−Vốn có giá trị về mặt thời gian tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian theo công thức : T - H - SX
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1- TSCĐ : Tài sản cố định
2- TSLĐ : Tài sản lưu động
3- LNTT : Lợi nhuận trước thuế
4- LNST : Lợi nhuận sau thuế
5- VLĐ : Vốn lưu động
6- VCĐ : vốn cố định
7- TMCP: Thương mại cổ phần
8- TGNH : Tiền gửi ngân hàng
9- Thuế GTGT : thuế giá trị gia tăng
10- SXKD : sản xuất kinh doanh
11-ĐTLĐ : đối tượng lao động
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂUBẢNG :
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, cơ hội phát triển kinh tế là rất lớn Có nhiều nguồn đầu tư từ các nước đổ vào Việt Nam tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, cũng mang lại không ít những khó khăn, thách thức: Yếu tố cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các đối thủ nước ngoài với lợi thế về vốn và trình độ công nghệ,… Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, cần phải có một đội ngũ quản lý có kiến thức chuyên môn sâu rộng, năng động, sáng tạo, bản lĩnh vững vàng
Do mới thành lập nên công ty chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Công ty chuyên thi công các công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng, thủy điện, thủy lợi và các dịch vụ du lịch Để tồn tại và phát triển, công ty luôn đưa ra chiến lược kinh doanh có tính chất thời cuộc, xâm nhập, khai thác thị trường, tạo công ăn việc làm cho công nhân, nhằm tăng doanh thu cho doanh nghiệp Đồng thời, để tạo uy tín, công ty luôn giữ chữ tín với khách hàng về chất lượng sản phẩm, thời gian hoàn thành,… Ngoài ra, công ty luôn tạo điều kiện để công nhân học tập, học hỏi kiến thức nâng cao trình độ chuyên môn
Hơn nữa các nhà quản trị công ty hiểu rõ rằng để sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì yếu tố không thể thiếu là vốn Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là một yếu tố quan trọng quyết định đến sản xuất và lưu thông hàng hoá Vốn cũng là chìa khoá, là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triển, chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường để có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có một lượng vốn nhất định Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, dưới hình thái hiện vật nó biểu hiện là tài sản cố định và tài sản lưu động hay vốn tự có và vốn đi vay, vậy quản trị và điều hành về tỷ lệ giữa hai loại vốn này như thế nào là hợp lý và có hiệu quả Ngoài ra, vấn đề làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam đang là vấn đề bức xúc mà các nhà quản
Trang 4lý doanh nghiệp quan tâm Chính vì vậy em đó chọn đề tài : Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú.
Trang 5Kết cấu của đề tài ngoài lời mở đầu và kết luận có 3 phần chính sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú
EM XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
Tất cả các thầy cô, cán bộ công nhân viên trường Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tạo
ra một môi trường học tập lành mạnh công bằng, giúp đỡ chúng em có kiến thức quý báu
Ban lãnh đạo cùng toàn thể công nhân viên công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú đã giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian thực tập
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô Thạc Sỹ NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận này
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Vốn là một yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu khi thành lập một doanh
nghiệp, và nó còn quyết định tới sự tồn vong của doanh nghiệp đó Vì vậy các vấn đề liên quan tới vốn như huy động vốn, làm sao sử dụng vốn có hiệu quả nhất được các nhà quản trị quan tâm hàng đầu Với tầm quan trọng như vậy khi nghiên cứu về vốn cần hiểu được khái niệm cơ bản về vốn, và vai trò của vốn trong các doanh nghiệp như thế nào?
