

cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển đội

ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông vùng ven thành phố Đà Lạt,

tỉnh Lâm Đồng đáp ứng xây dựng trường chuẩn quốc gia

Tác giả Nguyễn Hữu Độ trong luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ giáo

viên cốt cán trong phát triển nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông thành phố Hà Nội” (trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2015) đã trình bày

lý luận và thực tiễn về xây dựng ĐNGV cốt cán trong phát triển nghề nghiệp GV THPT thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao dần chất lượng của đội ngũ này theo chuẩn nghề nghiệp GV trung học

Ngoài ra có thể kể đến các tác phẩm, bài viết của các tác giả như Đinh

Quang Báo (2005) “Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao

chất lượng đội ngũ giáo viên” trên Tạp chí Giáo dục, Hà Nội, Đặng Quốc

Bảo- Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007) “ Cẩm nang nâng cao năng

lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên”- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Về vấn đề GV THCS, tác giả Hồ Cảnh Hạnh triển khai đề tàì luận án tiến

sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam với nhan đề “Quản lý đào tạo giáo

Trang 15

viên đáp ứng nhu cầu giáo dục trung học cơ sở vùng Đông Nam Bộ” năm

2013 Luận án đã nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đào tạo

GV THCS ở các trường sư phạm đáp ứng nhu cầu xã hội; đánh giá thực trạng quản lý đào tạo GV THCS ở các trường sư phạm từ góc độ đáp ứng nhu cầu vùng Đông Nam Bộ; đề xuất quy trình quản lý đào tạo GV đáp ứng nhu cầu giáo dục THCS vùng Đông Nam Bộ; đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo

GV nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục THCS vùng Đông Nam Bộ

Tác giả Lê Khánh Tuấn với đề tài luận án “Các biện pháp phát triển đội

ngũ giáo viên trung học cơ sở trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (phân tích thực tiễn tại Thừa Thiên Huế) (Đại học Sư phạm Hà Nội,

năm 2005) đã trình bày cơ sở lý luân của vấn đề phát triển ĐNGV THCS; Đề xuất các biện pháp đồng bộ phát triển ĐNGV và bước đầu vận dụng có hiệu quả thực tế trong quản lý và quy hoạch phát triển ĐNGV cấp THCS tại Thừa Thiên Huế

Tác giả Nguyễn Sỹ Thư với luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo

dục, Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006) “Những biện pháp

nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở ở các tỉnh Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục Trung học cơ sở” đã phân tích

thực trạng chất lượng ĐNGV THCS trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, tổng kết một số kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ này

Tác giả Nguyễn Văn Khôi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ Khoa học

giáo dục, Trường Đại học Vinh (2011) “Một số giải pháp nâng cao chất

lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”

Tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng về chất lượng ĐNGV THCS ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, qua đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ này

Luận văn thạc sĩ “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường

Trung học cơ sở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”

của tác giả Ngô Đức Sáu- Ngành Quản lý giáo dục, 2011- Đại học Giáo dục,

Trang 16

nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển ĐNGV; khảo sát thực trạng ĐNGV các trường THCS huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; từ đó, đề xuất một

số biện pháp phát triển ĐNGV THCS huyện Lâm Thao ở thời điểm tác giả tiến hành nghiên cứu (năm 2011)

Có thể thấy, các nghiên cứu khoa học và các tài liệu đề cập ở trên trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành giáo dục đã phác họa được thực trạng và đưa ra giải pháp nhưng ở góc độ quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục, các nghiên cứu về GV THCS chỉ trong qui mô cấp huyện, hoặc với mục đích nâng cao chất lượng

GV THCS là để đáp ứng một khía cạnh khác, chẳng hạn đáp ứng yêu cầu phổ

cập giáo dục THCS Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng nhân lực giáo dục, trong đó đi sâu nghiên cứu đối tượng GV THCS qui mô toàn tỉnh Phú Thọ góp phần đáp ứng yêu cầu mới căn bản toàn diện GD&ĐT mà Đảng và Nhà nước ta đang đặt ra hiện nay thì chưa có đề tài nào đề cập đến

Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài này, một mặt kế thừa có chọn lọc những thành tựu và kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, mặt khác, trình bày một cách có hệ thống những vấn đề thực tế đang đặt ra hiện nay về chất lượng

GV THCS tỉnh Phú Thọ, đồng thời xây dựng những nhóm giải pháp mang tính khả thi, thiết thực và kịp thời trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ này của tỉnh nói riêng, của ngành giáo dục nước ta nói chung, nhằm mục đích góp phần đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã đề ra

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng GV THCS tỉnh Phú Thọ, tác giả đề xuất những giải pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế trong chất lượng GV THCS, nâng cao chất lượng đội ngũ này tại tỉnh Phú Thọ, góp phần đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

4 Phạm vi nghiên cứu

1) Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng GV THCS

Trang 17

2) Phạm vi thời gian: Từ 2013- 2015

3) Phạm vi không gian: Đề tài được khảo sát tại tỉnh Phú Thọ

5 Mẫu khảo sát

Khảo sát GV thuộc 22 trường THCS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Chất lượng GV THCS tỉnh Phú Thọ hiện nay như thế nào?

- Có những giải pháp nào để nâng cao chất lượng GV THCS tỉnh Phú Thọ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Chất lượng GV THCS tại tỉnh Phú Thọ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT của Đảng và Nhà nước ta

hiện nay

- Giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ này là: Xây dựng quy hoạch phát triển giáo viên trung học cơ sở đến năm 2020; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại GV THCS; Tăng cường đánh giá GV và thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyên môn ở các trường THCS; Hoàn thiện chế độ độ đãi

ngộ, chính sách, cơ chế tài chính đối với GV THCS

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và các giải pháp đưa ra trong đề tài, bao gồm:

- Các Văn kiện, Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Ngành Giáo dục, tư tưởng Hồ Chí Minh có liên quan đến đề tài

- Các tác phẩm về tâm lý học, giáo dục học… trong và ngoài nước

- Các công trình nghiên cứu khoa học, trong đó có khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo, … có liên quan đến đề tài như luận văn, luận án, các báo cáo khoa học, các bài báo…

