1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH

70 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một di tích, một quần thể các công trình xây dựng hoặc một di chỉ được xem là có giá trị nổi bật toàn cầu của Công ước khi Uỷ ban nhận thấy rằng nó có thể đáp ứng ít nhất một trong 6 tiê

Trang 1

BAN QUẢN LÝ VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG

TRUNG TÂM DU LỊCH VĂN HÓA VÀ SINH THÁI

  

Tài liệu tập huấn Hướng dẫn viên Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

“KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH”

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

Phong Nha, tháng 11 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC 2

2.3 Danh mục Di sản thế giới và các Di sản Thế giới ở Việt Nam 8

3 Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 8 3.1 Giới thiệu chung về vị trí địa lý, khí hậu, vùng lõi, 13 xã vùng đệm, dân tộc 8

Tiêu chí công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới 11

CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ KHẢO CỔ, VĂN HÓA, LỊCH SỬ VÀ ĐA DẠNG ĐỊA CHẤT,

ĐỊA MẠO VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU VỰC VQG PNKB 13

2 Đa dạng địa chất (đá vôi, karst và hang động) 18 2.1 Một số định nghĩa và khái quát về các loại đá vôi, thạch nhũ và trầm tích 18 hang động

3 Kế hoạch phát triển du lịch bền vững ở khu vực VQG PNKB 48

Trang 3

CHƯƠNG 4: HƯỚNG DẪN VÀ QUẢN LÝ DU KHÁCH TRONG VQG PNKB 51

2 Hướng dẫn của IUCN về quản lí hang động và karst 55

3 Hướng dẫn của Hiệp hội Quốc tế các Hang động Phục vụ Du lịch về quản lý 59 các hang động phục vụ du lịch

4 Dự thảo bộ “Quy tắc ứng xử” của Hội Hang động học Quốc tế 64

Trang 4

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG

1 Các khu bảo tồn và Vườn quốc gia ở Việt Nam

1.1 Định nghĩa:

Mọi quốc gia đều có một hệ thống các “khu bảo tồn” để khẳng định và bảo tồn các giá trị di sản thiên nhiên hoặc văn hóa Vườn quốc gia là một mô hình tiêu biểu thuộc hệ thống này

Khu bảo tồn là gì?

Khu bảo tồn thiên nhiên là khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác – (theo: IUCN 1994)

Vườn quốc gia là gì?

Theo như phân loại của tổ chức bảo tồn quốc tế IUCN thì “Vườn quốc gia

là một khu vực tự nhiên hoặc bán tự nhiên, hoặc khu vực biển thuộc sở hữu của một chính phủ có diện tích nằm trọn trong một quốc gia, được thành lập nhằm:

 Bảo vệ sự thống nhất về sinh thái của một hoặc nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai

 Ngăn chặn sự khai thác hoặc sử dụng trái với mục tiêu của khu bảo tồn – Vườn quốc gia

 Có tiềm năng về du lịch tâm linh, khoa học, giáo dục, giải trí; tất cả những hoạt động này đều phải thân thiện và hài hòa về mặt văn hóa cũng như môi trường.”

Ở Việt Nam, Vườn quốc gia được định nghĩa

như là một khu vực tự nhiên, có đủ diện tích để

bảo tồn ít nhất một hệ sinh thái tiêu biểu và các

loài sinh vật đặc hữu trong đó

Mục tiêu chính của các Vườn quốc gia là bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và các hoạt động du lịch sinh thái

Trang 5

1.2 Danh sách phân loại các khu bảo tồn ở Việt Nam

Theo IUCN, cho đến năm 2010, có đến khoảng 7.000 Vườn quốc gia trên toàn thế giới

Bảng bên dưới liệt kê các loại và số lượng Khu bảo tồn và Vườn quốc gia của Việt Nam

2 Di sản Thế giới

2.1 Định nghĩa

Lô-gô Di sản Thế giới bao gồm một hình

vuông đơn giản tượng trưng cho công

trình Di sản tiêu biểu, nằm trong vòng

tròn lớn hơn, chính là trái đất của chúng

ta, cả tự nhiên bao la rộng lớn

Vạch nối giữa hình vuông và hình tròn

chính là điểm kết nối đảm bảo việc bảo

tồn các giá trị Di sản

Phân loại lượng Số Diện tích

(ha)

Vườn quốc gia 30 1,039,518

Khu bảo tồn tự nhiên 58 1.060.959

Khu bảo tồn loài 11 38.777

Khu bảo tồn lịch sử,

văn hóa và môi trường 45 78.129

1 Bạn có biết, rừng là một khu vực có diện tích rộng lớn,

có cây cao che phủ

ít nhất 50% diện tích đất?

2 Bạn có biết, rừng nhiệt đới là khu vực

có đấu tranh sinh tồn dữ dội nhất?

Di sản thế giới (về tự nhiên hay văn hóa) là di chỉ hay di tích của một quốc gia như rừng, dãy núi,

hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO

Trang 6

Năm 1972, Liên hợp quốc

lập một danh sách bao gồm

các địa điểm có giá trị quan

trọng, về tự nhiên hoặc văn

hóa cho toàn nhân loại,

những giá trị này là vĩnh

viễn, bất chấp thời gian

Mục đích của việc lập Danh

2.2 Phân loại Di sản Thế giới

Để được ghi danh trong danh sách các di sản thế giới, khu vực đó phải có giá trị

“nổi bật toàn cầu” và đáp ứng được ít nhất là một trong số 10 tiêu chí

Những khu vực này có thể có tầm quan trọng về các giá trị tự nhiên, văn hóa, hoặc cả hai mặt này

 Theo Công ước di sản thế giới thì Di sản văn hóa là:

 Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình

xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng,

do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Trang 7

 Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có

sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học

Một di tích, một quần thể các công trình xây dựng hoặc một di chỉ được xem là

có giá trị nổi bật toàn cầu của Công ước khi Uỷ ban nhận thấy rằng nó có thể đáp ứng ít nhất một trong 6 tiêu chí dưới đây:

i - Là một kiệt tác về tài năng sáng tạo của con người; hoặc,

ii - Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô thị hoặc thiết kế cảnh quan; hoặc,

iii - Là một bằng chứng độc đáo hoặc ít nhất cũng là một bằng chứng ngoại hạng về một truyền thống văn hoá hoặc một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất; hoặc,

iv - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu nhà hoặc một quần thể kiến trúc hoặc công nghệ hoặc một cảnh quan minh họa cho một hay nhiều giai đoạn

có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại; hoặc,

v - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu định cư truyền thống của con người hoặc một phương pháp sử dụng đất truyền thống, đại diện cho một nền văn hoá (hoặc các nền văn hoá), nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể đảo ngược được; hoặc,

vi - Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật toàn cầu

 Theo Công ước di sản thế giới thì Di sản thiên nhiên là:

 Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động kiến tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học

 Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn

Các khu vực có giá trị tự nhiên phải đáp ứng được ít nhất một trong số 4 tiêu chí sau đây:

vii - Có bằng chứng nổi bật ghi lại lịch sử phát triển về địa chất của trái đất; viii - Có bằng chứng nổi bật ghi lại sự tiến hóa của lịch sử; hoặc,

ix - Có môi trường sống tự nhiên quan trọng để bảo tồn các giá trị về đa dạng sinh học; hoặc,

x - Có các hiện tượng siêu nhiên hoặc là khu vực có vẻ đẹp đặc biệt

Trang 8

2.3 Danh mục Di sản Thế giới và các Di sản Thế giới ở Việt Nam

Đến năm 2009, đã có 890 khu di sản thế giới nằm ở 148 quốc gia trên toàn cầu Trong số đó, có 689 khu di sản văn hóa, 176 khu di sản thiên nhiên và 25 khu di sản văn hóa – thiên nhiên

Việt Nam có 6 Di sản thế giới, trong đó có 2 di sản thiên nhiên và 4 di sản văn hóa

Các khu di sản thiên nhiên Các khu di sản thế giới

Vịnh Hạ Long - năm 1994, 2000 Quần thể di tích cố đô Huế 1993 VQG Phong Nha – Kẻ Bàng năm 2003 Phố cổ Hội An năm 1999

Thánh địa Mỹ Sơn năm 1999

Di sản Văn hóa Hoàng thành Thăng Long năm năm 2010

Ghi chú: Danh sách trên không bao gồm Di sản Văn hóa phi vật thể

3 Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

3.1 Giới thiệu khái quát

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PNKB) (17021’12” – 17039’44” vĩ độ Bắc, 105057’53” -106024’19” kinh độ Đông) nằm ở trung tâm dãy Trường Sơn của Việt Nam, phía Tây Nam sông Gianh, cách thị xã Đồng Hới 40km theo hướng Tây Bắc và cách Thủ đô Hà Nội 500km về phía Nam Phía Tây và Tây Nam giáp với nước CHDCND Lào, phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh VQG PNKB chung ranh giới với khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno về phía Lào, cũng

là khu vực đang được đề cử là khu Di sản Thiên nhiên Thế giới VQG PNKB nằm trong một trong 200 trung tâm đa dang sinh học toàn cầu (WWF, 2000) Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu Karst mang ý nghĩa quan trọng toàn cầu đã được được biết đến từ những năm 1920 của thế kỷ trước với những hang động nổi tiếng, đã được người Pháp tổ chức các hoạt động du lịch từ năm

1937 Phong Nha đã được đưa vào danh sách các khu rừng đặc dụng từ năm

1986 và chính thức trở thành VQG vào tháng 12 năm 2001 Với những giá trị nổi bật toàn cầu đại diện cho quá trình lịch sử trái đất và địa chất, VQG PNKB đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới vào tháng 7 năm 2003 (Tiêu chí i - nay là tiêu chí viii)

Trang 9

Vùng lõi (Vườn quốc gia):

