Nhưng cho đến nay nghề đan chiếu của người Lạch vẫn chưa thực sự được quan tâmnghiên cứu.Để hiểu rõ thêm những nét độc đáo trong nghề đan chiếu của người Lạch, ở thịtrấn Lạc Dương, huyện
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
Trang 4Đà Lạt, tháng 11 năm 2015
Trang 5MỞ ĐẦU
Trang 61. Lý do chọn đề tài
Nghề thủ công cổ truyền của dân tộc Việt Nam đã tồn tại rất lâu đời, với nhiềunghề đa dạng như nghề làm gốm, nghề dệt, nghề đan lát, nghề đúc đồng…Suốt tiến trìnhlịch sử, nghề thủ công không chỉ để lại cho đời sau những sản phẩm vật chất và tinh thần
vô giá mà còn góp phần phát triển và nâng cao giá trị cho các loại hình nghệ thuật dângian khác
Thế nhưng, trong số những nghề cổ truyền ấy chỉ có một số ít loại trở nên nổitiếng và được nhiều người quan tâm, còn lại thì dần dần bị mai một do sự phát triển củakinh tế, hội nhập của đất nước, đã làm cho người dân quay lưng lại với các sản phẩm thủcông cổ truyền của dân tộc ta Thay vào đó là những sản phẩm mang tính đa dạng, hiệnđại, được mọi người ưa chuộng vì tính tiện lợi, đa dạng về mẫu mã…
Trong các loại sản phẩm ấy, chiếu là một trong số ít những mặt hàng thủ côngđược mọi người sử dụng hằng ngày, vừa bình dị, vừa cao sang, mộc mạc, vừa nghệ thuật,
mà không một ai xưa nay chưa biết và chưa dùng đến Chiếu gắn bó với chúng ta suốtcuộc đời, từ khi ta cất tiếng khóc chào đời đến lúc ta nhắm mắt xuôi tay “về với đất”.Chiếu đi sâu vào đời sống nhân dân ta, sâu rộng và lâu bền, và trở thành một nghề thủcông vô cùng quan trọng của người dân Việt Nam
Thị trấn Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng), có nghề đan chiếu của người Lạch (thuộc
bộ tộc K’ho) Có thể nói đây là nét văn hóa truyền thống khá đặc trưng của người Lạch.Không giống như chiếu cói phương Bắc, chiếu lác phương Nam Chiếu của người Lạch
có những nét riêng, nét độc đáo về nguyên liệu cũng như về kỹ thuật đan chiếu Khôngkhuôn mẫu, không cần dụng cụ kèm theo, chỉ có đôi tay chắp nối sợi ngang sợi dọc là cóthể tạo ra những sản phẩm theo ý muốn
Mặc dù có truyền thống lâu đời và gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế, văn hóa,dân sinh của người Lạch nói riêng và của người dân thị trấn Lạc Dương nói chung
Trang 7Nhưng cho đến nay nghề đan chiếu của người Lạch vẫn chưa thực sự được quan tâmnghiên cứu.
Để hiểu rõ thêm những nét độc đáo trong nghề đan chiếu của người Lạch, ở thịtrấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Nhóm tác giả quyết định chọn đề tàiNghề đan chiếu của người Lạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồnglàm đề tài nghiên cứu
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong cuốn Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam Có nói đến nghề
đan lát; nghề thêu, dệt; nghề làm giấy, đồ mã; nghề làm tranh dân gian của dân tộc ViệtNam, nhưng không thấy đề cập đến nghề đan chiếu của Lạch ở thị trấn Lạc Dương,huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Trong cuốn Nghề mây tre đan, nghề dệt chiếu, dệt thảm, làm quạt giấy cổ truyền Việt Nam Nói đến nghề mây tre đan, nghề dệt chiếu, nghề dệt thảm, nghề làm quạt giấy,
và các làng nghề truyền thống Tuy nhiên, không thấy nói đến nghề đan chiếu của ngườiLạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghề đan chiếu của người Lạch ở thị trấn Lạc Dương,huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian là ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
- Về thời gian là nghề đan chiếu của người Lạch trong truyền thống và hiện nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh làm nền tảng tư tưởng Với đề tài này, phương pháp của chúng tôi là phương pháplịch sử và phương pháp logic, phương pháp luận sử học, và phương pháp dân tộc học hay
Trang 8còn gọi là phương nhân học và tộc người; phương pháp điền dã; phương pháp quan sát,miêu tả hay phỏng vấn qua thông tín viên người Lạch tại địa phương; phương pháp điềutra xã hội học, phương pháp liên ngành, phương pháp phân tích và tổng hợp,…
5. Nguồn tài liệu
Các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu đề tài là kết quả điền dã, khảo sát, điều tracủa nhóm tác giả Ngoài ra, còn có các nguồn tài liệu là sách, các bài báo Để phục vụcho đề tài này
6. Đóng góp của đề tài
Tiểu luận cung cấp những tư liệu khảo sát điền dã của nhóm tác giả về nghề đanchiếu của người Lạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Từ đó,cho mọi người biết những nét khác biệt về nghề đan chiếu của người Lạch ở thị trấn LạcDương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Nội dung của tiểu luận này còn góp phần làmcho mọi người hiểu biết thêm một phần văn hóa của người Lạch nơi đây
Kết quả của đề tài nghiên cứu còn là tài liệu nghiên cứu cho những ai quan tâmđến vấn đề này
Chương 2 Nghề đan chiếu trong truyền thống và hiện nay của người Lạch tại thịtrấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Nội dung chương này chủ yếu đềcập đến nghề đan chiếu trong truyền thống của người Lạch, nguồn nguyên liệu và cách
Trang 9chọn nguyên liệu, kỹ thuật xử lý nguyên liệu, kỹ thuật đan chiếu, phân loại chiếu, nghềđan chiếu hiện nay của người Lạch.
