Tuy nhiên trong quá trình giải phóng mặt bằng vẫn còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, một số hộ gia đình, cá nhân bị mất đất chưa thoả mãn với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thu Phương
Trang 4Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo khoa Tài nguyên & Môi trường, phòng quản lý đào tạo sau Đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng toàn thể bạn bè lớp Quản lý đất đai K19 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc; UBND thị xã Phúc Yên; Các phòng: phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống
kê, Ban giải phóng mặt bằng của thị xã Phúc Yên; UBND phường Xuân Hoà, xã Ngọc Thanh; Chủ đầu tư thực hiện dự án; Các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cho dự
án đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè
đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thu Phương
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 5
1.1.3 Cơ sở pháp lý 10
1.2 Một số khái niệm liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 15
1.3 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới và ở
Việt Nam 16
1.3.1 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới 16
1.3.2 Tình hình về thu hồi đất ở Việt Nam 23
1.3.3 Tình hình về công tác thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc 24
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 28
2.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia 29
Trang 62.4.5 Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh và xử lý số liệu 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 30
3.1.1 Về điều kiện tự nhiên [23] 30
3.1.2 Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội [22, 24] 33
3.2 Tình hình về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên 38
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 38
3.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai [21] 39
3.3 Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất của 2 dự án nghiên cứu 42
3.3.1 Khái quát chung về 2 dự án nghiên cứu 42
3.3.2 Đánh giá quy trình giải phóng mặt bằng tại 2 dự án 45
3.3.3 Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 48
3.3.4 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án 55
3.3.5 Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến thực hiện 2
dự án 63
3.4 Kết quả điều tra, phỏng vấn chi tiết các hộ dân về tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tại 2 dự án 65
3.4.1 Tình hình sử dụng quỹ đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất của 2
dự án và số tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 65
3.4.2 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 66
3.4.3 Tình hình thu nhập của các hộ dân sau khi thu hồi đất 67
3.4.4 Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất của các hộ dân được phỏng vấn, điều tra 69
3.4.5 Đánh giá về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 70
3.4.6 Đánh giá về cảnh quan và môi trường tại 2 dự án thực hiện 71
Trang 7hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn thị xã Phúc Yên
nói chung 72
3.5.1 Những thuận lợi, khó khăn tại 2 dự án nghiên cứu 72
3.5.2 Đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn thị
xã Phúc Yên nói chung 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số của các xã, phường 35
trên địa bàn thị xã Phúc Yên (tính đến ngày 31/12/ 2012) 35
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Phúc Yên 38
Bảng 3.3: Thống kê diện tích đất thu hồi của 2 dự án 42
Bảng 3.4: Diện tích các loại đất đai của khu đô thị mới phường Xuân Hoà 43
Bảng 3.5: Đối tượng và điều kiện bồi thường, hỗ trợ (dự án 1) 48
Bảng 3.6: Đối tượng và điều kiện bồi thường, hỗ trợ (dự án 2) 49
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp các hộ được cấp đất dịch vụ, tái định cư của 2 dự án 54
Bảng 3.8: Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 1 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt 56
Bảng 3.9: Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 2 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt 59
Bảng 3.10: Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp trước và sau thu hồi đất và tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân 65
Bảng 3.11: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 66
Bảng 3.12: Thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 68
Trang 9Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên 30 Hình 3.2: Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, là nơi duy trì
sự sống của con người, mọi sinh vật và sự tồn tại của mỗi dân tộc Đất đai có những đặc điểm riêng khác biệt với những tư liệu sản xuất khác, nó giới hạn về số lượng,
vị trí cố định trong không gian và một đặc trưng cơ bản khác nữa là nó gắn liền với tình cảm, lối sống và phong tục tập quán của con người Từ những đặc điểm đó mà ngày nay đất đai trở nên có giá trị và dần dần trở thành một loại hàng hoá đặc biệt;
là nguồn vốn, nguồn nội lực để thu hút đầu tư phát triển
Những năm gần đây quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra hết sức mạnh mẽ đặc biệt là ở các khu đô thị có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, theo đó đất đai và các cơ sở hạ tầng phục vụ cho “cơn lốc” công nghiệp hoá, đô thị hoá ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu được Để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút các đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung, khu