VQG PNKB có tổng diện tích

125.729,6 ha, bao gồm phân khu

bảo vệ nghiêm ngặt (64.894 ha),

phân khu phục hồi sinh thái

(17.499 ha), phân khu hành

Hiện tại có hai cộng đồng dân

tộc thiểu số sống trong vùng lõi

của VQG PNKB với 78 hộ và

444 người Người Arem định cư

tại bản 39, xã Tân Trạch, xã nằm ven Quốc lộ 20 gần biên giới phía Tây của Vườn quốc gia Người Vân Kiều sinh sống tại bản Đoòng, xã Tân Trạch, ở biên giới phía Nam của Vườn quốc gia Bản Đoòng đang trong quá trình di dời

Vùng đệm:

Vùng đệm là khu vực tiếp giáp với VQG PNKB trải dài trên 3 huyện của tỉnh Quảng Bình là Huyện Minh Hóa, Bố Trạch và Quảng Ninh Vùng đệm có tổng diện tích 217.908,44 ha

Hiện nay, Vùng đệm bao gồm 155 thôn, bản ở 13 xã của ba huyện Bố Trạch, Minh Hoá và Quảng Ninh với 64.243 dân hay 14.114 hộ gia đình Đồng bào dân tộc thiểu số sống trong các xã Vùng đệm và Vườn quốc gia chủ yếu thuộc các dân tộc Bru - Vân Kiều (gồm các tộc người Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì) và dân tộc Chứt (gồm Sách, Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng) Khoảng 22,31% dân số Vùng đệm là dân tộc thiểu số

Mỗi dân tộc thiểu số đều có các đặc điểm văn hóa riêng như săn bắt, hái lượm hay các hoạt động truyền thống khác như hội giết trâu, hội đập trống, hội cầu mùa, dự hội, người ta uống rượu cần

Trang 10

3.2 Lịch sử hình thành Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng

Khu vực hiện tại của VQG PNKB đã từng được biết đến từ thập niên 1920 khi động Phong Nha lần đầu tiên được phát hiện và du khách bắt đầu đến tham quan khu vực này Năm 1937, Phòng Du lịch của Khâm sứ Pháp tại Huế đã ấn hành một tập gấp giới thiệu du lịch ở Quảng Bình và động Phong Nha Trong những năm chiến tranh, những khu rừng và hang động quanh khu vực VQG PNKB nói chung và động Phong Nha nói riêng được sử dụng làm căn cứ kháng chiến và nơi cất giấu vũ khí của quân đội Việt Nam VQG PNKB và khu vực bao quanh VQG cũng là hành lang quan trọng cho việc vận chuyển hàng hóa và hành quân Đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc khu vực giáp giới VQG Quốc lộ

20 là tuyến đường quan trọng nối với Lào trong thời kỳ chiến tranh chạy ngang qua địa phận của VQG

Sau thời kỳ chiến tranh, chính quyền địa phương đã tổ chức và tiến hành khảo sát nhằm bảo vệ các khu vực xung quanh PNKB

Năm 1986, Khu rừng cấm Quốc gia được hình thành với diện tích 5.000 ha Du khách đến tham quan khu vực bắt đầu tăng và nhà khách đầu tiên được xây dựng ở bến phà Xuân Sơn năm 1990 nhằm tổ chức các chuyến du lịch bằng thuyền đầu tiên đi động Phong Nha

Năm 1993, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phong Nha1 được thành lập với diện tích 41.132 ha Năm 2001, Chính phủ Việt Nam đã ban hành quyết định nâng cấp Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phong Nha thành VQG PNKB

Năm 2003, VQG PNKB đã chính thức được công nhận là một Di sản Thế giới của UNESCO Phần mở rộng của Vườn quốc gia được đưa vào năm 2008 với diện tích 31.070 ha thuộc các xã Thượng Hóa và Hóa Sơn (huyện Minh Hoá)

1

Trang 11

3.3 Tiêu chí công nhận Di sản thiên nhiên Thế giới

Vào ngày 5 tháng 7 năm 2003, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới dựa vào Tiêu chí (viii) trong Công ước về Di sản Thế giới Theo công ước này, hệ thống hang động của VQG PNKB được công nhận mang tầm quan trọng toàn cầu:

“là một ví dụ điển hình thể hiện những giai đoạn trọng yếu trong lịch sử hình thành Trái đất và các tiến trình kiến tạo cũng như tính đặc thù về địa chất, địa mạo”

Tiêu chí thứ viii của Công ước Di sản thế giới của UNESCO nêu rõ:

Trích dẫn và dịch từ trang web: http://whc.unesco.org/en/criteria

Kiến tạo karst của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã phát triển từ đại Cổ sinh (trên 460 triệu năm) và là khu vực núi đá vôi lớn lâu đời nhất ở châu Á Trải qua các thời kỳ kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, phối tảng

và uốn nếp đã liên tục tạo ra các dãy núi trùng điệp do chuyển động nâng cao và các bồn trầm tích do chuyển động sụt lún, đóng vai trò như nguyên nhân của mọi nguyên nhân để tạo ra tính đa dạng về địa chất, địa hình - địa mạo, mạng lưới thủy văn và tính đa dạng, kỳ thú về hang động du lịch đối với các thành hệ đá vôi

Phong Nha - Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng là vùng đá vôi rộng lớn, kéo dài đến biên giới nước bạn Lào, bao gồm các kiến tạo đặc thù ngoạn mục với 65 km hang động và sông ngầm và có lẽ là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp nhất về sự kiến tạo karst phức tạp ở Đông Nam Á

Năm 2007, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia Việt Nam đã thống nhất đề nghị Thủ tướng cho phép Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Việt Nam ký trình hồ

sơ gửi UNESCO công nhận vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới lần 2 về tiêu chí đa dạng sinh học (tiêu chí x) Bộ hồ sơ trình lần này đã được bổ sung các tư liệu quý về hệ động thực vật tại vườn quốc gia này

Hồ sơ trình UNESCO lần này cũng đã nêu rõ tính nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học, và tính toàn vẹn của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

‘Mẫu hình nổi bật thể hiện các thời kỳ phát triển chính của lịch sử trái đất, chứa đựng bằng chứng sự sống và các tiến trình địa chất đang diễn ra có ý nghĩa trong việc hình thành các dạng đất đai hoặc đặc điểm về địa hình và địa mạo học”

Trang 12

Tiêu chí thứ x của Công ước Di sản thế giới của UNESCO nêu rõ:

Trích dẫn và dịch từ trang web: http://whc.unesco.org/en/criteria Quá trình phát triển những giá trị nổi bật về địa chất địa mạo và khí hậu thủy văn

đã tạo ra môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và cũng là một bộ phận hữu

cơ của giá trị nổi bật mang tính toàn cầu Phong Nha - Kẻ Bàng là một mẫu điển hình về đa dạng sinh học của vùng sinh thái dãy Trường Sơn, là nơi được xác định là một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới (WWF, 2000) Hơn nữa, Phong Nha - Kẻ Bàng được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế đánh giá là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam (BirdLife, 2005)

Phong Nha - Kẻ Bàng chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, hệ sinh thái sông suối, hệ sinh thái hang động và các hệ sinh thái thứ sinh Đây là một bộ máy hoàn chỉnh cho quá trình đồng tiến hóa của động vật, thực vật tạo thành những mắt xích và mạng lưới thức ăn bền vững trong môi trường tự nhiên Đa dạng sinh học và môi trường sống của các loài trong khu vực chính là các bằng chứng khoa học để kiểm nghiệm giả thuyết phát sinh các loài động thực vật trong quá trình phát triển lịch sử của trái đất

Sự phong phú của địa chất địa mạo đã tạo ra cho Phong Nha - Kẻ Bàng tính đa dạng về các hệ sinh thái, bao gồm các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái núi đá vôi,

hệ sinh thái núi đất, hệ sinh thái hang động, hệ sinh thái sông suối nổi và hệ sinh thái sông suối và hang động ngầm Riêng các hệ sinh thái rừng đã có 15 kiểu sinh cảnh rộng lớn với 10 kiểu thảm thực vật quan trọng đã được mô tả và xác định trên bản đồ

Độ che phủ của rừng đạt 93,57% và diện tích rừng nguyên sinh đạt trên 83,74%

là khu bảo tồn có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn nhất trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam Tại đây có nhiều sinh cảnh đặc biệt, đáng chú ý nhất là các sinh cảnh rừng tự nhiên còn tương đối nguyên sinh trên núi đá vôi với diện tích lớn nhất trong các khu rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam với gần 71.000ha, chiếm 82% diện tích Đặc biệt, ở đây tồn tại kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi ở độ cao trên 700m với diện tích 22.500ha là kiểu rừng độc đáo nhất ở Việt Nam và trên thế giới Hơn nữa, một diện tích trên 1.000ha rừng cây Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris) mọc ưu thế trên núi

đá vôi, ở độ cao trên 700m đã được xác định là loài mới và đặc hữu trên núi đá vôi của Việt Nam được coi là kiểu rừng duy nhất trên thế giới có tầm quan trọng đặc biệt toàn cầu

Ngoài ra, sông suối trên núi đá vôi và 36 hang động (đã được khảo sát) cũng là sinh cảnh độc đáo trên thế giới Đây chính là môi trường sống tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với bảo tồn tại chỗ đa dạng sinh học

‘Chứa đựng môi trường sống tự nhiên có ý nghĩa quan trọng nhất đối với bảo tồn tại chỗ đa dạng sinh học, bao gồm các loài bị đe dọa có giá trị toàn cầu trên quan điểm khoa học hoặc bảo tồn’

Trang 13

CHƯƠNG II GIÁ TRỊ KHẢO CỔ, VĂN HÓA, LỊCH SỬ

ĐA DẠNG ĐỊA CHẤT, ĐỊA MẠO VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU VỰC VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG

1 Giá trị khảo cổ, văn hóa và lịch sử

1.1 Giới thiệu chung

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cũng chứa đựng nhiều di vật khảo cổ Các bằng chứng về sự sinh sống của con người ở khu vực này là các đầu rìu thuộc thời kỳ Đồ đá mới và các hiện vật tương tự đã được các nhà khảo cổ Pháp và Việt Nam tìm thấy trong các hang động Năm 1899, một giáo sĩ truyền đạo người Pháp tên là Léopold Cadière đã khảo sát và nghiên cứu về văn hoá và phong tục, tập quán của người dân vùng thung lũng sông Son Trong thư viết cho Trường Viễn Đông bác cổ, ông khẳng định: “Những gì còn lại của nó đều rất quí giá đối với sử học Giữ nó là giúp ích cho khoa học”

