1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”

88 712 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong quá trình giải phóngmặt bằng vẫn còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, một số hộ gia đình, cá nhân bị mấtđất chưa thoả mãn với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thườn

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 4

1.1.3 Cơ sở pháp lý 10

1.2 Một số khái niệm liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 14

1.3 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 16

1.3.1 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới 16 1.3.2 Tình hình về thu hồi đất ở Việt Nam 22

1.3.3 Tình hinh về công tác thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc 24

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28

2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 28

2.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia 29

2.4.4 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu sẵn có 29

2.4.5 Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh và xử lý số liệu 29

Trang 2

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc30 3.1.1 Về điều kiện tự nhiên [23] 30

3.1.2 Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội [22, 24] 33

3.2 Tình hình về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên 38

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 38

3.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai [21] 39

3.3 Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án nghiên cứu 42

3.3.1 Khái quát chung về 2 dự án nghiên cứu 42

3.3.2 Đánh giá quy trình giải phóng mặt bằng tại 2 dự án 45

3.3.3 Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư .48

3.3.4 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án 55

3.3.5 Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến thực hiện 2 dự án 63

3.4 Kết quả điều tra, phỏng vấn chi tiết các hộ dân về tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tại 2 dự án 65

3.4.1 Tình hình sử dụng quỹ đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất của 2 dự án và số tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 65

3.4.2 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 66

3.4.3 Tình hình thu nhập của các hộ dân sau khi thu hồi đất 67

3.4.4 Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất của các hộ dân được phỏng vấn, điều tra 69

3.4.5 Đánh giá về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 70

3.4.6 Đánh giá về cảnh quan và môi trường tại 2 dự án thực hiện 71

3.5 Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn thị xã Phúc Yên nói chung 72

Trang 3

3.5.1 Những thuận lợi, khó khăn tại 2 dự án nghiên cứu 72

3.5.2 Đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn thị xã Phúc Yên nói chung 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

I Kết luận 78

II Kiến nghị 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số của các xã, phường trên địa bàn thị

xã Phúc Yên (tính đến ngày 31/12/ 2012) 35

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Phúc Yên 38

Bảng 3.3: Thống kê diện tích đất thu hồi của 2 dự án 42

Bảng 3.4: Diện tích các loại đất đai của khu đô thị mới phường Xuân Hoà 43

Bảng 3.5: Đối tượng và điều kiện bồi thường, hỗ trợ (dự án 1) 48

Bảng 3.6: Đối tượng và điều kiện bồi thường, hỗ trợ (dự án 2) 49

Bảng 3.7: Bảng tổng hợp các hộ được cấp đất dịch vụ, tái định cư của 2 dự án .54

Bảng 3.8: Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 1 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt 56

Bảng 3.9: Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 2 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt 59

Bảng 3.10: Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp trước và sau thu hồi đất và tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân 65

Bảng 3.11: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân 66

Bảng 3.12: Thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 68

Bảng 3.13: Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất 70

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, làthành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,xây dựng các công trình kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, là nơi duy trì

sự sống của con người, mọi sinh vật và sự tồn tại của mỗi dân tộc Đất đai có nhữngđặc điểm riêng khác biệt với những tư liệu sản xuất khác, nó giới hạn về số lượng,

vị trí cố định trong không gian và một đặc trưng cơ bản khác nữa là nó gắn liền vớitình cảm, lối sống và phong tục tập quán của con người Từ những đặc điểm đó màngày nay đất đai trở nên có giá trị và dần dần trở thành một loại hàng hoá đặc biệt;

là nguồn vốn, nguồn nội lực để thu hút đầu tư phát triển

Những năm gần đây quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra hết sứcmạnh mẽ đặc biệt là ở các khu đô thị có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi,theo đó đất đai và các cơ sở hạ tầng phục vụ cho “cơn lốc” công nghiệp hoá, đô thịhoá ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu được Để đưa đất đai thực sựtrở thành nguồn vốn, nguồn thu hút các đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyểnmục đích sử dụng đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung, khu

du lịch sinh thái nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển kinh tế là cần thiết

