Tính cấp thiết của đề tài luận văn Việc quản lý và sử dụng vốn, đặc biệt là vốn kinh doanh có hiệu quả là một trong những hoạt động quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của d
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Phạm Văn Cương; các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoài Linh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:Quý thầy, cô trường Đại học Hải Phỏng đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong suốt thời gian học tập đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Cương - Hiệu trưởng trường Đại học Hải Phòng trong thời gian tôi làm luận văn
Lãnh đạo cùng tập thể người lao động Công ty cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng đã tạo điều kiện cung cấp thông tin, tài liệu để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn đến tập thể lớp Cao học QTKD K7A của trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Do chưa có nhiều kinh nghiệm nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn để tôi có được những kinh nghiệm quý báu
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoài Linh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Kết cấu luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận về vốn trong doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm về vốn 4
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của vốn trong doanh nghiệp 6
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp .9
Trang 41.2.1 Khái niệm về quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
9
Cấu trúc vốn 9
Kỳ hạn vốn 10
Khả năng lưu chuyển 11
1.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 17
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 22
1.2.4 Phương hướng chung để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 28
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SỬ DỤNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ CƠ KHÍ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2011-2015 30
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SỬ DỤNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ CƠ KHÍ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2011-2015 30
2.1 Tổng quan về Công ty 30
2.1.1 Khái quát về công ty 30
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 30
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh của Công ty 31
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty 31
2.1.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 5 năm (2011-2015) 38
2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty từ năm 2011-2015 45
2.2.1.Tình hình quản lý vốn của Công ty từ năm 2011-2015 45
2.2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty từ năm 2011-2015 60
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty từ năm 2011-2015 72
2.3.1 Những mặt mạnh cần phát huy và nguyên nhân của nó 72
2.3.2 Những mặt hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của nó 74
Trang 5Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ CƠ KHÍ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN
2016 – 2020 79
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ CƠ KHÍ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 79
3.1 Mục tiêu và kế hoạch SXKD của Công ty trong những năm tới 79
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty trong tương lai 80
3.2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sử dụng vốn một cách chủ động linh hoạt hơn 80
3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận 83
3.2.3 Quản lý chặt chẽ chi phí SXKD 85
3.2.4 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ để hạn chế việc chiếm dụng vốn 87
3.2.5 Tăng cường công tác quản lý và sử dụng tài sản cố định 89
3.2.6 Giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp và người lao động 92
3.2.7 Đào tạo và đào tạo lại cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý 96
3.2.8 Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
DANH MỤC VIẾT TẮT
CBCNV Cán bộ công nhân viên
MPCO Công ty Cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
VCĐ Vốn cố định
Trang 6VLĐ Vốn lưu động
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của MPCO 32 2.2 Doanh thu của công ty năm 2014 – 2015 43 2.3 Cơ cấu vốn lưu động của công ty năm 2015 44 2.4 Vốn lưu động và vốn cố định của công ty giai
đoạn 2011 – 2015
48
2.5 Cơ cấu vốn lưu động của Công ty năm 2015 55 2.6 ROA và ROE của công ty giai đoạn 2011-2015 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Việc quản lý và sử dụng vốn, đặc biệt là vốn kinh doanh có hiệu quả là một trong những hoạt động quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về tình hình sử dụng vốn kinh doanh sẽ giúp các Nhà quản lý ra các quyết định đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, quản lý vốn kinh doanh cũng cung cấp thông tin cho các Nhà quản lý biết chính xác về thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là tiền đề để doanh nghiệp dành thắng lợi trong cạnh tranh, tăng trưởng và phát triển ở hiện tại và trong tương lai
Kể từ khủng hoảng tài chính 2008, các doanh nghiệp Việt Nam nằm trong xu thế chung của điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn Kinh tế suy thoái dẫn đến thị trường tiêu thu bị thu hẹp, sức cạnh tranh của các đối thủ trong ngành ngày càng khốc liệt Lạm phát tăng khiến chi phí đầu vào tăng cao Các ngân hàng thắt chặt tín dụng khiến khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp bị hạn chế
Là một doanh nghiệp mới chuyển sang chế độ cổ phần từ 2007, Công
ty CP Nhựa và Cơ khí Hải Phòng cũng không nằm ngoài xu thế đó Trong tình hình đấy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trở thành yêu cầu cấp thiết đối với quá trình hoạt động kinh doanh hiện tại cũng như sự phát triển trong tương lai của công ty
Xuất phát từ những lý do trên, cũng như có cơ hội được tiếp cận với với
quá trình sử dụng vốn tại công ty, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần nhựa và cơ khí Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Hệ thống hóa lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 10Phân tích tình hình sử dụng vốn kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty CP nhựa và Cơ khí Hải Phòng trong giai đoạn 2011-2015 cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của Công ty.