Chương 3 Vai trò, thực trạng và một số ý kiến đề xuất bảo tồn nghề đan chiếu củangười Lạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Nội dung củachương này chủ yếu đề cập đến vai trò về vật chất, vai trò về tinh thần, thực trạng và một
số ý kiến của nhóm để bảo tồn nghề đan chiếu của ngươi Lạch tại thị trấn Lạc Dương,huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LẠCH TẠI THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG,
HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
1.1 Khái quát về địa bàn cư trú
1.1.1. Vị trí địa lý
Lạc Dương là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam Diệntích tự nhiên: 130.963,04 ha Phía đông giáp 2 tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa Phía tâygiáp 2 huyện Lâm Hà và Đam Rông Phía nam giáp thành phố Đà Lạt Phía bắc giáptỉnh Đắk Lắk Dân cư 20.905 người với tổng cộng 3.300 hộ
Thị trấn Lạc Dương là trung tâm của huyện Lạc Dương cách thành phố Đà Lạt gần10km về phía Đông Nam, ranh giới hành chính của thị trấn được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Đưng K’ Nớ và xã Đa Nhim
- Phía Tây giáp xã Lát, Đa Tông và Đạ Long của huyện Đam Rông, và xã Phi Tôhuyện Lâm Hà
- Phía Đông giáp xã Đạ Sar
- Phía Nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Lâm Hà
Thị trấn Lạc Dương có diện tích 70,61 km², dân số năm 2013 là 7.942 người, mật
độ dân số đạt 113 người/km²
Thị trấn Lạc Dương là trung tâm kinh tế, chính trị- xã hội của huyện Lạc Dương,với những cảnh quan kỳ vĩ và thơ mộng, lại nằm ở cửa ngõ phía bắc của thành phố Đà
Trang 10Lạt nên có lợi thế rất lớn về phát triển du lịch Việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bànthị trấn không chỉ có vai trò quan trọng với phát triển kinh tế - xã hội của huyện LạcDương mà còn có vai trò quan trọng đến phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là du lịch –dịch vụ của thành phố Đà Lạt.