8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra, khảo sát:

Trang 18

- Tiến hành điều tra, thống kê để nắm được số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo… của GV THCS trên địa bàn khảo sát

- Tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi về năng lực, phẩm chất, các chế độ chính sách, khen thưởng đối với GV THCS, công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá GV THCS

Kết quả điều tra, khảo sát và thống kê được phân tích, so sánh, đối chiếu

để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận văn

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có 3 chương, trong đó:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng chất lượng giáo viên trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ Chương 3 Cơ sở và nội dung các giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ

Trang 19

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực

Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở về trước, nguồn nhân lực không được coi trọng do ảnh hưởng của quan điểm kỹ trị Một nước giàu tiềm năng phát triển kinh tế xã hội thường được xem xét trên các khía cạnh như sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực kỹ thuật, khối lượng vốn tích lũy và đầu tư… Nói cách khác, đó là tiềm năng về nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây, với sự xuất hiện của các nền kinh tế mạnh ở các nước có ít tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vật chất và tài chính nghèo nàn, đã đặt vấn đề xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội Kinh nghiệm của Nhật Bản, một nước sớm nhận thức tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã có chiến lược về phát triển con người từ thế kỷ XVII- XVIII, và sau đó vào những năm cuối của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICs) đã chứng minh một lần nữa vị trí quan trọng của nguồn nhân lực trong sản xuất kinh doanh, vì thế, có những bước phát triển mới Cũng từ đó, khái niệm nguồn nhân lực (Human Resources) được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa

là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển

Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [45; 3]

Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã

Trang 20

hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ

Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn

mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [42; 282]

Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Theo GS.TS Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người đươc thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.1

Theo TS Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [18; 5]

1

Theo Trần Xuân Cầu (Chủ biên), Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại

Trang 21

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển

Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá

Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội

Có thể nhận thấy chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố

vô cùng quan trọng khi đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định.2

2

Theo Lê Thị Thúy (2012) , Luận án Tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc Việt Nam”, Viện Nghiên cứu

Quản lý Kinh tế Trung Ương

Trang 22

1.1.2 Giáo viên và chất lượng giáo viên

GV là lực lượng cơ bản nhất của nguồn nhân lực ngành giáo dục- một bộ phận quan trọng trong nguồn nhân lực quốc gia Khoản 1, Điều 70 Luật Giáo

dục năm 2005 qui định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục

trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” Cũng thuộc điều 70 Luật này, khoản

3 chỉ rõ: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,

giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”

Nghề GV có những đặc trưng, đó là: Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp

là con người; Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình; Là nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội; Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo; Là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp Do những đặc điểm mang tính chất đặc thù của nghề GV mà khi đề cập đến chất lượng

GV, chúng ta cần chú ý trước hết đến vấn đề chất lượng giáo dục, dạy học: Chất lượng giáo dục, dạy học của GV được đánh giá qua kết quả giảng dạy, giáo dục, sự tiếp thu kiến thức của học sinh mà sản phẩm cuối cùng là năng lực, nhân cách của người học Chất lượng giáo dục phải hướng vào

“phát triển học sinh”, “phát triển nguồn nhân lực” Để có chất lượng giáo dục tốt, đòi hỏi GV phải thật sự có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, phương pháp giáo dục phải phù hợp với từng đối tượng học sinh, phải thật sự yêu nghề, mến trẻ Trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo, là nhiệm vụ chính trị Do đó, GV phải ý thức được nhiệm vụ dạy học của mình Để có một tiết dạy tốt, GV phải đầu tư soạn giáo án có chất lượng, chuẩn bị tốt các phương tiện, thiết bị dạy học, ứng dụng tốt công nghệ thông tin, cùng với việc tổ chức, điều hành các hoạt động dạy học hiệu quả nhất, đồng thời phải phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh,

lý thuyết phải đi đôi với thực hành Việc đánh giá chất lượng dạy học của GV

có thể thông qua trực tiếp dự giờ, chất lượng làm bài kiểm tra, thi, kết quả học tập của học sinh Vai trò định hướng, hướng dẫn, gợi ý để học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức rất có ý nghĩa GV không phải là người nhồi nhét kiến thức, không phải dạy tất cả những gì có sẵn mà hãy làm tốt vai trò của người thiết

Trang 23

kế, đưa ra ý tưởng, gợi ý để học sinh tự tìm kiếm hướng đi và lời giải Đồng thời, phải coi quá trình dạy học là quá trình dạy - tự học

Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi phải coi trọng chất lượng của từng

GV Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức tháng 4 năm 2000

tại Dakar, Senegal, đã coi chất lượng GV là một yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục Cùng với đó, công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra chất lượng GV gồm năm mặt sau:

- Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dụng bộ môn mình dạy

- Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó

- Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học

- Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác

- Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học

Từ những tiếp cận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục, dạy học, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng GV: Chất lượng GV là sự thể hiện các thuộc tính của GV đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục tại một thời điểm nhất định Chất lượng GV được thể hiện ở các yếu tố: phẩm chất, đạo đức; trình độ chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm; số lượng;

cơ cấu.3

Chất lượng GV là nhân tố quyết định chất lượng nhà trường Trạng thái chất lượng của GV mạnh hay yếu, GV có đáp ứng được yêu cầu hay không, phụ thuộc rất nhiều vào quy mô số lượng GV, sự đồng bộ của GV, năng lực, phẩm chất của mỗi GV trong đội ngũ Có thể nói, khái niệm chất lượng GV vừa “tĩnh” lại vừa “động” Chất lượng GV ở trạng thái “tĩnh” là những thuộc tính tạo nên năng lực nghề nghiệp của GV Chất lượng GV ở trạng thái

“động” tức là những thuộc tính phải thay đổi theo những yêu cầu và hoàn

3

Theo Trần Ngọc Giao, (2013), Chuẩn hiệu trưởng và yêu cầu năng lực đổi mới quản lý trường

trung học phổ thông, Tài liệu tập huấn Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học phổ thông

đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, Dự án phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp

Trang 24

cảnh khác nhau; mặt khác, những thuộc tính này có khả năng tương tác với nhau trong quá trình vận động để GV được phát triển về chất Một khi mục tiêu giáo dục thay đổi thì những thuộc tính tạo nên chất lượng GV cũng phải biến đổi thích ứng với mục tiêu giáo dục

1.2 Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở và người giáo viên Trung học cơ sở

1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở

Trước đây trường THCS được gọi là trường cấp II, sau đó ghép với trường cấp I thành trường phổ thông cơ sở Từ những năm 1990, trường THCS được tách ra từ trường phổ thông cơ sở Trường THCS nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là một bộ phận trong hệ thống giáo dục phổ thông

và là một điểm chiến lược phát triển GD&ĐT Đại hội IX của Đảng đề ra

đường lối phát triển GD&ĐT: “phát triển giáo dục Mầm non, củng cố vững

chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập Trung học cơ sở trong cả nước…”

Bậc THCS được xem là cầu nối giữa bậc tiểu học và THPT, là mắt xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông hoàn chỉnh (vừa tiếp nối, vừa

chuyển tiếp) Điều 26 Luật giáo dục năm 2005, đã quy định: "Giáo dục THCS

thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9 Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là 11 tuổi", “Giáo dục THCS nhằm giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học;

có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật

và hướng nghiệp để tiếp tục học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” THCS có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lứa tuổi

11- 15, một lứa tuổi mang nét đặc biệt về sự phát triển sinh lý, tâm lý, xã hội của mỗi con người mà tương lai của mỗi người lại phụ thuộc chủ yếu vào giai

đoạn hình thành nhân cách này

Như vậy, giáo dục THCS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, là bước cơ bản để chuẩn bị tri thức khoa học, hình thành nhân cách để học sinh sau khi tốt nghiệp có thể tiếp tục học lên hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất, có đủ bản lĩnh góp phần xây dựng và bảo

vệ tổ quốc trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước

Trang 25

1.2.2 Vị trí, vai trò của người giáo viên Trung học cơ sở

Người GV trong bất kể xã hội nào cũng luôn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng Từ xa xưa, vai trò, vị trí của người thầy đã được khẳng định trong

xã hội, được xã hội tôn vinh, kính trọng Người GV trong xã hội xưa, do đặc thù về hệ tư tưởng Nho giáo chi phối nên đa phần là nam giới, được gọi với những danh từ như: thầy đồ, ông đồ, thầy giáo, sư phụ… Người xưa đã đúc kết nên câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hay câu ca dao “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”, hoặc là “Không thầy đố mày làm nên” để ghi nhận và thể hiện vai trò quan trọng của người thầy Người

thầy chính là biểu tượng của sự hiểu biết và phẩm hạnh Họ là những người

học chữ "thánh hiền" nên luôn có ý thức trau dồi tài năng và giữ gìn phẩm cách, vì vậy xã hội luôn gửi gắm ở họ niềm tin về nhân cách, tài năng, luôn coi họ là chuẩn mực, là hình mẫu để vươn tới Tư tưởng, lối sống và năng lực của người thầy có ảnh hưởng sâu sắc tới việc định hình và trưởng thành trong nhân cách, phẩm chất, lối ứng xử cũng như vốn kiến thức của các thế hệ học trò Cách đây hơn 200 năm, người thầy đầu tiên của đất Nam Bộ, nhà giáo Võ Trường Toản đã nói đến trách nhiệm và đóng góp của những người làm nghề

giáo, đó là đạo lý “Lương sư - Hưng quốc”- được hiểu là quốc gia có những

người thầy giỏi và có một nền giáo dục tốt, thì sẽ hưng thịnh Và như vậy, nếu xét trong năm yếu tố cấu thành của hệ thống giáo dục thì vai trò của người thầy là đặc biệt quan trọng, trách nhiệm của họ, theo đó, cũng nặng nề Có thể nói, các thầy giáo giữ vị trí “độc tôn” trong xã hội xưa, cùng với vốn kiến thức cũng như nhân cách của mình, họ tạo được uy tín và sự ngưỡng mộ, kính

nể trong lòng người dân và những quan lại, chức sắc trong xã hội

Trong một giai đoạn lịch sử nhất định, đã xuất hiện quan niệm về nghề giáo và người GV được thể hiện thông qua những câu ca như “Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, bỏ qua sư phạm” hay “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” Mặc dù vậy, ở mọi thời đại, chúng ta vẫn không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của người GV trong sự nghiệp giáo dục, trong việc đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội Vai trò quan trọng của

Trang 26

người thầy cũng được đại thi hào Ta-go diễn tả trong câu nói nổi tiếng của

mình: “Giáo dục một người đàn ông được một con người Giáo dục một người

đàn bà được một gia đình Giáo dục một người thầy được cả một thế hệ”

Vai trò của người GV cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và đề cập đến rất nhiều trong các buổi nói chuyện hay trong các bài viết của Người Theo Hồ Chủ tịch, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục chính là đội ngũ những người thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục Bởi vì các thầy

giáo có nhiệm vụ nặng nề là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là “người chiến sĩ

trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, thầy giáo có trách nhiệm truyền bá cho thế

hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Hồ Chí Minh nhấn

mạnh: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy

giáo thì không có giáo dục…không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa” Thầy giáo là người định hướng, dẫn dắt thế hệ

trẻ từng bước nắm bắt chân lý thời đại, cho nên mọi tài liệu, giáo trình dù hay đến đâu nếu không có thầy giáo hướng dẫn thì không phát huy hết tác dụng đối với thế hệ trẻ Hồ Chủ tịch luôn luôn đánh giá đúng và đề cao vai trò của các thầy giáo, cô giáo đối với xã hội Trong bài phát biểu tại Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội (10/1964), Người nói: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo

những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh Đây là một điều rất vẻ vang, nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa xã hội được Vì vậy, nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang Ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì

phải sửa chữa” Hồ Chí Minh đòi hỏi “thầy giáo xứng đáng là thầy giáo”,

xứng đáng với danh hiệu “Người kỹ sư tâm hồn”