1.1 Các vấn đề cơ bản về vốn trong các doanh nghiệp.
chính doanh nghiệp đại học KTQD-PGS.TS Lưu Thị Hương, XB năm 2009))
Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh thu được nhiều lợi nhuận Cho nên các doanh nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ về vốn cũng như đặc trưng của vốn Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp vì chỉ khi hiểu rõ tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó hiệu quả nhất
Các đặc trưng cơ bản của vốn:
−Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp
− Vốn phải vận động sinh lời đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
−Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Trang 7−Vốn có giá trị về mặt thời gian tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian theo công thức :
T - H - SX – H’ – T’
Điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả sử dụng của đồng vốn
− Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ, không thể có đồng vốn vô chủ và không có ai quản lý
− Vốn phải được quan niệm như một hàng hoá đặc biệt có thể mua bán hoặc bán bản quyền sử dụng vốn trên thị trường tạo nên sự giao lưu sôi động trên thị trường vốn, thị trường tài chính Như vậy vốn bắt đầu là hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng hoá là tư liệu lao động và đối tượng lao động trải qua quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm lao vụ hoặc dịch vụ vốn sang hình thái hàng hoá sản phẩm Khi tiêu thụ sản phẩm lao vụ dịch vụ xong vốn lại trở về hình thái tiền tệ Do sự luân chuyển vốn không ngừng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông
− Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình ( bằng phát minh sáng chế, các bí quyết công nghệ, vị trí kinh doanh, lợi thế trong sản xuất …)
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn
1.1.2 Phân loại vốn:
Mỗi doanh nghiệp đều có một phương thức và hình thức kinh doanh khác nhau Nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra được lợi nhuận cho mình Nhưng điều đó chỉ đạt được khi vốn của doanh nghiệp được quản lý và sử dụng một cách hợp lý
Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình doanh nghiệp
1.1.2.1 Phân loại căn cứ vào mối quan hệ sở hữu về vốn:
Trang 8Vốn pháp định: Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi
muốn hình thành doanh nghiệp và số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp Nhà Nước, số vốn này được ngân sách nhà nước cấp
Vốn tự bổ xung: Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận
lưu trữ ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí nghiệp ( Quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển )
Vốn chủ sở hữu khác: Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi bởi
vì do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí,
do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dựng cơ bản
Vốn huy động của doanh nghiệp:
Ngoài các hình thức vốn do nhà nước cấp thì doanh nghiệp cũng một loại vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó là vốn huy động
Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất mà doanh nghiệp số vốn còn lại trong doanh nghiệp không đủ thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình thức khác
b) Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá
nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn
Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và Doanh nghiệp
Vốn vay trên thị trường chứng khoán Tại các nền kinh tế có thị trường chứng
khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp Thông qua hình thức này thì doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục đích vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp có thể huy động số vốn nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Trang 9Vốn liên doanh liên kết: Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với
các doanh nghiệp khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây
là hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm điều này cũng có nghĩa là uy tín của công
ty sẽ được thị trường chấp nhận Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết
bị nếu như trong hợp đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này
Vốn tín dụng thương mại: Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ người
cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán, của chính sách tín dụng khác hàng mà doanh nghiệp được hưởng Đây là một phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó cũng tạo khả năng mở rộng cơ hội hợp tác làm ăn của doanh nghiệp trong tương lai Tuy nhiên khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ giúp phần rất lớn vào nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn tín dụng thuê mua: Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một
phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và doanh nghiệp Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người thuê theo thời hạn mà hai bên đó thoả thuận, người cho thuê là người
sở hữu tài sản
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính:
Thuê vận hành(thuê hoạt động): là phương thức thuê ngắn hạn tài sản Hình
thức này có các đặc trưng sau:
Thời hạn thuê ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong thời gian ngắn
Người thuê chỉ việc việc trả tiền theo thỏa thuận, người cho thuê phải đảm bảo mọi chi phí vận hành của tài sản như phí bảo trì, bảo hiểm thuế tài sản cộng với mọi rủi ro vô hình của tài sản
Trang 10Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời vụ
và nó đem lại cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài sản này vào sổ sách
kế toán
Thuê tài chính: Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng thương
mại trung hạn và dài hạn theo hợp đồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người cần thuê và đó thương lượng từ truớc các điều kiện mua tài sản từ người cho thuê và đó thương lượng từ trước các điều kiện mua tài sản từ người cho thuê Thuê tài chính có hai đặc trưng sau:
Thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ của các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng
Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên thuê, các loại chi phí bảo dưỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với tài sản do bên thuê phải chịu cũng tương tự như tài sản của Công ty
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là tiền đề để cho doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc quản lý vốn ở các doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập đến là hoạt động luân chuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng vốn Vốn cần được nhìn nhận và xem xột dưới trạng thái động với quan điểm hiệu quả
1.1.2.2 Phân loại căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ
cho toàn bộ tài sản cố định của mình Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn của doanh nghiệp, trong đó, nợ dài hạn là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay
Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động tạm
thời của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa trả tiền
Như vậy, ta có:
TS = TSLĐ + TSCĐ
Trang 11= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu = Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản cố định
1.1.2.3 Phân loại căn cứ vào phạm vi huy động vốn
Nguồn vốn bên trong nội bộ doanh nghiệp :
Là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm khấu hao tài sản, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu từ nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định.