Xác định các mặt mạnh cần phát huy, các hạn chế cần khắc phục và các nguyên nhân của các hạn chế đó
Đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP nhựa và Cơ khí Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty CP nhựa và Cơ khí Hải Phòng nói riêng
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: giới hạn ở Công ty CP nhựa và Cơ khí Hải Phòng
- Về thời gian: Nghiên cứu và phân tích số liệu 5 năm quá khứ 2015) và hình thành các biện pháp cho giai đoạn 2016 - 2020
(2011-4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp (với nguồn dữ liệu, thông tin được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết của đơn vị, sách, báo, tạp chí có liên quan)
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê
- Phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài sẽ hệ thống hóa lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cụ thể tại công ty CP Nhựa và cơ khí Hải Phòng sẽ cung cấp thêm
Trang 11một bằng chứng thực nghiệm cho vấn đề hiệu quả sử dụng vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ xác định được thực trạng quản lý vốn của công ty CP nhựa và cơ khí Hải Phòng.Phân tích được mặt mạnh và điểm yếu của quá trình sử dụng vốn của công ty.Từ đó xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quảsử dụng vốn của công ty Căn cứ vào các kết quả đó, đề tài sẽ đưa ra một số đề xuất cụ thể cho Công ty nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Chương 2 Đánh giá thực trạng công tác sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải Phòng từ năm 2011-2015
Chương 3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công
ty Cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải Phòng giai đoạn 2016-2020
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về vốn trong doanh nghiệp
Dưới giác độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hoá vốn thành phạm trù cơ bản Theo Mark, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn.Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư
Paul A Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: đất đai, lao động và vốn [19] Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không
đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trong cuốn kinh tế học của D Begg [1], tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp.Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp Như vậy, D Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson
Trang 13Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung
cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp
Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình
Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định Nó là kết tinh của giá trị chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định Song nó có điểm khác vì người
sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất
và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng [20]
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp [3] Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp
Trang 14trong khu vực sản xuất mà bao gồm toàn bộ mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Ngoài ra, khi đề cập đến vốn kinh doanh trong doanh nghiệp, người ta còn đưa ra một khái niệm nữa, đó là: “Vốn là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời” [3] Nói cách khác, để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có một lượng giá trị ứng trước để mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa, thuê mướn nhân công… Giá trị những tài sản hàng hóa nằm trong quá trình này gọi là vốn kinh doanh.Vốn kinh doanh thể hiện năng lực tài chính của doanh nghiệp Do đó, vốn cần phải được bảo toàn và phát triển Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa
về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi:
Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của vốn trong doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp
và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Để doanh nghiệp được phép thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu tư một số vốn nhất định không nhỏ hơn mức vốn pháp định, là mức vốn tối thiểu mà pháp luật qui định đối với mỗi ngành nghề
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi theo mục đích đã định
Nó là một trong bốn yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đảm khi hội đủ các yếu tố: Vốn, lao động, tài nguyên và kỹ thuật công nghệ Nhưng xét cho cùng thì điều kiện đầu tiên
và quyết định là vốn Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao
Trang 15động, mua tài nguyên và công nghệ Vì thế, vốn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để tiến hành sản xuất, tái sản xuất và
mở rộng sản xuất kinh doanh
Vai trò của vốn chỉ có thể được phát huy trên cơ sở thực hiện các chức năng tài chính, thực hiện yêu cầu của cơ quan hạch toán kinh doanh Điều đó nghĩa là thực hành tiết kiệm, hiệu quả Trên cơ sở tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, đúng mức đồng vốn bỏ ra, phải làm sao với số vốn nhất định có thể thực hiện được nhiều việc nhất
Nhìn một cách khác, có thể thấy vốn đóng vị trí quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp Trước hết vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp.Về phía nhà nước, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đăng ký vốn điều lệ nộp cùng hồ sơ xin đăng ký kinh doanh Vốn đầu tư ban đầu này
sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét liệu doanh nghiệp có tồn tại trong tương lai được không và trên cơ sở
đó, sẽ cấp hay không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Về phía doanh nghiệp, vốn điều lệ sẽ là nền móng cho doanh nghiệp đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành của doanh nghiệp trong hiện tại và phát triển trong tương lai
Nếu nền móng vững chắc, vốn điều lệ càng lớn thì doanh nghiệp càng
có cơ hội phát triển Vốn thấp, nền móng yếu, doanh nghiệp phải đấu tranh với sự tồn tại của mình và dễ rơi vào tình trạng phá sản Nói tóm lại, vốn là lượng tiền đại diện cho yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Có yếu tố đầu vào của doanh nghiệp mới tiếp tục sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn sản xuất, doanh nghiệp phải trả lương cho công nhân viên, chi phí bảo trì máy móc , thành phẩm khi chưa bán được cũng đều cần đến vốn của doanh nghiệp Khách hàng khi mua chưa thanh toán ngay cũng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp
Như vậy, có thể tóm tắt vai trò và ý nghĩa của vốn trên một số khía cạnh như sau [14], [18], [20], [22]:
Trang 16- Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh
Một quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được diễn ra khi có yếu tố: Yếu tố vốn, yếu tố lao động, và yếu tố công nghệ Trong ba yếu tố đó thì yếu tố vốn
là điều kiện tiền đề có vai trò rất quan trọng Nó quyết định đầu tiên việc sản xuất kinh doanh có thành công hay không
Khi sản xuất, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn để mua nguyên liệu đầu vào, thuê công nhân, mua thông tin trên thị trường, mua bằng phát minh sáng chế Bởi vậy, có thể nói vốn là điều kiện đầu tiên cho yếu tố cầu
về lao động và công nghệ được đáp ứng đầy đủ
- Vốn quyết định sự ổn định và liên tục của quá trình sản xuất
Khi yêu cầu về vốn, lao động, công nghệ được đảm bảo, để quá trình sản xuất được diễn ra liên tục thì vốn phải được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và liên tục Ta thấy có rất nhiều loại hình doanh nghiệp nên có nhu cầu về vốn cũng khác nhau Hơn nữa, các quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau nên việc dùng vốn lưu động cũng khác nhau Nhu cầu vốn lưu động phát sinh thường xuyên như mua thêm nguyên vật liệu, mua thêm hàng để bán, để thanh toán, để trả lương, để giao dịch Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình thì các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có đầy đủ vốn
Có khi thiếu, có khi thừa vốn, điều này là do bán hàng hóa chưa được thanh toán kịp thời, hoặc hàng tồn kho quá nhiều chưa tiêu thụ được, hoặc do máy móc hỏng hóc chưa sản xuất được Những lúc thiếu hụt như vậy thì việc bổ sung vốn kịp thời là rất cần thiết vì nó đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên hoàn
- Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Ngày nay việc nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau Kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau Vì vậy, muốn tồn tại thì doanh nghiệp phải phát triển, cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác Trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt Hơn nữa đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao Vì vậy cần
Trang 17phải đầu tư cho công nghệ hiện đại, tăng quy mô sản xuất, hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn Những yêu cầu tất yếu
ấy đòi hỏi doanh nghiệp phải cạnh tranh để phát triển thì cần phải có vốn
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Quản lý vốn
Quản lý vốn là tổ chức, giám sát quá trình hình thành và hoạt động của nguồn vốn Mục tiêu của quản lý vốn là nhằm đạt được hiệu quả sử dụng cao nhất.Các khía cạnh cụ thể của quản lý vốn sẽ được phân tác dựa trên các đặc tính đặc trưng của nguồn vốn
Cụ thể, công tác quản lý vốn sẽ được tiến hành trên ba phương diện chính như sau [12], [14], [15]
mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ
đi toàn bộ nợ phải trả [15]
- Công nợ phải trả
Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế Đó là số tiền vốn mà
Trang 18doanh nghiệp đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Vốn vay của ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán [13].
• Kỳ hạn vốn
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời [14]
- Nguồn vốn thường xuyên
Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một
bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [14]
- Nguồn vốn tạm thời
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (ít hơn một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng các khoản nợ khác [14]
Việc phân loại nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách hợp lý với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Cách phân loại này còn giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp lập các
kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định và tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao
Trang 19• Khả năng lưu chuyển
Xét về vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể phân thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định [12], [15]
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Hay nói cách khác, đó là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên qui mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị
kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản
cố định của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài Tuỳ theo hình thái biểu hiện và kết hợp tính chất đầu tư thì vốn cố định dưới dạng tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm ba loại: Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định tài chính
Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trị lợi thế thương mại tài sản cố định vô hình cũng có thể được hình thành do doanh nghiệp đầu tư hay cho thuê dài hạn
Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị
Trang 20phương tiện vận tải, các vật kiến trúc , những tài sản cố định hữu hình này
có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh Tài sản cố định hữu hình
có thể do doanh nghiệp tự mua sắm, xây dựng hoặc cho thuê dài hạn
Tài sản cố định tài chính là giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư vốn vào liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản
cố định dài hạn Đây là những khoản vốn đầu tư có thời gian thu hồi dài (lớn hơn một năm hay một chu kỳ kinh doanh)
Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần Khi tham gia vào quá trình sản xuất thì tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng của nó cũng bị giảm đi Vốn cố định được tách làm hai phần sau:
Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tương ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển
Thông thường, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn
cố định có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh
Trang 21- Vốn lưu động [12], [15]
Vốn lưu động trong doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục
Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến
Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước
Trên góc độ quản lý, vốn lưu động thường được chia thành 4 loại Đó
là tiền mặt và các khoản tương đương, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản lưu động khác
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản xuất lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra thuờng xuyên liên tục Phù hợp với những đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm:
Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 22của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên cùng một thời điểm vốn lưu động tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông Các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất được lặp đi lặp lại Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển.