1.1.2. Địa hình
Có 2 dạng địa hình: núi cao và đồi thấp
- Địa hình núi cao: độ cao khoảng 1600 – 2100m so với mặt nước biển, độ dốc lớn,diện tích 22.179,31 ha, chiếm 93,83% tổng diện tích tự nhiên
- Địa hình đồi thấp: độ cao trung bình từ 1500 – 1600m, diện tích 1088ha, chiếm4,6% tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn
1.1.3. Khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cân xích đạo nhưng bị chi phối bởi quy luật độcao va ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu thị trấn nói riêng và khu vực Đà Lạt nóichung có những đặc điểm đặc biệt so với vùng xung quanh, mát lạnh quanh năm, mưanhiều, mùa khô ngắn, lượng bốc hơi thấp, không có bão, tạo cho Đà Lạt có những lợi thếhơn những vùng khác
1.1.4. Đất đai
Toàn thị trấn có 5 nhóm đất chính:
- Nhóm đất đỏ vàng: gồm có đất đỏ vàng trên đá mắc ma axit và đát đỏ vàng trên đásét
- Nhóm đất Feralit: gồm đất Ferralit mùn trên đá mắc ma axit, đất Feralit mùn trên
đá axit và đất Feralit mùn trên đá sét
- Nhóm đất mùn axit trên núi cao
- Nhóm đất dốc tụ
- Nhóm đất phù sa ngòi suối
1.2. Khái quát về người Lạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh
Lạc Dương
Trang 11Người Lạch (hay còn viết Làc, Lat, M'Lates) là tên gọi của một nhóm cư dân nhỏngười Kơ ho, sống lâu đời trên cao nguyên Lang Biang "Lạch", theo tiếng địa phương,
có nghĩa là "rừng thưa" dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ dãy Lang Biang trải dàixuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay
Tiếng Lạch là một phương ngữ Kơho, rất gần gũi với các ngôn ngữ Mnông,Stiêng, Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Ba Na dòng Mon Khmer, ngữ hệ Nam Á(Austroasiatique) Tiếng Lạch cũng như các ngôn ngữ cùng nhóm còn lưu giữ những nétxưa của một ngôn ngữ Đông Nam Á cổ, trước thời kỳ tiếp xúc giữa dòng Mon Khmer vàTày Thái
Người Lạch do tiếp xúc với nhiều cư dân khác trong vùng nên nói khá thành thạocác ngôn ngữ Mạ, Mnông, Chu ru, Chăm, một hiện tượng song ngữ khá thú vị cho nhữngnhà nghiên cứu Mọi sự ghi chép văn hóa dân tộc đều được thông qua con đường truyềnmiệng nên tiếng nói của người Lạch cũng là ngôn ngữ thơ ca uyển chuyển, vần điệu, đầynhạc tính và hình tượng
Người Lạch hôm nay vẫn sống trên mảnh đất cũ của tổ tiên mình ngày nay đang bịthu hẹp dần vì những áp lực của sự phát triển xã hội Dân số tăng lên ít nhiều, từ 800người (1940) lên 2.700 người hiện nay, tập trung chính là ở thị trấn (Lạc Dương) 2.411người (387 hộ) Số còn lại ở rải rác nhiều nơi, nhưng tập trung nhất vẫn là Đà Lạt, Lâm
Hà, Đức Trọng và Đơn Dương (khoảng 300 người)
Trong suốt thời kỳ lịch sử, do tiếp xúc với nền văn hóa phát triển hơn, đặc biệt làvăn minh phương Tây trước đây và người Kinh sau này, người Lạch đã bỏ nhiều hủ tụclỗi thời, cởi mở hơn trong sự tiếp thu các nền văn hóa mới Điều đáng tiếc là một nền vănhóa cổ truyền phong phú và hấp dẫn, nhiều truyền thống nhân văn quí báu cũng chính vìthế mà bị lãng quên dần và thậm chí bị coi là "quá khứ lạc hậu" Ngôn ngữ và văn hóangười Lạch nói riêng và của các cư dân Thượng nói chung đã và đang là đề tài hấp dẫncủa giới nghiên cứu khoa học xã hội trong và ngoài nước Hơn thế nữa, nó là vốn văn hóa
Trang 12vô cùng quí báu của dân tộc ta và nhân loại, đáng được nghiên cứu, bảo tồn, khai thác vàphát huy Một điều cấp bách được đặt ra là đã đến lúc chúng ta phải nhanh chóng có kếhoạch đầu tư nghiên cứu và khai thác di sản văn hóa đó, và nếu cần kêu gọi sự hỗ trợ củacác tổ chức văn hóa quốc tế.