Nguồn vốn hình thành từ ngoài doanh nghiệp:
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
- Nguồn tín dụng từ các khoản vay nợ có kỳ hạn mà các ngân hàng hay tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay và có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền vay nợ theo đúng
kỳ hạn quy định
- Nguồn vốn từ liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp gồm nguồn vốn vay
có được do doanh nghiệp liên doanh, liên kết từ các doanh nghiệp để phục vụ cho việc
mở rộng sản xuất kinh doanh
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu Việc phát hành những chứng khoán có giá trị này cho phép các doanh nghiệp có thể thu hút số tiền rộng rói nhàn rỗi trong xó hội phục vụ cho huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp
Dựa theo cách phân loại này cho phép các doanh nghiệp thấy được những lợi thế giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động nguồn vốn Đồng thời do nhu cầu thường xuyên cần vốn doanh nghiệp phải tích cực huy động vốn, không trông chờ ỷ lại vào các nguồn vốn sẵn có
Đối với các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp có thể toàn quyền tự chủ sử dụng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp mà không phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến việc sử dụng vốn kém hiệu quả
Trang 12Huy động vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có cơ cấu tài chính linh hoạt
Do doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nên doanh nghiệp phải cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Chính vì thế, doanh nghiệp có thể vay vốn từ bên ngoài
để làm tăng nội lực vốn bên trong
1.1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù với quy mô nào thì cũng cần phải có một lượng vốn nhất định Đó là tiền đề cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp
Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi thành lập thì điều kiện đầu tiên doanh
nghiệp phải có một số vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (vốn pháp định là lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại hình doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Ngược lại, nếu không có vốn thì doanh nghiệp không thể thành lập được Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đủ như điều kiện pháp luật quy định thì doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như giải thể, phá sản, sáp nhập…Như vậy có thể xem vốn là cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật
Về kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố
quyết định sự tồn tại phát triển của từng doanh nghiệp, vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ để phục vụ quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị trí của doanh nghiệp trên thương trường Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp không gừng cải tiến thiết bị máy móc đầu tư vào công nghệ…Tất cả những việc này muốn thực hiện được thì doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Để tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, khẳng định uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới sử dụng vốn tiết kiệm có hiệu quả hơn, và phải luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 131.2 Sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp.
1.2.1 Quản lý và sử dụng vốn cố định.
Vốn cố định là giá trị những TSCĐ mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh là một bộ phận vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm luân chuyển của nó là chuyển dần vào chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi hết thời hạn sử dụng
- Sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian
sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đó sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển
VCĐ là số vốn đầu tư để mua sắm TSCĐ do đó quy mô của VCĐ lớn hay nhỏ phụ thuộc vào khả năng tài chính của từng DN ảnh hưởng tới trình độ trang thiết bị dây chuyền công nghệ
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động có hiệu quả, muốn nâng cao khả năng sử dụng vốn đều phải xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý Tuy nhiên tuỳ từng loại hình doanh nghiệp khác nhau có một cơ cấu vốn khác nhau Nếu doanh nghiệp sản xuất thì tỷ lệ cố định sẽ lớn hơn so với vốn lưu động, còn đối với doanh nghiệp thương mại thì cần số vốn lưu động lớn hơn Nếu các doanh nghiệp thương mại này không xác định được cơ cấu vốn hợp lý, họ đầu tư mua sắm TSCĐ quá nhiều dẫn đến vốn cố định lớn, điều này gây ra lãng phí đầu tư không có hiệu quả vì đầu tư cho TSCĐ cần một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, tuy nhiên, nếu đây là doanh nghiệp sản xuất thì cơ cấu vốn này là được bởi vì đầu tư trang bị kỹ thuật sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện giải phóng sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm do đó tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển và tăng trưởng
Trang 141.2.2 Quản lý và sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động(VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Vốn lưu
động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban
đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá.
VLĐ là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi
đó bán
hàng hoá Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đó bị người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, cũng giá trị nguyên, nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đó Vốn lưu động ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động bao gồm: Vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức Trong đó:
- VLĐ định mức: Là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong kỳ, nó bao gồm vốn dự trữ vật tư hàng hóa và vốn phi hàng hoá để phục vụ cho hoạt động kinh doanh
