ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THU HÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ Ý NGHĨA TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ
Ý NGHĨA TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN TOÀN DIỆN
GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ
Ý NGHĨA TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN TOÀN DIỆN
GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
MÃ SỐ: 60.31.02.04
Người hướng dẫn khoa học: TS TỐNG ĐỨC THẢO
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận văn này là kết quả thu hoạch tài liệu và nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa được công bố trên các công trình khác Tôi cũng xin khẳng định luận văn đã được trích dẫn đầy đủ, cụ thể chính xác kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về những thông tin, dữ liệu đã công bố trong luận văn này./
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
1 Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi đã cho tôi thêm những kiến thức khoa học để tôi có thể nâng cao trình độ của mình trong con đường học tập và nghiên cứu khoa học
2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Tống Đức Thảo - Người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn này Thầy đã thường xuyên động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi, tiếp thêm cho tôi nghị lực và niềm tin để tôi cố gắng tiếp tục học tập và nghiên cứu
3 Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Dân tộc - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam - nơi tôi công tác, đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác để tôi có thể toàn tâm, toàn ý tập trung vào quá trình học tập và làm Luận văn
4 Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Thầy giáo, Cô giáo đã quan tâm giúp đỡ tôi trên hành trình khoa học Xin cảm ơn những người mà tôi chưa hề gặp mặt, nhưng những tư tưởng, công trình nghiên cứu của họ đã có sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới tôi, tới quá trình nghiên cứu của tôi, giúp tôi có niềm tin và động lực để hoàn thành công trình khoa học này
5 Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè lời biết ơn sâu sắc
đã cổ vũ, khích lệ và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện bản Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
3.1 Mục đích nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
5.1 Cơ sở lý luận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Những đóng góp của đề tài 7
7 Ý nghĩa của luận văn 7
7.1 Ý nghĩa lý luận 7
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
8 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC 8
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và vai trò của nền giáo dục mới 9
1.1.1 Mục tiêu của giáo dục 9
1.1.2 Vai trò của giáo dục 15
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất của nền giáo dục mới 26
1.2.1 Xây dựng nền giáo dục mang tính nhân dân 26
1.2.2 Xây dựng nền giáo dục mang tính dân tộc 30
1.2.3 Xây dựng nền giáo dục mang tính khoa học 33
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung, phương pháp giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên 35
1.3.1 Nội dung giáo dục toàn diện 35
1.3.2 Phương pháp giáo dục toàn diện 42
Trang 61.3.3 Phát triển đội ngũ giáo viên 49
Tiểu kết Chương 1 55
Chương 2: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI CĂN BẢN TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY 56
2.1 Yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay 56 2.1.1 Nguyên nhân đổi mới 56
2.1.2 Nội dung đổi mới giáo dục 60
2.2 Ý nghĩa lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam 67
2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là cơ sở lý luận quan trọng để đổi mới giáo dục thành công 67
2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục tạo cơ sở xây dựng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh nói riêng và triết lý giáo dục Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói chung 69
2.3 Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay 72
2.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đã chỉ đạo nhân dân ta xây dựng thành công nền giáo dục mới 72
2.3.2 Nâng cao nhận thức về mục tiêu và vai trò của giáo dục đối với sự phát triển đất nước theo hướng bền vững 77
2.3.3 Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người 81
2.3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm đáp ứng quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục 87
Tiểu kết Chương 2 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những đánh giá cả tổ chức UNESCO khi tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, có một khía cạnh rất đáng quan tâm đó là sự đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Hồ Chí Minh là số ít trong các lãnh tụ trên thế giới quan tâm đến giáo dục từ khi bắt đầu bước chân vào con đường hoạt động cách mạng, thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt đến tận cuối đời Di sản Hồ Chí Minh về giáo dục, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng, kháng chiến và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đến thắng lợi, và đang tiếp tục soi sáng
sự nghiệp đổi mới giáo dục của chúng ta ngày nay
Trong những năm qua, Đảng ta đã nêu ra một loạt quan điểm về giáo dục, phù hợp với yêu cầu và đường lối đổi mới kinh tế xã hội của Đảng Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ quản lý của nhà nước và năng lực lãnh đạo của Đảng” [12, tr.187] Sau đó Đảng ta đã xây dựng sứ mạng của giáo dục là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Về đầu tư, Đảng coi “đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển, tạo động lực và đòn bẩy thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội” [13, tr.380] Nhưng nhìn lại, những quan điểm đúng đắn đó chưa được cụ thể hóa và quán triệt đầy đủ trong hành động Vì vậy giáo dục chưa thực sự có chuyển biến: chất lượng giáo dục kém, công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, cơ chế, chính sách cho giáo dục còn chậm đổi mới Tình trạng yếu kém, lạc hậu về giáo dục đang là nỗi bức xúc của xã hội và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém, lạc hậu trong phát triển kinh tế nói chung do chưa đáp ứng được yêu cầu tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt đặt giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giữa một thế giới đầy biến động, nhiều cơ hội và thách thức, dân tộc Việt Nam đang đối mặt với những yêu cầu gay gắt về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh Vì vậy sứ mạng và mục tiêu của giáo dục Việt Nam trong 10, 15 năm tới là gì? Tất
Trang 82
nhiên phải tiếp thu, kế thừa những giá trị đã có nhưng vẫn rất cần nghiên cứu, bổ sung để có một xác định cụ thể, đầy đủ, phù hợp với hoàn cảnh mới, yêu cầu mới
Xuất phát từ tình hình trên, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Nghị quyết số
29-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ban hành Nghị quyết đã nêu ra thành tựu cũng như hạn chế và nguyên
nhân của việc thực hiện nghị quyết Trung ương II khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó đưa ra quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học” Với mục tiêu tổng quát là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng, chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Công cuộc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục không thể thành công nếu thiếu nghiên cứu thấu đáo và có hệ thống cả về cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn, thiếu sự chỉ đạo nhất quán Cơ sở lý luận đúng đắn sẽ định hướng cho hoạt
Trang 93
động giáo dục tránh khỏi tình trạng mò mẫm, tự phát Cơ sở lý luận càng đúng đắn, phù hợp thì càng có ý nghĩa to lớn làm cơ sở khoa học để xác định đường lối, chiến lược giáo dục cũng như các nội dung cụ thể, càng định hướng cho hoạt động giáo dục một cách đúng đắn và hiệu quả Theo tôi, Nghị quyết số 29-NQ/TW cơ bản là
sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong tình hình mới Bởi vậy, trong lúc Đảng, Nhà nước ta, nhân dân ta đang nỗ lực thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, thì việc trở lại với những luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là việc làm không chỉ có ý nghĩa trong việc hưởng ứng phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà còn có ý nghĩa tạo cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng luôn là cơ sở lý luận vững chắc để Đảng, Nhà nước ta, nhân dân ta tiến hành hiện thực hóa những mục tiêu cách mạng nước nhà Đổi mới toàn diện, căn bản giáo dục nước ta hiện nay, việc bám sát, vận dụng sáng tạo những tư tưởng cốt lõi về giáo dục của Người là một nguyên tắc Với những lý do
trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và ý nghĩa trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay” làm luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để thấy được ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam thì trước hết ta cần tìm hiểu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh,
có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Bởi vậy, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể phân loại như sau:
- Các công trình nghiên cứu toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Người khởi đầu cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục phải
kể đến GS Nguyễn Lân với cuốn sách “Hồ Chủ tịch - Nhà giáo dục vĩ đại” Tác
Trang 10bản Lao động… Các cuốn sách này trích dẫn các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh
về giáo dục và tập hợp các bài nghiên cứu khá sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục: nguồn gốc hình thành, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, giáo dục thanh niên, bồi dưỡng chăm lo thế hệ cách mạng cho đời sau
Gần đây có một số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
và sự vận dụng vào phát triển giáo dục - đào tạo như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới”
của TS Nguyễn Văn Chung Cuốn sách phân tích toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với cách tiếp cận khá mới mẻ Tác giả trình bày từ nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, nội dung cơ bản và sự vận dụng, phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong tình hình mới Còn có cuốn “Tư tưởng Hồ
Chí Minh vể giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay” của TS Hoàng
Anh (chủ biên) Nội dung cuốn sách trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người cũng như đất nước Cuốn sách phân tích tương đối toàn diện, có hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nêu bật tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay Từ việc phân tích một số vấn đề trong công tác đào tạo đại học hiện nay như chất lượng sinh viên, đội ngũ giảng viên, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay
Trang 115
- Các công trình nghiên cứu chuyên khảo về nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Bên cạnh những công trình nghiên cứu toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục thì còn có những cuốn sách đi sâu vào nghiên cứu chuyên sâu về một
vấn đề trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục như: Cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay” của TS Ngô
Văn Hà đã trình bày vai trò của người thầy giáo với giáo dục, yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực đối giáo viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục từ đó có những vận dụng vào việc xây dựng đội ngũ giảng biên đại học hiện nay
Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên” của TS Đoàn
Nam Đàn trình bày những vấn đề về nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, việc vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên của Người trong điều kiện hiện nay và những biện pháp nhằm phát triển toàn diện, phát huy năng lực của thanh niên phục vụ hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ngoài ra còn có Báo cáo tổng hợp đề tài “Cơ sở triết học của tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục” của GS.VS Phạm Minh Hạc Báo cáo đã trình bày sâu sắc
nội dung và cơ sở triết học của hai vấn đề mang tính cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là: học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và luận điểm “ai cũng được học hành”
Gần đây, khi giáo dục Việt Nam đứng trước nhiều thách thức mới, khái niệm
“triết lý giáo dục” được đưa ra nghiên cứu, đánh giá, tranh luận rất nhiều Và một lần nữa, chúng ta lại quay trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có “triết lý giáo dục Hồ Chí Minh” Đây là một vấn đề mới nên chỉ có một số bài viết đi vào
tìm hiểu triết lý giáo dục Hồ Chí Minh như: “Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh” của Phạm Minh Hạc trong cuốn “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam”, “Đôi nét về
triết lý giáo dục của Bác” của Nguyễn Thị Hài (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam),
“Mấy nét về triết lý giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của GS Phạm Xuân Nam, “Từ một số ý kiến của Hồ Chí Minh về giáo dục, từ triết lý giáo dục của thời
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những giá trị cốt lõi trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
- Rút ra ý nghĩa lý luận và thực tiễn của những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đối với đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ lý luận về những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục từ đó rút ra ý nghĩa trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn này được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục
Trang 137
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh… để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương và 6 tiết:
Trang 148
Chương 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ GIÁO DỤC
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một hệ thống các quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của giáo dục Việt Nam, từ giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên giáo dục xã hội chủ nghĩa Đó là tư tưởng về vai trò, vị trí, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục Đối tượng nghiên cứu của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là hệ thống những quan điểm, lý luận về giáo dục Việt Nam của Người gắn liền với quá trình cách mạng Việt Nam Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục được vận dụng vào thực tiễn giáo dục Việt Nam, làm cho giáo dục nước ta ngày một lớn mạnh và cũng góp phần làm cho tư tưởng của Người được phong phú và phát triển
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - thời kỳ có nhiều biến động với những bước chuyển sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Về nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục: Sinh ra trong một gia đình nhà Nho, lớn lên trên một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và tinh thần hiếu học, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã sớm được tiếp thu những truyền thống văn hóa đậm tính nhân văn và tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục còn được kế thừa, tiếp thu tư tưởng văn hóa phương Đông (đặc biệt là tư tưởng của Nho, Lão, Phật), tư tưởng của các nhà Khai sáng Pháp, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên Quan trọng hơn cả đó là sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nâng tư tưởng
Hồ Chí Minh về giáo dục lên một trình độ mới mang tầm vóc thời đại Bằng năng lực và hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã xây dựng ở Việt Nam một nền giáo dục mới - nền giáo dục xã hội chủ nghĩa - mà ở đó con người được phát triển toàn diện
Trang 159
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và vai trò của nền giáo dục mới
1.1.1 Mục tiêu của giáo dục
1.1.1.1 Xây dựng động cơ đúng đắn cho người học
Giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho người học là hết sức quan trọng bởi nó sẽ tạo hứng thú cho người học, làm cho quá trình dạy học đạt được hiệu quả cao nhất Đối với Hồ Chí Minh, động lực, mục tiêu của sự học là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Tư tưởng học
để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán thông qua những chỉ thị, những lời căn dặn và hành động thực tiễn của Người