du lịch sinh thái nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển kinh tế là cần thiết
Thị xã Phúc Yên là trung tâm kinh tế công nghiệp-du lịch-dịch vụ quan trọng của tỉnh Vĩnh Phúc và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và quốc gia: gần sân bay quốc tế Nội Bài, có đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai chạy qua, là thị trường rộng lớn để giao lưu hàng hoá Trong xu thế phát triển hiện nay, vị trí của thị
xã Phúc Yên có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập Với
vị trí thuận lợi như trên đã tạo cho thị xã Phúc Yên những điều kiện lý tưởng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá
Từ năm 1996 đến nay thị xã Phúc Yên đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn để có được quỹ đất triển khai các
dự án trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống nhân dân và tình hình kinh
tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực
Trang 11Chính sách bồi thường của Nhà nước, việc thực thi chính sách pháp luật của địa phương chưa thực sự thoả đáng cũng là nguyên nhân gây nên những bất hợp lý; nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người kéo dài tạo ra những điểm nóng
về chính trị, xã hội Đòi hỏi Nhà nước cần phải đưa ra một chính sách hợp lý; một chính sách hợp lý phải đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư
và người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng phải có tác dụng ngăn chặn những người có tư tưởng cơ hội lợi dụng nhu cầu bức thiết của Nhà nước để đưa ra những đòi hỏi bất hợp lý Trong nhiều năm qua, Nhà nước không ngừng xây dựng và hoàn thiện ban hành, triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi như: Nghị định số 197/NĐ-CP ngày 03/12/2004, Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007, Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế Công tác thu hồi đất đã có nhiều tiến bộ hơn, đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, khắc phục được nhiều tồn tại, vướng mắc trước đây Tuy nhiên trong quá trình giải phóng mặt bằng vẫn còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, một số hộ gia đình, cá nhân bị mất đất chưa thoả mãn với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thường thiệt hại như hiện nay; công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho người có đất
bị thu hồi vẫn là những vấn đề nóng, gây nên sự chú ý của xã hội
Để góp phần tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân có đất bị thu hồi trong quá trình triển khai các dự án thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách quan thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nắm rõ bản chất của các vấn đề bất cập Từ
đó có thể đưa ra các giải pháp đúng và toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và cũng là một vấn đề có tính “thời sự” Vì vậy, việc thực hiện đề
tài: “Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là cần
Trang 12thiết trong thời điểm hiện nay
2 Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu
*/ Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra được những giải pháp, góp phần thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các dự án khác trên địa bàn thi xã Phúc Yên đúng pháp luật, nhanh chóng và hiệu quả nhất
*/ Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá kết quả việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường Xuân Hoà, dự án hồ chứa nước Lập Đinh
- Đánh giá được các tác động của việc thu hồi đất đến người dân có đất bị thu hồi để thực hiện các dự án
- Thấy được ý kiến của người dân về chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và những kiến nghị của họ khi Nhà nước thu hồi đất
- Chỉ ra được những khó khăn, tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường Xuân Hoà, dự án hồ chứa nước Lập Đinh và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
*/ Yêu cầu
- Nguồn tài liệu, số liệu điều tra, thu thập phải phản ánh đúng tình hình thực
tế tại địa phương; phải được phân tích, đánh giá một cách khách quan
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện và nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn
- Các giải pháp và kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực tế, đảm bảo tôn trọng và đúng pháp luật hiện hành
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
Quá trình giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình công cộng, an ninh quốc phòng, các dự án phát triển kinh tế mang tính đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất của
mỗi địa phương khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; Khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó khi bồi thường giải phóng mặt bằng được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ đất để sản xuất, thậm chí
họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn
và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này [8]
Trang 141.1.2 Cơ sở thực tiễn
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993, Chính phủ đã hai lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998, năm
2001 và ban hành Luật đất đai 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế trong quá trình triển khai Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng sạch để giao đất cho các dự án đầu tư Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ cho nên công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất [9]