- VLĐ không định mức: Là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính toán định mức được như tiền gửi ngân hàng, thanh toán tạm ứng Đối với doanh nghiệp sản xuất thì vốn lưu động bao gồm: Vật tư, nguyên nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ là đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Không những thế tỷ trọng, thành phần, cơ cấu của các loại vốn này trong các doanh nghiệp khác nhau cũng khác nhau Nếu như trong doanh nghiệp thương mại tỷ trọng của loại vốn này chiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu Trong hai loại vốn này, vốn cố định có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn lưu động Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đó chu chuyển được nhiều vòng Việc phân chia theo cách thức này giúp cho các doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn Từ
đó, doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu vốn phù hợp
VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản lý, sử
Trang 15nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động Có nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động
mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Là một phạm trù kinh tế phản ảnh trình
độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất (GT phân tích tài chính doanh nghiệp HVTC - GS TS Ngô Thế Chi – XB năm 2008)
Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình SXKD (ĐTLĐ, TLLĐ) cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên
cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như: Đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở rộng hoạt động SXKD của mình và DN phải đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình sử dụng vốn của mình
Ngoài ra doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng và huy động vốn
Trang 161.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn
1.3.2.1 Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh được của chỉ tiêu tài chính ( thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian, kỳ phân tích được gọi là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể đo bằng giá trị tuyệt đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh gồm:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đánh giá sự suy giảm hay sự giảm sút trong hoạt động sản xuất kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số bình quân của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá doanh nghiệp mình tốt hay xấu được hay không được
+ So sánh chiều dọc để xem xét tỷ trọng của trừng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến động cả về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các liên độ kế toán liên tiếp
1.3.2.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính Về nguyên tắc phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp được phân tích thành các nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ mục tiêu thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều nhóm tỷ lệ riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính Trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo góc độ phân tích, người phân tích lựa chọn các mục tiêu khác nhau Để phục vụ cho mục tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp người ta phải tính đến hao mòn vô hình do sự phát triển không những của tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 171.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
1.3.3.1 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì các nhà phân tích có thể
sử dụng nhiều phương pháp để kiểm tra, trong đó một số chỉ tiêu tổng quát như hiệu suất
sử dụng tổng tài sản, doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu Trong đó:
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản = Doanh thu
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho ta biết một đồng tài sản khi mang đi sử dụng sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi vốn =
Tổng tài sản
Đây là chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn Chỉ tiêu này cũng được gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, nó cho biết một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Doanh lợi vốn chủ sở hữu
=
LNST Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, khả năng quản lý doanh nghiệp trong vấn đề sử dụng và mang lại lợi nhuận về từ những đồng vốn đó bỏ ra Chỉ tiêu này càng lớn thì doanh nghiệp kinh doanh càng có lời
Có thể đưa ra những nhận xét khái quát khi mà ta đó phân tích và sử dụng ba biện pháp trên Nó sẽ giúp cho doanh nghiệp có được các biện pháp sử dụng thành công vốn trong việc đầu tư cho các loại tài sản khác như: tài sản cố định và tài sản lưu động Do vậy, các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến tới đo lường hiệu quả sử dụng tổng nguồn vốn mà cũng trú trọng tới việc sử dụng có hiệu quả của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp đó là vốn cố định và vốn lưu động
Trang 181.3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Sức sản xuất của tài sản cố định :
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nguyên giá tài sản cố định bình quân được huy động trong sản xuất thì tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản lượng của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Sức sản xuất của tài sản cố định = Giá trị tổng sản lượng
Nguyên giá bình quân tài sản cố
định
Giá trị tổng sản lượng ta có thể thay thế bằng doanh thu hay giá trị sản xuất công nghiệp
Sức sinh lời của của tài sản cố định :
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nguyên giá trị tài sản cố định dùng trong sản xuất tạo ra mấy đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Tổng lợi nhuận sau thuế Sức sinh lời tài sản cố đinh =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định
Suất hao phí tài sản cố định :
Chỉ tiêu này cho biết cứ để tạo ra một đồng giá trị tổng sản lượng thì phải có bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt và chứng tỏ trong
kỳ doanh nghiệp đó sử dụng tiết kiệm tài sản cố định của doanh nghiệp
1.3.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Sức sản xuất của vốn lưu động.
Tổng vốn LĐ
Trang 19Chỉ tiêu này cho biết cư một đồng vốn lưu động dùng trong sản xuất thì tạo ra mấy đồng giá trị sản lượng Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Sức sản xuất của vốn lưu động = Giá trị tổng sản lượng
Tổng vốn lưu động