Từ những đặc điểm trên ta thấy quản lý và sử dụng vốn lưu động là bộ phận quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp Trong đó cần phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp đảm bảo vốn lưu động để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng ứ đọng vốn Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có những biện pháp khai thác và huy động các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra
để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức
độ nào Hiệu quả phản ánh mặt chất lượng các hoạt động, trình độ lợi dụng các nguồn lực trong sự vận động không ngừng của các quá trình, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố [9]
Đứng trên quan điểm đó hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp
là tối đa hóa giá trị tài sản sở hữu Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc
độ luân chuyển vốn… Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối quan
hệ tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ
Trang 23sản xuất kinh doanh Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện để doanh nghiệp phát triển vững mạnh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp Hoạt động trong cơ chế thị trường doanh nghiệp luôn đề cao tính an toàn tài chính Đây là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo toàn, doanh nghiệp có đủ nguồn lực để khắc phục những khó khăn và rủi ro trong kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh Đáp ứng yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm…doanh nghiệp phải có vốn trong khi đó vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
là rất cần thiết
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín của sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao động… vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức sống của người lao động ngày càng cải thiện Điều đó giúp cho năng xuất lao động ngày càng được nâng cao, tạo cho sự phát triển của doanh nghiệp và các ngành khác có liên quan Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho Nhà Nước
Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận hay nói cách khác là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm các biện pháp nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên trong và ngoài doanh nghiệp Chính vì vậy vấn
Trang 24đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu,
đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng bởi vốn có vai trò mang tính quyết định đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng trước khi thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp cần phải hiểu hiệu quả sử dụng vốn là gì
và nó bao gồm những yếu tố nào
Nói đến hiệu quả có nghĩa là đề cập đến mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, mối quan hệ này có thể nghiên cứu trên hai phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu qủa xã hội
Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
và ngược lại
Hiệu quả xã hội là mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự
cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu mỗi cấp trong hệ thống công việc
và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội
Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên có nghĩa là vừa phải đảm bảo sự có sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra đồng thời phải đạt được mục tiêu chính trị xã hội nhất định
Thông qua quan điểm tổng quát đã đưa ra ở trên có thể kết luận: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác,sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất
Để hiểu rõ hơn về khái niệm này cần phải xem xét một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và chi phí hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không phải là một nhiệm vụ đơn giản trước khi tìm ra các
Trang 25giải pháp thực hiện doanh nghiệp cần phải giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:
Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi,lãng phí,sử dụng vốn đúng mục đích,tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được thời điểm bỏ vốn,quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Doanh nghiệp cần phải có chiến lược sản xuất kinh doanh, có kế hoạch quản lý phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý và quan trọng là phải luôn huy động,đầu tư thêm để mở rộng qui mô sản xuất và lĩnh vực hoạt động
Đây là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến vấn đề bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp,thực hiện được những yêu cầu trên tức là doanh nghiệp đã tìm ra một nửa trong số các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Vốn được sử dụng hiệu quả hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào trình
độ năng lực của nhà quản lý, tuy nhiên mức độ hiệu quả mang lại như thế nào cao hay thấp thì cần phải có những chỉ tiêu đánh giá cụ thể.Các nhà quản lý
sử dụng hệ thống các chỉ tiêu này để phân tích vấn đề, xem xét tổng thể tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, khắc phục được những mặt hạn chế và phát huy những điểm mạnh của doanh nghiệp.Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh trong kỳ và số vốn kinh doanh bình quân
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn được chi tiết như sau[2], [9], [10], [14], [15], [16], [17], [21]:
1.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn dài hạn (vốn cố định)
Vốn dài hạn biểu hiện giá trị bằng tiền của các loại tài sản cố định ở doanh nghiệp, thể hiện quy mô của doanh nghiệp Tài sản cố định nhiều hay