Đầu thế kỷ 20, các nhà thám hiểm hang động và và học giả Anh, Pháp đã đến Phong Nha và họ đã phát hiện ở đây một số di tích Chăm và Việt cổ như bàn thờ Chàm, chữ Chàm khắc trên vách đá, gạch, tượng đá, tượng phật, mảnh gốm và nhiều bài vị v.v

Năm 1995, Viện Khảo cổ học Việt Nam nhận định động Phong Nha có dấu hiệu

là một di tích khảo cổ học vô cùng quan trọng Viện này cho rằng có khả năng dấu tích ở hang Bi Ký trong động là một thánh đường Chăm-pa từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 11 Tại động Phong Nha, người ta đã phát hiện nhiều mảnh thân và miệng các bình gốm có tráng men của Chàm với các mảnh gốm thô sơ có lõi đen, có vòng miệng loe rộng so với thân, tạo một góc gần vuông Ngoài ra, người ta còn phát hiện ra các mảnh gốm hoa văn miệng hình cánh sen, màu xanh ngọc, màu lông thỏ hồng nhạt

Động Phong Nha là nơi vua Hàm Nghi trú ngụ trong thời kỳ thực hiện Chiếu Cần Vương kháng chiến chống thực dân Pháp

Các di tích lịch sử cách mạng có: Bến phà Xuân Sơn, Đường mòn Hồ Chí Minh

và đường 20 Quyết Thắng, Mụ Giạ, A.T.P, Trà Ang, Cà Tang, cua Chữ A, Khe Ve hay các di tích Hang Tám Cô, hang Chín Tầng, bến phà Nguyễn Văn Trỗi, các kho hàng hoá trong hệ thống hang động ở Tuyên Hoá, Minh Hóa trong thời

kỳ Chiến tranh Việt Nam

1.2 Các giá trị văn hoá điển hình

Hầu hết các dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Bình đều có mặt và sinh sống tập trung trong vùng đệm của VQG Ngoài người Kinh chiếm phần đông đảo, trong khu vực có hai dân tộc thiểu số được xếp hạng trong số 54 dân tộc Việt Nam là: dân tộc Vân Kiều và dân tộc Chứt Dân tộc Vân Kiều bao gồm các tộc người:

Trang 14

Vân Kiều, Khùa, Ma Coong và Trì Dân tộc Chứt gồm các tộc người: Sách, Mày, Rục và Arem

Các tộc người này thường phân bố tập trung thành từng bản riêng rẽ, hoặc đôi khi sống xen kẽ lẫn nhau trong cùng một bản Nhìn chung thì mỗi xã thường có một vài tộc người cùng làm ăn sinh sống

Dân tộc Vân Kiều

Theo Nguyễn Quốc Lộc và các tác giả trong cuốn "Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên" (Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, 1984) thì đây là một trong những dân tộc có số lượng đông ở dọc vùng Trường Sơn xếp thứ 23 trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam Theo tác giả thì ở Bình Trị Thiên, khi đó dân tộc Vân Kiều có 31.580 người, chiếm trên 50% dân số các dân tộc ít người, cư trú ở các huyện Hướng Hoá, Quảng Ninh, Bến Hải, Tuyên Hoá, Bố Trạch, A Lưới và Hướng Điền

Theo Nguyễn Đình Khoa (Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, 1976) thì dân tộc Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, là nhóm bản địa ở bán đảo Đông Dương Theo tác giả, dân tộc Vân Kiều gồm các tộc người: Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì, Sộ Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Lộc, Nguyễn Hữu Thông (Thông tin khoa học trường Đại học Huế, số 2 - 1978) cho rằng ngoài các tộc người trên thì tộc người Pa Hy cũng là nhóm địa phương của dân tộc Vân Kiều

Trong số các tộc người của dân tộc Vân Kiều thì nhóm người Vân Kiều có số lượng lớn nhất, phân bố hầu khắp các tỉnh dọc dãy núi Trường Sơn Nhóm người Trì (còn gọi là Tia Rì, Chà Ly, Trùi ) và Ma Coong (hay Ma Cong, Mường Kong) có số lượng rất ít phân bố ở xã Thượng Trạch, Tân Trạch (Bố Trạch) và một phần bên Lào Nhóm Khùa phân bố tập trung ở xã Dân Hoá của huyện Minh Hoá

Phong tục canh tác của dân tộc Vân Kiều nói chung là làm nương rẫy Nơi canh tác lý tưởng của đồng bào vẫn là những khu rừng già có độ dốc từ 25 đến 300 Khi đã chọn được nơi vừa ý, họ thường đánh dấu để khẳng định quyền sở hữu Trước khi phát rẫy họ thường tổ chức các nghi lễ cúng bái xin phép thần rừng (Yang Xự) Công cụ sản xuất vẫn còn tương đối thô sơ, chủ yếu là rìu, rựa Thời gian canh tác trên mỗi nương rẫy không có kỳ hạn nhất định, tuỳ thuộc vào mức

độ màu mỡ của đất đai Vùng đệm VQG thường là đất dưới núi đá vôi mỏng dễ

bị xói mòn nhanh bạc màu, quá trình canh tác nương rẫy thường kéo dài 3-5 năm

Sau mùa trồng tỉa thường là mùa săn bắn và hái lượm Công việc săn bắn là việc của đàn ông Họ thường tổ chức thành từng nhóm 5-6 người với vũ khí là

ná, lao, các loại bẫy Phụ nữ thường đảm nhiệm vai trò hái lượm Đối tượng hái lượm tương đối phong phú gồm các loại rau, quả, lõi cây, các loại củ Bên cạnh đó việc đánh bắt cá và khai thác mật ong cũng rất phổ biến Nguồn lương thực được bổ sung chính là nguồn tài nguyên rừng thông qua việc hái lượm Lượng thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày không phải được cung cấp từ chăn nuôi, trồng cấy mà chủ yếu là nhờ vào săn bắt, đánh cá, hái lượm

Trang 15

Sinh hoạt văn hoá dân gian của người Vân Kiều mang tính chất cộng đồng và có ảnh hưởng văn hoá ngoại lai Đối với nhóm Trì, Khùa, Ma Coong có ít nhiều ảnh hưởng văn hoá Lào Nhìn chung, ngày nay việc giao lưu văn hoá với người Kinh

có phần nào ảnh hưởng đến văn hoá của cộng đồng người Vân Kiều Sinh hoạt văn hoá thường là những đêm hát đối giữa nam nữ thanh niên, trong đám cưới, trong ngày hội đâm trâu bằng các làn điệu dân ca với các nhạc cụ độc đáo của riêng họ

Về tôn giáo tín ngưỡng, đồng bào Vân Kiều thường tin vào các thần núi thần sông Việc thờ cúng tổ tiên rất phổ biến và được chú trọng Ngoài ra đồng bào còn sử dụng một số ma thuật chữa bệnh, ma thuật làm hại, ma thuật tình yêu Trong sinh hoạt thường có một số kiêng kỵ như: không nằm ngang nhà, kiêng làm việc lớn ngày 30, mồng 1

Dân tộc Chứt

Theo Hà Văn Tân và Phạm Đức Dương trong bài "Về ngôn ngữ tiếng Mường" (Tạp chí Dân tộc học số 1/1978) thì ngôn ngữ Chứt là cổ nhất trong nhóm ngôn ngữ Việt-Mường và được tách khỏi tiếng Việt-Mường từ thế kỷ X -

Việt-XI

Theo tài liệu của Ban Dân tộc Bình Trị Thiên (1980) thì thời đó người Chứt chỉ có

359 hộ với 1839 nhân khẩu, 85 người Chứt sống ở xã Thượng Trạch và Tân Trạch (vùng Phong Nha) còn đại đa số (1754 người) sống ở huyện Tuyên Hoá

Họ sống rải rác và xen kẽ với tộc người Khùa

Theo Nguyễn Quốc Lộc (1984) và các tác giả trong cuốn "Các dân tộc ít người của Bình Trị Thiên " thì ở 3 tỉnh trên có 2.000.000 người, trong đó khoảng 60.000 người (3%) thuộc 4 dân tộc : Vân Kiều, Kơ Tu, Tà Ôi và Chứt So với 54 dân tộc trong cả nước Việt Nam, Chứt là một dân tộc nhỏ đứng thứ 44 Dân tộc Chứt gồm nhiều nhóm tộc: Sách, Mày, Rục, Arem Arem là nhóm nhỏ nhất, đến thời điểm tháng 12/1997 chỉ có 116 người, sau đó là nhóm Rục chỉ có 324 người (đến tháng 12/1997)

Về văn hoá dân gian, người Chứt có những bài hát phổ biến, nhất là điệu "Con trâu ra đồng" được sử dụng với một số nhạc cụ dân tộc như khèn, đàn ống Đàn ống gần giống như nhị của người Kinh được làm bằng cây lồ ô Ngoài ra còn có một số nhạc cụ khác như sáo (pi), ống thổi (pìa) Các làn điệu dân ca và nhạc cụ được sử dụng vào ngày lễ tết, đám cưới, hoặc được thầy mo sử dụng trong lễ cúng cơm mới, gọi hồn,

Về tôn giáo tín ngưỡng, đối với dân tộc Chứt còn tồn tại nhiều phong tục tập quán như các nghi lễ, các ma thuật, kiêng kỵ, Mỗi năm người Chứt có 3 lần cúng tế nông nghiệp: lần thứ nhất là lễ làm mùa, lần thứ hai là lễ lấp lỗ, lần thứ

ba là lễ cúng cơm mới Các ma thuật chủ yếu ở đây được sử dụng vào việc chữa bệnh và làm hại người khác Người Chứt còn giữ tương đối nhiều hình thức kiêng kỵ rất phức tạp, như đi vào rừng thì tên các loài động vật phải gọi tên lóng và phải im lặng sợ ma rừng phật ý Khi đàn bà sinh đẻ phải vào trong lán ở bìa rừng do người chồng làm để sinh nở Sau khi sinh nở chỉ có hai vợ chồng tự chăm sóc nhau Sau từ 10 đến 15 ngày hai vợ chồng mới được trở về nhà sau khi đã làm một số thủ tục tà phép (phong tục này còn tồn tại ở một số bản người