Trang 27

Ngày nay, cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của khoa học công nghệ, của hệ tư tưởng trong xã hội thì sự nhìn nhận, đánh giá về vai trò,

vị trí của người GV cũng có sự thay đổi và mở rộng so với xã hội trước đây Không chỉ nam giới mà nữ giới cũng tham gia và tham gia ngày càng nhiều vào công việc này, đó là các thầy giáo, cô giáo đảm trách nhiệm vụ giảng dạy

ở tất cả các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội nhưng người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ ấy chính là nhà giáo Người thầy song song với việc truyền dạy những tri thức khoa học cho học trò thì họ còn là tấm gương về đạo đức, lối sống, tư tưởng chính trị cũng như kinh nghiệm sống để học trò noi theo Trong thời đại mới, khi mà thế giới không ngừng biến đổi, việc bắt kịp và làm chủ được với những tiến bộ của khoa học công nghệ và xu thế mới của thế giới, bên cạnh những phương thức tiếp cận mới với những tri thức của nhân loại như tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu qua internet, đài, sách báo… thì cũng không thể thiếu được vai trò của người thầy, giá trị và vị thế của người thầy vẫn được khẳng định Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung

ương Đảng khóa VIII chỉ rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng

giáo dục” Thực tiễn giáo dục ở nước ta cũng đã khẳng định: Điều kiện tiên

quyết để nâng cao chất lượng giáo dục chính là đội ngũ những người làm công tác này, trong đó, không thể không đề cập đến ĐNGV Cùng với những người làm công tác quản lý ngành giáo dục, đây chính là nhân tố cốt lõi góp phần quyết định đến chất lượng nền giáo dục nước nhà Họ là người hiện thực hóa các chủ trương, các chương trình cải cách, đổi mới giáo dục ban hành từ cấp trên, đưa chúng vào thực tiễn giáo dục, đào tạo và sản phẩm lao động của họ chính là loại sản phẩm đặc biệt- nhân cách con người và học thức con người Trong bối cảnh ngành giáo dục đang triển khai Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT thì đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định Các thầy cô vừa là người dẫn dắt vừa là người thực thi, đưa Nghị quyết vào thực tiễn giáo dục một cách hiệu quả nhất Chính vì vây, muốn nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì trước hết,

Trang 28

“thầy phải ra thầy”, các thầy các cô phải là những người vừa có tài vừa có tâm

để có thể làm tốt vai trò, trách nhiệm của “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” này Như vậy, chất lượng đòi hỏi ở người thầy là rất cao, rất toàn diện

Về GV THCS, những đối tượng được xếp vào ngạch GV bậc THCS

được quy định trong Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ

thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Thông tư số:

12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Điều 30 qui định những đối tượng là GV trường trung học, trong đó có

GV THCS Đó là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), GV làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), GV làm công tác tư vấn cho học sinh

Đối với người GV THCS, ngoài vị trí, vai trò của một nhà giáo nói chung, họ có vị trí, vai trò, chức năng quan trọng trong nhà trường, đặc trưng cho cấp dạy của mình Bên cạnh các hoạt động như: trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục, là người quản lý lớp học, chịu trách nhiệm về chất lượng môn học do mình phụ trách, phản ánh tình hình học tập, rèn luyện của học sinh với

GV chủ nhiệm, lãnh đạo nhà trường, Đoàn Thanh niên và cha mẹ học sinh; trong hoạt động giảng dạy của mình, GV là người thiết kế bài giảng, thực hiện các phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất để học sinh tích cực, chủ động và sáng tạo trong lĩnh hội kiến thức; trong vai trò tư vấn, nỗ lực để xác định một tầm nhìn và tạo cho học sinh biết làm việc nhóm, đưa ra những lời khuyên kịp thời, có tính xây dựng để học sinh hành động hướng tới đạt được tầm nhìn đó; trong vai trò nhà quản lý quá trình học tập, đánh giá giáo dục, GV phải biết thiết kế bài kiểm tra phù hợp với yêu cầu, mục đích và kết quả học tập của học sinh bên cạnh yêu cầu đánh giá học sinh và đồng nghiệp một cách công bằng, chính xác thì do đối tượng học sinh ở lứa tuổi 11-15, lứa tuổi đang ở

Trang 29

giai đoạn đặc biệt trong sự phát triển sinh lý, tâm lý nên GV phải hết sức nhạy cảm, thấu hiểu, chia sẻ và có những biện pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi này

1.3 Những yêu cầu về hoạt động nghề nghiệp và chuẩn nghề nghiệp của giáo viên Trung học cơ sở trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo

1.3.1 Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo

Hoạt động của GV rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nhưng nhìn chung có những nội dung được thể hiện ở Hình 1.14

Hình 1.1 Mô hình hoạt động của người GV

Trước chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT, đòi hỏi mỗi

GV phổ thông nói chung, GV THCS nói riêng phải nỗ lực phấn đấu, tích cực đổi mới cả về nhận thức và hành động, thể hiện ở những mặt cụ thể sau:

- Không ngừng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp Việc tự học phải thường xuyên,

là cách tốt nhất, hiệu quả nhất để nâng cao trình độ

4

Theo Đặng Bá Lãm (2012), Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Bài giảng

môn học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

Hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động học tập, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng

Hoạt động

xã hội

Trang 30

- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục; rèn luyện kỹ năng sống, nghiệp vụ sư phạm Mỗi GV phải là một công trình sư trong thiết kế, chỉ đạo các hoạt động giáo dục; năng động, sáng tạo, có ý thức và tinh thần trách nhiệm Hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh có tính tích hợp và phân hóa cao;

- Có năng lực đánh giá trong giáo dục; sử dụng hợp lý kết quả đánh giá định tính và định lượng vào quá trình dạy học, giáo dục học sinh;

- Tích cực nghiên cứu khoa học, tìm tòi những điều hay, lẽ phải truyền đạt cho học sinh; tích cực tham gia xây dựng nhà trường an toàn, chủ động, sáng tạo, hợp tác; thương yêu, giúp đỡ học sinh; giáo dục cho học sinh có ý thức về thái độ, động cơ học tập;

- Tích cực nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để có thể ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong giảng dạy, khai thác, nghiên cứu tài liệu, hội nhập quốc tế…

- Thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng xã hội học tập

GV là người truyền thụ kiến thức cho học sinh thông qua các tiết học chính khóa, ngoại khóa và các hoạt động khác Do vậy, GV phải có trình độ chuyên môn, có nghệ thuật sư phạm, biết hướng dẫn, tổ chức các hoạt động,

là trung tâm của tập thể học sinh, có khả năng tập hợp, lôi cuốn, kết nối, giúp

đỡ học sinh Khi đó, GV trở thành người lãnh đạo, dẫn dắt học sinh tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức, sáng tạo trong nghiên cứu, độc lập trong suy nghĩ, biết cách tránh những cái tiêu cực, tìm đến những điều tốt đẹp Vai trò lãnh đạo của GV sẽ được phát huy khi bản thân GV phải thật sự bản lĩnh, có

uy tín đối với đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh Vai trò của GV trong quá trình dẫn dắt học sinh đi từ những cái nhỏ nhất, dễ nhất, đơn giản nhất… để đạt đến những cái lớn hơn, khó hơn, phức tạp hơn… là rất quan trọng Trong quá trình lãnh đạo và dẫn dắt học sinh, tình cảm thầy trò sẽ gần gũi, gắn bó, thân thiện hơn Kết quả đạt được là hiệu quả của quá trình dạy học, giáo dục, tạo lập được môi trường học tập tốt, cùng hướng đến mục tiêu tối thượng là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Trang 31

Theo tổng kết của UNESCO, trong nền giáo dục hiện đại, yêu cầu đối với GV thay đổi theo hướng:

- Đảm nhận nhiều chức năng khác hơn so với trước, có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục;

- Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội;

- Coi trọng hơn việc cá biệt hoá trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò;

- Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do

đó, có yêu cầu trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng cần thiết;

- Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau;

- Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống;

- Yêu cầu GV tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường;

- Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh.5

Những thay đổi này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng

GV, đặc biệt phải coi trọng hơn việc bồi dưỡng thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng và có hệ thống các tri thức và kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của họ

Quá trình phát triển giáo dục từ nền giáo dục tinh hoa cho số ít sang nền giáo dục phổ cập cho số đông đã thúc đẩy sự hình thành một ĐNGV - một lực lượng lao động xã hội- nghề nghiệp đông đảo ở các cấp, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân Nghề GV đòi hỏi người hành nghề phải được đào tạo chuẩn mực về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và có phẩm chất đạo đức

xã hội- nghề nghiệp phù hợp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhà giáo theo yêu cầu của xã hội

5

Xin tham khảo thêm Fumiko Shinohara (2004), ICTs in teachers training, UNESCO

Trang 32

1.3.2 Những quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở

* Chuẩn:

Theo tác giả Trần Ngọc Giao (2013) trình bày trong tài liệu “Chuẩn hiệu

trưởng và yêu cầu năng lực đổi mới quản lý trường THPT” (Tài liệu tập huấn

Nâng cao chất lượng đào tạo GV THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, Dự án phát triển GV THPT và trung cấp chuyên

nghiệp) thì Chuẩn là yêu cầu, tiêu chí có tính nguyên tắc, công khai và mang

tính xã hội được đặt ra bởi quyền lực hành chính và cả chuyên môn để làm thước đo đánh giá trình độ đạt được về chất lượng, hoạt động công việc, sản phẩm, dịch vụ,… trong lĩnh vực nhất định theo mong muốn của chủ thể quản

lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng

* Chuẩn nghề nghiệp giáo viên:

Chuẩn nghề nghiệp GV là hệ thống thống nhất các tiêu chí về kiến thức

và kỹ năng chuyên môn; năng lực sư phạm; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mà người GV cần có để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của mình Mục đích của chuẩn nghề nghiệp GV bao gồm: làm căn cứ cho các GV

tự đánh giá để tự hoàn thiện và nâng cao năng lực nghề nghiệp; làm căn cứ để

tổ chuyên môn hoặc hiệu trưởng đánh giá, giúp đối tượng đánh giá phát triển nghề nghiệp của mình; là một căn cứ để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng GV.6

Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo được quy định tại Điều 72 Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 và có các quyền được quy định tại Điều 73 thì người GV THCS cần đảm bảo những yêu cầu riêng về Chuẩn nghề nghiệp đối với GV trung học cơ sở

* Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học cơ sở:

Để trở thành một nhà giáo, tại Khoản 2 Điều 70 Luật Giáo dục 2005 quy

định những tiêu chuẩn sau:

6

Theo Trần Ngọc Giao, (2013), Chuẩn hiệu trưởng và yêu cầu năng lực đổi mới quản lý trường

trung học phổ thông, Tài liệu tập huấn Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học phổ thông

đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, Dự án phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp

Trang 33

Để trở thành một người GV THCS thì yêu cầu phải đạt trình độ chuẩn

được đào tạo của nhà giáo bậc THCS Trình độ chuẩn được quy định tại Điểm

b Khoản 1 Điều 77 Luật Giáo dục và Khoản b Điều 33 trong Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), đó là: “Có bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư

phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm đối với GV trung học cơ sở”

Bên cạnh yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo thì GV THCS đồng thời phải đáp ứng được chuẩn nghề nghiệp, bao gồm 6 tiêu chuẩn với 25 tiêu

chí, được quy định tại các điều 4,5,6,7,8,9 trong Quy định Chuẩn nghề nghiệp

đối với GV trung học cơ sở, GV trung học phổ thông (Ban hành kèm theo

Thông tư Số: 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Theo đó, GV THCS cần đạt các tiêu chuẩn, tiêu chí sau:

Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gồm 5 tiêu chí:

Phẩm chất chính trị, Đạo đức nghề nghiệp, Ứng xử với học sinh, Ứng xử với đồng nghiệp, Lối sống, tác phong

Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục

gồm 2 tiêu chí: Tìm hiểu đối tượng giáo dục, Tìm hiểu môi trường giáo dục

Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học, gồm 8 tiêu chí: Xây dựng kế hoạch

dạy học, Đảm bảo kiến thức môn học, Đảm bảo chương trình môn học, Vận dụng các phương pháp dạy học, Sử dụng các phương tiện dạy học, Xây dựng môi trường học tập, Quản lý hồ sơ dạy học, Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục, gồm 6 tiêu chí: Xây dựng kế hoạch

các hoạt động giáo dục, Giáo dục qua môn học, Giáo dục qua các hoạt động giáo dục, Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng, Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh

Trang 34

Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội, gồm 2 tiêu chí:

Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng, Tham gia hoạt động chính trị,

xã hội

Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp, gồm 2 tiêu chí: Tự

đánh giá, tự học và tự rèn luyện, Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục

Như vậy, các văn bản trên đây, đặc biệt là Quy định về Chuẩn nghề nghiệp đối với GV THCS giúp GV tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp; làm cơ sở để đánh giá, xếp loại GV hàng năm, phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và

sử dụng ĐNGV THCS, làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV và cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác nhằm mục đích giúp GV đạt chuẩn và nâng cao chất lượng đội ngũ này

Về cơ bản, chuẩn nghề nghiệp GV THCS hiện nay phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục Có thể nói, những chuẩn mực của xã hội và yêu cầu nghề nghiệp (chuẩn nghề nghiệp) đòi hỏi người GV dù làm việc ở cấp bậc học nào,

ở cương vị nào cũng cần có những phẩm chất và năng lực chung của nhân cách nhà giáo; đồng thời ở từng cấp bậc học, từng cương vị khác nhau còn đòi hỏi thêm những phẩm chất, năng lực đặc thù riêng phù hợp với tính chất công việc và các mối quan hệ giao tiếp Những yêu cầu này chính là yêu cầu về chất lượng của nhân lực sư phạm- GV các cấp, trong đó có GV cấp THCS

1.4 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao chất lượng giáo viên của một số nước trên thế giới

Nâng cao chất lượng GV là vấn đề được các quốc gia trên thế giới coi trọng trong chính sách phát triển giáo dục Từ thế kỷ XVI ở châu Âu, khi đề ra các biện pháp chấn hưng giáo dục, người ta đã nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng GV Các nội dung nâng cao chất lượng GV dần được bổ sung, làm phong phú thêm, nhưng yếu tố chất lượng đội ngũ luôn luôn được đề cao Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi mà các thuật ngữ về “vốn con người” (Human Capital) và “nguồn lực con người” (Human Resource) xuất

Trang 35

hiện ở Hoa Kỳ và sau đó thịnh hành trên thế giới thì vấn đề GV cũng được giải quyết với tư cách là nâng cao chất lượng của một ngành, lĩnh vực Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn đề thì có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng GV được đặt ra trong mối quan hệ giữa yêu cầu của sự phát triển giáo dục- đào tạo và tăng trưởng kinh tế Vì thế, chất lượng GV rất được quan tâm Với định hướng đưa giáo dục Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, Chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải pháp GV làm then chốt, chủ trương tiêu chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và nâng cao chất lượng GV trên tất cả các mặt: vị thế nghề nghiệp, nhân cách và

xã hội Trong thời gian dài, Hoa Kỳ đã không chú trọng nhiều đến ĐNGV, đồng lương của GV và vị thế xã hội của họ ở mức dưới trung bình so với các ngành nghề khác Do vậy, Hoa Kỳ đã lâm vào tình trạng khó khăn trong giáo dục Rất nhiều môn học không có GV được đào tạo sư phạm vẫn trực tiếp giảng dạy, tỷ lệ trái nghề trung bình là 10% đến 40% tùy thuộc vào môn học Điều đó thực tế không nguy hại nhiều đến chuyên môn, những người trái nghề này có chuyên môn sâu về lĩnh vực đang giảng dạy nhưng thiếu về phương pháp sư phạm Nhưng ở khía cạnh quy hoạch đào tạo, khía cạnh hành chính, quản lý và đánh giá GV theo yêu cầu giáo dục thì lại nảy sinh nhiều vấn đề bất cập Khi nhận thấy vị thế và thu nhập của họ tại nước mình thấp hơn ở Nhật Bản, Chính phủ Hoa Kỳ đã tập trung nâng cao chuẩn GV của mình cả về vật chất lẫn tinh thần Công tác đào tạo, bồi dưỡng để phát triển ĐNGV cũng được quan tâm đầy đủ hơn [25;347] Nhiều năm trở lại đây, Hoa Kỳ coi chất lượng người thầy là một yếu tố góp phần chấn hưng giáo dục Trong diễn văn trình

Quốc hội cuối năm, có tuyên bố: “Cần phải sát hạch lại giáo viên mới ra

trường tốt nghiệp những trường hợp không đạt yêu cầu” Vài tháng sau đó,

tổng thống Bush (nhiệm kỳ 2000- 2005) nêu rõ: “Từ nay cho đến năm 2005,

các bang phải hoàn thành việc sát hạch trình độ giáo viên Những giáo viên nào không đủ trình độ chuyên môn, nhất thiết không được giảng dạy” Ông

Bush coi GV là những chuyên gia cao cấp, yêu cầu trả cho họ những đồng

Trang 36

lương xứng đáng, đồng thời ông cũng đòi hỏi GV trau dồi trình độ chuyên môn thường xuyên.7

Tại Liên Xô cũ, trong những năm đầu của chính quyền Xô Viết, trên quan điểm coi giáo dục Xã hội Chủ nghĩa vừa là mục đích kinh tế vừa là sức mạnh của kinh tế, Lê-nin cho rằng đội ngũ giáo viên Xô Viết có vai trò quan

trọng trong tiến trình xây dựng chính quyền Xô Viết Người căn dặn: “Chúng

ta phải làm cho giáo viên ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng

có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản” Vì vậy,

Người yêu cầu Bộ dân ủy giáo dục phải “Nâng cao một cách có hệ thống,

kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của giáo viên (…) nhưng việc chủ yếu vẫn là và luôn luôn là phải cải thiện đời sống vật chất cho họ”8 Thời điểm sau khi Liên Xô tan rã, chế độ chính trị thay đổi kéo theo sự thay đổi nền giáo dục Chính phủ Cộng hòa Liên Bang Nga đã ban hành Luật Giáo dục mới (ban hành vào năm 1992 và sửa đổi, bổ sung vào năm 1996) Theo đó, các thể chế, chính sách đối với đội ngũ giáo viên cũng có sự thay đổi Từ thể chế bao cấp về biên chế, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng, tập trung cao độ về kế hoach đã có sự chuyển biến mạnh về đào tạo và bổ nhiệm giáo viên Về đào tạo, chuyển sang hệ thống đào tạo nhiều trình độ, đa dạng hóa loại hình đạo tạo, những nguyên tắc chung của Liên bang vẫn được giữ vững, trong khi sự lan truyền mạnh mẽ hơn; công tác kế hoạch năng động hơn; dân chủ hơn và phát huy được trí tuệ của các cấp quản lý giáo dục Về bổ nhiệm giáo viên, hình thành hệ thống biên chế và hợp đồng mới, tổng nguồn giáo viên phù hợp với sự đa dạng hóa các loại hình trường lớp Có thể lấy Cộng hòa liên bang Nga làm một ví dụ về sự thay đổi tương ứng của đội ngũ giáo viên khi tính chất của nền giáo dục thay đổi Đó là một mối quan hệ tất yếu, không chỉ khi nền giáo dục có sự thay đổi cơ bản ở tính chất mà chỉ cần một thay đổi nhỏ về quan điểm, đường lối, định hướng phát triển giáo dục cũng đã có tác động mạnh mẽ đến các vấn đề đội ngũ những nhà giáo Những năm sau này, các nhà

7Xin tham khảo thêm Dự án Srem (2010), Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên

thế giới, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội

Trang 37

nghiên cứu quản lý giáo dục như M.I.Kônđacốp, P.V.Khuđominxki… đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản

lý có hiệu quả Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên

có năng lực chuyên môn Họ cho rằng, kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ [25;212]

Hàn Quốc là quốc gia khá tiêu biểu ở Đông Á trong những chủ trương cải cách, mở cửa giáo duc để góp phần đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội Hàn Quốc đã có những bứt phá ấn tượng để trở thành quốc gia phát triển trong một thời gian ngắn Năm 1995, ngay khi đã ở mức phát triển khá cao, Chính phủ Hàn Quốc vẫn chủ trương tiến hành cải cách giáo dục với quan điểm xây dựng một “Xã hội giáo dục sống động và mở cửa” Một trong những vấn đề được ưu tiên trong cải cách lần này là nâng cao chất lượng GV với những chính sách hỗ trợ rất cụ thể, mà trong đó, việc thể chế hóa chúng thành luật pháp về giáo dục rất được chú trọng Các vấn đề về: cải cách nội dung, chương trình đào tạo GV; đổi mới phương pháp giảng dạy; sử dụng một cách linh hoạt ĐNGV và đẩy mạnh đào tạo GV; cải tiến môi trường và trang thiết bị ở trường học , tạo nên một hệ biện pháp hoàn chỉnh cho việc nâng cao chất lượng nhà giáo [25;460] Nhật Bản hiện có ĐNGV trung học gần 1 triệu người, trong đó GV THCS khoảng 260 nghìn Sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học ngành GV phải có bằng chứng nhận GV do một cơ quan chính quyền của Nhà nước cấp Bằng chứng nhận GV được cấp cho người học, bậc học Để nhận được bằng, mỗi thí sinh phải học thêm các đơn vị học trình trong ba chương trình khác nhau là: Trình độ cơ sở; Môn chuyên ngành giảng dạy; Các chương trình nghiệp vụ, kể cả thực tập, Bằng GV được cấp cho mỗi thí sinh có hiệu lực trên toàn đất nước Nhật Bản, ở tất các loại hình trường của mọi tổ chức (Chính phủ, phi Chính phủ ) Tuy nhiên, sau 12 tháng được cấp bằng, nếu thí sinh không được tuyển dụng thì bằng GV sẽ hết hiệu lực; muốn gia nhập ĐNGV, thí sinh phải thi lại để lấy bằng mới Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới cũng luôn được chú trọng Vì vậy, khi đã là GV, mỗi người

Trang 38

phải tự tu dưỡng, học tập, rèn luyện mới có thể đáp ứng được yêu cầu giáo dục [25;227]

Đối với Trung Quốc, họ coi GV là nền tảng của giáo dục “Quá trình cải

cách giáo dục ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thời kỳ 1978- 2003” [10] đặc

biệt nhấn mạnh: Muốn phục hưng dân tộc phải dựa vào giáo dục, mà muốn phục hưng giáo dục phải dựa vào ĐNGV Quan tâm và chú ý đên ĐNGV là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn và phù hợp bởi chính GV là những người chịu trách nhiệm trực tiếp về sự thành bại của công cuộc cải cách giáo dục Vì thế, những người làm công tác quản lý giáo dục ý thức rất rõ vai trò của GV Trung Quốc chú ý ưu tiên là xây dựng và chuẩn hóa ĐNGV, đề ra chính sách động viên toàn diện khả năng của đội ngũ này bởi họ chính là nhân tố trực tiếp tác động đến sự thành bại của sự nghiệp cải cách giáo dục Tuy nhiên, thực trạng hiện nay của ĐNGV ở Trung Quốc còn nhiều hạn chế: về số lượng thì tỉ lệ GV, HS thấp hơn nhiều so với các nước phát triển; về chất lượng thì tỷ

lệ GV đạt chuẩn còn thấp, ước tính ở bậc trung học, đến gần nửa GV (trên 40%) chưa đạt chuẩn đào tạo Tình hình đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình phát triển giáo dục Vì vậy, trong chiến lược phát triển giáo dục

đến năm 2050, Trung Quốc xác định “Tăng trưởng xây dựng ĐNGV, nâng cao

tố chất và địa vị xã hội của giáo viên” là một trong những mục tiêu trọng điểm

phải thực hiện Theo đó, đến năm 2050, Trung Quốc ước có 155 triệu HS trung học với ĐNGV khoảng 11,92 triệu người [25;290]

Trong báo cáo tại hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức

đã nói đến những vai trò của người GV trong thời đại mới với vai trò người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng GV như sau:

- Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các phương

pháp giảng dạy mới nhất

- Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục (chuyên gia truyền đạt kiến thức)