Đời sống kinh tế của người Lạch tuy đã khác xưa, nhưng vẫn còn quá thấp nếu sovới mức sống chung hiện tại Hằng ngày họ vẫn sống lầm lũi bên mảnh ruộng ngày một íthơn trên mỗi đầu người, với kỹ thuật canh tác thô sơ, các ngành kinh tế phụ có một thờiquan trọng như buôn bán, nuôi ngựa, đan cói bị suy thoái Thiết nghĩ, phải có nghiêncứu khoa học để giúp cho người Lạch nói riêng và các cư dân Thượng xung quanh ĐàLạt nói chung tổ chức lại đời sống kinh tế cho phù hợp với địa bàn một trung tâm du lịchnghỉ dưỡng phát triển trong tương lai
Chương 2 NGHỀ ĐAN CHIẾU TRONG TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN NAY CỦA NGƯỜI LẠCH Ở THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1 Nghề đan chiếu trong truyền thống
2.1.1 Nguồn nguyên liệu và cách chọn nguyên liệu
Người Lạch ở thị trấn Lạc Dương dùng cây Tơ Đung làm nguyên liệu đan chiếu
Tơ Đung là một loại cây mọc hoang ở vùng đất trũng đầm lầy, mùa mưa cây sinh trưởngrất nhanh, cọng cây Tơ Đung dài từ 2 đến hơn 3 mét Là loại cây chịu sống nơi đầm lầy
vì thế suối nước có ảnh hưởng nhất định đến quá trình sinh trưởng của loại cây này cũng
vì lẽ đó mà loại cây này không trồng ở nhà được Những thời gian nhàn rỗi trong nămngười Lạch rủ nhau đi nhổ cây đem về để đan chiếu
Điều đặc biệt ở nghề đan chiếu của người Lạch tại thị trấn Lạc Dương này làkhông thấy nhắc nhở đến ông Tổ nghề chiếu, cũng như giừ gìn các tập tục kiêng cữchung quang nghề đan chiếu này Đa phần người ở đây theo Công giáo không có thóiquen thờ cúng như các làng chiếu ở các địa phương khác nên có những kiêng cữ trongviệc lấy nguyên liệu, cũng như trong quy trình làm chiếu
Trang 13Muốn có được một chiếc chiếu đẹp, bền, trước tiên phải biết chọn ra được nhữngcây Tơ Đung đều, cọng khỏe, bóng tròn và không bị sâu hay nấm mốc,độ dài của câyphải vừa đủ, các sợi đều nhau Nếu chọn cây non quá hoặc già hay trổ bông đều khôngđan được chiếu vì nó xốp và dễ gãy Ở những vùng khác người ta dùng liềm, dùng daothể thu hoạch còn người Lạch dùng tay để nhổ cây Tơ Đung Họ dùng tay nắm 4 đến 5cọng cây Tơ Đung và dùng sức kéo lên Khi nhổ cây Tơ Đung phải thật khéo léo nếu nhổquá mạnh tay cây con sẽ bị nhổ theo cây mẹ Thường thì cây 30 ngày tuổi là có thể thuhoạch nhưng vào mùa mưa cây sinh trưởng rất nhanh, cao có khi lên đến 4 mét vàkhoảng hơn 3 tuần tuổi là có thể thu hoạch được Sau mỗi lần thu hoạch như thế số lượngcây giảm dần để đảm bảo nguồn nguyên liệu để đan chiếu người Lạch đã trồng cây TơĐung ở vùng đầm lầy trống, bụi cây Tơ Đung thưa Cây Tơ Đung sinh trưởng tốt haykhông là hoàn tòan phụ thuộc vào tự nhiên Nhổ xong cây Tơ Đung người ta bó lại thànhtừng bó và dùng dây để cột lại, bó cây Tơ Đung thường bằng độ rộng của chiếc gùi vìngày xưa chưa có phương tiện hiện đại, người Lạch dùng gùi vận chuyển nguyên liệu vềnhà Họ bó cây Tơ Đung ngang với mặt gùi hoặc theo chiều thẳng đứng, để theo chiềuthẳng đứng sẽ dễ dàng hơn trong việc vận chuyển, còn nếu để theo chiều ngang thì sẽvướng vào những bụi cây hai bên đường làm cho việc vận chuyển khó khăn và mất thờigian hơn
Ngày này đã có xe máy nên việc vận chuyển nguyên liệu đỡ vất vả hơn, xe máy cóthể đến gần chỗ có nguyên liệu hay cách đó không xa Ở gần chỉ cần đặt bó cây Tơ Đunglên xe, xa hơn thì vác đi một đoạn rồi dùng xe trở về Khi dùng xe máy làm phương tiệnvận chuyển họ cũng bó lại và có người giữ ở đằng sau Bó cây Tơ Đung có thể đặt nganghoặc dọc tùy người giữ ở đằng sau Để lấy được những bó cây Tơ Đung phải mất mộtngày nếu đi bộ còn dùng xe chở thời gian được rút ngắn hơn đem được nhiều bó cây TơĐung hơn
Để góp phần làm cho chiếc chiếu thêm phần sinh động và đẹp mắt người Lạch đã
sử dụng một loại cây rừng làm thuốc nhuộm, họ gọi là cây Đuếch (cây đỏ) Loại cây này
Trang 14hiện nay đã được người Lạch đem về nhà trồng Người Lạch dùng cây Đuếch làm thuốcnhuộm nên chiếu của họ sử dụng từ năm này đến năm khác mà không bị phai màu.