Trang 16

Sách xã Dân Hoá) Một số kiêng kỵ khác như kiêng ngồi góc nhà, đặc biệt là kiêng không mắc màn trong nhà đã gây cản trở trong việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm như sốt rét, sốt xuất huyết

Tuy nhiên, các phong tục tập quán và lễ nghi cho đến nay đã thay đổi nhiều do ảnh hưởng văn hoá của người Kinh Chỉ có một số bản vẫn giữ lại các phong tục

cổ xưa, như bản Arem (Tân Trạch), bản người Rục ở Yên Hợp (Thượng Trạch)

và một số bản người Sách ở xã Dân Hoá

Theo tiếng dân tộc Chứt ở Quảng Bình thì Rục có nghĩa là: nơi nước lặn xuống đất để chảy ngầm dưới đất hoặc nước từ ngầm nổi lên trên Arem có nghĩa là: mái đá, lèn đá, hang đá hoặc vòm đá

Người Arem và người Rục là hai nhóm nhỏ của dân tộc Chứt từ xa quen sống cách ly với cộng đồng ở vùng núi đá hoặc trong hang đá

Trong dân tộc Chứt, nhóm Arem và nhóm Rục có ít người nhất và cũng là hai trong số các nhóm nhỏ nhất so với toàn bộ các nhóm dân tộc khác trên đất nước Việt Nam Đời sống của hai tộc người này tương đối giống nhau trong sản xuất, các phong tục và cách sinh hoạt Đời sống của họ còn giữ tính hoang sơ nhất, sống cách ly khỏi các cộng đồng dân tộc một thời gian dài nên họ vẫn sống dựa vào nương rẫy, săn bắn, hái lượm và bắt cá trong suối

Theo phong tục của họ khi làm một cái rẫy để trồng lúa khô hoặc ngô thì người đứng đầu bản phải mơ thấy thần linh cho làm có kết quả thì họ mới làm, nếu không thì họ phải vào rừng kiếm thức ăn bằng cách đào củ các loại cây thuộc họ Mài (Dioscoraceae), họ Ráy (Araceae) Nhúc là một loại tinh bột rất quan trọng đối với họ được lấy từ loài cây đoác (Arenga saccharifera), thuộc họ Cau dừa (Palmae) rất phổ biến ở vùng này Các loại rau xanh chủ yếu từ nguồn măng tre nứa và các loài rau rừng Nguồn thịt cung cấp cho bữa ăn một phần rất lớn được thu thập từ việc săn, bẫy thú nhỏ, bắt cá, cua, ếch, nhái, lấy mật ong Khi săn bắn thú họ đi thành nhóm 7 - 8 người dùng nỏ, lao Nhà của họ rất đơn giản, thường bằng tre hoặc cây gỗ nhỏ và lợp lá cây nên chỉ tồn tại được 3 - 4 năm Trước đây người Arem sống từng nhóm 10 - 12 nhà rải rác ở các vùng gần hang Đại Cáo, hang Người lùn, hang Duật Còn người Rục sống thành nhóm nhỏ hơn khoảng 5-7 hộ ở các thung lũng gần nơi nước lặn hoặc các hang đá ở núi

Trước kia người Arem sống rải rác trong các thung lũng và hang đá trong rừng ở gần bản Đoòng và bản Rào Con bây giờ Sau khi được phát hiện năm 1962, Chính phủ đã tổ chức cho họ ra ở gần cây số 14 đường 20 và giúp đỡ họ rất nhiều Giai đoạn 1965-1972, do chiến tranh ác liệt trên dọc tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, họ lại phân tán vào rừng, một phần về nơi cư trú cũ, một phần sống trong hang Đại Cáo và Đại Ả cách đường 20 khoảng trên 10 km về phía đông Năm 1993 Chính phủ lại giúp đỡ người Arem xây dựng một bản mới là Tân

Trang 17

Trạch ở phía tây nam VQG và giúp đỡ họ dựng nhà, xây lớp học, trạm xá và cung cấp cho họ các nhu cầu cần thiết

Người Rục sống rải rác, rất hoang dã trong các thung lũng và núi đá ở núi Ma

Ma trước khi được bộ đội tìm thấy (1960) Sau đó Chính phủ đã giúp họ định cư tại bản Yên Hợp bây giờ Tuy nhiên, cuộc sống định cư đối với họ chưa trở thành thói quen, nên một số gia đình vẫn tiếp tục sống cuộc sống hoang sơ trong hang đá và thung lũng núi đá vôi Hiện nay ở Yên Hợp còn một số hộ sống như thế trong núi Ma Ma; họ vẫn muốn

từ chối sự giúp đỡ về nhà cửa,

trường học, y tế, gia súc

Người Arem và người Rục là đối

tượng nghiên cứu của dân tộc học vì

cho đến 3 thập kỷ gần đây họ vẫn

quen sống cách ly khỏi cộng đồng

Công cụ sản xuất lạc hậu, quần áo

tự sản xuất bằng vỏ cây sui và dây

rừng Tộc người Arem và người Rục

với các phong tục tập quán của họ

cũng là một đối tượng cần bảo vệ

như những di sản văn hoá nhân văn

Văn hóa Chăm-pa cổ

Bằng chứng về sự sinh sống của con người ở Phong Nha – Kẻ Bàng đã được tìm thấy trong một số hang động, ví dụ như sọ người và những đồ vật do con người làm ra Năm 1899 một người truyền giáo người Pháp đã phát hiện ra những ký tự chữ tượng hình cổ của người Chăm-pa ở động Phong Nha

Sau khi phát hiện ra các đồ gốm sứ mang kiểu dáng Chăm-pa, bình đất, tượng

đá và tượng Phật trong động Phong Nha vào năm 1995 do Viện Khảo cổ Việt Nam đã cho rằng hang Bi kí có thể là nơi sinh sống của người Chăm từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 11 (Vương quốc Chăm-pa tồn tại 904 năm từ năm 192 – 1096)

Văn hóa dân tộc thiểu số

Vào đầu thế kỷ 19, một ngôi đền đã được xây dựng ngay tại lối vào của động Phong Nha nhằm thờ thần Động và người dân địa phương thường tổ chức lễ hội hàng năm để cầu mưa và mùa màng tươi tốt

Phần lớn người dân sống trong vùng lõi của Vườn thuộc nhóm dân tộc thiểu số Vân Kiều ( Vân Kiều, Tri, Khua, Ma Coong), và dân tộc Chứt ( Sách, May, Rục, Arem, Ma Lieng)

Mỗi dân tộc thiểu số đều có các đặc điểm văn hóa riêng như săn bắt, hái lượm hay các hoạt động truyền thống khác như hội giết trâu, hội đập trống, hội cầu mùa, dự hội, người ta uống rượu cần

Trang 18

1.3 Các giá trị lịch sử điển hình

Trong chiến tranh chống Mỹ,

rất nhiều nơi, nhiều hang động

trong khu vực Phong Nha -Kẻ

Bàng là căn cứ vững chắc của

Quân đội miền bắc Việt Nam

Các địa danh như phà Xuân

Sơn, phà Nguyễn Văn Trỗi,

Đường 20, ngầm Trạ Ang,

hang Tám cô, các kho dự trữ ở

các hang động thuộc hai

huyện Tuyên Hóa và Minh hóa

đã đi vào huyền thoại của lịch

sử dân tộc

Động Phong Nha là địa điểm quan trọng để giấu vũ khí, lương thực, trang thiết

bị, hang Bi Kí được dùng làm bệnh viện dã chiến Lối vào động bị thả bom năm

1968 và vẫn còn dấu tích trước động cho đến ngày nay

Đá: được hình thành từ một, hay nhiều loại khoáng vật

2.1.2 Khái quát về các loại đá vôi, thạch nhũ và trầm tích

hang động

2.1.2.1 Các loại đá cơ bản

Đá nham thạch được hình thành do các khoáng chất

bị nung nóng ở nhiệt độ cao như do núi lửa phun trào –

sau đó nguội dần

Đá trầm tích được hình thành khi các lớp với các hạt

khoáng nhỏ (như bùn, đất sét, cát, đá cuội ) cùng với

các khoáng chất rắn lắng đọng dưới đáy biển hoặc

sông hồ qua thời gian và trở nên kết dính lại với nhau

(như xi măng trộn)

Trang 19

Đá biến chất được hình thành từ “đá mẹ” (đá nham

thạch hay đá trầm tích) do các phản ứng hóa học, do

nhiệt độ, áp suất hay do sự kết hợp của hai hay nhiều

nguyên tố nêu trên

2.1.2.2 Đá vôi

Đá vôi là loại đá trầm tích, được hình thành trong nước biển với sự trộn lẫn của

nhiều khoáng chất hòa tan khác nhau bao gồm Can-xi Sinh vật biển kết hợp Can-xi với Các-bon trong thức ăn để tạo ra chất liệu cứng gọi là Can-xi các-bo- nát cho lớp vỏ bảo vệ chúng

Can-xi còn kết hợp với

Các-bon đi-ôxit một cách tự nhiên

trong nước biển để tạo thành

Đá vôi là loại đá phổ biến nhất trong một vài loại đá mà có thể bị hòa tan trong nước ngọt, và càng nhiều các-bon đi-ôxit mà nước mưa hấp thụ thì càng có nhiều đá vôi bị hòa tan

Đặc tính của đá vôi là xốp, dễ hòa tan, thấm nước và hình thành theo từng lớp Các chất lượng thay đổi của đá vôi quyết định hình thù kích cỡ của các hang

động

Bạn có biết rằng hang động là một vài lỗ tự nhiên trên

bề mặt Trái đất mà có vùng hoàn toàn là bóng tối và nó

đủ rộng cho một người có thể đi vào trọn vẹn

Có một vài loại hang động khác nhau nhưng hang động lớn nhất và được biết đến nhiều nhất là hang động trong đá vôi

Bạn có biết rằng ‘karst’ là một thuật ngữ được sử dụng để

mô tả cảnh quan chủ yếu được hình thành bởi hiện tượng

mà loại đá được tìm thấy ở đó bị hòa tan bởi nước

Không phải ăn mòn, đó không phải là lực vật lý mà là lực

hóa học

Trang 20

Một số cảnh quan karst bao gồm các đồi hình chóp nón, các tháp đá vôi, mặt phẳng của loại đá vôi trần với các đường nứt, các tháp nhọn, các mái vòm

2.1.2.3 Thạch nhũ:

Ở mức độ nào đó đá vôi có tính xốp – có khe hở hoặc lỗ khí giữa các lớp đá vôi vì vậy nó có thể hấp thụ được nước – và tính xốp, nghĩa là các lỗ khí được sắp xếp theo cách nào đó mà nước có thể chảy qua Khi đã chảy vào trong đá vôi, nước bắt đầu quá trình hòa tan và tạo nên nét nổi bật nhất của đá vôi sau khi hòa tan – Hệ thống thạch nhũ và các hiện tượng trong hang động!