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2005 cho thấy, nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế, trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến
độ giải phóng mặt bằng
Trang 15+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước
mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực sự trở thành
sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường
Tuy nhiên chất lượng phương án quy hoạch và công tác thực hiện quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp đặc biệt là thiếu tính bền
Trang 16vững Phương án quy hoạch cho tương lai, dự báo chưa sát tình hình thực tế tại từng địa phương, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt, nhiều trường hợp quy hoạch theo phong trào, theo nhiệm kỳ của người lãnh đạo Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch "treo", dự án "treo"
+ Yếu tố giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đây là điều kiện bắt buộc nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao
và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
+ Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai Trước khi Luật Đất đai năm 2003 ban hành, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ hồ sơ địa chính theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính Để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Từ năm 2007 đến nay, việc lập hồ sơ địa chính phải được thực hiện theo quy định tại Thông tư 29/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ Tài nguyên
còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này
có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại hồ sơ địa chính là rất cần thiết
+ Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
Trang 17quyền sở hữu, quyền sử dụng Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là: Chủ sử dụng đất là tổ chức đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh; Chủ sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân đăng ký tại Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất cấp huyện) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác giải phóng mặt bằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo từng loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất theo Chỉ thị 1474/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Chính vì vậy mà công tác giải phóng mặt bằng đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ thuận lợi, tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn
+ Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi
vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính, chính quyền địa phương cấp trên Hội đồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử
lý tạo niềm tin trong nhân dân
+ Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác giải phóng mặt bằng hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi
Trang 18Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành năm 2003 thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây quy định tại Điều 55:
- Giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm;
- Giá đất hình thành do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất Đây là trường hợp phản ánh chính xác giá trị thực của đất, khắc phục việc đầu cơ đất đai để kiếm lời và các tiêu cực trong hoạt động giao đất, cho thuê đất
- Giá đất do người sử dụng đất thỏa thuận về giá với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể
đã được xác định tại một thời điểm xác định Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện,
đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2005 cho thấy trong
Trang 1917.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng (chiếm 70,64%) Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp, giá đất ở bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất
ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi [1]
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường giải phóng mặt bằng không được làm tốt sẽ làm cho công tác giải phóng mặt bằng ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư
Trang 20tính giá trị tài sản khi giao, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian" [12]
Thông qua Luật Đất đai năm 1993 người sử dụng đất đã được làm chủ về ruộng đất, có các quyền và nghĩa vụ được xác lập cụ thể, đất đai được vận động theo cơ chế thị trường, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn trở thành động lực to lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển đô thị và thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1998, ngày 29/6/2001 đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất của người khác Quy định cụ thể hơn về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi [13, 14]
Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chinh phủ quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tế cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện giải phóng mặt bằng, người bị ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác Tình trạng thất nghiệp trẻ em phải bỏ học đối với những gia đình bị thu hồi đất khá phổ biến ở hầu hết các địa phương, từ đó nảy sinh vấn đề khiếu nại về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồi thường thiệt hại về đất khác xa với giá thực tế Với giá trị được bồi thường người có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không
Trang 21có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu Như vậy dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng công tác bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chế trong công tác này [7]