Trang 39

- Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải người học tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền

Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức tháng 4 năm 2000

tại Dakar, Senegal, đã coi chất lượng GV là một yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục Cùng với đó, công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra chất lượng GV gồm năm mặt sau:

- Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dụng bộ môn mình

- Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác

- Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học

Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ- một trong các yếu tố chính góp phần nâng cao chất lượng GV.9

Ở Philipine, công tác nâng cao chất lượng ĐNGV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học, trong thời gian HS nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tác dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ 3 gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo.10

9Xin tham khảo thêm Dự án Srem (2010), Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên

thế giới, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội

10Xin tham khảo thêm Dự án Srem (2010), Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên

thế giới, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội

Trang 40

Vương quốc Thái Lan thành lập riêng một “Văn phòng cải cách đào tạo giáo viên” ở cấp Nhà nước từ năm 1997 Văn phòng này được hình thành dựa trên ưu tiên hàng đầu để thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng đội ngũ những nhà giáo- một nghề đáng kính trọng ở nước này Tổ chức này đã triển khai 6 chương trình chính là: 1) Đề ra danh hiệu giảng viên quốc gia để phong tặng cho GV có thành tích cao; 2) Hầu hết GV được khuyến khích để tham gia vào các khóa đào tạo tại chức thường kỳ qua sự trợ cấp đặc biệt; 3) Triển khai chương trình đào tạo thế hệ GV mới chất lượng cao; 4) Thực hiện thường xuyên việc xếp loại trường để khuyến khích và thúc đẩy GV đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy; 5) Tổ chức cho các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội đến giảng dạy, nói chuyện với HS, GV nhằm kết nối Nhà trường với thực tế cuộc sống; 6) Thực hiện các chính sách điều chỉnh để đẩy nhanh tốc độ, chất lượng phát triển ĐNGV [25;369]

* Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, tác giả nghiên cứu và trình bày các cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng GV THCS Các khái niệm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng GV; vị trí, vai trò của Giáo dục THCS và người GV THCS; Hoạt động nghề nghiệp và chuẩn nghề nghiệp của GV trong sự nghiệp đổi mới GD&ĐT cùng với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vấn đề nâng cao chất lượng GV được nêu ra ở Chương 1 sẽ là cơ

sở khoa học để tác giả khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GV các trường THCS nói riêng và các trường THCS trong toàn quốc nói chung, thúc đẩy chất lượng giáo dục, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT hiện nay

Ngày đăng: 01/07/2016, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và Đào tạo trong thời kì đổi mới: Chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Đào tạo trong thời kì đổi mới: "Chủ trương, thực hiện, đánh giá
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007) “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên”- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên”-
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
7. Đinh Quang Báo (2005), Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, Tạp chí Giáo dục, số 5/2005, tr.105, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đinh Quang Báo
Năm: 2005
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
10. Nguyễn Văn Căn (2007), Quá trình cải cách giáo dục ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thời kỳ 1978- 2003, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình cải cách giáo dục ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thời kỳ 1978- 2003
Tác giả: Nguyễn Văn Căn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Chiều (2010), Bài giảng môn học Quản lý sự thay đổi, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn học Quản lý sự thay đổi
Tác giả: Nguyễn Văn Chiều
Năm: 2010
14. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án“Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án“Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
15. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Quyết định số 1400/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1400/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Công (2003), Tăng cường Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục và đào tạo Tuyên Quang nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngành giáo dục và đào tạo Tuyên Quang nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2003
18. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
Năm: 2003
19. Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp (2013), Tài liệu tập huấn “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam”
Tác giả: Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp
Năm: 2013
20. Dự án Srem (2010), Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên thế giới, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên thế giới
Tác giả: Dự án Srem
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2010
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
23. Trần Ngọc Giao (2013), Chuẩn hiệu trưởng và yêu cầu năng lực đổi mới quản lý trường trung học phổ thông, Tài liệu tập huấn Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, Dự án phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn hiệu trưởng và yêu cầu năng lực đổi mới quản lý trường trung học phổ thông
Tác giả: Trần Ngọc Giao
Năm: 2013
24. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
25. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lâm, Nghiêm Đình Vỹ (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lâm, Nghiêm Đình Vỹ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
26. Vũ Ngọc Hải (2003), Đổi mới giáo dục nước ta trong những năm đầu thế kỉ XXI, Tạp chí Phát triển Giáo dục, số 4/2003, tr.52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Giáo dục
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Năm: 2003
27. Nguyễn Hiền, 9 giải pháp đổi mới toàn diện giáo dục, http://vietnamnet.vn, 6.11.2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 9 giải pháp đổi mới toàn diện giáo dục
30. Nguyễn Thị Mĩ Lộc (2010), Đào tạo giáo viên chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 26/2010, tr.46-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Nguyễn Thị Mĩ Lộc
Năm: 2010
31. Phạm Thành Nghị (2004), Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực giáo dục và đào tạo, Tạp chí giáo dục, số 11/2004, tr.37- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Phạm Thành Nghị
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình hoạt động của người GV - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Hình 1.1. Mô hình hoạt động của người GV (Trang 29)
Bảng 2.1. Định mức biên chế GV THCS - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.1. Định mức biên chế GV THCS (Trang 45)
Bảng 2.2. Thống kê số lƣợng  GV THCS (từ năm 2009- 2014) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.2. Thống kê số lƣợng GV THCS (từ năm 2009- 2014) (Trang 46)
Bảng 2.3. Cơ cấu ĐNGV THCS theo độ tuổi (từ năm 2009- 2014) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.3. Cơ cấu ĐNGV THCS theo độ tuổi (từ năm 2009- 2014) (Trang 47)
Bảng 2.4. Trình độ đào tạo của GV THCS năm học 2013- 2014 - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.4. Trình độ đào tạo của GV THCS năm học 2013- 2014 (Trang 50)
Bảng 2.5.  Kết quả xếp loại  GV THCS (theo Chuẩn nghề nghiệp GV) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.5. Kết quả xếp loại GV THCS (theo Chuẩn nghề nghiệp GV) (Trang 55)
Bảng 2.7. Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh THCS - Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
Bảng 2.7. Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh THCS (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w