Điều mà mọi người nhớ nhiều nhất về chuyến tham quan hang động là hình thể xuất hiện đa dạng trên mái, nền và tường hang động, tất cả được gọi chung là “hệ thống thạch nhũ trong hang động”, nghĩa là “những thứ thuộc về hang động” Các loại thạch nhũ phát triển thông quá sự kết hợp giữa các phản

Trang 21

ứng hoá học và các tác động vật lý, đặc biệt là lực hấp dẫn Chúng có thể là những yếu tố trầm tích lắng đọng, tăng cường lượng Can-xi các-bô-nát trong hang động, hoặc có thể là yếu tố hoà tan phân huỷ, lượng Can-xi các-bô-nát bị mang ra khỏi hang động

Những yếu tố hoà tan

Những hoa văn hình sò, điệp và những

hoà tan vì nước chảy qua bề mặt đá vôi và theo cách nào đó đã hoà tan lượng chất Can-

xi các-bô-nát và để lại những mẫu đá với những hình thù, hình dạng, cấu trúc đặc biệt

nước chảy qua bề mặt đá, chúng thường nằm ở vị trí sâu nhất tại điểm cuối cùng mà từ đó nước chảy qua

Tuỳ theo tốc độ nước mà kích cỡ của hoa văn hình mảnh sò khác nhau, nếu nước chảy chậm thì các mảnh sò to và nằm xa nhau Trong trường hợp tốc độ nước cao mảnh sò sẽ nhỏ và nằm sát nhau hơn

Những khe nứt hoặc lỗ hình chuông trên mái hang

Điều này xảy ra khi nước hoàn toàn chứa đầy trong hang động đến tận trần hang và từ trên trần hang những giọt nước vẫn từ từ chảy qua

đá vôi vào trong hang động thông qua các khe nứt Khi nước chảy vào theo các khe nứt và nước chứa đầy trong động kết hợp nhau sẽ xảy ra phản ứng nước với nhau và có thể hoà tan nhiều Can-xi các-bô-nát hơn và nước bắt đầu hòa tan đá vôi ngược lên mái hang

Yếu tố lắng đọng

Chủ yếu được tạo nên bởi một chất Can-xi các-bô-nát kết tinh được gọi là

Can-xit (calcite), được hình thành bởi một phản ứng hoá học giữa đá vôi,

nước và không khí trong hang động Sự biến đổi từ đá vôi sang Can-xit xảy ra do nước mang tính axit yếu thấm qua đá, và dần hoà tan Can-xi các-bô-nát, khi chảy vào một hang động và tiếp xúc với không khí thì một phản ứng hoá học khác lại xảy ra

Khi những giọt nước chảy vào hang động quá trình bài khí xảy ra, khí CO2 thoát khỏi nước và làm cho nước bớt tính axit Khả năng giữ Can-xi các-bô-nát trong dung dịch ít vì vậy Can-xi các-bô-nát hình thành những tinh thể can-xit gắn vào hang động

Trang 22

Ví dụ:

Khi bạn mở 1 lon Coca và lắng nghe Đổ

nó vào trong ly và tiếp tục theo dõi Coca

ở trong lon thì nó không có bọt, nhưng ngay khi tiếp xúc với không khí - có khí gas - CO2 - thoát ra Lúc này chất Coca đang tiến hành quá trình bài khí, quá trình diễn ra khá nhanh vào thời điểm đầu nhưng chậm hơn về sau vì số lượng CO2 trong lon dần cân bằng với số lượng CO2 trong không khí!

Hình dạng của hang động, lượng và nhiệt độ nước, số lượng đá vôi và điều kiện thiên nhiên trong hang động, thậm chí bao gồm cả những loại vi khuẩn tồn tại trong hang động, tất cả đều ảnh hưởng đến cách thức và vị trí lắng đọng của Can-xit và những loại măng đá thạch nhũ sẽ được hình thành

Hình dạng của măng đá, thạch nhũ rất đa dạng, từ tầng tầng lớp lớp mỏng manh dễ vỡ, hình bông hoa cho đến những cột lớn hơn 200m, tuy nhiên tất cả đều có 1 đặc điểm chung - Các tinh thể chỉ có thể hình thành

ở những nơi có sự tiếp xúc của nước, đá và không khí

Hãy nhìn và suy nghĩ về giọt nước trên mái hang động Điểm duy nhất

có sự tiếp xúc của nước đá và không khí là ở xung quanh cạnh của giọt nước vì vậy can-xit được lắng đọng trong 1 vòng tròn nhỏ xung quanh cạnh của giọt nước

Từng giọt nước chảy nhỏ giọt từ 1 điểm trong nhiều năm, để lại 1 lớp tinh thể mỏng và chạy xuống từ mái hang như những ống rỗng nhỏ - với đường kính và độ dày như 1 ống hút nước thông thường

Những ống nhũ này có thể dài 6m nhưng thường thì chúng bị gãy trước khi đạt được độ dài này, hoặc bị chặn lại và nước chảy xuống bên ngoài bề mặt ống nơi những tinh thể được kết tinh thành những lớp mỏng và những ống này trở thành thạch nhũ, với đế dày hơn và nhũ hình thon khi chảy xuống từ mái hang

Trong điều kiện như vậy nước chảy xuống trước khi kết tụ tất cả can-xit, các tinh thể kết tụ trên 1 diện tích lớn, dần dần từ lớp này đến lớp khác, tạo ra măng đá với chóp tròn và chân đế lớn mọc lên từ nền hang động

C02 trong không khí trong động Can-xit ở trần hang

Trang 23

Chúng sẽ trở thành cột đá khi gặp nhau tại 1 điểm giữa

Khi lượng nước giàu can-xit chảy vào hang động gần những bức tường nghiêng, 1 lớp mỏng can-xit được kết tụ dọc theo hướng chảy Mỗi giọt nước chảy theo đường chảy mà

hàng triệu giọt đã chảy qua trước

đó, để lại 1 lượng can-xit kết tụ thành 1 tấm mỏng trên thành hang động trong giống như 1 tấm chăn

và được gọi là khăn choàng hang động

Tất cả là một quá tiến trình phản ứng hoá học tuyệt vời giữa nước, CO2 và đá vôi với sự tác động vật

lý của lực hấp dẫn Tuy nhiên, có một số nét đặc sắc nhất trong hang động lại không liên quan gì đến lực hấp dẫn

tác động của lực hấp dẫn và xuất hiện với nhiều hình dạng, tuy nhiên vẫn có 1 đặc điểm chung - 1 ống rất nhỏ ở trung tâm được hình thành bởi nước bị kéo dài bởi sức căng bề mặt Ống này rất

dễ bị chặn lại và bởi vì nước chảy xung quanh điểm chặn làm cho các tinh thể kết tụ bị thay đổi hướng, hình thành một số hình dạng tuyệt vời

Nước sau khi chảy xuống hang có thể ứ đọng lại trong những hồ nước, nếu mặt hồ yên tĩnh và có can-xi các-bô-nát hoà tan trong

đó, nước sẽ từ từ bài khí và kết tụ các tinh thể xung quanh bờ hồ và hình thành các hồ vành đá/ bồn trũng

Trang 24

Tấm khiên hang động hình thành tại bất kỳ góc nào từ mái trần hoặc thành hang động… Nước dưới áp lực di chuyển qua những khe nứt mỏng vào hệ thống đá vôi, khi chảy vào hang đông thông qua tác động mao dẫn, nước làm kết tụ can-xit 2 bên vết nứt, hình thành nên các tấm can-xit với những vết nứt

mỏng chứa đầy nước ở giữa

Những hình ảnh đẹp này là kết quả của một số quá trình rất kỳ lạ, càng

lạ hơn nữa khi hệ thống thạch nhũ măng đá được tạo nên bởi vi sinh vật như tảo và vi khuẩn

mềm, trắng và mỏng được tạo ra bởi vi khuẩn Chính xác như thế nào thì không ai biết, nhưng cũng giống như tất cả những sinh vật sống khác ,vi khuẩn thực hiện quá trình sản xuất chất hữu cơ và đào thải chất thải-giàu can-xi các-bô-nát Khi các chất thải bị vi khuẩn thải ra ngoài, 1 lượng tinh thể Can-xit rất nhỏ được hình thành như 1 lớp can-xi trắng mỏng liên kết yếu được gọi là Moonmilk

2.1.2.4 Trầm tích hang động

Hang động là 1 nguồn quan trọng để

loài người chúng ta nghiên cứu lịch

sử Trái Đất Thông qua việc tiến

hành nghiên cứu về trầm tích hang

động (những thứ kết tụ hoặc lắng

đọng trong hang động), các nhà

khoa học có thể tìm hiểu thêm nhiều

điều về lịch sử của hành tinh chúng

ta Nguồn gốc của sự trầm tích có

thể là do hữu cơ (từ những sinh vật

sống) hoặc là vô cơ (từ những thứ

không sống như đá)

Trầm tích hang động có thể được hình thành bên trong hoặc bên ngoài hang động Các khối thạch nhũ có thể thể hiện thời gian tồn tại của hang động, trầm tích đất và đất sét có thể cho biết về điều kiện khí hậu trong quá khứ vì các vùng khí hậu khác nhau tạo ra các loại đất khác nhau Xương của các loài động vật bị bồi đắp vào hang động và trở thành những hoá thạch lâu năm cho

Trang 25

chúng ta biết về tác động của biến đổi khí hậu lên các loại thực vật phát triển xung quanh hang động vào thời gian những loài động vật này sinh sống Xâu chuỗi những thông tin này lại với nhau chúng ta có thể hiểu thêm nhiều

về sự biến đổi khí hậu trong quá khứ và có thể nghiên cứu về những ảnh hưởng của sự biển đổi khí hậu đối với trái đất trong tương lai!