Trang 26ít, chất lượng hay không chất lượng, sử dụng có hiệu quả hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp Một số chỉ tiêu cần phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dài hạn của doanh nghiệp.
Hiệu suất sử dụng = Doanh thu thuần
Vốn dài hạn bình quânSức sản xuất của vốn dài hạn phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ bỏ ra làm ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng Lợi nhuận sau thuế x 100%
Vốn dài hạn bình quânHiệu quả sử dụng vốn dài hạn phản ánh 100 đồng TSCĐ trong kỳ bỏ ra tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ TSCĐ đó
Hiệu quả sử dụng = Lợi nhuận sau thuế x 100%
Giá trị tài sản cố địnhHiệu quả sử dụng tài sản cố định cho biết cứ 100 đồng TSCĐ bỏ ra mang về cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận
Hiệu suất sử dụng = Doanh thu thuần x 100%
Giá trị tài sản cố địnhHiệu suất sử dụng TSCĐ đo lường việc sử dụng tài sản cố định như thế nào, chỉ tiêu này càng cao càng tốt
Mức huy động TSCĐ cho biết giá trị TSCĐ thực tế hoạt động, chỉ tiêu này càng cao thì công ty càng sử dụng có hiệu quả TSCĐ
Hệ số sử dụng
tài sản cố định
= Giá trị TSCĐ thực tế hoạt động
Giá trị tài sản cố địnhTSCĐ ở đây là giá trị còn lại bằng nguyên giá trừ đi phần hao mòn lũy kế
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn
Đây là các chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức, quản
lý và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nó bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Số vòng quay của vốn ngắn hạn trong kỳ
Là số lần luân chuyển vốn ngắn hạn trong kỳ, nó đươc xác định như sau:
Trang 27Số vòng quay = Doanh thu thuần
Vốn ngắn hạn bình quânChỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ vốn ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính càng tốt, doanh nghiệp cần ít vốn mà
tỷ suất lợi nhuận lại cao
- Số ngày luân chuyển
Là số ngày để thực hiện một vòng quay vốn ngắn hạn
Số ngày luân chuyển = Số ngày trong kỳ
Số vòng quay vốn ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết thời gian bình quân của một vòng quay vốn ngắn hạn trong kỳ.Thời gian của một vòng quay vốn ngắn hạn càng nhỏ càng tốt, chứng tỏ tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn của doanh nghiệp nhanh, thời gian luân chuyển được rút ngắn
- Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn
Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn
= Vốn ngắn hạn bình quân
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thì doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu đồng vốn ngắn hạn Hệ số này càng nhỏ càng tốt
1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Phân tích tình hình biến động về quy mô và cơ cấu nguồn vốn để thấy được khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp Căn cứ vào số liệu trên bảng Cân đối kế toán của doanh nghiệp mà so sánh tổng nguồn vốn của doanh nghiệp giữa các năm hoặc các kỳ với nhau về số tuyệt đối và số tương đối để
Trang 28rút ra những kết luận cần thiết về tình hình biến động nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định cần thiết để huy động các nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh Bao gồm các chỉ tiêu:
- Hệ số tự tài trợ:
Hệ số này phản ánh tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn.Chỉ tiêu này càng lớn doanh nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập với các chủ nợ là cao
Hệ số nợ = Tổng nợ phải trả
Tổng nguồn vốnHiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung phản ánh tổng hợp hiệu quả sử dụng tài sản cố định, tài sản lưu động ở doanh nghiệp Đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp ở doanh nghiệp.Đây là chỉ tiêu mà mọi doanh nghiệp, mọi nhà kinh doanh quan tâm và rất quan trọng đối với doanh nghiệp.Về mặt tổng thể người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng toàn
bộ vốn của doanh nghiệp
= Doanh thu thuần trong kỳTổng vốn bình quân trong kỳHiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp thể hiện một đồng vốn đầu tư tại doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Hệ số này càng cao thì doanh nghiệp sử dụng vốn càng có hiệu quả
Trang 29- Hệ số quay vòng vốn
Hệ số quay vòng vốn = Doanh thu thuần
Vốn sử dụng bình quânChỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn quay bao nhiêu vòng trong năm.Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả
- Sức sinh lời của tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận trước thuế x
100%
Giá trị tài sản bình quânROA = Lợi nhuận trước thuế x Doanh thu thuần
Doanh thu thuần Giá trị tài sản bình quân
= Tỷ suất doanh lợi x Hiệu quả sử dụng tài sảnChỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng tài sản sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.ROA càng lớn thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả
Có thể sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích chi tiết từng nhân tố ảnh hưởng tới ROA
- Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế x 100%
Vốn chủ sở hữu bình quânSức sinh lời của VCSH phản ánh một 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra làm ra được bao nhiêu tổng lợi nhuận sau thuế.Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với nhà doanh nghiệp
Ngoài các chỉ tiêu trên, khi phân tích, để đánh giá khả năng sinh lời của VCSH ở doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào ta sử dụng chỉ số Dupont
ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính x (1 – t)