Trong thực tế lịch sử xã hội, mỗi một thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức, con người ta đề cao sự học không giống nhau Dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến đã từng ảnh hưởng bởi quan niệm "học nhi ưu tắc sĩ" (học để làm quan), cái học đó đã đào tạo ra một tầng lớp quan lại bằng con đường khoa bảng, và xã hội nông nghiệp đề cao cái học
để "vinh thân phì gia", để một người làm quan cả họ được nhờ Trước Hồ Chí Minh, thân phụ và các bậc tiền bối của Người ít nhiều đã chịu ảnh hưởng sự học đó Đến
Hồ Chí Minh, Người nhận thức được lợi ích của việc học lớn hơn nhiều Học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân tức là làm việc, là lãnh nhận sứ mệnh trước quốc dân, đồng bào, là cống hiến, đặt cái lợi nhân quần của Tổ quốc nhân dân lên hết thảy Đó là ý nghĩa đích thực của sự học của quan điểm khoa học và cách mạng, tiến bộ và nhân văn Ở cương vị chủ tịch Đảng, chủ tịch nước, đi nhiều, hễ có dịp là
Hồ Chí Minh dạy nhân dân về lợi ích của sự học mới, về ý nghĩa của sự học cao
cả ấy
Trong lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc trung ương, Người viết: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [44, tr.208] Phát biểu trong Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, năm 1950, Hồ Chí Minh, đặt câu hỏi: học để làm gì? và Hồ Chí Minh đã nói nhiều về mục đích của sự
Trang 16ở Moscow, Người căn dặn: "Các cháu học kỹ thuật và học tiếng Nga cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà định, không thể tùy theo sở thích của riêng mình” [48, tr.48] Trong một lần khác, nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I năm 1956, Người nói: "Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc ” [48, t.48] Có thể thấy, xuyên suốt tư tưởng
Hồ Chí Minh không có sự học nào hơn là sự học là để làm người, giúp đời, phụng
sự Tổ quốc và Nhân dân Đó cũng chính là sự học của người cách mạng, của đạo đức xã hội chủ nghĩa, của những con người thấm đẫm trong mình lý tưởng cộng sản
Tiếp thu tinh thần hiếu học của cha ông, song đến lượt mình, ở Hồ Chí Minh,
sự học của dân tộc Việt Nam, của người Việt Nam đã mang nội dung ý nghĩa mới, học không phải chăm chắm trong bầu trời cá nhân chật hẹp "vinh thân phì gia", mũ cao áo dài, cân đai võng lọng mà học có một mục đích ý nghĩa cao đẹp, tràn đầy lý tưởng nhân văn cao cả, để làm người phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm lợi cho dân, cho nước Chính thấm nhuần cái lý tưởng học đó mà hàng vạn thanh niên trí thức dưới chế độ mới, kể cả những trí thức được đào tạo ở Pháp (chế độ thực dân cũ) đã ra sức phấn đấu học hỏi, nắm bắt khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhiều người đã từ bỏ trời Tây hoa lệ, trở về sống đồng cam cộng khổ cùng nhân dân phụng sự sự nghiệp kháng chiến kiến quốc,
Trang 1711
tiêu biểu như bác sĩ Đặng Văn Ngữ, Kỹ sư Phạm Quang Lễ (anh hùng Trần Đại Nghĩa) và nhiều trí thức dưới chế độ cũ đã sẵn sàng ra tay giúp nước như Tiến sỹ Nho học Huỳnh Thúc Kháng, nhân sĩ Vũ Đình Hòe
Không chỉ dừng lại ở tư tưởng chỉ đạo, Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng
về việc nỗ lực học tập để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh ra đi từ buổi nhân dân, đất nước còn đắm chìm trong đêm đen nô lệ, Người không có điều kiện để nuôi chí học hành, sau này khi nói chuyện với sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam năm 1961, Người thổ lộ "Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học" Người sớm dấn thân vào lao động và tranh đấu, nhưng bản thân Người đã có ý thức học tập từ rất sớm Sau này, Người đã từng kể lại: " Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi
đã được nghe những từ Pháp : tự do, bình đẳng, bác ái Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy", và đó cũng là nguyên nhân Người đi về phía trời Tây để học hỏi, tìm con đường khả dĩ cứu nước, cứu dân Trong hoàn cảnh lao động kham khổ, thiếu thốn, có những lúc bị tù đày, Người luôn có ý thực tự học tự bồi dưỡng, từ ngoại ngữ, đến các tri thức văn hóa, khoa học Đi đến đâu, Hồ Chí Minh đều học và sử dụng được ngoại ngữ, thông hiểu văn hóa để hòa nhập và hoạt động Bản thân Người không được đào tạo một cách bài bản, chính thống qua trường lớp, cấp học, nhưng những tri thức người có được hết sức sâu sắc và toàn diện Người còn căn dặn cán bộ phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân Chính nhờ học qua sách báo, qua bè bạn,
Hồ Chí Minh đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin Người đã được giác ngộ và tìm thấy con đường cứu nước chân chính cho dân tộc: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" Từ đó, Người tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ Ba, vì đã chỉ ra cho Người con đường tranh đấu cho độc lập tự do của dân tộc mình
Tinh hoa của sự học của Hồ Chí Minh được thẩm thấu và tỏa ra ở cốt cách văn hóa thanh cao, lịch thiệp, trong trí thông minh xuất chúng, ở lối ứng xử tinh tế, hấp dẫn Tất cả nhờ Người luôn ý thức tự học và hành Hồ Chí Minh luôn tâm đắc câu nói của Lênin: học nữa, học mãi, và chính Người cho rằng, học để tiến bộ mãi!
Trang 1812
Chính nhờ cái học thấu đáo, năng lực tự học xuất chúng đó, đã làm cho Hồ Chí Minh hội tụ được những tinh túy văn hóa Đông, Tây, đem hết tài học, lực học, kiến học phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc của nhân dân
1.1.1.2 Phát triển hoàn toàn con người
Con người là phạm trù trung tâm trong triết lý giáo dục Hồ Chí Minh Cơ sở phương pháp luận của vấn đề giáo dục con người phát triển toàn diện theo tư tưởng
Hồ Chí Minh là triết lý giáo dục phương Đông Con người là trung tâm của vũ trụ,
là cầu nối của trời và đất:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức tính: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người [44, tr.117]
Hồ Chí Minh quan niệm bản chất con người là những phẩm chất bên trong
mà cụ thể là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thiếu một phẩm chất thì không thành người Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề con người Đồng thời, Người cũng rất coi trọng vai trò của giáo dục đến sự phát triển của con người Quá trình giáo dục phát triển toàn diện con người có quan hệ biện chứng với quá trình thực hiện các mục tiêu của cách mạng xã hội Mục tiêu phát triển toàn diện con người phải tương thích với mục tiêu phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Tiếp thu sáng tạo các luận điểm về phát triển toàn diện con người của Mác, Ăng ghen và Lênin, dựa trên sự phân tích đặc điểm
xã hội và con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ ra mục tiêu, nội dung, con đường, biện chứng giáo dục con người Việt Nam phát triển hoàn toàn
Khi bàn về giáo dục con người phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “con người phát triển hoàn toàn” và thuật ngữ “giáo dục toàn diện” Ngay trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã viết: “Từ giờ phút này trở đi, các
Trang 1913
cháu bắt đầu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam , một nền giáo dục
nó sẽ đào tạo các cháu nên những công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu” [42, tr.34]
Có thể coi đây như bản tuyên ngôn của một nền giáo dục mới, “nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có” của người học
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã viết: cán bộ phải biết gắn lý luận với thực tiễn mới là “người cán bộ hoàn toàn”, trí thức phải biết thực hành mới là “người trí thức hoàn toàn” Trong nhiều bài nói và viết khác nhau
về giáo dục, Hồ Chí Minh thường sử dụng thuật ngữ phát triển hoàn toàn
Trong điều kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam, mục tiêu của nền giáo dục mới, nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chỉ nên đặt ra mức độ phát triển hoàn toàn con người Bởi vì, theo quan điểm của Mác và Lênin thì con người phát triển toàn diện phải là sản phẩm của một chế độ xã hội phát triển ở trình độ cao Dựa theo quan điểm đó, chúng ta dễ dàng thấy rằng xã hội Việt Nam chưa đủ điều kiện để đặt