Trầm tích vô cơ trong hang động có thể bao gồm những mẫu đá vôi kích cỡ khác nhau từ những viên sỏi nhỏ cho đến những phiến đá lớn rơi xuống từ mái và tường hang động Chúng có thể là các loại khoáng chất trong đá vôi bị đào thải do sự kết tụ tăng cường khi lượng Can-xi các-bô-nát hoà tan lớn hơn

bị loại bỏ

Những mảnh đá sắc nhọn có thể rơi ra từ mái hang sau khi hang bị khô hoặc

có thể tại trong một thời gian dài chúng phải chịu một khối lượng đất bùn rất lớn, thường là hỗn hợp những loại thực vật, xương động vật và những chất liệu hữu cơ khác Trong khi những viên đá ở lòng sông có thể cho chúng ta biết 1 dòng chảy nhanh đã từng chảy qua hang động thì lớp đất sét có thể thể hiện được mặt nước di chuyển rất chậm hay là tĩnh lặng

Một số loại trầm tích được thực

hiện bởi các khối không khí dịch

chuyển Trầm tích do không khí

rất nhỏ, giống như hạt bụi trong

cơn bão hoặc phần tử khói bụi

từ các trường hợp núi lửa phun

và cháy rừng, như 1 màng

mỏng che phủ mọi bề mặt của

hang động Những loại khác

được thực hiện bởi lực hấp dẫn

khi cát ở phía trên 1 hang động

trở nên khô đến nỗi mà nó có

thể chảy qua những khe nứt trong các tảng đá như cát ở trong đồng hồ cát và tạo ra 1 đống cát lớn trên nền hang động

Trầm tích hữu cơ chủ yếu được thực hiện bởi quần thể các loài chim hoặc dơi

sống trong hang động Phân (phân chim hoặc phân dơi) là nguồn năng lượng

chủ yếu cho toàn bộ hệ sinh thái Hầu hết các loại động vật không xương sống trong hang phụ thuộc vào phân Hầu hết các loài vi sinh vật sống trực tiếp nhờ vào phân, một số được sống nhờ những cây nấm mọc lên từ phân và trở thành con mồi cho các loài động vật lớn hơn, và những loài động vật này cũng sẽ trở thành miếng ngon cho những động vật lớn hơn nữa cho đến khi

hệ thống được hoàn chỉnh

Phân rất quan trọng bởi vì nó trở thành nhiều loại hợp chất khoáng sau đó kết hợp với can-xi các-bô-nát để tạo ra nhiều loại khoáng hang động mới cũng như tạo ra một loạt các loại măng đá thạch nhũ khác nhau

Trang 26

2.2 Sự hình thành và phát triển hệ thống hang động Phong Nha Kẻ Bàng

2.2.1 Khái quát về quá trình phát triển địa chất và hệ thống hang động

Cấu trúc địa chất thể hiện tính đa dạng và lịch sử phát triển lâu dài của vỏ Trái Đất: có đầy đủ các giai đoạn phát triển chính (từ kỷ Ordovic) đến nay, trải qua 5 chu kỳ kiến tạo lớn, tương ứng với 5 giai đoạn tiến hoá địa chất của thế giới:

1 Giai đoạn Ordovic muộn - Silur (463,9 - 430 triệu năm):

Vỏ Trái đất bị phá vỡ, sụt lún thành tạo đá lục nguyên của hệ tầng Long Đại (O3-S1 lđ), phân bố dạng tuyến kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,

chứa các hoá thạch Graptolithina tuổi O3-S1 (Demirastrites convolutus, Monograptus halli v.v.)

2 Giai đoạn từ Devon giữa đến Devon muộn (386-362,5 triệu năm):

Lần thứ hai vỏ Trái Đất bị sụt võng, biển mở rộng Thành phần trầm tích tiến hoá từ cát bột kết đến acgilit xen đá vôi chứa các tập hợp hoá thạch đặc trưng tương ứng theo hướng biển tiến sau đây:

Calceola sandalina, Desquamatia kurbesekiana (biển ven bờ) 

Stringocephalus burtini, Emanuella takwanesis, E volhynica, Desquamatia ventrycosa, Scoliopora denticulata, Stachyodes costulata, S lagowiensis

(biển nông) và các phức hệ Conodonta (biển khơi)

3 Giai đoạn Carbon - Permi (362,5 - 245 triệu năm):

Giai đoạn tạo đá vôi dạng khối (platform) tuổi Carbon - Permi Vỏ Trái đất vùng Phong Nha - Kẻ Bàng bị phá vỡ lần thứ 3, tạo bồn trũng nông, dạng đẳng thước (biển nội lục), chứa các hoá thạch có tuổi từ Carbon hạ (Crinoidea, Foraminifera, Tetracoralla) đến Carbon trung (Foraminifera) cuối cùng là Permi (Foraminifera, Tetracoralla)

4 Giai đoạn tạo núi Mezozoi (Trias, Jura, Creta):

Khối đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng nâng lên khỏi mặt biển, quá trình Karst, phong hoá và bóc mòn xảy ra

5 Giai đoạn Kainozoi:

Giai đoạn tạo núi và hình thành hệ thống hang động cổ Karst Phong Nha -

Kẻ Bàng có tuổi tương ứng với các bề mặt san bằng sau đây:

- Bậc 1600 - 1400m, ứng với thế hệ hang Karst đầu tiên có tuổi Oligocen (36 triệu năm)

- Bậc 1000 - 8000m (phía tây), 700 - 600m (phía đông), có tuổi Miocen (từ 23 triệu năm đến 5 triệu năm)

- Bậc 600-400 và 300-200m, ứng với Pliocen (từ 5-1,6 triệu năm)

- Bậc 100 đến 0m (từ 1,6 triệu năm đến nay), ứng với chu kỳ gian băng trong Đệ tứ: 100-80 m - gian bằng Gun - Mindel (cách đây trên 800.000 năm); 80-60m - gian băng Mindel - Riss (cách đây trên 300.000 năm);

Trang 27

40-25 và 25-15m - gian băng Riss - Wurm (cách đây trên 70.000 năm)

và 15-6m - biển tiến Flandrian (từ 18.000 năm đến 4.000 năm)

Tất cả đá vôi được tích tụ dưới biển theo

từng lớp được tách biệt bởi ‘các mặt

phân lớp’ – là phần giữa nơi mà hai lớp

đá vôi gặp nhau, lớp nọ ở trên lớp kia

Chúng có thể có chất lượng gần giống

nhau nhưng với phần yếu ở giữa hai lớp

thường được tạo ra do sự thay đổi hóa

học trong môi trường nước nơi mà nó

hình thành

Ví dụ: trong vòng một triệu năm Can-xi

các-bô-nát từ từ lắng động xuống đáy

biển và 2 mét độ dày của Can-xi

các-bô-nát được hình thành

Một ngọn núi lửa phun trào và tro tàn

của núi lửa trôi xuống biển và lớp tro tàn

đó lắng động xuống đáy biển sau đó tạo

ra một lớp mỏng ở trên lớp bùn Can-xi

các-bô-nát

Sau đó thêm 1 triệu năm nữa, 2 mét độ

dày của Can-xi các-bô-nát lại tiếp tục

lắng động ở trên và có tổng cộng 4 mét

của lớp Can-xi các-bô-nát

Nhưng ở giữa đó là một lớp rất nhỏ của

rất nhiều chất khác Thậm chí là, nó bị

nén hay bị thay đổi theo phương diện

hóa học và lớp tro tàn lắng động đó biến

mất, nhưng để lại phía sau đó là phần

yếu giữa hai lớp – gọi là mặt phân lớp

Lớp đó có thể chỉ dày khoảng vài

centimet hay có thể dày 10m thùy thuộc

vào điều kiện cuả nước biển thay đổi

trong khi quá trình đá vôi đang được tích

tụ

Đá vôi rất giòn và vì thế khi nó được

nâng lên hay hạ xuống hay di chuyển

sang hai bên bởi lực đẩy mà hình thành

hành tinh của chúng ta, nó phát triển các

khe nứt thẳng đứng được gọi là các

khớp nối và thỉnh thoảng sự di chuyển

còn tạo ra các phân lớp phẳng tách các

mặt phân lớp Các khớp nối và các mặt

phân lớp tách biệt tạo ra các lối đi mà

cho phép sự di chuyển nhanh chóng của

nước vào trong các khối đá mà dễ bị hòa tan

Tro tàn núi lửa

Trang 28

Nước chảy trong đá vôi và hơn nữa nó

hòa tan, mở rộng các lối đi này và thay đổi

từ các hình ống nhỏ cho đến các hành

lang lớn khoảng đường kính 30 mét và

hơn thế - và tất cả được bao phủ bởi dòng

nước chảy trong nó

Khi vùng đất bằng phẳng được từ từ nâng

lên bởi lực kiến tạo và đá vôi được kiến

tạo nghiêng và đặt vào thời kỳ phong hóa

và hơn nữa là quá trình đứt gãy, các hành

lang hang động đã hình thành được rút hết nước và những cái mới được hình thành

Sự phát triển của hang động khi mà nó được bao phủ bởi nước tạo ra một dãy các hình thù

và đặc điểm có thể đoán trước được, phụ thuộc vào chất lượng riêng biệt cuả chính đá vôi, các hình thù của các khớp nối và mặt phân lớp, phụ thuộc vào chất lượng, số lượng

và tốc độ của dòng nước

Trong đá vôi cứng, các hình thù đặc trưng của

sự phát triển dưới mực nước là những mặt nằm ngang dài, những hành lang hình ống với mặt tường hang động rất nhẵn được hình thành bởi dòng nước chảy nhanh theo các khớp nối và các mặt phân lớp thẳng hàng