Trong đó, t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệpROE = Lợi nhuận x Doanh thu x Giá trị tài sản x (1 – t)
Trang 30trước thuế thuần bình quânDoanh thu
thuần
Giá trị tài sản bình quân
- Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tăng thu nhập quốc dân, mở rộng các quan hệ kinh tế, ngân sách Nhà nước tăng Từ
đó, Nhà nước có thể đầu tư vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công cộng…nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển
Đồng thời tăng trưởng kinh tế phản ánh thu nhập bình quân tính trên đầu người tăng tạo ra nguồn tích lũy, tiết kiệm từ các doanh nghiệp và dân cư Cùng với chính sách tiết kiệm chi tiêu, tiêu dùng hợp lý để có và tăng tiết kiệm, từ đó mà các doanh nghiệp có thể huy động vốn thuận lợi từ các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng, dân cư, Nhà nước…được thuận lợi
- Chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá của Nhà nước
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, đồng thời thuế góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội, điều tiết và kích thích phát triển sản xuất kinh doanh Hiện nay Nhà nước ta thực hiện chính sách thuế để khuyến khích đầu tư, điều chỉnh lại
Trang 31cơ cấu kinh doanh của các ngành nghề với chính sách ưu đãi, đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới, dài hạn và có điểm tựa để đảm bảo sự công bằng giúp cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Bất kỳ một tổ chức nào từ doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính khác, dân chúng…đều rất coi trọng và quan tâm đến vấn đề lãi suất.Lãi suất là mục tiêu kinh doanh cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, là cơ sở cho việc giảm các chi phí cho các tổ chức này Chính sách lãi suất hợp lý sẽ tạo điều kiện trước hết là thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu đầu tư kinh doanh Đối với các doanh nghiệp vốn cho kinh doanh chủ yếu là huy động từ vốn vay Chính vì thế mà lãi suất quyết định tới chi phí vốn huy động, tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và có thể làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp Đồng thời lãi suất (lãi suất tái chiết khấu) nếu thay đổi đến một mức độ nào
đó sẽ tác động đến tỷ giá ngoại tệ, từ đó mà có thể làm tăng hoặc giảm các nguồn tiền từ nước ngoài chảy vào trong nước hoặc chảy ra nước ngoài làm ảnh hưởng đến ổn định và phát triển kinh tế, tác động đến đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là Nhà nước xây dựng chính sách lãi suất như thế nào vận dụng cho mỗi giai đoạn để tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong các tổ chức tài chính tín dụng, thu hút được nhiều tiền nhàn rỗi trong dân và các doanh nghiệp có thể vay chịu đựng được lãi suất để kinh doanh có hiệu quả, tránh tình trạng các ngân hàng, các tổ chức tài chính tín dụng thì thừa vốn mà các doanh nghiệp thì thiếu vốn nhưng không dám đi vay hoặc không vay được gây mất cân đối giữa cung và cầu về vốn, đẩy các doanh nghiệp các
tổ chức tài chính tín dụng ách tắc trong huy động vốn cho kinh danh
Tỷ giá thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đồng nội tệ, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến lạm phát, ổn định hay tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, ổn định về kinh tế thì tất yếu sẽ ổn định
Trang 32về tỷ giá, ngược lại ổn định tỷ giá chưa hẳn làm ổn định được kinh tế hoặc biến động về tỷ giá chưa chắc kinh tế mất ổn định Tuy vậy, về cơ bản lâu dài quan hệ này tác động hữa cơ lẫn nhau Hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước đều có 3 luồng quan điểm về tỷ giá đó là: Thả nổi – Cấm tuyệt đối – Hạn chế tự do lưu thông Tỷ giá hiện nay công ty áp dụng theo quan điểm hạn chế lưu thông: Các cửa hàng, siêu thị, sân bay…Nhà nước có quy định một số hàng được lưu thông thu ngoại tệ và Nhà nước có quy định một số hàng hóa bán cho người nước ngoài được thanh toán bằng ngoại tệ, còn lại ngăn cấm.
Các doanh nghiệp huy động vốn đầu tư từ ngoại tệ ngoài việc phải chịu lãi suất (đi vay) còn chịu sự trượt giá của đồng ngoại tệ Đặc biệt trong giai đoạn vừa qua chủ yếu là trượt giá tăng làm cho chi phí vốn tăng, đây là yếu tố rủi ro mang tính khách quan mà doanh nghiệp phải gánh chịu; yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và các dự án đầu tư nếu không lường hết được yếu tố trượt giá, không có dự phòng về biến động tỷ giá khi huy động bằng ngoại tệ sẽ mang lại hậu quả thua lỗ khó lường
- Môi trường pháp lý
Nền kinh tế của công ty mới phát triển ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường chịu sự quản lý điều tiết của Nhà nước Do vậy, nếu môi trường pháp lý (các bộ luật, đường lối chính sách…) chưa toàn diện đồng bộ, chưa phù hợp với kinh tế thị trường thì sẽ không tạo được môi trường kinh doanh công bằng, hấp đẫn Nếu không có một hệ thống pháp luật hữu hiệu bảo vệ các nhà đầu tư thì cũng rất khó kêu gọi đầu tư, vì các nhà đầu tư sẽ không ưu tiên khi bỏ vốn mà chủ yếu đầu tư trung hạn, dài hạn thiếu sự bảo đảm lâu dài của luật pháp Như vậy có thể nói môi trường pháp lý là điều kiện hết sức cần thiết để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm các điều kiện về lâu dài cho các nhà đầu tư từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng đầu
tư thu hút nhiều nguồn vốn đáp ứng cho các chiến lược kinh doanh đề ra Ở Việt Nam, khi luật chứng khoán ra đời là một điều kiện rất thuận lợi để bảo vệ
Trang 33các nhà đầu tư, nhà phát hành chứng khoán, tạo môi trường lành mạnh cho doanh nghiệp thu hút vốn trên thị trường này.