Thị xã Phúc Yên là trung tâm kinh tế công nghiệp-du lịch-dịch vụ quan trọngcủa tỉnh Vĩnh Phúc và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và quốc gia:gần sân bay quốc tế Nội Bài, có đường cao tốc Nội Bài–Lào Cai chạy qua, là thịtrường rộng lớn để giao lưu hàng hoá Trong xu thế phát triển hiện nay, vị trí của thị

xã Phúc Yên có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập Với

vị trí thuận lợi như trên đã tạo cho thị xã Phúc Yên những điều kiện lý tưởng để thuhút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá

Từ năm 1996 đến nay thị xã Phúc Yên đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn để có được quỹ đất triển khai các

Trang 6

dự án trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống nhân dân và tình hình kinh

tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực

Chính sách bồi thường của Nhà nước, việc thực thi chính sách pháp luật củađịa phương chưa thực sự thoả đáng cũng là nguyên nhân gây nên những bất hợp lý;nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người kéo dài tạo ra những điểm nóng

về chính trị, xã hội Đòi hỏi Nhà nước cần phải đưa ra một chính sách hợp lý; mộtchính sách hợp lý phải đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư

và người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng phải có tác dụng ngăn chặn nhữngngười có tư tưởng cơ hội lợi dụng nhu cầu bức thiết của Nhà nước để đưa ra nhữngđòi hỏi bất hợp lý Trong nhiều năm qua, Nhà nước không ngừng xây dựng và hoànthiện ban hành, triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư cho người có đất bị thu hồi như: Nghị định số 197/NĐ-CP ngày03/12/2004, Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007, Nghị định số 69/NĐ-CP ngày13/8/2009 Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứngđược những đòi hỏi của thực tế Công tác thu hồi đất đã có nhiều tiến bộ hơn, đápứng được yêu cầu của Nhà nước và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, khắcphục được nhiều tồn tại, vướng mắc trước đây Tuy nhiên trong quá trình giải phóngmặt bằng vẫn còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, một số hộ gia đình, cá nhân bị mấtđất chưa thoả mãn với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thường thiệt hạinhư hiện nay; công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho người có đất

bị thu hồi vẫn là những vấn đề nóng, gây nên sự chú ý của xã hội

Để góp phần tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cưkhi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân có đất bị thu hồi trong quá trình triển khai các dự án thực tế đang đặt ranhiều vấn đề phải nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khíacạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách quan thực trạngcông tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nắm rõ bản chất của các vấn đề bất cập Từ

đó có thể đưa ra các giải pháp đúng và toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đặt ra

Trang 7

Chính vì tầm quan trọng của vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhànước thu hồi đất và cũng là một vấn đề có tính “thời sự” Vì vậy, việc thực hiện đề

tài: “Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là cần

thiết trong thời điểm hiện nay

2 Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu

*/ Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra được những giảipháp, góp phần thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất của các dự án khác trên địa bàn thi xã Phúc Yên đúng pháp luật, nhanhchóng và hiệu quả nhất

*/ Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá kết quả việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường XuânHoà, dự án hồ chứa nước Lập Đinh

- Đánh giá được các tác động của việc thu hồi đất đến người dân có đất bị thuhồi để thực hiện các dự án

- Thấy được ý kiến của người dân về chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ,tái định cư và những kiến nghị của họ khi Nhà nước thu hồi đất

- Chỉ ra được những khó khăn, tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư tại 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường Xuân Hoà, dự án hồ chứa nướcLập Đinh và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồithường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

*/ Yêu cầu

- Nguồn tài liệu, số liệu điều tra, thu thập phải phản ánh đúng tình hình thực

tế tại địa phương; phải được phân tích, đánh giá một cách khách quan

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết những tồn tại,khó khăn trong quá trình thực hiện và nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn

- Các giải pháp và kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực tế, đảm bảo tôntrọng và đúng pháp luật hiện hành

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận

Quá trình giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng cáccông trình công cộng, an ninh quốc phòng, các dự án phát triển kinh tế mang tính đadạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trựctiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội

- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất của

mỗi địa phương khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau.Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sảntrên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cưphức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngmại, buôn bán nhỏ; Khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư làsản xuất nông nghiệp Do đó khi bồi thường giải phóng mặt bằng được tiến hànhvới những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực vàtừng dự án cụ thể

- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong

đời sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cưchủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sảnxuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổinghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ đất để sản xuất, thậm chí họcho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê.Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyêntruyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc

hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này [8]