2.1 2 Kỹ thuật xử lý nguyên liệu
Những cây Tơ Đung xanh tươi, đầy sức sống được lấy về, phải trải qua nhiều côngđoạn xử lý tỉ mỉ Công việc xử lý và nhuộm nguyên liệu đan chiếu được giao cho nhữngngười phụ nữ Lạch vì chỉ có họ mới thông thạo quy trình xử lý những cây Tơ Đung tươithành khô, khi Tơ Đung được xử lý đạt đến một mức độ hoàn thiện mới đem đi đan chiếuđược
Quá trình biến cây Tơ Đung từ tươi thành khô để làm nguyên liệu đan chiếu củangười Lạch ở đây rất công phu, tỉ mỉ Cây Tơ Đung có đặc điểm là xốp, nhiều nước nêncần phải có một khoảng thời gian khá lâu để tơ đung khô hoàn toàn Cây Tơ Đung tươiđược phơi khô trên gác hoặc dàn bếp, nên phơi trong nhà sàn (nhà gỗ) và không đượcphơi ngoài trời nắng vì cây Tơ Đung phải được khô từ từ, mất thời gian rất lâu, khoảng 1tháng đến 1 tháng rưỡi mới khô hoàn toàn, và cây Tơ Đung nếu phơi ngoài trời nắng thìcây sẽ giòn gãy, không thể dùng để đan thành một chiếc chiếu có chất lượng tốt
Khi Tơ Đung được phơi khô phải phân loại nhỏ riêng, lớn riêng để khi đan các dây
có kích thước đều nhau Rồi đem Tơ Đung được phơi khô lần thứ nhất đi ngâm nướchoặc là đem ngâm xuống mương trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút cho chắc, dẻo
Kế đến dùng chân đạp cho các sợi Tơ Đung mềm, rồi dùng dụng cụ có tên gọi là “Sơgcàn” Cây này lúc đầu mới nhìn sẽ tưởng là tre nhưng không phải là cây tre và ngườiLạch cũng không dùng tre để vuốt cây Tơ Đung khô vì cây tre dày hơn, khi vuốt sẽ rấtkhó khăn, sẽ làm đau tay Sợi Tơ Đung khô được vuốt 2 lần cho các sợi đều nhau, thẳng
và đem phơi khô lại Khi phơi lần thứ hai xong phải bảo quản và giữ độ ẩm nhất định đểsợi dây mềm mại Cuối cùng trước khi hoàn chỉnh nguyên liệu phải vuốt các sợi tơ đungthêm lần nữa cho thật đều nhau Cây Tơ Đung được xử lý mất khoảng 2 tháng mới hoàntoàn đạt được chất lượng tốt nhất đó là những cây Tơ Đung phải khô hoàn toàn, không bị
ẩm mốc, giữ được màu sắc tự nhiên vốn có của cây, giữ được độ dai, mềm mại, không bị
Trang 15gãy, đứt đoạn, như vậy mới làm ra được những tấm chiếu truyền thống của người Lạchmang chất lượng tốt.
Bên cạnh những chiếu trơn, có màu sắc tự nhiên trắng ngà ở phần gốc, xanh dầnlên đến ngọn của cây Tơ Đung Để thêm phần sinh động, đa dạng cho chiếc chiếu, ngườiLạch còn tô điểm cho chiếc chiếu truyền thống của mình bằng những hoa văn tinh xảo.Màu để nhuộm những chiếc chiếu hoa ấy cũng rất độc đáo, riêng biệt chỉ người Lạch biếtđến
Không nhuộm Tơ Đung bằng những loại phẩm màu, bằng thảo mộc, không dùng
kỹ thuật in hình lên chiếu… như những chiếc chiếu ở các địa phương khác Hoa văn trênchiếu của người Lạch được nhuộm bằng lá của cây Đuếch (cây Đỏ), một loại cây dạimọc trong vùng và được bà con mang về trồng quanh nhà để lấy khi cần Lá cây Đuếchđược giã nát, phơi khô Sau đó đem sợi Tơ Đung được phơi khô đang còn màu tự nhiêncho vào trong nồi nấu cùng với cây Đuếch trong vòng 60 phút, để cho màu ngấm sâutrong từng sợi Tơ Đung Nấu xong thì để nguội rồi vớt sợi Tơ Đung đã được nhuộm rađem phơi trong nhà sàn cho thật khô Sau đó mới đem đi đan thành những chiếc chiếu cómàu sắc, hoa văn tinh xảo Và màu nhuộm trên những chiếc chiếu hoa văn ấy sẽ không bịphai
2.1.3 Kỹ thuật đan chiếu
Khác với các loại chiếu dệt ở miền Nam, miền Trung hay miền Bắc như chiếu Hới(Thái Bình), chiếu Lác (Định Yên), chiếu Nga Sơn (Thanh Hóa), chiếu Tà Niên (KiênGiang)… chiếc chiếu của người Lạch ở thị trấn Lạch Dương, huyện Lạc Dương tỉnh LâmĐồng là loai chiếu đan duy nhất ở Việt Nam Không cần khuôn mẫu hay bất cứ dụng cụkèm theo nào Dường như người phụ nữ Lạch ngay từ nhỏ đã có khiếu đan chỉ với đôi taykhéo léo của mình chắp nối sợi ngang sợi dọc là có thể tạo ra sản phẩm theo ý muốn
Kỹ thuật đan chiếu Cũng giống như nhiều kỹ thuật thủ công khác, nghề đan chiếucũng cần phải thực hiện đúng theo các bước và khuôn mẫu của nó Dù là người mới học
Trang 16việc hay là người đã làm lâu năm quen tay thuận việc, cũng không ai có thể vượt rangoài khuôn mẫu ấy.