ra mục tiêu phát triển toàn diện con người Trong bài nói chuyện ở lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12 tháng 6 năm 1956, Hồ Chí Minh đã nhắc ngành giáo dục rằng: “Kháng chiến phải mấy năm Vội không được Giáo dục cũng phải theo hoàn cảnh, điều kiện Phải ra sức làm, nhưng vội không được Từ đây ra cửa thì thứ nhất là bước thứ nhất, thứ hai mới đến bước thứ hai, rồi thứ ba mới là bước thứ ba Vội thì ngã Làm phải có kế hoạch, có từng bước” [48, tr.345] Luận điểm này của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với luận điểm của Lênin trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, khi phê phán sự nóng vội trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục phát triển hoàn toàn con người, trước hết là phát triển những năng khiếu, những tố chất sẵn có của người đi học Phát triển hoàn toàn con người khác với phát triển toàn diện Con người phát triển toàn diện không chỉ phát triển những khả năng sẵn có, những tố chất bẩm sinh mà còn được phát triển về mọi mặt, biết làm mọi việc Dưới chủ nghĩa cộng sản, sự phát triển cao của sản xuất xã hội sẽ tạo nên môi trường giáo dục tốt đẹp tác động vào con người,
Trang 2014
làm cho con người có thể phát triển cả những phẩm chất mà bản thân cá nhân con người đó không có năng khiếu hay tố chất Khi đó người ta sẽ chuyển sang giáo dục, huấn luyện, đào tạo những con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị về mọi mặt và biết làm mọi việc Đó là con người phát triển toàn diện
Giáo dục phát triển hoàn toàn con người, còn được hiểu là giáo dục phải huy động hết mọi tiềm năng có thể của cá nhân và xã hội cho sự phát triển của con người Phát triển hoàn toàn con người, nghĩa là con người đó và xã hội đó có khả năng đến đâu phải sử dụng bằng hết và phải sử dụng một cách hiệu quả nhất trong công tác giáo dục Điều đó chỉ có chế độ xã hội mới với quan hệ xã hội bình đẳng, quan hệ tốt đẹp giữa người với người thì mới thực hiện được
Giáo dục phát triển hoàn toàn con người, nghĩa là quá trình giáo dục phát triển con người phải phù hợp với nhịp độ phát triển của xã hội, phải hướng tới các mục tiêu là cho con người tốt đẹp hơn Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, trong những điều kiện xã hội lịch sử khác nhau thì mục tiêu giáo dục phát triển hoàn toàn con người cũng khác nhau
Năm 1945, khi mới giành được chính quyền, bên cạnh việc thực hiện nhiệm
vụ chống thù trong, giặc ngoài, củng cố chính quyền, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những nhu cầu cấp thiết của nhân dân như chống giặc đói, giặc dốt, coi việc thực hiện các nhiệm vụ đó cũng cấp thiết như chống giặc ngoại xâm Mục tiêu của giáo dục lúc bấy giờ chủ yếu là xóa nạn mù chữ, làm cho người dân biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ
Từ sau năm 1954, khi miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, chuẩn bị các bước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì mục tiêu phát triển hoàn toàn con người
đã có bước phát triển mở rộng hơn Trong thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc, tháng 3 năm 1955, Hồ Chí Minh đã viết: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà” [47, tr.388] Như vậy, con người mới được phát triển hoàn toàn trong một nền giáo dục mới, một chế độ xã hội mới
là “người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của
Trang 21xã hội chủ nghĩa không chỉ giải phóng con người thoát khỏi sự áp bức của kẻ thù ngoại xâm và kẻ thù giai cấp mà còn giải phóng con người khỏi giặc dốt, khỏi sự ràng buộc của các lễ nghi phong kiến và các phong tục, tập quán lạc hậu Dựa theo quan điểm khoa học về bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, thì giải phóng hoàn toàn con người có nghĩa là phải cải tạo, xóa bỏ nhưng mỗi quan hệ
xã hội cũ đã lỗi thời, lạc hậu đã ăn sâu trong tiềm thức, trong cách nghĩ, cách làm của con người, xây dựng những mối quan hệ xã hội mới bình đẳng, tốt đẹp tạo co hội cho con người phát triển hoàn toàn Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng là giải phóng hoàn toàn con người, là phải trả lại cho con người những khả năng đích thực để vươn lên tự khẳng định mình, làm chủ xã hội, làm chủ
tự nhiên Như vậy, giải phóng hoàn toàn con người còn chứa đựng một mục tiêu cao hơn nữa, đó là tạo cơ hội cho con người phát triển hoàn toàn Tư tưởng về giáo dục con người phát triển hoàn toàn là sự tiếp nối của tư tưởng về giải phóng hoàn toàn con người, là mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa Điều đó cũng có nghĩa rằng, mục tiêu giáo dục phát triển hoàn toàn con người vừa là mục tiêu chiến lược của giáo dục, vừa là mục tiêu chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Vai trò của giáo dục
1.1.2.1 Nâng cao dân trí, xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Giáo dục giữ vai trò quan trọng mang tính quyết định trong việc nâng cao dân trí, tạo nên sức mạnh của dân tộc Hồ Chí Minh nói: Một dân tộc dốt là một dân
Trang 2216
tộc yếu, tức là nói đến vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao dân trí Trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã đặt nhiệm vụ diệt giặc dốt ngang hàng với nhiệm vụ diệt giặc ngoại xâm Bởi vì diệt giặc dốt là con đường nâng cao dân trí, tạo nên sức mạnh của dân tộc để diệt ngoại xâm Người chỉ ra: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu thì mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết chữ quốc ngữ” [42, t.40] Người đã chỉ rõ mối quan hệ giữa giặc dốt là kẻ thù bên trong với giặc ngoại xâm là
kẻ thù bên ngoài: “Dốt nát cũng là kẻ địch Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chính sách ngu dân Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa nước ta vào nơi mù quáng” [43, t.469] Trong điều kiện đất nước còn vô vàn những khó khăn cần giải quyết nhưng Hồ Chí Minh vẫn chủ trương ưu tiên cho giáo dục, đặt giáo dục là quốc sách hàng đầu Trong thực tiễn, phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ đã được lan tỏa khắp các thôn làng trên phạm vi toàn quốc Các lớp học không chỉ có tác dụng nâng cao dân trí mà còn góp phần tuyên truyền cho chính sách của một chính quyền mới, chế độ xã hội mới Đó là động lực cho sự củng cố chính quyền cách mạng, phát triển xã hội
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhiều trường học phải sơ tán trong rừng nhưng Hồ Chí Minh vẫn quyết tâm phát triển giáo dục kháng chiến kiến quốc, tạo thành phong trào “Thi đua diệt giặc dốt” ngay trong điều kiện chiến tranh Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt” Trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt của cuộc kháng chiến nhưng giáo dục vẫn vươn lên tự khẳng định mình, cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu xã hội Quyết tâm và hành động đó đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục
Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, giáo dục thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Giáo dục là phương tiện xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, là nhân tố
Trang 23Thực chất cuộc cách mạng tư tưởng - văn hóa là cuộc cách mạng về con người Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa ” [50, tr.11] Luận điểm này đã được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần
và trở thành một chiến lược của Đảng ta về xây dựng chủ nghĩa xã hội và về giáo dục Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là lĩnh vực ngang hàng với chính trị, kinh
tế, xã hội, có mối quan hệ mật thiết với chính trị, kinh tế, xã hội Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa Kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng, văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, cơ
sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết thì văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện để phát triển Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải đứng ở trong kinh tế và chính trị Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế Tuy nhiên, lĩnh vực tư tưởng - văn hóa lại có những đặc thù riêng, có những đòi hỏi riêng, ở đây không chỉ có khoa học mà phải kết hợp khoa học với nghệ thuật, không thể dùng sức mạnh quyền lực mà phải thông qua còn đường giáo dục
Trang 2418
Khẳng định giáo dục là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng - văn hóa bởi vì chỉ có thông qua giáo dục mới có thể làm thay đổi tư tưởng, lối sống và hình thành những nét văn hóa của con người Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp con người xóa bỏ tán dư của hệ tư tưởng cũ, lỗi thời, lạc hậu, xây dựng hệ