Sau khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Trong giai đoạn hiện nay, nhiều văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp đến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có nhiều quy định, chế định đã và đang đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế, thể hiện sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai đối với quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng như lợi ích của Nhà nước sau thời kỳ đổi mới:
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nghị định này quy định về thẩm quyền lập khu tái định cư và điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, về nguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư và về nguồn vốn đầu
tư xây dựng khu tái định cư [9]
Về phạm vi điều chỉnh:
Nghị định này quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nếu việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quy định tại Nghị định này thì trước khi ký Điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản dự án đầu tư phát triển báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
Trang 22Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại Điều ước quốc tế đó
Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này: Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ
Như vậy nếu như các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi thường đất bị thu hồi và tài sản đất đó thì Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cư cho các hộ phải di chuyển
Về tổ chức thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt phương
án bồi thường, chỉ đạo thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cấp huyện trong việc lập phương án bồi thường thiệt hại, xác định bồi thường, trợ cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức bồi thường theo phương án được duyệt
Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP Thông tư này hướng dẫn cụ thể và có thêm một số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản; chính sách hỗ trợ, tái định cư và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP [2]
- Hướng dẫn cách xác định cho phí đầu tư vào đất còn lại được quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP
- Phân loại cụ thể đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất Việc phân loại cụ thể này để xác định mức bồi thường, hỗ trợ hợp lý, sát thực với từng loại đất và giải quyết trường hợp chênh lệch giữa giá đất mới được giao và giá đất bị thu hồi
- Về bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi: Thông tư xác định, hướng dẫn
cụ thể việc phân chia từng loại cây trồng lâu năm (cây lâu năm thu hoạch một lần, cây lâu năm thu hoạch nhiều lần, cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý) và xác định
Trang 23giá trị hiện có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường Quy định thêm về bồi thường đối với cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp do Nhà nước giao mà khi giao là đất trống, đồi núi trọc
Thông tư số 69/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 02/8/2006 về sửa đổi
bổ sung cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC cụ thể là sửa đổi, bổ sung một số điều khoản: điểm 3 mục 3 phần I về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; điểm 3.1 mục 3 phần II về giá đất để tính bồi thường, chi phí đầu tư vào đất còn lại; mục 2 phần IV về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; mục 3 và mục 4 phần VII về mức chi cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án
Ngày 25/5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự và thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định bổ sung mới về lập phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm có phương án tổng thể và phương án chi tiết, quy định cụ thể thẩm quyền, thời hạn giải quyết từng khâu kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai được tiến hành trước khi lập phương án bồi thường nhằm xác định giá bồi thường và chính sách hỗ trợ một cách khách quan [10]
Thông tư 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên
và Môi trường ngày 31/01/2008 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP: hướng dẫn về hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân
cư, đất vườn, đất ao xen kẽ với đất ở trong khu dân cư; hướng dẫn kinh phí chuẩn bị
hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi bao gồm kinh phí do Nhà đầu tư trả sẽ được quyết toán vào nguồn vốn đầu tư của dự án, kinh phí do Nhà nước trả sẽ được quyết toán vào nguồn kinh phí hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc cơ quan Tài nguyên và Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất [5]
Nghị định 84/2007/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định 197/2004/NĐ-CP Tuy nghiên, để tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, ngày 13/8/2009 Chính phủ đã ban
Trang 24hành Nghị định số 69/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định số 69/2009/ NĐ-CP là đảm bảo quyền
và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hoà 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật [11]
1.2 Một số khái niệm liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
*/ Thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật [15]
Nguyên tắc của việc bồi thường là:
+ Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất có đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường;
+ Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định:
- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền
Trang 25mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch
- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch vào ngân sách Nhà nước
*/ Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [15]
*/ Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác với nơi ở trước đây Tái định cư còn được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập,
cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng Các dự án tái định cư cũng được coi là các
dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác
1.3 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới và
ở Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Nhật Bản
Về thu hồi đất: Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951
quy định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng
Trang 26yếu được pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên theo luật quy hoạch
đô thị, đê điều, hồ chứa nước theo luật sông ngòi, cảng biển theo luật cảng biển…
Trình tự trưng dụng như sau:
1/ Xin phép trưng dụng;
2/ Đăng ký đất đai và công trình trong diện trưng dụng;
3/ Bên trưng dụng và bên bị trưng dụng thương lượng thoả thuận;
Việc bồi thường thực hiện bằng tiền Mức bồi thường tính toán tại thời điểm công bố trưng dụng, có điều chỉnh cho phù hợp với biến động giá trước lúc ra quyết định trưng dụng
Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất:
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài tăng trưởng trong nông nghiệp Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm Sau khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng Ngoài ra Nhật Bản còn phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
Chính phủ Nhật bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi thường những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực,
Trang 27nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển
Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đại hoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương
Trong những năm 1960, 1970 các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin học và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra những thị trường mới ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và công nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải ủng hộ điều này một cách tích cực
1.3.1.2 Trung Quốc
Về thu hồi đất: Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về chế
độ sở hữu và các hình thức sử dụng đất đai Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu: chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: "Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường" Các
Trang 28nhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường
do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài
ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất
Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khu thu hồi đất Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn để sử dụng vào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi ích cũng như được bồi thường một cách hợp lý Một vấn đề rất quan trọng đó là gắn công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội Thông thường khi bị thu hồi đất, người nông dân khó tìm được việc làm thích hợp với khả năng của mình Để giải
quyết vấn đề này, Trung Quốc đã thực hiện chế độ dưỡng lão đối với người già (phụ
nữ từ 45 tuổi và nam giới từ 50 tuổi trở lên) và hỗ trợ tiền cho những người đang
Trang 29trong độ tuổi lao động để các đối tượng này tự tìm việc làm mới Tiền dưỡng lão được trả từ 90.000 - 110.000 nhân dân tệ/một lần cho Cục Bảo hiểm xã hội và Cục Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm trả tiền dưỡng lão hàng năm cho những người thuộc diện này; tiền hỗ trợ khoảng 100.000 - 120.000 nhân dân tệ/người
Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất:
Trong thời kỳ đầu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tốc độ đô thị hoá của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hoá, trong khi dân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng Trong những năm 1990, Trung Quốc có khoảng từ 100 - 120 triệu lao động nông thôn thiếu việc làm, hàng năm con số này lại tăng thêm từ 6 - 7 triệu người
Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu người nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này cũng gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt như quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và rất nhiều các vấn đề xã hội khác
Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hoá, Trung Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau:
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động:
Công cuộc cải cách và mở cửa của nền kinh tế thị trường ở nông thôn Trung Quốc được tiến hành từ cuối những năm 1970 Các chính sách khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn
Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá Trong những năm đầu đã
có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới 50% Đây là dấu hiệu cất cánh của CNH - HĐH nông thôn Trung Quốc mà ưu tiên hàng đầu là tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hoá
Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất nhiều
Trang 30cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn Ở Trung Quốc