Sau khi chế biến, xử lý cây Tơ Đung Người phụ nữ Lạch mới tiến hành phân loại
và đan chiếu
+ Phân loại:
Công việc đầu tiên trước khi tiếng hành đan chiếu là phân loại sợi Tơ Đung
đã qua xử lý Tức là việc chọn những sợi Tơ Đung phân thành từng loại bó thành cột để
dễ sử dụng, không bị rối… Để đan mỗi chiếc chiếu khác nhau về kích thước hay loạichiếu thì việc phân loại các sợi Tơ Đung là vô cùng quan trọng Những sợi Tơ Đung đềunhau có thể dệt thành những chiếc chiếu bắt mắt Sự phân lọai màu sắc của cây Tơ Đunglàm cho việc đan chiếu thuận tiện hơn, không bị rối Ngoài ra, độ dài ngắn của sợi TơĐung cũng rất được quan tâm khi phân loại Những sợi Tơ Đung quá ngắn sẽ bị loại rahoặc sử dụng với mục đích khác như đan những chiếc Pơlơ dung để đựng cơm…
+ Đan chiếu
Đan chiếu, cơ bản có hai phương pháp đó là phương pháp đan chiếu thường vàphương pháp đan chiếu vàng Tuy nhiên cách đan chiếu vàng hiên tại rất hiếm người biếtđến vì để đan chiếc chiếu rất phức tạp yêu cầu kĩ thuật cao
Đan chiếu thường.
Chiếu thường cũng chia làm hai loại Loại chiếu trơn (loại này không sử dụng sợi
Tơ Đung nhuộm) và loại chiếu có hoa văn tuy nhiên phương pháp đan tương đối giốngnhau
Phương pháp đan chiếu trơn
Bước 1:
Trang 17Đan chiếu đầu tiên là chọn hai sợi Tơ Đung đã qua xử lý đều nhau gấp đôi một sợirồi cùng với sợi thứ thư hai (không gấp đôi) thắt lại ở nơi gấp sau đó dùng chân đạp lênđầu nơi gấp nhằm cố định lúc đan.
Bước 4 :
Tiếp tục tục lấy một sơi Tơ Đung lại gấp đôi một góc 90 độ Làm tương tự cácbước trên tuy nhiên nếu đoạn 1a nằm ngang xen kẽ Nằm trên các số chẵn (hay lẽ) thìđoạn 2a sẽ nằm ngược lại sẽ nằm trên các số lẽ (hay chẵn)
Từ đó các thể hiểu như sau các số 1a, 2a, 3a… nếu các số lẽ như 1a, 3a… nằmngang trên các dây số chẵn dưới các số lẽ thì các số chẵn như 2a, 4a… nằm ngang trêncác dãy số lẽ ngang dưới các số chẵn và ngược lại
Việc đan này tiếp tục cho đến khi đủ chiều dài chiều rộng của chiếc chiếu màngười phụ nữ Lạch muốn đan Nếu đan chưa ưng ý về kích thước của chiếc chiếu mà sợi
Tơ Đung không đủ dài thì người phụ nữ Lạch vẫn kết thúc việc đan thay vào đó là đan
Trang 18một chiếc chiếu khác với kích thước, nguyên liệu giống hệt nhau Sau đó đan hai tấmchiếu nối lại để có chiếc chiếu ưng ý nhất Việc nối các chiếc chiếu lại với nhau hoàntoàn không để lộ vết nối hoàn toàn giống việc nối các chiếc khăn len với nhau Tuy nhiênngười người phụ nữ Lạch kết lại rất kéo Hoàn toàn rất khó nhận ra nếu không được chỉdẫn một cách tỉ mĩ.