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển củanền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi

Trang 9

các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phùhợp với tình hình thực tế

Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993, Chính phủ đã hai lầntrình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998, năm

2001 và ban hành Luật đất đai 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợpvới yêu cầu thực tế trong quá trình triển khai Với những đổi mới về pháp luật đấtđai, thời gian qua công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã đạt được những kết quảđáng khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng sạch để giao đất cho các

dự án đầu tư Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của phápluật đất đai qua các thời kỳ cho nên công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhànước thu hồi đất đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấyviệc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớnđến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất [9]

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai,việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểmtra thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2005 cho thấy,nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ởđịa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế, trong khi đó việc tuyêntruyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưađến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản lý đất đai cùng với việc ápdụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính

là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dâncũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ giải phóng mặt bằng

+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điềukiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thậttốt nguồn tài nguyên đất không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước

mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Quy

Trang 10

hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trìnhphát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụngđất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm dolịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra.

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổchức việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực sự trở thành

sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương ánbồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nào đều dựa trên một quyhoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án cóhiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạocung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêuchính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhànước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đấtđai trên hai khía cạnh:

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất

để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quyđịnh của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyếtđịnh thu hồi đất đó của người đang sử dụng;

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tớigiá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

Tuy nhiên chất lượng phương án quy hoạch và công tác thực hiện quy hoạchcòn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp đặc biệt là thiếu tính bềnvững Phương án quy hoạch cho tương lai, dự báo chưa sát tình hình thực tế tại từngđịa phương, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt, nhiều trường hợp quyhoạch theo phong trào, theo nhiệm kỳ của người lãnh đạo Đây chính là nguyênnhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch "treo", dự án "treo"

+ Yếu tố giao đất, cho thuê đất

Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi

Trang 11

thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nguyên tắc giao đất, cho thuêđất phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đây là điều kiện bắt buộcnhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao

và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếuchặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

+ Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính

Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính là cơ sở xác định tính pháp

lý của đất đai Trước khi Luật Đất đai năm 2003 ban hành, rất nhiều địa phươngchưa lập đầy đủ hồ sơ địa chính theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấnchưa lập sổ địa chính Để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địaphương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Từ năm 2007 đến nay, việc lập hồ sơ địa chính phải được thực hiện theo quyđịnh tại Thông tư 29/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính Tuy nhiên vẫncòn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy đủ,chưa đồng bộ ở cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Vì các tài liệu đo đạc bản đồnày có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lýđất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồithường khi Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy đểthay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại hồ sơ địa chính là rất cần thiết

+ Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng kýquyền sở hữu, quyền sử dụng Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người sửdụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cụthể là: Chủ sử dụng đất là tổ chức đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụngđất cấp tỉnh; Chủ sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân đăng ký tại Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất cấp huyện) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sửdụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụthể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết

Trang 12

các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác giải phóng mặtbằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồithường, hỗ trợ, tái định cư theo từng loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiệnnay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biếnđộng về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tấttheo Chỉ thị 1474/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Chính vì vậy mà công tác giảiphóng mặt bằng đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khiNhà nước thu hồi đất sẽ thuận lợi, tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn.

+ Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai

Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là mộtviệc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi

vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính, chính quyền địa phương cấp trên Hộiđồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thườngxuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cưkhi Nhà nước thu hồi đất, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử

lý tạo niềm tin trong nhân dân

+ Yếu tố giá đất và định giá đất

Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác giải phóng mặt bằnghiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy địnhhoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định củapháp luật đất đai hiện hành năm 2003 thì giá đất được hình thành trong các trườnghợp sau đây quy định tại Điều 55:

- Giá đất do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định vàđược công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm;

- Giá đất hình thành do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sửdụng đất Đây là trường hợp phản ánh chính xác giá trị thực của đất, khắc phục việcđầu cơ đất đai để kiếm lời và các tiêu cực trong hoạt động giao đất, cho thuê đất

Trang 13

- Giá đất do người sử dụng đất thỏa thuận về giá với những người có liênquan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụngđất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có nhữnghiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tínhtoán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng thamgia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sựước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể

đã được xác định tại một thời điểm xác định Khi định giá đất người định giá phảicăn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụngphương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủyếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện,

đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập

Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệkinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của LuậtĐất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điềukiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địaphương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiềutrường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm trathi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2005 cho thấy trong17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp làkhiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng (chiếm 70,64%) Trong các trườnghợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng thì có tới 70% là khiếu nại về giáđất nông nghiệp, giá đất ở bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tếtrên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất

ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi [1]

Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường giải phóng mặt bằng khôngđược làm tốt sẽ làm cho công tác giải phóng mặt bằng ách tắc, dẫn tới không có mặtbằng đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư

Trang 14

Thông qua Luật Đất đai năm 1993 người sử dụng đất đã được làm chủ vềruộng đất, có các quyền và nghĩa vụ được xác lập cụ thể, đất đai được vận độngtheo cơ chế thị trường, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn trở thànhđộng lực to lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển đô thị và thu hút đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1998, ngày29/6/2001 đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đượcNhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho

Trang 15

thuê đất, nhận quyền sử dụng đất của người khác Quy định cụ thể hơn về bồithường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất Việc bồi thường, hỗ trợđược thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn địnhđời sống cho người có đất bị thu hồi [13, 14].

Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chinh phủ quy định cụ thểcác chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợppháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy địnhkhi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi íchquốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diệncao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thuhồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất Tuy nhiên,trong quá trình triển khai thực tế cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thựchiện giải phóng mặt bằng, người bị ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt lànhững người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác Tìnhtrạng thất nghiệp trẻ em phải bỏ học đối với những gia đình bị thu hồi đất khá phổbiến ở hầu hết các địa phương, từ đó nảy sinh vấn đề khiếu nại về bồi thường thiệthại khi Nhà nước thu hồi đất Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nướcquy định để bồi thường thiệt hại về đất khác xa với giá thực tế Với giá trị được bồithường người có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không

có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu.Như vậy dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng côngtác bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trởnên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơchế, năng lực thể chế trong công tác này [7]

Sau khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ đã ban hànhcác văn bản pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.Trong giai đoạn hiện nay, nhiều văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnban hành đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp đến chính sách bồithường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có nhiều quy định,chế định đã và đang đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế, thể hiện sự quan tâm của Đảng

Trang 16

và Nhà nước đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai đối với quyền, lợi ích hợppháp của người sử dụng đất cũng như lợi ích của Nhà nước sau thời kỳ đổi mới:

Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồithường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nghị định này quy định vềthẩm quyền lập khu tái định cư và điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, vềnguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư và về nguồn vốn đầu

tư xây dựng khu tái định cư [9]

Về phạm vi điều chỉnh:

Nghị định này quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-

CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),nếu việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quyđịnh tại Nghị định này thì trước khi ký Điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản dự ánđầu tư phát triển báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập cóquy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại Điềuước quốc tế đó

Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này: Cộng đồngdân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồngbằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ

Như vậy nếu như các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồithường đất bị thu hồi và tài sản đất đó thì Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêmmột số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cưcho các hộ phải di chuyển

Về tổ chức thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệmcủa Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt phương

án bồi thường, chỉ đạo thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cấp huyện trong

Trang 17

việc lập phương án bồi thường thiệt hại, xác định bồi thường, trợ cấp cho từng tổchức, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức bồi thường theo phương án được duyệt.

Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ tài chính hướng dẫnthực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP Thông tư này hướng dẫn cụ thể và cóthêm một số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản; chính sách hỗ trợ, táiđịnh cư và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồiđất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP [2]

- Hướng dẫn cách xác định cho phí đầu tư vào đất còn lại được quy định tạikhoản 3 Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP

- Phân loại cụ thể đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nướcthu hồi đất Việc phân loại cụ thể này để xác định mức bồi thường, hỗ trợ hợp lý, sátthực với từng loại đất và giải quyết trường hợp chênh lệch giữa giá đất mới đượcgiao và giá đất bị thu hồi

- Về bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi: Thông tư xác định, hướng dẫn

cụ thể việc phân chia từng loại cây trồng lâu năm (cây lâu năm thu hoạch một lần,cây lâu năm thu hoạch nhiều lần, cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý) và xác địnhgiá trị hiện có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường Quy định thêm về bồithường đối với cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp do Nhànước giao mà khi giao là đất trống, đồi núi trọc