Sức sinh lời của vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động dùng trong sản xuất tạo ra mấy đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Sức sinh lời của vốn lưu động = Tổng lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn lưu động
Suất hao phí vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng giá trị tổng sản lượng thì phải huy động bao nhiêu đồng vốn lưu động Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Suất hao phí vốn lưu động = tổng vốn lưu động bình quân
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình
T1/2+T2+T3+ T11+T12+T`1/2
12
Với Ti là vốn lưu động bình quân tháng thứ i trong năm
T1` là số vốn bình quân tháng 1 năm sau
Số vòng quay của vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn lưu động, nó phản ánh số vòng quay của vốn lưu động trong một năm Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Số vòng quay của
Tổng vốn lưu động
Thời gian một vòng luân chuyển
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một vòng Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Trang 20Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần phải phải huy động bao nhiêu vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm
Tổng vốn lưu động bình quân
Tổng doanh thu thuần
Các chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn nêu trên sẽ được sử dụng để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong thời kỳ (thường là một năm)
ta sẽ so sánh những chỉ tiêu này với những chỉ tiêu trong những năm trước đó và so sánh với những chỉ tiêu chung của ngành và của đối thủ cạnh tranh Nếu chỉ tiêu của doanh nghiệp trong kỳ phân tích tốt hơn những chỉ tiêu cùng loại trong những năm trước hay chỉ tiêu chung của ngành thì ta có thể kết luận hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là tốt
1.3.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Nhân tố bên ngoài:
- Các chính sách vĩ mô: Trên cơ sở pháp luật, các chính sách kinh tế tạo môi
trường cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Bất kỳ một sự thay đổi trong chính sách này đều có tác động đáng kể đến doanh nghiệp Đối với hiệu quả sử dụng vốn thì các quy định như thuế vốn, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…đều có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Biến động về thị trường đầu vào, đầu ra: Biến động về thị trường đầu vào là các
biến động về tư liệu lao động, là những thay đổi về máy móc, công nghệ… nó có thể giúp cho doanh nghiệp chọn công nghệ phù hợp, học tập kinh nghiệm sản xuất nhưng ngược lại nó cũng có thể đẩy công nghệ đi đến lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh Những biến động về thị trường đầu ra có thể ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Nếu nhu cầu về sản phẩm tăng, doanh nghiệp có cơ hội tăng doanh thu và lợi nhuận, qua đó tăng hiệu quả sử dụng vốn Ngược lại, những biến động bất lợi như giảm đột ngột nhu cầu, khủng hoảng thừa…sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
*Nhân tố bên trong
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh: Chu kỳ sản xuất kinh doanh có hai bộ phận hợp
thành: Bộ phận thứ nhất là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp nhập kho nguyên vật
Trang 21liệu cho đến khi giao hàng cho người mua, bộ phận thứ hai là là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp giao hàng cho người mua đến khi doanh nghiệp thu tiền về Chu kỳ kinh doanh gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng vốn Nếu chu kỳ kinh doanh ngắn doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu chu
kỳ kinh doanh dài doanh nghiệp sẽ có một gánh nặng là ứ đọng vốn và trả lãi cho các khoản cho vay phải trả
- Kỹ thuật sản xuất: Các đặc điểm về kỹ thuật tác động với một số chỉ tiêu quan
trọng phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ như hệ số sử dụng thời gian, công suất nếu kỹ thuật công nghệ lạc hậu doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, từ đó làm cho việc bảo toàn và phát triển vốn gặp khó khăn Ngược lại, nếu kỹ thuật công nghệ hiện đại doanh nghiệp sẽ có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm hao phí năng lượng, hao phí sửa chữa…tăng năng suất lao động, khi đó doanh nghiệp sẽ có điều kiện chiếm lĩnh thị trường
- Đặc điểm về sản phẩm: Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm,
từ đó tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp, vòng quay của vốn, nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, nhất là sản phẩm công nghệ nhẹ sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh, thu hồi vốn nhanh Ngược lại nếu sản phẩm có vòng đời dài, giá trị thu hồi vốn chậm
- Trình độ quản lý, hạch toán nội bộ: Trình độ quản lý doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Quản lý tốt đảm bảo cho quá trình thông suốt đều đặn, nhịp nhàng giữa các khâu, các bộ phận đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp, từ đó hạn chế tình trạng ngâng việc của máy móc thiết bị, tiết kiệm các yếu tố sản xuất, tăng tốc độ luân chuyển vốn
Mặt khác, công tác hạch toán dùng các công cụ tính toán các chi phí phát sinh, đo lường hiệu quả sử dụng vốn Từ đó phát hiện những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn
và đề xuất biện pháp giải quyết
- Trình độ lao động của doanh nghiệp: Trình độ lao động của doanh nghiệp được
thể hiện qua tay nghề, khả năng tiếp thu công nghệ mới, khả năng sáng tạo, ý thức giữ gìn tài sản Nếu lao động có trình độ cao, tay nghề cao thì máy móc thiết bị được sử dụng tốt, năng suất lao động tăng.Tuy nhiên để phát huy tiềm năng lao động doanh nghiệp phải có biện pháp khuyến khích lợi ích vật chất cũng như trách nhiệm một cách công bằng
Trang 22Kết luận: Trong chương một là phần lý luận cơ bản nhất về vốn, hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp
Vấn dề mà em đưa ra là các vấn đề cơ bản về vốn trong doanh nghiệp đó là khái niệm về vốn, phân loại vốn và vai trò của vốn Tiếp theo để sử dụng vốn kinh doanh có hai vấn đề được đề cập là sử dụng vốn cố định và sử dụng vốn lưu động Muốn biết một công ty có sử dụng vốn có hiệu quả hay không thì cần có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn
Đó là cơ sở lý luận để áp dụng phân tích vào chương hai
Trang 23CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN YÊN PHÚ
2.1 Giới thiệu khái quát công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú.
2.1.1 Giới thiệu công ty:
Tên giám đốc: Vũ Việt Anh
Địa chỉ: Tòa nhà 24T2- Hoàng Đạo Thúy- Phường Trung Hòa- Quận Cầu Giấy- Thành phố Hà Nội
Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp: Giấy phép đăng ký kinh doanh (ĐKKD) số
0103003824 ngày 09/08/2005 do Sở Kế hoạch & đầu tư Thành phố Hà nội cấp
Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp:
Công ty được thành lập và hoạt động trong các ngành nghề, phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và các quy định của pháp luật nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, phát triển hoạt động kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, đóng góp ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế từ các hoạt động kinh doanh Đồng thời đem lại việc làm tạo thu nhập cho người lao động
Các loại hình mà doanh nghiệp cung cấp:
Công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú luôn quan tâm đến việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ của Quý khách hàng, các lĩnh vực kinh doanh chính của công ty bao gồm:
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, khu du lịch sinh thái, dịch vụ thể dục thể thao (bể bơi, quần quần vợt, nhà tập thể dục thể hình) và các dịch vụ vui chơi giải trí (chủ yếu là: Bi a, cầu lông, bóng bàn, tennis,
Trang 24bơi thuyền, câu cá
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, công trình kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và khu công nghiệp, công trình thông tin liên lạc, đường dây và trạmbiến áp đến 35KV, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình văn hoá
- Trang trí nội ngoại thất công trình;
- Đào đắp, vận chuyển đất đá, san lấp mặt bằng;
- Tư vấn, thiết kế tổng mặt bằng, kiến trúc: đối với các công trình dân dụng, công nghiệp;
- Tư vấn, thiết kế công trình giao thông cầu, đường bộ;
- Tư vấn, thiết kế kết cấu: đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp;
- Tư vấn, thiết kế cấp thoát nước: Đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp;
- Tư vấn giám sát chất lượng xây dựng;
- Tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, thẩm định dự án đầu tư, quản lý dự
án, xây dựng thực nghiệm, lập tổng dự toán và thẩm tra dự toán;
- Sản xuất và mua bán vật liệu xây dựng, hàng trang trí nội ngoại thất, vật liệu kim loại và phi kim loại, phụ kiện kim loại cho xây dựng, cấu kiện bê tông;
- Sản xuất và mua bán máy văn phòng, thiết bị văn phòng, đồ dùng văn phòng, thiết bị giảng dạy, đồ dùng trường học, dụng cụ thí nghiệm trường học, máy tính, linh kiện máy tính, phần mềm máy tính;
- Dịch vụ quảng cáo, vẽ đồ hoạ, kỹ thuật và in ấn (theo quy định pháp luật hiện hành);
- Vận tải hàng hoá;
- Dịch vụ lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hành, bảo trì, thuê và cho thuê các máy móc thiết bị công ty kinh doanh;
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá;
- Tư vấn, thiết kế, thi công các công trình văn hoá;
- Khảo sát xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, điện lực, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị;
Trang 25- Khảo sát đo đạc, đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn 1/2000, đo độ lún, đo độ nghiêng, đo độ dịch chuyển và định vị công trình;
- Tư vấn lập dự án, thiết kế trong phạm vị chứng chỉ hành nghề các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
- Giám sát thi công xây dựng: loại công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật; lĩnh vực chuyên môn giám sát: lắp đặt thiết bị công nghiệp và thiết bị công trình;
- Cho thuê máy móc, thiết bị xây dựng;
- Buôn bán máy móc, thiết bị xây dựng;
- Hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh du lịch;
- Bán buôn thiết bị và các linh kiện điện tử, viễn thông;
- Dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải chưa được phân đâu;
- Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp;
- Lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước và lắp đặt xây dựng khác;
- Bán buôn máy vi tính, thiết bị ngoại vi và phần mềm;
- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy nông nghiệp;
- Bán lẻ máy vi tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm và các thiết bị viễn thông trong các cửa hàng chuyên doanh;
- Bán lẻ thiết bị nghe nhìn trong các cửa hàng chuyên doanh;
- Dịch vụ hỗ trợ giáo dục;
- Bán lẻ trong siêu thị, trung tâm thương mại;
2.1.2 Lịch sử phát triển của doanh nghiệp:
Được chia thành 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: Những năm đầu hình thành và phát triển từ năm 2005 đến năm
2007
Ngày 1/8/2005 công ty được thành lập lấy tên là: công ty cổ phần Việt Á
Lúc này trên thị trường bất động sản đầu tư còn mới mẻ Những năm đầu hoạt động không tránh khỏi những khó khăn, tuy nhiên dưới dự lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp mà doanh nghiệp đã từng bước đi vào ổn định, dần có chỗ đứng trong thị trường Việt Nam