Phương pháp đan chiếu hoa
Việc đan chiếu hoa với đan chiếu trơn hoàn toàn không khác gì nhau việc tạothành họa tiết (hình thoi) tương đối đơn giản Cứ đan bao nhiêu sợi Tơ Đung thườngngười ta sẽ xen vào một sợi Tơ Đung màu (ví dụ như cứ 5 sợi Tơ Đung bình thường họ
sẽ thêm 1 sợi Tơ Đung màu) kích thước hoa văn to hay nhỏ tùy thuộc vào lúc người đanchiếc chiếu to hay nhỏ, khoảng cách giữa các sợi Tơ Đung màu dài hay ngắn
2.1.4 Phân loại chiếu
Sau một khoảng thời gian dài từ công việc đi lấy nguyên liệu ( cây Tơ Đung) quacác bước công đoạn khác nhau thì những sản phẩm đã được tạo ra đó là những tấm chiếumột nét bản sắc riêng của người Lạch những tấm chiếu rất bền và đẹp một cách mộc mạc.Chiếu được phân làm 2 loại: chiếu thường và chiếu vàng
- Chiếu thường: thường không có màu gì khác ngoài màu tự nhiên của cây tơ đung,màu sắc này như mang ý nghĩa của sự mộc mạc, đơn sơ, của người dân nơi đây.Qua các lần đan chiếu với đầu óc sáng tạo thì người phụ nữ nơi đây đã lấy nhữngsợi Tơ Đung đem nấu chung với cây Đuếch (cây Đuếch đã giã nhỏ) để tạo ra màu
đỏ, khi những sợi Tơ Đung này đã chuyển màu đỏ, thì những sợi màu đỏ nàyđược đan lắt léo qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ đan chiếu, nằm xen kẽ vớinhững sợi Tơ Đung không được nhuộm màu, có phần tạo nên một màu đỏ ởnhững viền chiếu, mục đích sử dụng của loại chiếu có màu này cũng không có gìkhác so với các chiếu thường, có thêm một ít sợi đỏ chỉ làm nổi bật chiếc chiếu vàđẹp hơn
Trang 19Kích thước của những tấm chiếu không giống nhau, một phần cũng do mục đích
sử dụng của các loại chiếu đó Kích thước chiếu được đo bằng “ Sơg càn” là dụng cụđược dùng để vuốt cây Tơ Đung và cũng dùng để đo chiều dài, chiều rộng của một chiếcchiếu Chiều dài của “ Sơg càn” khoảng 57cm đến 60cm Chiếu thường bán trên thịtrường có chiều dài được đo bằng 4 cái “ Sơg càn’’và chiều rộng được đo bằng 2,5 cái “Sơg càn”
Loại chiếu này thường dùng để trãi ăn cơm hoặc để tiếp khách Từ thời xưa ở nơiđây đã có câu nói rất hay về loại chiếu này “ đời người, đời chiếu” câu nói này mang ýnghĩa như muốn nói đến sự gắn bó và trân trọng của người lạch đối với chiếc chiếutruyền thống của họ Loại chiếu này rất bền và trải qua một thời gian rất dài thì nó mớihỏng
- Ngoài loại chiếu thường này thì còn một loại chiếu có tên là chiếu vàng – một loạichiếu có vai trò rất quan trọng đối với người dân nơi đây
Chiếu vàng thường được dùng trong những ngày quan trọng của người Lạch (ngàycưới và đám ma), đặc biệt chiếc chiếu này chỉ được dùng cho những người đàn ông Khingười con trai trong nhà lấy vợ thì nhà gái phải trải chiếu vàng cho chú rể ngồi Trongngày lễ trong đại nhất đời người là ngày cưới, dù nhà giàu hay nghèo cũng không thể nàothiếu được cặp chiếu vàng Dường như đó là chứng nhân cho sự thủy chung, cho hạnhphúc lứa đôi Rồi đến khi nhắm mắt lìa đời, chiếc chiếu lại là kỷ vật theo họ về bên kiathế giới Với người Lạch, nếu ai không được bó trong chiếc chiếu vàng khi về với tổ tiên,
họ như thấy kiếp người chưa trọn
Loại chiếu này thường đan thành cặp, một cái không có màu, một cái có màu và
có hoa văn Loại chiếu có màu thì họ vẫn lấy sợi Tơ Đung đem nấu chung với cây Đuếchcho ra màu đỏ rồi đem đan xen kẽ với những sợi Tơ Đung không được nhuộm màu Mộtđặc điểm đáng phải ngạc nhiên là loại cây Đuếch dùng để nhuộm màu này, khi đượcnhuộm với cây Tơ Đung thì chiếc chiếu đó được sử dụng từ năm này qua năm khác vẫnkhông bị phai màu
Trang 20Ngoài việc có màu sắc thì trên chiếc chiếu vàng này còn có cả hoa văn đó lànhững thửa ruộng và cái cày, nét hoa văn này mang một ý nghĩa như muốn giữ một néttruyền thống gì đó từ thời xa xưa để lại và đó là nghề trồng lúa, cư dân ở đây có quanniệm rằng khi họ sống thì công việc hàng ngày của họ luôn gắn với những thửa ruộng vàchiếc cày nên khi họ về thế giới bên kia họ vẫn muốn cuộc đời mình gắn liền với nhữngthửa ruộng và chiếc cày Vì vậy mà nét hoa văn trên chiếc chiếu vàng là những thửaruộng và chiếc cày So với chiếu thường thì chiếu vàng về mặt kích thước có khác mộtchút, chiều dài của chiếu vàng không phải đo bằng cây “ Sơg càn” nữa mà dựa theo chiềudài của quan tài, không được ngắn hơn quan tài và nếu dài hơn thì phải gấp lên, còn chiềurộng thì bằng chiều rộng của quan tài Khi ông hoặc bà mất thì bỏ chiếu vào trong quantài, tuy nhiên không được bỏ tùy tiện mà phải tuân theo trình tự, phải bỏ chiếu khôngmàu trước rồi mới bỏ chiếu có hoa văn vào sau.