Dòng nước chảy để lại phía sau nó là những hình thù gọi là hoa văn hình sò điệp khi nó hòa tan đá vôi

Nếu các hình hoa văn đó nhỏ thì nó cho chúng ta biết rằng dòng chảy của nước là rất nhanh và hướng dòng chảy có thể được xác định vì các hình hoa văn này thường sâu hơn ở cuối dòng chảy

Các hình thù của các khớp nối và mặt

phân lớp có thể còn tạo ra các lối hang

động uốn lượn mà được mở rộng lên,

xuống hay sang hai bên và thông thường

có các hình thù lồi lõm như được chạm

khắc của đá vôi được hình thành lơ lửng

trên trần hang động, mọc ra từ sàn hang

động hay được gắn hai bên tường hang

động

Trong suốt một thời gian dài mà nó cần để

hình thành hang động thì sự thay đổi của

thời tiết, sự di chuyển của các vùng đất

bằng phẳng và sự xói mòn của dòng sông

dẫn đến sự thay đổi của mực nước ngầm nơi mà hang động đang được hình thành

Trang 29

Khi đất liền bị sụt xuống, mực

nước được dâng lên và tốc độ

của dòng nước chảy trong đá vôi

chậm hơn hay dừng hẳn và các

hình dáng kỳ lạ được hình thành

khi mà dòng nước chảy tĩnh ngẫu

nhiên ăn mòn các bề mặt của đá

vôi

Nhưng khi đất liền được nâng lên,

mực nước rút xuống và tốc độ của

dòng chảy tăng dần cho đến khi

hang động hoàn toàn rút hết nước

và một giai đoạn khác của quá

trình hình thành hang động được

bắt đầu

Khi hang động được phủ kín bởi

nước đến trần động thì một phần

của trần động được chống đỡ bởi

nước, nhưng khi nước rút hết, sự

hang động, trần phẳng của hang

động là phần yếu của hang

Nếu trần hang động phẳng và rộng thì phần trung tâm của trần hang đó – một lớp của đá vôi – sẽ bị rơi xuống hang động đặt vào đáy của lớp kế tiếp

Ở những vùng có lượng mưa lớn, nước có thể tiếp tục chảy và hòa tan những mảng đá bị đổ để hình thành các khoang hang động lớn được nối bởi các hành lang hang động được tạo hình giống lổ khóa nơi mà dòng sông đang chảy hòa tan đá vôi chỉ từ sàn hang động và phần tường thấp hơn của các hanh lang hang động Lớp này tiếp lớp khác bị sụp đổ nếu các lớp quá mỏng để có thể chống đỡ chính nó, cho đến khi hang động có hình mái vòm hay lớp đá vôi trên cùng bị rơi xuống tạo ra một lòng chảo sụp đổ

Trang 30

2.2.2 Sự ra đời của dãy núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng

Địa hình khu vực VQG là một vùng núi đá vôi chiếm hầu hết diện tích, phi karst chiếm một diện tích nhỏ ở các phạm vi giáp ranh, có độ cao trung bình khoảng 600 - 700m, tạo thành một dải dài khoảng 50km dọc biên giới Việt - Lào Nhìn tổng quát trong khu vực có 3 kiểu địa hình chính:

Kiểu địa hình núi đá vôi (karst)

Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích trong VQG, gồm khối núi đá vôi liên tục từ dãy núi Phu Toc Vu, đèo Mụ Giạ (huyện Minh Hoá) kéo dài tới hang én, Rào Bụt, Cà Roòng (huyện Bố Trạch), dài khoảng 70km Đây chính là khối núi đá vôi liên tục rộng lớn nhất của Việt Nam Phạm vi của núi đá vôi trải rộng sang Lào có diện tích khoảng gần 200.000ha Nếu tính toàn bộ khối núi đá vôi liên tục cả về phía Việt Nam và Lào thì đây là một trong những khối núi đá vôi rộng lớn nhất hành tinh (Pierre G., 1966) Tại đây, các dãy núi đá vôi phát triển hầu như liên tục, thành phần tương đối đồng nhất, độ dày trên 1.000m

Địa hình núi đá vôi bị chia cắt rất mạnh, với những vách đá dựng đứng, xếp lớp, đỉnh lởm chởm, thường kèm theo quá trình karst do hoà tan và ngưng đọng các-bô-nát hình thành nên các nhũ đá, măng đá, nấm đá, chuông đá, cột đá đa dạng, phức tạp, đẹp kỳ diệu trong các hang động Nhiều nơi đá bị mài mòn tạo nên những cổng trời, rừng đá, cầu đá, giếng

đá rất kỳ thú Giữa các vách đá thường là các thung lũng kín dài và nhỏ, rộng khoảng 20-100m Trong vùng núi đá vôi hầu như không có sông suối trên bề mặt, mà chỉ thấy ở vành ngoài Các mắt hút rải rác trong các thung lũng đưa nước thoát theo các sông ngầm

Các đỉnh núi cao điển hình trên 800m tạo thành một dải gần như liên tục dọc biên giới Việt - Lào, trong đó có các đỉnh nhô cao tới trên 1.000m lần lợt nh Phu Tạo (1.174m), Co Unet (1.150m), Phu Canh (1.095m), Phu Mun (1.078m), Phu Tu En (1.078m), Phu On Chinh (1.068m), Phu Dung (1.064m), Phu Tu Ôc (1.053m), Phu Long (1.015m), Phu Ôc (1.015m), Phu Dong (1.002m) Xen kẽ giữa các đỉnh cao trên 1000m là các đỉnh cao điển hình 800-1000m như Phu Sinh (965m), Phu Co Tri (949m), Phu On Boi (933m), Phu Tu (956m), Phu Toan (905m), Phu Phong (902m), núi Ma

Kiểu địa hình phi karst

Kiểu địa hình này chiếm tỷ lệ thấp, phân bố ở vòng ngoài vùng núi đá vôi

ở phía bắc, đông bắc và đông nam VQG Độ cao biến động từ 1.000m hay hơn chút ít Độ chia cắt tương đối sâu và độ dốc khá lớn, trung bình 25-30o Có khá nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo các suối như khe Am, khe Cha Lo, khe Chua Ngút và ở cực tây nam có thung lũng dọc Rào Thương Nhìn chung địa hình phi karst không cao hơn nhiều so

Trang 31

500-với địa hình karst Từ bắc xuống nam có các đỉnh: Phu Toc Vu (1.000m),

Mã Tác (1.068m), Cổ Khu (886m), U Bò (1.009m), Co Rilata (1.128m); đỉnh cao nhất của địa hình phi karst cũng là đỉnh cao nhất của VQG là đỉnh Co Preu (1.213m), ở về phía cực nam của VQG

Địa hình phi karst cũng là vùng đầu nguồn của các con sông, suối chảy vào sông Gianh Nhìn chung dạng địa hình này thoải và mềm mại hơn vùng núi đá vôi Độ chia cắt cũng không mạnh bằng

Kiểu địa hình chuyển tiếp

Đây là kiểu địa hình có sự xen kẽ phức tạp giữa các khối đá vôi và địa hình đá lục nguyên Chúng phân bố rải rác, thường tập trung ở những vùng chuyển tiếp giữa núi đá vôi và đá lục nguyên Địa hình thường là những đỉnh núi thấp dưới 800m, tuy không hiểm trở như kiểu địa hình karst nhưng cũng rất đa dạng, phức tạp

Trang 32

Hệ thống hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng Bao gồm:

Hệ thống Động Phong Nha: có 18 hang lớn nhỏ

Độ cao (m)

1 Hang Phong Nha Sơn Trạch 1992 7.729 83

4 Hang Chà An Thượng Trạch 1992 667 15

5 Hang Thung Thượng Trạch 1994 3.351 133

6 Hang én Thượng Trạch 1994,1997 2.490 49

7 Hang Khe Tiên Thượng Trạch 1994 520 -15

8 Hang Khe Ry Thượng Trạch 1997,1999 18.902 120(+58-62)

9 Hang Khe Thi Thượng Trạch 1994 35 -20

10 Hang Phong Nha khô Thượng Trạch 1994 981 -

11 Hang Lạnh Thượng Trạch 2001,2005 4.718 -101,9

12 Hang Dơi Thượng Trạch 2001 539 17,3

13 Hang Nước Nút Thượng Trạch 2003 2.205 -

14 Hang Số đôi Thượng Trạch 2003 1.124

16 Hang Cây Nghiến Thượng Trạch 2005 162 -52,5

17 Hang Lau Thượng Trạch 2005 481 22,3

18 Hang Mới Thượng Trạch 2005 408,2 -21,2

19 Hang Vòm Thượng Trạch 1994 15.870 145

20 Hang Đại cáo Thượng Trạch 1994 1.645 28

21 Hang Duật Thượng Trạch 1994 3.927 45

22 Hang Cá Thượng Trạch 1994 1.500 60

23 Hang Hổ Thượng Trạch 1997 1.616 46

24 Hang Over Thượng Trạch 1997 3.244 103(+93-10)

25 Hang Pyging Thượng Trạch 1992 845 -94

26 Hang Rục Caròong Thượng Trạch 1992 2.800 45

27 Hang Klung Thượng Trạch 2005 1.086 -73,3

28 Hang Kling Thượng Trạch 2005 120 -14,7

34 Hang Bin Đập Thượng Trạch 2005 64,4 -0,7

35 Hang Dơi Thượng Trạch 2005 86,4 17,3

36 Hang Nước Thượng Trạch 2005 83 -17,8

Nguồn: Hội Hang động Hoàng gia Anh (1992 đến 2005)