tư tưởng mới, con người mới Cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng cũ, lỗi thời, lạc hậu với hệ tư tưởng mới cách mạng, khoa học là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài, không thể dùng sức mạnh vũ trang để cưỡng bức mà phải thông qua con đường giáo dục, nâng cao dân trí để mỗi người dân phải tự ý thức, tự thay đổi tư duy của chính mình
Giáo dục là con đường chủ yếu để tác động vào nhận thức, tư tưởng, làm đổi mới tư duy Giáo dục là con đường chủ yếu để truyền thụ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đến các thế hệ người dân Trong thực tiễn cách mạng,
Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam thông qua con đường giáo dục với nhiều hình thức tổ chức khác nhau Giáo dục không chỉ trang bị kiến thức mà còn giúp con người nâng cao nhận thức, hướng dẫn cách thức chuyển hóa kiến thức hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin thành niềm tin, thành quan điểm
và thái độ Đó là cơ sở nền tảng tri thức, phương pháp luận cho sự hình thành con người mới, tư tưởng mới
1.1.2.2 Tạo nguồn nhân lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Giáo dục giữ vai trò quyết định trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa” [48,tr.345] Khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ ra một vấn đề có tính quy luật là: “Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” Con người là nhân tố quyết định của mọi sự phát triển kinh tế - xã hội Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phụ thuộc vào trình độ được giáo dục, đào tạo của con người Giáo dục là con đường chủ yếu để hình thành nên các phẩm chất đạo đức, nhân cách của con người theo chuẩn mực giá trị của xã hội Giáo dục mang lại cho con người tri thức, sự hiểu biết, trí thông minh Giáo dục rèn luyện cho con
Trang 2519
người kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp Nhờ có giáo dục mà con người có được các phẩm chất và năng lực cần thiết để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng việc cần thiết khi cả nước bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội là: “phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hóa làm gốc Nếu ta muốn dùng máy móc mà máy móc ngày một thêm tinh xảo, thì công nhân cũng phải có trình độ kỹ thuật rất cao không kém gì kỹ sư, phải biết tính toán nhiều” và ngày nay, “nông dân có ruộng đất, lại có tổ đổi công cho nên nông dân phải biết văn hóa, như có quyển sổ, phải ghi tổ có mấy người, không biết chữ thì không làm được, rồi phải biết chia công chấm điểm, lại càng phải có văn hóa” [48, tr.388] Người khuyên mọi người có nhiệm vụ giúp đồng bào chưa biết chữ dạy cho biết chữ rồi học thêm Cho nên chúng ta “phải học thêm nữa để dạy nữa Dân tộc tiến lên, cán bộ cũng phải tiến lên Cán bộ phải tiền trước để đưa dân tộc tiến lên mãi” [48, tr.371], phải đào tạo ra những “thầy thuốc để săn sóc sức khỏe cho nhân dân; cần có thầy giáo để dạy văn hóa và đào tạo cán bộ; cần có kỹ sư
để xây dựng kinh tế, Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang” [48, tr.376]
Hồ Chí Minh đã gắn tương lai của dân tộc với phát triển giáo dục: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [42, tr.35] Từ đó, Hồ Chí Minh khuyên các nhà giáo, cán bộ “phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ Chớ tự túc, tự mãn, cho là giỏi rồi thì dừng lại phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình, cải tạo con em và giúp vào việc cải tạo xã hội” [50, tr.266] Với tư tưởng này, giáo dục đã thực sự không chỉ góp phần nâng cao dân chí mà còn góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trang 2620
1.1.2.3 Là cơ sở đảm bảo sự công bằng trong xã hội
Về nền giáo dục Việt Nam trước khi nước năm 1945: ở Việt Nam tồn tại rất lâu nền giáo dục phong kiến mà cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám thành lập năm 1076 Đối tượng giáo dục của nền giáo dục phong kiến chỉ là một bộ phận nhỏ dân số trong xã hội:
kẻ sỹ, người quân tử, bậc trượng phu, phụ nữ không có quyền được học Mục đích của nền giáo dục phong kiến là đào tạo và tuyển chọn quan lại trong bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương Khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, chúng xây dựng ở Việt Nam nền giáo dục thực dân nhưng không nhằm mở mang trí tuệ, “khai hóa văn minh” cho nhân dân ta, mà thực hiện chính sách ngu dân để dễ
bề cai trị Đó là nền giáo dục đồi bại, xảo trá, nhồi sọ và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền giáo dục mới mà ở đó dân chúng ai cũng được học hành Nha Bình dân học vụ được lập ra để huy động tất cả nhân dân không phân biệt giá trẻ, gái trai, thành phần giai cấp trong xã hội vào công cuộc xóa mù chữ, nâng cao dân trí Đây
là một trong những cơ sở quan trọng để tạo ra sự bình đẳng trong xã hội mà các nền giáo dục trước đó không thực hiện Đặc biệt, theo Hồ Chí Minh: “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước” [42, tr.41] Học tập để nâng cao trình độ văn hoá sẽ giúp chị em nắm được những vấn đề lịch sử, địa lý, khoa học, tự nhiên, xã hội, chính trị, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân Có văn hoá một mặt chị em sẽ tự tin vươn lên làm chủ về mọi mặt một cách vững chắc, thoát khỏi
sự lệ thuộc của những tư tưởng phong kiến hà khắc trói buộc, đồng thời có thể cống hiến tài năng, trí tuệ cho nhân loại và đất nước Mặt khác, nâng cao trình độ văn hoá cho phụ nữ cũng nhằm giải thoát phụ nữ khỏi những ảnh hưởng của thần quyền, của những thành kiến, những phong tục tập quán sai lầm, hủ lậu… Bình đẳng giới trong giáo dục là cơ sở để nữ giởi bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện, để xóa
bỏ những hủ tục trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến trước đây bởi: nếu phụ
Trang 2721
nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa Tất cả những vấn đề trên được cụ thể hoá trong Hiến pháp năm 1946: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”; và Hiến pháp năm 1959 bổ sung cụ thể hoá ở Điều 24: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về sinh hoạt văn hoá”, Điều 33: “có quyền học tập”, Điều 34: “Quyền
tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác” Giáo dục trở nên là một tiêu chí quan trọng đánh giá sự tiến bộ của một chế độ chính trị, sự tiến bộ của sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng phụ
nữ
Giáo dục là cơ sở để đảm bảo bình đẳng giữa các dân tộc Sinh thời, Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến giáo dục ở vùng dân tộc và miền núi: Trước hết, Người khẳng định quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều
là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc Chính phủ thì có "NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ" để săn sóc cho tất cả các đồng bào” [42, tr.249] bởi “ miền núi
có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước ta Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng của mình” [51, tr.458] Muốn làm cho “miền ngược tiến kịp miền xuôi”, giáo dục phải đi trước một bước nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào, “Phải biết đọc, biết viết thì làm ăn mới tiến bộ được” [51, tr.95] Hồ Chí Minh xác định mục tiêu của giáo dục dân tộc là nâng cao dân trí và văn hóa cho đồng bào, góp phần xây dựng đất nước, trong bài nói chuyện với cán bộ và học sinh trường sư phạm miền núi Nghệ An (năm 1961), Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ của các cháu học sinh
là cố gắng học tập mà “trở về giúp đỡ đồng bào”, “thi đua học tập để sau này góp
Trang 28Hồ Chí Minh còn khuyến khích phát triển mô hình trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm Đây là loại hình trường lớp hết sức phù hợp vào điều kiện hoàn cảnh nước ta trong quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và điều kiện kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số Sự ra đời và phát triển loại hình trường lớp ấy đã phát huy được vai trò to lớn trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ cho vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí vùng dân tộc Hiện nay, hoàn cảnh đất nước đã có nhiều thay đổi, giáo dục dân tộc đã không ngừng lớn mạnh và phát triển nên loại hình trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm đã không còn phù hợp nữa Như vậy, giáo dục là cơ sở để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, kéo dần khoảng cách chênh lệch dân trí giữa các vùng miền