Trang 26Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển và mở rộng quy mô Từ năm 2007 đến năm
2012
Công ty đổi tên thành Công ty cổ phần Tập Đoàn Yên Phú
Như chúng ta nhận thấy trong những năm 2008, 2009 thi trường bất động sản phát triển và hoạt động mạnh mẽ Công ty đã gặt hái nhiều thành tựu, trở thành công
ty bất động sản có tiếng và công ty đã mở thêm chi nhánh miền nam Tuy nhiên trong những năm 2010 và 2011 thị trường bất động sản lắng xuống công ty vì đó cũng gặp không ít khó khăn, nhưng không vì thế mà công ty đi xuống Công ty đã mở rộng ngành nghề kinh doạnh của mình sang mảng giải trí, tổ chức sự kiện tư vấn về chăm sóc sức khỏe… với phương châm lấy ngắn nuôi dài, lấy doanh thu trong ngành giải trí văn hóa nghệ thuật để nuối những dự án lớn Trước những khó khăn công ty ngày càng khẳng định sức mạnh của mình
Trang 272.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy:
2.1.4 Khái quát quá trình sản xuất kinh doanh của công ty:
Công ty Cổ phần tập đoàn Yên Phú trong 5 năm vừa qua, với mục tiêu phấn đấu trở thành doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, công ty đã chủ động và tự tìm kiếm cho mình nguồn vốn thị trường để tồn tại Nhờ sự năng động, sáng tạo và ý chí quyết tâm xây dựng công ty phát triển lớn mạnh của cả Hội đồng quản trị cùng đội ngũ công nhân viên, công ty đó nhanh chóng thích ứng với kiều kiện, cơ chế thị trường nên kết quả hoạt động
Giám đốc phụ trách kinh doanh
T Giám đốc
Phòng hành chính nhân sự
Hội đồng quản trị
Phòng
dự án
27
Trang 28sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua rất đáng khích lệ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thị trường bất động sản đóng băng trong hai năm gần đây nên công ty cũng gặp không ít khó khăn.
Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
5 Giá trị TSCĐ bình quân trong năm 3610 3824 3983 3693 3398
6 Vốn lưu động bình quân trong năm 16721 33781 42208 47411 50607
7 Tổng chi phí sản xuất trong năm 18900 35096 31360 35152 29540
(Số liệu do phòng Tài chính - Kế toán cung cấp)
Qua bảng số liệu trong 5 năm kể từ năm 2007 đến 2011 dưới đây cho thấy:
Về mặt sản lượng: Năm 2008, dù trong những năm đầu mới thành lập nhưng công
ty đó có được mức sản lượng rất cao, cao nhất trong 5 năm nghiên cứu với mức tăng là 90.66% với một lượng tuyệt đối là 19.130.000.000 đồng Năm 2008 là năm thị trường bất động sản ổn định công ty gặt hái được nhiều thành công sản lượng tăng cao nhất Tuy nhiên nền kinh tế bắt đầu đi vào suy thoái lạm phát vào năm 2009 cho nên, năm 2009 sản lượng giảm một cách đột biến xuống còn 33960.000.000 đồng với mức tương đối là 15.58% Và tiếp tục giảm trong năm 2010 nhưng ít hơn Năm 20010 là năm mà thị trường bất động sản thị trường chứng khoán hoạt động chậm chạp ảnh hưởng không nhỏ tới công ty nhưng không vì thế mà công ty đầu hàng Sang năm 2011công ty đã mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình sang lĩnh vực truyền thông giải trí cho nên sản lượng tăng lên đáng kể
Về doanh thu: Cùng với việc tăng sản lượng, doanh thu năm của công ty năm
2008 cũng tăng và đạt 36.730.000.000 đồng, vượt 86,83%, tương đương với mức vượt tuyệt đối là 17.070.000.000 đồng vượt so với năm trước là 22,17% tương ứng với tỷ lệ vượt tuyệt đối là 30.751.000.000 đồng Năm 2009, sản lượng giảm làm doanh thu của
Trang 29nhiên sang năm 2010, dù sản lượng giảm nhưng công ty vẫn đạt được mức tăng về doanh thu đạt 40.167.000.000 đồng, tăng so với năm 2009 một lượng 7.170.000.000 đồng do có
sự đầu tư lớn của thị trường nước ngoài vào Việt Nam
Năm 2011, giá cả hàng hóa tăng cao đặc biệt là giá cả nguyên vật liệu làm tăng sản lượng lên 57.58% nhưng doanh thu lại giảm 17,69% Điều này làm lợi nhuận của công ty giảm khá lớn
Tổng chi phí sản xuất cũng tăng giảm theo sản lượng Năm 2008 sản lượng tăng làm chi phí sản xuất cũng tăng tương đương với mức tăng giảm doanh thu qua các năm
Cùng với sự biến động của sản lượng và doanh thu, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của công ty cũng có sự biến động đáng kể Nhưng do tổng chi phí sản xuất phụ thuộc nhiều vào giá cả thị trường nên lợi nhuận trước và sau thuế cũng tăng giảm đáng
kể Năm 2010 tăng nhiều nhất đạt 206.35%, cao hơn mức tăng của năm 2008 là 215% Năm 2011 tuy sản lượng và doanh thu tưng nhưng lợi nhuận trước và sau thuế giảm 29,81%
Giá trị tài sản cố định năm 2008, do mua sắm thêm trang thiết bị nên có tăng lên so với năm 2007 nhưng từ năm 2009 trở đi giá trị tài sản cố định giảm so với tổng vốn của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Công ty có sự chủ động hơn về vốn nên vốn lưu động bình quân cũng giảm dần từ 202% xuống còn 106% từ năm 2008 đến 2011
Qua phân tích ở trên ta đó phần nào được sự cố gắng của ban lãnh đạo công ty cũng như cán bộ công nhân viên trong công ty trong việc huy động vốn, tài sản của công
ty để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng ngành nghề lĩnh vực kinh doanh