Toàn bộ các giá trị về địa chất, địa mạo, hang động đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới theo tiêu chí (i) (nay là tiêu chí viii)

Trang 33

2.3 Môi trường sống trong hang động

Ngôi nhà tự nhiên của một sinh vật sống mà có đủ mọi thứ nó cần để tồn tại như thức ăn, nước uống, chổ ẩn náu và nơi đó được gọi là môi trường sống của chúng Các hang động cung cấp môi trường sống rất quan trọng cho rất nhiều các loài chim, thú, bò sát và các động vật không xương sống

Một số loài động vật sử dụng hang động chỉ để làm nơi ẩn náu và sinh sản còn chúng tìm nguồn thức ăn ở môi trường bên ngoài hang động, trong khi một số khác thích nghi hoàn toàn với môi trường trong hang động, chúng không bao giờ rời bỏ bóng tối của chúng

2.3.1 Các môi trường sống

Các môi trường sống trong hang động liên quan đến các vùng ánh sáng trong hang động Có 3 vùng ánh sáng trong hang động với các môi trường sống khác nhau ở mỗi vùng:

độ cũng thay đổi Nhiều loài thực vật có thể sống ở vùng này

nó nhận được ít ánh sáng mặt trời hơn và sự thay đổi về nhiệt độ cũng ít hơn Một vài sự sống của thực vật như tảo nguyên thủy có thể sống ở vùng này, và vùng này cung cấp nguồn đa dạng về sự sống của động vật

ít hơn vùng cửa hang

không thay đổi Thực vật không thể sống ở vùng này và các động vật được tìm thấy ở đây phải thích nghi với cuộc sống trong bóng tối, thông thường với các sự lựa chọn về nguồn thức ăn rất hạn chế

2.3.2 Các loài động vật trong hang động

Môi trường sống trong hang động rất dễ bị tác động và phá vỡ, chính vì vậy những sinh vật sống nơi đây cũng rất dễ bị tổn thương Những loài vật lấy

hang động làm nơi trú ngụ, hay còn gọi là động vật sống trong hang động,

sẽ không thể sống được khi bị tách ra khỏi môi trường sống trong hang Những loài này đã thích nghi với môi trường sống yếm sáng và nguồn thức ăn khác với những anh em cùng họ sống bên ngoài.Nguồn thức ăn chỉ có thể vào được trong động thông qua dòng nước, cây cối, hay khi động vật vô tình lọt vào từ bên ngoài, hoặc từ các loài chim, dơi sống trong hang mang về:

Trang 34

 Một số trong các loài này không có mắt do thị giác không có tác dụng trong môi trường hoàn toàn không có ánh sáng

 Nhiều loài có râu rất dài giúp chúng xác định tốt phương hướng và phát hiện con mồi

 Một số côn trùng có chân dài và mảnh để có thể bắt mồi nhanh hay trốn thoát khỏi nguy hiểm

 Côn trùng sống trong hang động thường đẻ trứng to nhưng số lượng ít hơn so với những loài cùng họ sống ở bên ngoài

 Nhiều loài có thân trong suốt hoặc có màu trắng tuyền do chúng đã quen sống trong môi trường bóng tối

 Rất nhiều dơi và một số loài chim sống trong hang động định vị phương hướng bằng tiếng vang

Những loài vật sống trong hang động có giá trị khoa học rất lớn do chúng giúp chúng ta hiểu được cách thức thích nghi và tồn tại trong một môi trường đặc biệt như vậy Động vật trong hang động có thể được chia làm nhiều nhóm khác nhau tùy thuộc vào chúng sử dụng môi trường sống trong hang động như thế nào và thông thường chúng được phân loại theo mức độ chúng phụ thuộc vào môi trường hang động:

vật với những sự thích nghi đặc biệt như biến mất hay giảm đi sắc tố da hay/ và mắt, không bay được, các phần phụ thon dài và sự thích nghi giác quan đặc biệt

Chúng chỉ có dựa vào môi trường trong hang động để tìm thức ăn và duy trì nòi giống và chúng chủ yếu được tìm thấy trong vùng tối của hang động nơi mà điều kiện sống hầu như ổn định

các động vật có thể hoàn tất vòng đời trọn vẹn của chúng trong hang động nhưng không có sự thích nghi đặc biệt nào vời môi trường trong hang động Các loài này có khả năng sống ở ngoài hang động với các môi trường sống trên bề mặt ẩm và tối thích hợp

là các động vật mà sử dụng hang động một cách đều đặn cho một phần của vòng đời của chúng làm chổ ẩn náu nhưng phải rời hang động để kiếm ăn Một vài ví dụ phổ biến của các loài này là dơi, chim én hay chim yến trong hang động

Trang 35

Accidentals (khách thăm hang động)

các động vật mà thỉnh thoảng chúng ta tìm thấy chúng trong hang động nơi mà chúng

có thể tìm thấy một ít thức ăn nhưng chúng không thể tồn tại và sinh sản được trong hang động

Các con ếch/ cóc thỉnh thoảng được tìm thấy trong hang động, chúng kiếm ăn bằng những con côn trùng trong hang động nhưng chúng hiếm khi ở thời gian lâu trong hang động

Dơi sống trong hang động không chỉ dựa vào sóng định âm để xác định đường đi xung quanh các vùng tối trong hang động mà chúng còn sử dụng kỹ năng đặc biệt này để săn các côn trùng bay ban đêm cho thức ăn của chúng

Phân – như là phân của chim hay dơi được gọi một cách lịch sự là các đống tích lũy trên sàn hang động và đó là nguồn năng lượng cho nhiều nhóm động vật mà đã thích nghi để sống trong các vùng tối của hang động

Nhưng không phải tất cả các động vật đã thích nghi với cuộc sống trong hang động đều kiếm ăn trên phân và không phải tất cả các hang động đều có phân cho chúng – và chỉ có rừng là nguồn cung cấp cho một sự đa dạng lớn của các hình thái sống Vì thế các động vật ở trong hang động phải thích nghi với cuộc sống trong hang động và nguồn thức ăn của chúng

3 Đa dạng sinh học

“Sinh học” nói đến các sinh vật sống và “đa dạng” có nghĩa là nhiều loài, do

đó, thuật ngữ “Đa dạng sinh học” nghĩa là có nhiều loại sinh vật sống

Tất cả các sinh vật sống đều phụ thuộc vào môi trường xung quanh, bao gồm những yếu tố sống và không sống Sự kết hợp của những yếu tố sống và không sống đó tạo thành một quần xã sinh vật

Có các quần xã thủy sinh vật (sinh vật biển và nước ngọt) và quần xã sinh vật trên cạn (sa mạc, rừng, đồng cỏ), mỗi quần xã sinh vật có nhiều hệ sinh thái khác nhau, các sinh vật thuộc hệ sinh thái thích nghi với từng sự biến đổi về khí hậu, môi trường riêng trong quần xã

3.1 Rừng và quần xã sinh vật rừng

Trong quần xã sinh vật rừng, có nhiều kiểu rừng:

 Rừng ôn đới sinh trưởng trên đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa với các mùa khác nhau (mùa xuân, mùa hè) Lượng mưa trung bình khoảng 75 đến 150 cm/năm Hệ thực vật bao gồm 3-4 loài/km2

Ngày đăng: 05/06/2016, 05:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng bên dưới liệt kê các loại và số lượng Khu bảo tồn và Vườn quốc gia của  Việt Nam - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
Bảng b ên dưới liệt kê các loại và số lượng Khu bảo tồn và Vườn quốc gia của Việt Nam (Trang 5)
Hình  dạng  của  măng  đá,  thạch  nhũ  rất  đa  dạng,  từ  tầng  tầng  lớp  lớp  mỏng manh dễ vỡ, hình bông hoa cho đến những cột lớn hơn 200m, tuy  nhiên tất cả đều có 1 đặc điểm chung - Các tinh thể chỉ có thể hình thành - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh dạng của măng đá, thạch nhũ rất đa dạng, từ tầng tầng lớp lớp mỏng manh dễ vỡ, hình bông hoa cho đến những cột lớn hơn 200m, tuy nhiên tất cả đều có 1 đặc điểm chung - Các tinh thể chỉ có thể hình thành (Trang 22)
Hình  dạng  của  hang động,  lượng  và  nhiệt  độ nước,  số  lượng đá  vôi  và  điều kiện thiên nhiên trong hang động, thậm chí bao gồm cả những loại vi  khuẩn tồn tại trong hang động, tất cả đều ảnh hưởng đến cách thức và vị  trí lắng đọng của Can-xit và - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh dạng của hang động, lượng và nhiệt độ nước, số lượng đá vôi và điều kiện thiên nhiên trong hang động, thậm chí bao gồm cả những loại vi khuẩn tồn tại trong hang động, tất cả đều ảnh hưởng đến cách thức và vị trí lắng đọng của Can-xit và (Trang 22)
Hình thành. - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
Hình th ành (Trang 27)
Hình  thành  hang  động  thì  sự  thay  đổi  của - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh thành hang động thì sự thay đổi của (Trang 28)
Hình  dáng  ban  đầu  của  hang - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh dáng ban đầu của hang (Trang 29)
Hình  dáng  kỳ  lạ  được  hình  thành - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh dáng kỳ lạ được hình thành (Trang 29)
Hình động ngầm và động nước với rất nhiều nhũ - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
nh động ngầm và động nước với rất nhiều nhũ (Trang 44)
Hình về sự vận động nhô lên của khối núi Kẻ Bàng. Dù hiện - KỸ NĂNG QUẢN LÝ DU KHÁCH
Hình v ề sự vận động nhô lên của khối núi Kẻ Bàng. Dù hiện (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w