đã xuất hiện hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn đó là mô hình doanh nghiệp tập thể ở thành phố Văn Châu Mô hình doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp ở nông thôn, nhưng còn thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu Mô hình doanh nghiệp tập thể được hình thành trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá
- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các thành phố:
Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000
đô thị nhỏ Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa Tuy nhiên, khả năng thu hút lao động dư thừa hiện nay của mỗi đô thị nhỏ ở Trung Quốc chỉ là 1.600 người Nếu số đô thị nhỏ được tăng lên gấp đôi thì sẽ thu hút được thêm
30 triệu lao động
Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp địa phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một mô hình phát triển đô thị mới Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị giữa các thành phố có quy mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để thực hiện các dự
án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC của Trung Quốc đối với các
dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện tái định cư”
1.3.1.3 Thái Lan
Ở Thái Lan cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực Châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù
Trang 31được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân, định giá đền bù
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì Nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường
Hiến pháp Thái Lan năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo giá thị trường cho những người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về tất cả các thiệt hại
do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987 Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào các mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa ra toà án Ví dụ: trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan
là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án
Trang 321.3.2 Tình hình về thu hồi đất ở Việt Nam
Nhìn chung công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở nước ta tương đối chặt chẽ, tuân thủ theo đúng pháp luật tạo điều kiện cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp được nhân dân đồng tình, ủng hộ
Trên cơ sở hướng dẫn chung của Chính phủ và các Bộ, Ban ngành (thông qua các văn bản dưới luật) các địa phương đã ban hành văn bản hướng dẫn bồi thường, giải phóng mặt bằng, khung giá các loại đất áp dụng cho địa phương mình Bên cạnh đó ở một số địa phương vẫn còn những tồn tại cần khắc phục như ban hành các văn bản dưới luật chậm, giá đất chênh lệch lớn đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động về bồi thường, giải phóng mặt bằng đến người dân còn hạn chế
1.3.2.1 Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng
Theo số liệu điều tra của Bộ NN&PTNT trong 5 năm, từ năm 2001- 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha
Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương
có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha) Tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam bộ
Trang 331.3.2.2 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng
108 nghìn hộ, số hộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ có trên 138.291 hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư… Tuy nhiên trên thực tế, có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định
Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất, số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người Thực trạng này dẫn đến 53% số hộ dân bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số
hộ có thu nhập cao hơn trước [1]
Liên quan đến vấn đề đào tạo nghề và nâng cao khả năng của lao động Ông Nguyễn Thế Dũng - Đại diện Ngân hàng Thế giới cho rằng: Sở dĩ hiện nay tỷ lệ lao động địa phương được chọn tuyển vào các khu công nghiệp còn thấp là do nhiều địa phương mất định hướng trong đào tạo nghề Địa phương không xác định được sẽ phát triển ngành nghề gì, do đó công tác đào tạo nghề không bắt kịp nhu cầu thực tế
1.3.3 Tình hình về công tác thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc có sức tăng trưởng kinh tế nổi bật, nền công nghiệp phát triển ổn định đem lại hiệu quả kinh tế cao đặc biệt là trong mấy năm gần đây Với 3 mục tiêu hình thành một đô thị có nội lực, tiềm lực và sự liên kết cạnh tranh cao, xây dựng một thành phố xanh, sạch, đẹp, hiện đại, xây dựng một thành phố an toàn, tiện nghi, một không gian sống chất lượng cao định hướng tầm nhìn 2050 tỉnh Vĩnh
Trang 34Phúc là "nơi tất cả những người sống, làm việc, tới thăm đều cảm thấy hạnh phúc" nhằm đưa tỉnh trở thành một đô thị thịnh vượng bền vững tiêu biểu của Việt Nam trong tương lai Tỉnh Vĩnh Phúc là một trọng điểm trong các trọng điểm kinh tế Bắc
Bộ và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới sự phát triển cua thủ đô Hà Nội góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp và thương mại Tỉnh Vĩnh Phúc là trọng điểm hạt nhân trong hành lang công nghiệp nối Trung Quốc với miền Bắc Việt Nam đóng vai trò thúc đẩy công nghiệp nông thôn hàng hoá phát triển hơn nữa, tỉnh Vĩnh Phúc hướng tới liên kết các đô thị lân cận, hình thành hệ thống đô thị lấy trung tâm là Phúc Yên, Vĩnh Yên, hình thành cấu trúc đô thị tập trung liên kết đa cực thông qua con đường huyết mạch "đường Xuyên Á"