Thông tư số 69/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 02/8/2006 về sửa đổi

bổ sung cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC cụ thể là sửa đổi, bổ sung một số điềukhoản: điểm 3 mục 3 phần I về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; điểm 3.1mục 3 phần II về giá đất để tính bồi thường, chi phí đầu tư vào đất còn lại; mục 2phần IV về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; mục 3 và mục 4 phầnVII về mức chi cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án

Ngày 25/5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quyđịnh bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiệnquyền sử dụng đất, trình tự và thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định bổ sung mới về lập phương

Trang 18

án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm có phương án tổng thể và phương án chitiết, quy định cụ thể thẩm quyền, thời hạn giải quyết từng khâu kê khai, kiểm kê vàxác định nguồn gốc đất đai được tiến hành trước khi lập phương án bồi thườngnhằm xác định giá bồi thường và chính sách hỗ trợ một cách khách quan [10]

Thông tư 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên

và Môi trường ngày 31/01/2008 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định84/2007/NĐ-CP: hướng dẫn về hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân

cư, đất vườn, đất ao xen kẽ với đất ở trong khu dân cư; hướng dẫn kinh phí chuẩn bị

hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi bao gồm kinh phí do Nhà đầu tư trả sẽ đượcquyết toán vào nguồn vốn đầu tư của dự án, kinh phí do Nhà nước trả sẽ được quyếttoán vào nguồn kinh phí hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc cơ quan Tàinguyên và Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất [5]

Nghị định 84/2007/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định197/2004/NĐ-CP Tuy nghiên, để tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắctrong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, ngày 13/8/2009 Chính phủ đã banhành Nghị định số 69/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tụcthu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định số 69/2009/ NĐ-CP là đảm bảo quyền

và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hoà 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhàđầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật [11]

1.2 Một số khái niệm liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

*/ Thu hồi đất

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đấthoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quyđịnh của Luật [15]

*/ Bồi thường

Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra Đền bù là trả lại tương xứng

Trang 19

với giá trị hoặc công lao động.

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sửdụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [15]

Như vậy, "Bồi thường" có nghĩa là trả lại tương xứng với giá trị hoặc cônglao động cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác

Nguyên tắc của việc bồi thường là:

+ Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất có đủ điều kiện được bồithường thì được bồi thường;

+ Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì đượcbồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất đểbồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tạithời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mớihoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thìphần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định:

- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiềnmua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch

- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiềnmua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch vào ngân sáchNhà nước

*/ Hỗ trợ

Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất làviệc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việclàm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [15]

*/ Tái định cư

Tái định cư là việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác với nơi ở trước đây.Tái định cư còn được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; dichuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập,

cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹcác tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sựphát triển chung

Trang 20

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thìngười sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở

- Bồi thường bằng giao đất ở mới

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở

Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọngtrong chính sách giải phóng mặt bằng Các dự án tái định cư cũng được coi là các

dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác

1.3 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Nhật Bản

Về thu hồi đất: Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951

quy định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọngyếu được pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên theo luật quy hoạch

đô thị, đê điều, hồ chứa nước theo luật sông ngòi, cảng biển theo luật cảng biển…

Trình tự trưng dụng như sau:

1/ Xin phép trưng dụng;

2/ Đăng ký đất đai và công trình trong diện trưng dụng;

3/ Bên trưng dụng và bên bị trưng dụng thương lượng thoả thuận;

Việc bồi thường thực hiện bằng tiền Mức bồi thường tính toán tại thời điểmcông bố trưng dụng, có điều chỉnh cho phù hợp với biến động giá trước lúc ra quyếtđịnh trưng dụng

Trang 21

Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất:

Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài tăngtrưởng trong nông nghiệp Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút nhiều laođộng trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn

đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm.Sau khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút laođộng vẫn được coi trọng Ngoài ra Nhật Bản còn phân bố các ngành công nghiệp, cácnhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn

Chính phủ Nhật bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nướcvới mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanhnghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những sự lựachọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi thường nhữngcông nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực,nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng,phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mớihoặc đang phát triển

Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏnhững bất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người laođộng cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuêmướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đạihoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách vềđào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng vàthuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thứcnhư làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theokhu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sangcác khu vực lân cận và các địa phương

Trong những năm 1960, 1970 các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tinhọc và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ranhững thị trường mới ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các

Trang 22

dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và côngnghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng Chínhphủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường laođộng ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bảnthân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mìnhthông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải ủng hộ điều này mộtcách tích cực.