1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh
Các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có đặc điểm
về chu kỳ sản xuất, kỹ thuật, đặc điểm của sản phẩm, nhu cầu của thị trường khác nhau Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp cũng khác nhau tương ứng theo ngành nghề sản xuất Ví dụ nếu chu kỳ kinh doanh ngắn, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng thu hồi vốn nhằm tái tạo và mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu chu kỳ sản xuất dài, doanh nghiệp sẽ chậm thu hồi vốn và bị ứ đọng vốn
- Đặc điểm về sản phẩm
Đặc điểm sản phẩm sẽ ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm, từ đó tác động đến lợi nhuận, vòng quay vốn của doanh nghiệp Ví dụ nếu sản phẩm là hàng hóa tiêu dùng, sản phẩm công nghiệp nhẹ thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh và thu hồi vốn nhanh Ngược lại nếu sản phẩm là các công trình xây dựng sẽ có vòng đời dài, thu hồi vốn sẽ chậm…
- Chiến lược kinh doanh
Ngay từ khi mới ra đời cũng như trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp bao giờ cũng phải xây dựng cho mình kế hoạch về sản xuất kinh doanh Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thực tế là việc
đề ra các mục tiêu về quản lý kinh doanh, đầu tư kinh doanh, mở rộng và lựa chọn thị trường, tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực…và những phương hướng cơ bản để doanh nghiệp có thể tiếp cận được các mục tiêu đó
Các chính sách cụ thể của chiến lược kinh doanh:
Chính sách về khai thác thị trường kinh doanh
Đây là mục tiêu nhằm tìm kiếm thị trường, xâm nhập và khai thác công việc kinh doanh cho doanh nghiệp, đây là nhiệm vụ rất cần của doanh nghiệp bởi vì: doanh nghiệp muốn tồn tại phải có các hoạt động sản xuất kinh doanh,
Trang 34muốn hoạt động sản xuất kinh doanh phải tìm kiếm được công việc để kinh doanh và muốn có công việc để kinh doanh thì phải khai thác tìm kiếm thị trường có thể tạo ra việc làm Đồng thời thông qua chính sách về thị trường doanh nghiệp có thể khuyếch trương và tôn tạo uy tín rộng khắp.Việc khai thác thị trường cũng phải xác định được đâu là thị trường tiềm năng phù hợp với đặc thù kinh doanh của mình và đâu là thị trường mới để có chính sách đầu tư hợp lý nhằm đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhưng phải đảm bảo có hiệu quả.
Chính sách về đầu tư
Đầu tư có thể mang tính chuyên sâu, mở rộng hay thay thế những năng lực sản xuất hiện có.Chính sách đầu tư là mục tiêu thường xuyên nhằm khai thác triệt để năng lực hiện có, đổi mới thiết bị, công nghệ, sản phẩm; mở rộng quy mô đầu tư phù hợp với việc khai thác thị trường kinh doanh Gắn với chính sách đầu tư bao giờ cũng phải xác định được chính sách tài chính mà cụ thể là nguồn vốn hình thành đáp ứng mục tiêu đầu tư
Chính sách về tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực
Nhằm phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; phù hợp với yêu cầu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay các doanh nghiệp phải lựa chọn và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực Đi đôi với việc tuyển chọn, đào tạo thì việc quản lý sử dụng con người và trả công người lao động cũng phải phù hợp nếu không dẫn tới tình trạng “chảy máu chất xám” trong doanh nghiệp
Chính sách về tài chính và quản lý kinh doanh
Trên cơ sở các mục tiêu kinh doanh đề ra phải có chính sách tài chính phù hợp Mặt khác quản lý kinh doanh cũng phải thường xuyên đổi mới đáp ứng và phù hợp với nhiệm vụ kinh doanh, có như vậy các mục tiêu của chiến lược kinh doanh mới có tính khả thi
Tóm lại: Với mỗi giai đoạn phát triển doanh nghiệp đều có một chiến lược kinh doanh phù hợp Xuất phát từ chiến lược kinh doanh mà doanh
Trang 35nghiệp xác định nhu cầu về vốn cũng phải tương ứng, các giai đoạn kinh doanh khác nhau thì nhu cầu về vốn cũng khác nhau và phương thức để huy động vốn cũng khác nhau Khi mà doanh nghiệp chưa có điều kiện để phát triển hay cơ hội kinh doanh chưa tới thì vốn kinh doanh cũng không cần nhiều, ngược lại khi kinh doanh phát triển cơ hội đến đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn lớn cho kinh doanh Trên cơ sở nhu cầu vốn, nó là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn và khai thác triệt để các phương thức huy động vốn hay nói cách khác chiến lược kinh doanh là điểm xuất phát để doanh nghiệp vạch ra chính sách huy động vốn.
- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh đòi hỏi phải có một
cơ cấu vốn hợp lý trong mối quan hệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp có thể thay đổi theo những điều kiện tác động
từ bên ngoài, nhưng tuỳ theo mục đích kinh doanh và yêu cầu của nhà quản lý doanh nghiệp mà tại những thời điểm nhất định doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một cơ cấu vốn phù hợp Việc thay đổi cơ cấu vốn có thể làm cho doanh nghiệp lựa chọn các hình thức huy động vốn khác nhau, chẳng hạn: khi
tỷ lệ vốn vay cao hơn tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã dự tính thì lúc này doanh nghiệp có thể mở rộng vốn bằng cách phát hành thêm
cổ phiếu mới; ngược lại khi tỷ lệ vốn vay thấp hơn tỷ lệ nợ tối ưu dự tính thì doanh nghiệp có thể chuyển hướng mở rộng vốn bằng cách vay thêm nợ hoặc phát hành trái phiếu
Khi doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ phải dự tính được mức lợi tức của vốn huy động và mức thay đổi lợi tức khi tỷ lệ huy động thay đổi bởi vì: Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều tất nhiên có thể sẽ làm tăng rủi ro đối với tài chính (trường hợp này thường xảy ra với các nhà quản lý doanh nghiệp thích ưa mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để có thể đem lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp) Tuy nhiên, tỷ lệ nợ cao cũng có thể đem lại mức độ lợi nhuận cao hơn cho vốn chủ sở hữu Chính vì thế mà doanh nghiệp phải tính toán làm
Trang 36sao để hướng tới sự cân bằng giữa khả năng rủi ro và mức lợi tức dự tính để
từ đó có được cơ cấu vốn hợp lý
- Nhân tố con người
Con người là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn Con người ở đây chính là bộ máy quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Con người là nhân tố trung tâm, quyết định tới sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, giám đốc là người quyết định, có toàn quyền quản lý và sử dụng tiền vốn cũng như tài sản của doanh nghiệp, là người chịu trách nhiệm mọi vấn đề tài chính của doanh nghiệp.Nếu quyết định sử dụng vốn của giám đốc đúng đắn thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại, nếu quyết định thiếu chính xác thì sẽ dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh và thậm chí có thể bị phá sản
Bên cạnh giám đốc, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp - đội ngũ tham mưu cho giám đốc cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, năng động, sáng tạo, phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình sản xuất kinh doanh sẽ giúp giám đốc có những quyết định kịp thời, đúng đắn và xây dựng được quy trình sản xuất hợp lý cho doanh nghiệp
Ngoài ra, lực lượng lao động trực tiếp cũng là nhân tố quan trọng bởi
họ trực tiếp tạo ra hàng hóa vật chất Đội ngũ lao động này có tay nghề giỏi
và có tinh thần trách nhiệm cao sẽ giúp doanh nghiệp thu được kết quả kinh doanh tốt Từ đó doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.2.4 Phương hướng chung để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:
Trang 37Phải khai thác nguồn lực một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn rỗi mà không sử dụng, không sinh lời.
Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm
Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn ứ đọng, sử dụng vốn sai mục đích, không để vốn bị thất thoát do buông lỏng quản lý
Ngoài ra, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng vốn
Trang 38Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SỬ DỤNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ CƠ
KHÍ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2011-2015 2.1 Tổng quan về Công ty
2.1.1 Khái quát về công ty
- Tên Doanh nghiêp: Công ty cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải Phòng
- Tên Tiếng Anh: Hai Phong Mechanics and Plastic joint stock Company
- Tên viết tắt: MPCO
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Nhà máy sản xuất nhựa và cơ khí là một thành viên trực thuộc Công ty thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu Hải Phòng (TRADIMEXCO Hải Phòng) Nhà máy được thành lập chính thức theo quyết định số 3214/QĐ-UB ngày 19/11/2004 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng cho phép Công
ty thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu Hải Phòng thành lập nhà máy sản xuất phụ tùng xe máy tại Hải Phòng
Do những năm tháng phát triển và mở rộng nhà máy với số lượng phân xưởng và công nhân ngày càng lớn, xét đề nghị của Công ty thương mại dịch
vụ và xuất nhập khẩu Hải Phòng và Sở thương mại UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định số 776- QĐ/UB cho phép đổi tên "Nhà máy sản xuất phụ tùng xe máy" thành "Nhà máy sản xuất nhựa và cơ khí" Căn cứLuật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005; căn cứ Nghị định số 187/2004/NĐ- CP
Trang 39ngày 16/11/2004 của chính phủ về chuyển Công ty nhà nước thành Công ty
cổ phần và các văn bản hướng dẫn thi hành; Căn cứ Quyết định số 4323/UBND-DN ngày 26/07/2007 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng
về việc “Cho phép Nhà máy sản xuất Nhựa và cơ khí thuộc Công ty Thương mại Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Hải Phòng tiến hành Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty cổ phần Từ ngày 1/1/2008 Nhà máy sản xuất nhựa và cơ khí chính thức chuyển tên thành Công ty cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh của Công ty
Ngành nghề sản xuất:
- Sản xuất và gia công các sản phẩm từ hạt nhựa;
- Nhập khẩu và phân phối dầu mỡ nhờn VALVOLINE Hoa Kỳ
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty
- Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty
Cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng Đại hội cổ đông quyết định các phương
án (chiến lược) sản xuất kinh doanh, ngành nghề kinh doanh của Công ty, thông qua Điều lệ hoạt động Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị để thường trực quản lý Công ty, bầu Ban kiểm soát nội bộ Công ty Đại hội cổ đông quyết định mức thù lao hay tiền lương, tiền thưởng cho các thành viên Hội đồng quản trị và cơ chế trả lương cho người lao động trong Công ty
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý cao nhất để quản trị Công ty, Hội đồng quản trị công ty có quyền nhân danh Công ty để giải quyết mọi vấn
đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông) Hội đồng quản trị Công ty quyết định việc
bổ nhiệm, bãi miễn Giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng Công ty
Trang 40Hội đồngquản trị
Phó giám đốckinh doanh
Xưởng
nhựa
Xưởngsơn
PhòngKếhoạchĐiềuđộ
PhòngKỹthuậtVật tư
PhòngKếtoán
PhòngHànhchính
PhòngKhohàng
Hình 2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của MPCO
Nguồn: tác giả tổng hợp từ báo cáo của công ty