Việc quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch đô thị theo hướng mở đã tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài và bền vững của tỉnh Vì vậy, công tác giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ được đặc biệt quan tâm Trong thời gian qua, Vĩnh Phúc đã giải phóng mặt bằng được hơn 4.000 ha đất để giao cho gần 700 dự án không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước Hàng năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở ban ngành, thành phố, thị xã, huyện, xã, phường xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm túc thực hiện quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND tỉnh, việc lập phương án bồi thường giải phóng mặt bằng được thực hiện theo đúng trình tự, đúng chế độ chính sách Trong đó quan tâm xem xét đến quyền lợi chính đáng của các hộ dân có đất bị thu hồi, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nên việc bàn giao mặt bằng diễn ra nhanh, đúng tiến độ cho các dự án
Tuy nhiên, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn cũng còn những tồn tại: Việc các nhà thầu thi công chậm, dẫn đến tình trạng nhiều hộ dân có đất bị thu hồi đã tái lấn chiếm, ngăn cản thi công, gây áp lực để đòi thêm tiền đền
bù Điển hình, tại xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên có 323 hộ dân có đất bị thu hồi phục vụ cho dự án đường xuyên Á (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Quảng Ninh) là công trình trọng điểm quốc gia, đoạn đi qua Vĩnh Phúc; 100% số hộ dân đã nhận tiền đền bù, nhưng đến tháng 5 năm 2011, hàng trăm người kéo ra khu vực thi công
để ngăn cản, trồng cây trên mặt đường đang thi công, ảnh hưởng đến quá trình thu
Trang 35hút đầu tư của địa phương Nhiều dự án đã được triển khai từ nhiều năm nay, những vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn chưa được giải quyết triệt để như: Cụm kinh tế xã hội Tân Tiến ở huyện Vĩnh Tường; Khu công nghiệp Bá Hiến ở huyện Bình Xuyên, Khu đô thị Hùng Vương - Tiền Châu Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do các chính sách về bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, chuyển đổi nghề, tái định cư, đất dịch vụ chưa đồng
bộ, chưa có chính sách ổn định, bền vững đối với người bị thu hồi đất tạo nên tâm
lý bất an khi thu hồi đất trong nhân dân
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tỉnh Vĩnh Phúc đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ nông dân trong
Nghị quyết số 20/2008/NQ-HĐND ngày 25/7/2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp tục hoàn thiện chính sách giao đất dịch vụ cho người có đất bị thu hồi bằng cách ban hành các văn bản để hướng dẫn các địa phương thực hiện như: quyết định
số 2502/2004/QĐ-UB ngày 22/7/2004, quyết định số 25/2006/QĐ-UBND ngày 04/4/2006, quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 04/02/2008, quyết định số 14/2009/QĐ-UB ngày 26/02/2009, quyết định số 60/209/QĐ-UBND ngày 11/11/2009, quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 23/3/2013 Có thể nói đây là chính sách đầu tiên trong cả nước, được vận dụng linh hoạt để hỗ trợ cho người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi với mức hỗ trợ là 12m2/ 1 sào Bắc
Bộ bị thu hồi; đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp; chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp nông thôn và nông thôn đảm bảo an ninh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế xã hội địa phương
Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản
lý của chính quyền các cấp Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, từng bước làm chuyển biến nhận thức của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai làm cho người sử dụng đất cũng như người quản lý đất đai thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình quản lý và sử dụng đất theo đúng pháp luật
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ dân chịu ảnh hưởng của việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án:
- Dự án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà, thị xã Phúc Yên
- Dự án hồ chứa nước Lập Đinh tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên
Các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khái quát 2 dự án và tập trung điều tra, khảo sát, đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường về đất ở, hỗ trợ, tái định cư của dự án tại thị xã Phúc Yên:
+ Dự án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà:
- Tổng diện tích đất thu hồi: 326.000,0m2
- Tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất: 293 hộ
+ Dự án hồ chứa nước Lập Đinh:
- Tổng diện tích đất thu hồi: 649.400,0m2
- Tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất: 126 hộ
2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6 năm 2012 đến hết tháng 7 năm 2013 Địa điểm: Trên địa bàn phường Xuân Hoà và xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên
+ Tình hình về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên + Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án: Dự
án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà; Dự án hồ chứa nước Lập Đinh trên
Trang 372.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Nghiên cứu Luật Đất đai, các văn bản chính sách có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Chính phủ, UBND tỉnh Vĩnh Phúc