1.3.1.2 Trung Quốc

Về thu hồi đất: Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về chế

độ sở hữu và các hình thức sử dụng đất đai Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độcông hữu: chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể Hiến pháp lần sửa đổimới nhất năm 2005 quy định: "Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thểcăn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường" Cácnhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể dophải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng đối với đấtthuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vàomục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổchức tái định cư cho người bị thu hồi đất Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thuhồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:

Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, ngườinào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường

do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụngđất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài

ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống chongười bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghềmới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha

Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiềntrợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồithường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất

Trang 23

đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối vớitiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thờiđiểm thu hồi đất.

Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ đượchưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khu thu hồi đất Khi Nhà nướcthu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn để sử dụngvào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi ích cũng nhưđược bồi thường một cách hợp lý Một vấn đề rất quan trọng đó là gắn công tác bồithường với việc giải quyết các vấn đề xã hội Thông thường khi bị thu hồi đất,người nông dân khó tìm được việc làm thích hợp với khả năng của mình Để giảiquyết vấn đề này, Trung Quốc đã thực hiện chế độ dưỡng lão đối với người già

(phụ nữ từ 45 tuổi và nam giới từ 50 tuổi trở lên) và hỗ trợ tiền cho những người

đang trong độ tuổi lao động để các đối tượng này tự tìm việc làm mới Tiền dưỡnglão được trả từ 90.000 - 110.000 nhân dân tệ/một lần cho Cục Bảo hiểm xã hội vàCục Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm trả tiền dưỡng lão hàng năm cho những ngườithuộc diện này; tiền hỗ trợ khoảng 100.000 - 120.000 nhân dân tệ/người

Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất:

Trong thời kỳ đầu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa, tốc độ đô thị hoá của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tíchđất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hoá, trong khidân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng.Trong những năm 1990, Trung Quốc có khoảng từ 100 - 120 triệu lao động nôngthôn thiếu việc làm, hàng năm con số này lại tăng thêm từ 6 - 7 triệu người

Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệungười nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này cũng gây rất nhiều khó khăncho công tác quản lý đô thị về các mặt như quản lý dân cư, lao động việc làm, anninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và rất nhiều các vấn đề xã hội khác

Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hoá, Trung Quốc đãtập trung thực hiện một số biện pháp sau:

- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động:

Trang 24

Công cuộc cải cách và mở cửa của nền kinh tế thị trường ở nông thôn TrungQuốc được tiến hành từ cuối những năm 1970 Các chính sách khuyến khích pháttriển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và mở cửa của TrungQuốc diễn ra sâu rộng hơn.

Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượnglao động dư thừa ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá Trong những năm đầu đã

có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địaphương Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới 50% Đây là dấu hiệu cấtcánh của CNH - HĐH nông thôn Trung Quốc mà ưu tiên hàng đầu là tạo ra cơ hộiviệc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hoá

Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất nhiều

cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn Ở Trung Quốc

đã xuất hiện hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn đó là mô hình doanh nghiệptập thể ở thành phố Văn Châu Mô hình doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quantrọng trong việc phát triển công nghiệp ở nông thôn, nhưng còn thiếu sự tích luỹvốn ban đầu Mô hình doanh nghiệp tập thể được hình thành trong thời kỳ đầu củacông nghiệp hoá

- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào cácthành phố:

Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000

đô thị nhỏ Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao độngnông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa Tuynhiên, khả năng thu hút lao động dư thừa hiện nay của mỗi đô thị nhỏ ở Trung Quốcchỉ là 1.600 người Nếu số đô thị nhỏ được tăng lên gấp đôi thì sẽ thu hút được thêm

30 triệu lao động

Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp địaphương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nôngthôn Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị vànông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trongquá trình đô thị hoá Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một mô hình phát triển đôthị mới Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị giữa các thành phố có quy

Trang 25

mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh

Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đềunhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để thựchiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC của TrungQuốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp ứng đầy đủcác yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện tái định cư” [25]