Tư tưởng giáo dục là cơ sở bảo đảm công bằng trong xã hội của Hồ Chí Minh là điểm khác nhau căn bản giữa nền giáo dục mới với nền giáo dục thực dân
Trang 2923
phong kiến trước đây Nó không chỉ thể hiện được tính ưu việt, tiên tiến của xã hội mới mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn cao cả, vì con người của Hồ Chí Minh
1.1.2.4 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người
Phát triển con người là một mục tiêu không thể tách rời các mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội Khi bàn về vai trò của giáo dục với sự phát triển xã hội, Hồ Chí Minh đã hàm ý chỉ ra trong đó chứa đựng cả vai trò của giáo dục đối với sự phát triển con người
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách Con người ta trở nên như thế nào phần nhiều là do giáo dục
mà thành Người nói:
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên Luận điểm này đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với sự hình thành, phát triển nhân cách Vấn đề này Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với luận điểm của C Mác về bản chất con người C Mác đã chỉ ra rằng: “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Từ luận điểm về bản chất người, C Mác đã chỉ ra con đường hình thành, phát triển bản chất của con người là thông qua giáo dục và tổ chức các loại hình hoạt động nhằm cải tạo thực tiễn xã hội và cải tạo chính bản thân
Tiếp tục phát triển tư tưởng của C Mác, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải kết hợp giáo dục với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, tạo tiền đề cho việc hình thành các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người Như vậy, giáo dục đã mang tính cách mạng, giáo dục hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách phải gắn với cách mạng xóa bỏ chế độ xã hội đã sản sinh ra các mối quan hệ bất bình đẳng làm méo mó nhân cách; đồng thời phải xây dựng chế độ xã hội mới với các quan hệ
xã hội tốt đẹp làm cho nhân cách được phát triển hoàn toàn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với sự hình thành, phát triển nhân cách cũng hoàn toàn thống nhất với lí luận giáo dục hiện đại Khi khẳng
Trang 3024
định giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách,
Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa giáo dục mà muốn nhấn mạnh rằng, bên cạnh giáo dục, cùng với giáo dục còn những yếu tố khác như bẩm sinh, di truyền; hoạt động thực tiễn của cá nhân; môi trường tự nhiên, xã hội Hồ Chí Minh quan niệm rằng: môi trường có vai trò rất quan trọng đến sự hình thành, phát triển nhân cách, nhưng môi trường không phải là cái gì bất biến, người ta có thể tác động cải tạo môi trường làm cho môi trường có chức năng định hướng phát triển nhân cách theo mục tiêu giáo dục và phù hợp với chuẩn mực giá trị xã hội Vì vậy, trong quá trình chỉ đạo và tổ chức giáo dục, Hồ Chí Minh rất coi trọng cải tạo môi trường, xóa bỏ chế
độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới với những quan hệ tiến bộ, tạo điều kiện cho sự phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người
Một yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách là hoạt động của cá nhân Là một nhà hoạt động thực tiễn cách mạng lỗi lạc, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của hoạt động cá nhân trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách Từ phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, Hồ Chí Minh chủ trương đưa con người vào hoạt động để giáo dục Giáo dục trong nhà trường dù có tốt đến mấy cũng không được tách rời giáo dục trong thực tiễn Hồ Chí Minh đưa ra phương thức giáo dục trong thực tiễn, giáo dục bằng thực tiễn, đồng thời yêu cầu phải tổ chức các loại hình hoạt động thực tiễn sao cho mang tính giáo dục
Hồ Chí Minh đề cao vai trò của giáo dục đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách nhưng không tuyệt đối hóa giáo dục Luận điểm cho rằng “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” là nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong mối quan hệ với các thành tố khác Giáo dục có thể thâm nhập và tác động vào tất cả các thành tố cấu thành quá trình hình thành phát triển nhân cách, định hướng cho sự phát triển của các thành tố đó theo mục đích xác định, thông qua giáo dục mà hình thành nhân cách trở thành nguyên lý phát triển
Giáo dục can thiệp vào các tố chất bẩm sinh, di truyền, phát hiện ra những tố chất tích cực và những tố chất có ảnh hướng tiêu cực đến quá trình hình thành, phát
Trang 3125
triển nhân cách, trên cơ sở đó có biện pháp tác động giáo dục thích hợp Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi trong con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản bội lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời” [53, tr.672]
Giáo dục có thể can thiệp vào môi trường tự nhiên và xã hội, làm thay đổi môi trường tự nhiên và xã hội theo hướng tích cực cho sự hình thành, phát triển nhân cách Giáo dục có thể đưa con người vào môi trường tự nhiên, xã hội mới hoàn toàn thuận lợi cho sự phát triển các tố chất tốt đẹp của mỗi cá nhân
Giáo dục có thể định hướng hoạt động của con người Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và những phẩm chất cá nhân mà tổ chức cho con người tham gia vào các loại hình hoạt động thích hợp Thông qua đó mà giáo dục định hướng quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách theo mục tiêu giáo dục đã xác định Bởi vì trong quá trình hoạt động tác động vào hoàn cảnh, cải tạo hoàn cảnh thì người ta cũng đồng thời cải tạo chính bản thân mình
Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo dục có thể can thiệp vào tất cả các thành tố khác của quá trình hình thành và phát triển nhân cách, định hướng các thành tố đó phát triển phù hợp với chuẩn mực giá trị của xã hội Các thành tố khác phát huy được tác dụng đến đâu tùy thuộc vào mức độ can thiệp của giáo dục Luận điểm về vai trò chủ đạo của giáo dục trong quá trình hình thành phát triển nhân cách có thể được xem xét dưới góc độ lô gic của quá trình giáo dục Theo đó, có thể hiểu giáo dục là con đường chủ yếu để nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin và hình thành thói quen hành vi đạo đức cho con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội và con người là một tư tưởng chiến lược mang tính thời đại Ngày nay nhiều quốc gia
đã xác định giáo dục là công cụ để cạnh tranh tạo tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân
sự của quốc gia, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Đúc kết kinh nghiệm
Trang 3226
phát triển của các quốc gia, các chuyên gia của UNESCO đã rút ra một quy luật rằng, không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách rời khỏi sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của
quốc gia đó
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính chất của nền giáo dục mới
Giáo dục là một bộ phận quan trọng của văn hóa, bởi vậy một nền giáo dục mới cũng phải mang tính chất của nền văn hóa mới Ngay từ năm 1943, Đảng ta đã đưa bản Đề cương văn hóa Việt Nam nêu lên ba tính chất của nền văn hóa mới là: dân tộc, khoa học, đại chúng Theo đó, Sắc lệnh số 146/SL ngày 10-8-1946 do Hồ Chí Minh ban hành đã quy định ba tính chất căn bản của nền giáo dục mới là: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa Ba tính chất này góp phần xây dựng nền văn hóa mới khác biệt hoàn toàn so với nền giáo dục cũ mang tính chất phong kiến, thực dân
1.2.1 Xây dựng nền giáo dục mang tính nhân dân
Tư tưởng dân chủ hóa giáo dục của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở quan điểm triết học “lấy dân làm gốc” Người cho rằng, trong bầu trời này không có
gì quý bằng nhân dân; trong thế giới này không có sức mạnh nào to lớn bằng sức mạnh của nhân dân Nhân dân chính là con người, là trung tâm của vũ trụ, là nhân