- Thu thập các tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài từ các cơ quan gồm Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban giải phóng mặt bằng thị Phúc Yên, UBND xã Ngọc Thanh, UBND phường Xuân Hoà, Chủ đầu tư 2 dự án phục vụ cho mục đích đánh giá của đề tài nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý Nhà nước
về đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên
- Điều tra tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở 2 dự án: Dự án hồ chứa nước Lập Đinh và dự án xây dựng khu
đô thị mới phường Xuân Hoà
- Điều tra giá đất: điều tra giá đất thị trường tại thời điểm thực hiện 2 dự án thông qua thông tin của cơ quan quản lý đất đai, trên mạng Internet và trực tiếp phỏng vấn người dân để có số liệu so sánh với giá đất áp dụng để lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giá đất theo khung giá do UBND tỉnh Vĩnh Phúc quy định
- Điều tra về các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình trong diện được bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất bằng các câu hỏi để thu thập các thông tin về giá đất, về giá bồi
Trang 38thường đất và tài sản trên đất
Về tiêu chí chọn các hộ điều tra: điều tra 150 hộ trên tổng số 419 hộ có đất thu hồi của 2 dự án Việc lựa chọn các hộ bao gồm: hộ có điều kiện kinh tế khá giả, trung bình và khó khăn Những người dân được điều tra bao gồm cả nam và nữ ở các lứa tuổi khác nhau Về việc làm bao gồm cả các hộ thuần nông và các hộ có nghề nghiệp khác, công chức, viên chức, buôn bán dịch vụ
2.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia
Tham khảo ý kiến của Lãnh đạo UBND thị xã Phúc Yên, phòng Tài nguyên
và Môi trường, Ban giải phóng mặt bằng, địa chính phường Xuân Hòa, địa chính xã Ngọc Thanh, lãnh đạo và cán bộ tham gia thực thi nhiệm vụ của 2 dự án hồ chứa nước Lập Đinh và khu đô thị mới phường Xuân Hòa
2.4.4 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu sẵn có
- Tham khảo các tài liệu về đánh giá kết quả công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Tham khảo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.4.5 Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh và xử lý số liệu
- Tổng hợp, thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về giá đất bồi thường, nhà và tài sản trên đất, số liệu về hỗ trợ và nhà tái định cư phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phân tích, so sánh và đánh giá tổng hợp để đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án và đề xuất các giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi đất cả trong hiện tại và tương lai
- Xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phần mềm chuyên dụng Exels
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.1.1 Về điều kiện tự nhiên [23]
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông của tỉnh Vĩnh Phúc, có tổng diện tích tự nhiên 12.013,05 ha; chiếm 9,72% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thị xã có vị trí địa lý từ 1050
22’ đến 105041’ độ vĩ Bắc, từ 21022’ đến 21035’ độ kinh Đông và có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;
- Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội;
- Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên
Trang 40Thị xã có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 phường (Xuân Hòa, Đồng Xuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng) và 4 xã (Cao Minh, Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh); thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng, là một trong những đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao, là trung tâm kinh tế công nghiệp - dịch vụ quan trọng của tỉnh và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và quốc gia Trong xu thế phát triển hiện nay, thì vị trí của thị xã có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập:
- Về giao thông: Với vị trí gần như cửa ngõ phía Đông Bắc của vùng và của
tỉnh nên thị xã Phúc Yên có điều kiện thuận lợi thông thương với các địa phương trong và ngoài tỉnh nhờ các trục giao thông quan trọng như: đường sắt Hà Nội - Lào Cai, đường bộ (quốc lộ 2, quốc lộ 23 ) và đặc biệt là thị xã nằm cách không xa với sân bay quốc tế Nội Bài (8 km), cách thành phố Hà Nội 30 km
- Về mở rộng thị trường: Với vị trí giao thông thuận lợi như trên, thị xã Phúc
Yên đã trở thành một trong những mắt xích quan trọng của tỉnh Vĩnh Phúc, có thị trường rộng lớn để cung cấp và tiêu thụ hàng hoá do có hệ thống giao thông thuận tiện tới cảng Hải Phòng thông qua đường quốc lộ 5, cảng Cái Lân - Quảng Ninh (thông qua quốc lộ 18) Kết hợp với hệ thống đường bộ đi các tỉnh Phú Thọ, Hà Giang; đường sắt đi các tỉnh phía Bắc trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai và tuyến đường xuyên Á (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Quảng Ninh) do đó thị trường không chỉ mở rộng đến các tỉnh trong nước mà còn mở rộng thị trường với Trung Quốc và các nước ASEAN
- Về liên kết vùng trong nước: Thị xã Phúc Yên có lợi thế về địa lý tiếp giáp
với Hà Nội và là đô thị vệ tinh của Hà Nội, trong những năm qua trên địa bàn thị xã
đã hình thành các khu công nghiệp trong hệ thống vành đai công nghiệp các tỉnh phía Bắc, là nơi có khu du lịch nghỉ dưỡng mang tầm quốc gia (hồ Đại Lải) và là nơi đào tạo nguồn nhân lực không chỉ cho các tỉnh phía Bắc mà cho cả nước Vì vậy
sự phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và thị xã Phúc Yên nói riêng gắn liền với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt đối với Hà Nội trong