Ngoài đan những chiếc chiếu với những mục đích sử dụng khác nhau thì vớinhững kích thước ngắn hơn của cây Tơ Đung thì người phụ nữ Lạch còn sáng tạo đannhững chiếc Pơ lơ dùng để đựng cơm và đựng các đồ dùng nhỏ trong cuộc sống
Với bàn tay khéo léo và cách đan chiếu tỉ mỉ và tốn rất nhiều công sức thì đã tạo ranhững chiếc chiếu rất bền, đẹp và có giá trị Giá bán của chiếc chiếu thường là 800 đến 1triệu đồng trên chiếc, còn chiếu vàng thì là 3 triệu đồng một cặp
Với những chiếc chiếu có kích thước, nét hoa văn khác nhau cũng như rất có giátrị tuy nhiên đan chiếu là một nghề phụ, người phụ nữ ở nơi đây thường đan chiếu vàonhững thời gian nhàn rỗi vì tốn rất nhiều thời gian và công sức
2.2 Nghề đan chiếu hiện nay
Về căn bản quy trình nghề đan chiếu của người Lạch ở thị trấn Lạc Dương, LâmĐồng về cơ bản không thay đổi về nguồn nguyên liệu, cách lấy nguyên liệu, kỹ thuật xử
lý nguyên liệu, kỹ thuật đan và cách phân loại chiếu Tuy nhiên, ngày nay có sự can thiệpcủa khoa học công nghệ vào nghề đan chiếu, làm cho nghề đan chiếu có một chút khácbiệt so với quy trình đan chiếu trong truyền thống
Trang 21Thay vì dùng tay để nhổ cây Tơ Đung như trong truyền thống thì ngày nay họ đã
sử dụng bằng dao, rựa để chặt cây Tơ Đung Như vậy, việc lấy nguyên liệu sẽ diễn ranhanh hơn, đỡ tốn thời gian, công sức hơn, nhưng sẽ làm cho cây Tơ Đung nhỏ bị gãykhông thể mọc lên được nữa
Ngày nay, việc đi lấy Tơ Đung không còn khó khăn, vất vả như trước đây vìphương tiện để vận chuyển cây Tơ Đung, hầu hết ngày nay người ta thường dùng xehonda để chở nguyên liệu, như vậy sẽ rút ngắn thời gian, công sức Quá trình đi lấy TơĐung không sử dụng nhiều lao động nữa
Chương 3 VAI TRÒ, THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỔ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT BẢO TỒN NGHỀ ĐAN CHIẾU CỦA NGƯỜI LẠCH Ở THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Ban đầu, những chiếc chiếu được đan vì mục đích sử dụng trong gia đình, haynhững dịp quan trọng của cộng đồng người Lạch Nhưng càng về sau thì những chiếcchiếu được sản xuất để phục vụ mục đích trao đổi buôn bán mang lại giá trị về kinh tế.Những chiếc chiếu đòi hỏi công sức và kỹ thuật, được bán ra với giá thành khá cao đãmang lại hiệu quả kinh tế lớn cho những gia đình làm chiếu
Tận dụng khoảng thời gian nhàn rỗi, khi công việc trên nương rẫy đã xong nhữngthành viên trong gia đình người Lạch đều bắt tay vào công việc đan chiếu, mỗi người mộtcông việc, từ việc đi lấy, vận chuyển nguyên liệu dành cho những người đàn ông khỏe