tố quyết định mọi vấn đề trong thế giới hiện thực
Nền giáo dục mang tính dân tộc là tiền đề cho việc xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân Trong tư tưởng xây dựng nền giáo dục mang tính chất dân tộc đã chứa đựng các vấn đề về xây dựng nền giáo dục mang tính dân chủ nhân dân
Thứ nhất, giáo dục là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền giáo dục ai cũng được học hành, nền giáo dục cho mọi người Luận điểm “Ai cũng được học hành” là một tư tưởng lớn phản ánh tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về mối quan hệ của giữa giáo dục
và cách mạng Việt Nam Đồng thời đó cũng là luận điểm phản ảnh nghệ thuật tài tình của Hồ Chí Minh trong chỉ đạo thực tiễn cách mạng Việt Nam Luận điểm này trước hết được xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam vào thời kỳ lịch sử lúc bấy
Trang 33“Ai cũng được học hành” là một mục tiêu của cách mạng Mục tiêu đầu tiên của cách mạng Việt Nam là “Nước ta được độc lập, dân ta được tự do” Nhưng không dừng lại ở đó mà cách mạng phải mang lại cho con người có cơm ăn, áo mặc
và được học hành Chỉ có giành độc lập dân tộc thì mới thực hiện được ước mơ “ai cũng được học hành” Suy rộng ra, luận điểm này là một mục tiêu phấn đấu cho sự bình đẳng xã hội Như chúng ta đã biết, giáo dục vốn là bình đẳng, giáo dục là của mọi người Giáo dục chỉ bị phân hóa, người lao động chỉ bị mất quyền được học hành từ khi xã hội có giai cấp và giai cấp thống trị nắm lấy giáo dục như một công
cụ để thống trị nắm lấy giáo dục như một công cụ để thống trị xã hội, bảo vệ lợi ích của mình Do đó luận điểm “Ai cũng được học hành” là mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời cũng là mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và của chủ nghĩa cộng sản
“Ai cũng được học hành” là nhu cầu phát triển của cá nhân và cũng là nhu cầu phát triển của xã hội Một dân tộc mà người dân không được học hành là một dân tộc dốt và cũng là một dân tộc không có sức mạnh Như vậy, “Ai cũng được học hành” là quyền con người và là động lực của sự phát triển xã hội, là cơ sở lý luận cho sự hình thành các quan điểm về xã hội học tập Trong thực tiễn hoạt động cách mạng, suốt đời Hồ Chí Minh đã phấn đấu cho mục tiêu “nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Khi chưa có chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh tích cực đấu tranh với thực dân Pháp đòi quyền tự do học hành của nhân dân Đông Dương Khi có chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “phổ thông giáo dục”, “phải nâng cao dân trí”, thậm chí phải “cưỡng bách học chữ quốc ngữ” Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch “Diệt giặc dốt”, xóa nạn mù chữ và phát động phong trào “Bình dân học
Trang 3428
vụ”, tạo thành một xã hội học tập làm cho dân ta “Ai cũng được học hành” Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng, đa dạng hóa các loại hình nhà trường, thu hút mọi tầng lớp con em nhân dân lao động vào học Đồng thời mở rộng các hình thức tổ chức dạy học để mọi người dân đều được học Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các ngành, các cấp chính quyền phải tạo ra cơ hội, thời cơ tốt nhất để mọi người được đi học và có thể học được
Thứ hai, lực lượng tham gia vào giáo dục chính là nhân dân
Đỉnh cao của nền giáo dục dân chủ, nhân dân là tổ chức cho quần chúng nhân dân tham gia vào giáo dục Ý tưởng xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân
đã được nhiều người đề cập đến trong những thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng chỉ đến Hồ Chí Minh thì ý tưởng đó mới trở thành hiện thực Hồ Chí Minh đã xây dựng một nền giáo dục mà mọi người dân đều có quyền được tham gia và hưởng thụ Đây là sự cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh cả về lý luận và thực tiễn cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam Đồng thời cũng là cơ sở tiền đề cho các chủ trương, chính sách xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Tư tưởng xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ, nhân dân của Hồ Chí minh đã trở thành một cuộc canh tân trong lĩnh vực giáo dục Tư tưởng này được xã hội đón nhận dễ dàng và được tổ chức thực hiện thành công trong thực tiễn Trước hết, tư tưởng đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng của tầng lớp trí thức ngay từ những ngày tiền khởi nghĩa, đã có tác dụng định hướng cho tầng lớp trí thức, khích lệ họ
cả hai tư cách, tư cách là người công dân của một dân tộc đang bị kẻ thù ngoại bang
đô hộ và tư cách người trí thức - nhà khoa học, một tầng lớp tiên tiến của xã hội đang đứng trước vận mệnh mới của dân tộc Cả hai tư cách đó, người trí thức chỉ có thể chọn một con đường đó là con đường hướng về cách mạng, tham gia cách mạng bằng chính nghề nghiệp của mình, với tất cả khả năng của mình Xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ, nhân dân vừa là mục tiêu cách mạng xã hội, vừa là con đường
tự giải phóng của tầng lớp trí thức dân tộc Vì lẽ đó, nhiều nhà trí thức dân tộc đã tham gia vào các phong trào cách mạng dưới những hình thức đấu tranh khác nhau
Trang 35có nhưng Hồ Chí Minh đã dựa vào dân để phát động tổ chức thực hiện thành công phong trào toàn dân tham gia diệt giặc dốt Những nơi chưa có trường học thì dùng nhà dân làm lớp học, mỗi nhà, mỗi làng, mỗi xã đều tận dụng mọi điều kiện cho việc học tập Không có thầy giáo thì mọi người tự dạy cho nhau, anh dạy cho em, chồng dạy cho vợ, những người biết chữ thì dạy cho những người chưa biết chữ Người dạy là quần chúng nhân dân, người học cũng là quần chúng nhân dân, phương tiện dạy học được huy động trong dân, kinh phí được huy động từ sự đóng góp công của, sức lực của dân
Khi phát triển lên bình dân học vụ và các nhà trường chính quy, ngoài sự đầu
tư của Nhà nước cho giáo dục, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp, các ngành phải cùng với nhân dân tham gia đóng góp công sức, tiền của tham gia vào việc xây dựng trường sở Người nói, giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Các cấp, các ngành phải tổ chức cho nhân dân tham gia vào quá trình giáo dục bằng cách kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục của gia đình và xã hội
Sự tiếp nhận của quần chúng mà trước hết là các tầng lớp trí thức đã có tác dụng định hướng cho sự hình thành quan niệm mới của xã hội về văn hóa giáo dục trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền và cả trong thời kỳ kháng chiến Điều này làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh vượt lên hơn hẳn tư tưởng canh tân giáo dục của các nhà Nho học và Tây học trước đó Tư tưởng xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ nhân dân của Hồ Chí Minh không còn giới hạn ở các tầng trên của xã hội mà đã tiếp tục sứ mệnh lật sâu, đào sâu xuống các nền tảng của đại chúng, nhằm làm cho giáo dục thực sự trở thành sự nghiệp của quần chúng nhân dân và lôi kéo quần chúng tham gia vào giáo dục đề được hưởng các quyền lợi từ gióa dục Chính nhờ vào các kết quả thực hiện tư tưởng xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ nhân
Trang 3630
dân của Hồ Chí Minh mà ngày sau năm 1945 và thời kỳ kháng chiến, nền giáo dục Việt Nam đã tạo được một chuyển biến nhanh chóng như vậy Đó là tiền để để nền giáo dục Việt Nam vươn lên tự khẳng định bản sắc của mình trước khi vươn ra hội nhập, hợp tác quốc tế trong tình hình hiện nay
1.2.2 Xây dựng nền giáo dục mang tính dân tộc
Xây dựng nền giáo dục mang tính dân tộc là quy luật phát triển của tất cả các nền dân tộc trên thế giới Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng nền giáo dục mang tính dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc được Người ấp ủ ngay từ ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước Khi đến nước Pháp, bên cạnh hoạt động chính trị, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến giáo dục, thường xuyên đấu tranh lên án chính sách ngu dân của thực dân Pháp Người phê phán nền giáo dục ngoại lai của thực dân Pháp, đó là nền giáo dục chỉ “dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình” [39, tr.424] Quá trình đấu tranh phê phán nền giáo dục của thực dân Pháp đã hàm chứa trong đó
tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nền giáo dục mới của người Việt Nam Đó là nền giáo dục của người bản xứ, nền giáo dục mang tính dân tộc
Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mang tính dân tộc nhưng đồng thời cũng phải mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Luận điểm xây dựng nền giáo dục dân tộc xã hội chủ nghĩa này được hình thành trên cơ sở lý luận về sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Một trong những di sản quý báu nhất và cũng là luận điểm trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế Đây là luận điểm gốc định hướng cho việc xây dựng tính dân tộc của nền giáo dục Việt Nam Luận điểm này được dựa trên quan điểm của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, giai cấp và thời đại; dựa trên sự phân tích xu thế của thời đại; sự phân tích, tiếp thu có chọn lọc những bài học kinh nghiệm của cách mạng các nước trên thế giới và phong trào yêu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX
Trang 3731
Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính là động lực lớn của đất nước Dựa trên sự phân tích thực trạng kinh tế và giai cấp ở Đông Dương, chỉ ra sự khác biệt so với phương Tây, ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã kết luận rằng ở các nước thuộc địa, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước Đặc trưng cơ bản của nền giáo dục dân tộc xã hội chủ nghĩa là nền giáo dục mang tính chất dân tộc, đồng thời mang bản chất giai cấp công nhân, phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Xây dựng nền giáo dục dân tộc xã hội chủ nghĩa là phải thống nhất giữa tính dân tộc với tính xã hội chủ nghĩa trong nội dung và hình thức tổ chức Nội dung giáo dục xã hội chủ nghĩa phải chứa được chưa đựng trong hình thức giáo dục mang cốt cách dân tộc
Tuy nhiên, trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng phải căn cứ vào diễn biến của tình hình thời cuộc mà xác định nguyên tắc và tính chất của nền giáo dục cho thích hợp Tính dân tộc, được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng thuật ngữ “đặc tính dân tộc”,
“cốt cách dân tộc”, để nhấn mạnh cái tinh túy bên trong, cái đặc trưng của văn hóa dân tộc
Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh
đã chỉ đạo: Phải xây dựng nền văn hóa nghệ thuật xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức Tiếp theo tư tưởng đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định: nền văn hóa mới là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của đất nước Tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau
Bên cạnh đó, theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mang tính dân tộc là nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam” Luận điểm này hoàn toàn thống nhất với luận điểm về con đường cách mạng Việt Nam Khi nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và kinh nghiệm thực tiễn của cuộc cách mạng trên thế giới, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận rằng, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng không hoàn toàn giống với cách mạng Tháng Mười Nga Trên cơ sở đó,
Hồ Chí Minh đã vận dụng trong lĩnh vực giáo dục là xây dựng nền giáo dục xã hội
Trang 38Hồ Chí Minh yêu cầu các nhà trường, các thầy giáo, cô giáo phải dạy cho học sinh truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, phải biết tự hào, giữ gìn và tiếp tục tô thắm truyền thống đó:
Dân ta phải biết sử ta Cho tưởng gốc tích nước nhà Việt Nam [41, tr.255]
Người đặc biệt coi trọng việc dùng tiếng mẹ đẻ trong các nhà trường Đồng thời Hồ Chí Minh thường phê phán cách dạy và học “xính chơi chữ”, dùng tiếng nước ngoài không đúng lúc, đúng chỗ
Nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam” không đồng nhất với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, khép kín trong vòng vây văn hóa của một quốc gia riêng biệt Nền giáo dục
“hoàn toàn Việt Nam” là muốn khẳng định một nền giáo dục độc lập của một quốc gia độc lập, nền giáo dục ấy mang những giá trị của dân tộc Việt Nam có thể sánh vai cùng các cường quốc khác trên phạm vi toàn thế giới Nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam” nhưng phải đặt trong mối quan hệ với các nền giáo dục của các quốc gia khác trong khắp năm châu, bốn bể
Xây dựng một nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam”, nền giáo dục mang tính dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là mơ ước của người dân mà còn là
Trang 391.2.3 Xây dựng nền giáo dục mang tính khoa học
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một trong những vấn đề cấp bách của Chính phủ là xây dựng nền văn hóa mới trong đó có nền giáo dục mới cho nhân dân Nền giáo dục của nhà nước phong kiến có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu được duy trì hàng nghìn năm và nền giáo dục thực dân phong kiến với chính sách “ngu dân” đã làm cho trình độ dân trí nước ta rất thấp, những hiểu biết về tri thức tiên tiến của nhân loại bị hạn chế Điều này tạo một sức cản lớn đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vậy Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nên văn hóa mới phải mang tính khoa học, nội dung giáo dục là những tri thức, những phương pháp tiến bộ, chống giáo điều, dạy và học theo nguyên tắc học
để hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn và cuộc sống của nhân dân Lấy nền giáo dục làm công cụ để giải phóng về mặt tư tưởng
Chủ trương xây dựng nền giáo dục mang tính khoa học của Hồ Chí Minh rất phù hợp với thực tế của nước ta bấy giờ: trình độ dân trí thấp, rất ít người trong xã hội được tiếp xúc với giáo dục, nền giáo dục thực dân phong kiến chủ yếu là để đào tạo ra đội ngũ trí thức tay sai nên nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục sẽ thiếu đi tính tiến bộ Xây dựng nền giáo dục mới với nội dung và phương pháp giáo dục khoa học sẽ góp phần nâng cao dân trí, xóa bỏ những tàn dư của nền giáo dục
cũ
Xây dựng nền giáo dục mang tính khoa học còn phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Theo chủ nghĩa Mác - Lênin chủ nghĩa xã hội chỉ
có thể được xây dựng thành công trên cở sở vật chất có quy mô và trình độ hiện đại
Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng
Trang 4034
nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” [50, tr.412] và “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân” [50, tr.371] Để đáp ứng được điều này thì giáo dục có vai trò rất lớn trong việc tạo ra nguồn lao động có kiến thức khoa học và có năng lực thực hành Nền giáo dục mang tính khoa học tức là nội dung giáo dục phải toàn diện nhằm phát triển những nẵng lực sẵn có của người học, với những phương pháp giáo dục tiến
bộ như: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiến, học tập kết hợp với lao động sản xuất Trong kháng chiến, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải xây dựng chương trình, nội dung giáo dục, sách giáo trình, sách giáo khoa phù hợp với nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc Người nhắc nhở ngành giáo dục phải sửa đổi nội dung, chương trình theo hướng ngắn gọn, rõ ràng, thiết thực, không nên viết dài, không tham nhiều Bên cạnh đó, tính khoa học của giáo dục còn là sự tiếp thu những kiến thức tiên tiến của nhân loại đặc biệt là các nước phát triển hơn như Hồ Chí Minh viết trong “Thư gửi kiều bào Pháp” năm 1969: “Tôi cũng mong anh chị em trí thức, sinh viên và công nhân gắng sức học tập nắm vững khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới, để sau này về nước góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc ta mau chóng trở thành một nước giàu mạnh” [53, tr.543]
Xây dựng nền giáo dục mang tính khoa học tức là xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục Tuy nhiên, tính khoa học của nền giáo dục có sự gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc: đó là một nền giáo dục tiếp thu những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại những phải phù hợp với điều kiện cụ thể của dân tộc - nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “hoàn toàn Việt Nam” Đây là nét đặc sắc trong tư duy biện chứng Hồ Chí Minh, các yếu tố cấu thành đều không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung, nương tựa lẫn nhau