2.2 Phân tích thực trạng và quản lý sử dụng vốn của công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú.
2.2.1 Tình hình vốn của công ty trong những năm qua:
Công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú với loại hình kinh doanh là công ty cổ phần mới được thành lập nên vấn đề về vốn kinh doanh luôn gặp nhiều khó khăn Công ty chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng, kinh doanh bất động sản nên cần nhiều vốn cho công tác mua sắm trang thiết bị, máy móc Phạm vi huy động vốn thường bó hẹp trong các tổ chức tín dụng Trong khi các ngân hàng ngày càng thắt chặt quản lý với các điều khoản cho vay chặt chẽ hơn do đó gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp, mà lĩnh vực
Trang 30kinh doanh của công ty có lợi nhuận thấp, rủi ro cao Trong các năm qua từ năm 2007 tới năm 2011 tổng nguồn vốn của công ty liên tục tăng Từ 20753 triệu đồng năm 2007 tới năm 2011 thì tăng lên 54962 triệu đồng Điều này cho thấy công ty huy động được rất nhiều vốn để kinh doanh, quy mô của công ty ngày càng được mở rộng.
2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của công ty phần lớn là vốn đi vay, đòi hỏi nhà quản lý phải linh hoạt trong việc sử dụng vốn Để tăng vòng quay của đồng vốn công ty đó phải tính toán các phương án sử dụng vốn có hiệu quả, có kế hoạch ứng vốn và nhanh chóng nghiệm thu thanh toán thu hồi vốn ngay khi hoàn thành
Trang 31Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú từ năm 2007 đến năm 2011
Trang 32Biểu đồ 1: Sự biến đổi và so sánh vốn chủ sở hữu và vốn vay của công ty từ năm
2007 đến năm 2011
Biểu đồ 2: Tỉ lệ vốn vay, vốn chủ sở hữu trên tổng vốn của công ty năm 2007:
Trang 33Biểu đồ 3: Tỉ lệ vốn vay, vốn chủ sở hữu trên tổng vốn của công ty năm 2008
Biểu đồ 4: Tỉ lệ vốn vay, vốn chủ sở hữu trên tổng vốn của công ty năm 2009
Biểu đồ 5: Tỉ lệ vốn vay, vốn chủ sở hữu trên tổng vốn của công ty năm 2010
Trang 34Biểu đồ 6: Tỉ lệ vốn vay, vốn chủ sở hữu trên tổng vốn của công ty năm 2011
Bên cạnh đó, để đảm bảo lượng vốn cần thiết doanh nghiệp cũng cần phải chú ý tới việc tiết kiệm tối đa lượng chi phí sử dụng vốn Cần phát huy nội lực của mình, tăng cường sức cạnh tranh, đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động, giảm mức tồn kho, giảm chi phí lưu thông, tăng khả năng thanh toán
Biểu đồ 7: Biến động vốn của công ty cổ phần tập đoàn Yên Phú từ năm 2007
đến năm 2011
Qua bảng phân tích số liệu bảng 2 ta thấy: Vốn chủ sở hữu trong tổng vốn tăng lên qua các năm Cụ thể là năm 2008 vốn chủ ở hữu của công ty là 3531 triệu đồng chiếm 9% trên tổng số vốn Năm 2008 vốn chủ sở hữu tăng so với năm 2007 là 531 triệu đồng nhưng
tỷ lệ của vốn chủ sở hữu so với tổng vốn của công ty giảm đi Năm 2009 vốn chủ sở hữu