1.3.1.3 Thái Lan

Ở Thái Lan cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực Châu Á, quátrình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thịtrường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bùđược tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân, định giá đền bù

Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mangtính chiến lược quốc gia thì Nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường.Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bùvới mức cao hơn giá thị trường

Hiến pháp Thái Lan năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mụcđích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước,phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo giá thịtrường cho những người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về tất cả các thiệthại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho ngườichủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các quy định này, cácngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình

Năm 1987 Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng áp dụng cho việc trưngdụng đất sử dụng vào các mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, pháttriển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nôngnghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy địnhnhững nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tàisản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tựtiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị bồi thường, các bướclập và phê duyệt dự án bồi thường, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán

Trang 26

bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, quyền khiếu nại, quyềnkhởi kiện đưa ra toà án Ví dụ: trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan

là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sáchriêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốthơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhucầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gianhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cầnthu hồi đất trong nhiều dự án [26]

1.3.2 Tình hình về thu hồi đất ở Việt Nam

Nhìn chung công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở nước ta tương đốichặt chẽ, tuân thủ theo đúng pháp luật tạo điều kiện cho đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, phát triển công nghiệp được nhân dân đồng tình, ủng hộ

Trên cơ sở hướng dẫn chung của Chính phủ và các Bộ, Ban ngành (thôngqua các văn bản dưới luật) các địa phương đã ban hành văn bản hướng dẫn bồithường, giải phóng mặt bằng, khung giá các loại đất áp dụng cho địa phương mình.Bên cạnh đó ở một số địa phương vẫn còn những tồn tại cần khắc phục như banhành các văn bản dưới luật chậm, giá đất chênh lệch lớn đặc biệt là công tác tuyêntruyền, vận động về bồi thường, giải phóng mặt bằng đến người dân còn hạn chế

1.3.2.1 Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Theo số liệu điều tra của Bộ NN&PTNT trong 5 năm, từ năm 2001- 2005,tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổngdiện tích đất nông nghiệp của cả nước) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thuhồi để xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17nghìn ha

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồilớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương

có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752 ha), BìnhDương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha) Tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi

Trang 27

đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cưchiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất,chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam bộ

1.3.2.2 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệptrong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tớiviệc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ bịảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng

108 nghìn hộ, số hộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ cótrên 138.291 hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiềuchính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗtrợ giải quyết việc làm đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư… Tuy nhiên trênthực tế, có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thuhồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việclàm nhưng không ổn định

Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất, số laođộng bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người Thực trạng này dẫn đến53% số hộ dân bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số

hộ có thu nhập cao hơn trước [1]

Liên quan đến vấn đề đào tạo nghề và nâng cao khả năng của lao động ÔngNguyễn Thế Dũng - Đại diện Ngân hàng Thế giới cho rằng: Sở dĩ hiện nay tỷ lệ laođộng địa phương được chọn tuyển vào các khu công nghiệp còn thấp là do nhiều địa

Trang 28

phương mất định hướng trong đào tạo nghề Địa phương không xác định được sẽ pháttriển ngành nghề gì, do đó công tác đào tạo nghề không bắt kịp nhu cầu thực tế.

1.3.3 Tình hinh về công tác thu hồi đất ở tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc có sức tăng trưởng kinh tế nổi bật, nền công nghiệp phát triển ổnđịnh đem lại hiệu quả kinh tế cao đặc biệt là trong mấy năm gần đây Với 3 mụctiêu hình thành một đô thị có nội lực, tiềm lực và sự liên kết cạnh tranh cao, xâydựng một thành phố xanh, sạch, đẹp, hiện đại, xây dựng một thành phố an toàn, tiệnnghi, một không gian sống chất lượng cao định hướng tầm nhìn 2050 tỉnh VĩnhPhúc là "nơi tất cả những người sống, làm việc, tới thăm đều cảm thấy hạnh phúc"nhằm đưa tỉnh trở thành một đô thị thịnh vượng bền vững tiêu biểu của Việt Namtrong tương lai Tỉnh Vĩnh Phúc là một trọng điểm trong các trọng điểm kinh tế Bắc

Bộ và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới sự phát triển cua thủ đô Hà Nội góp phầnthúc đẩy các ngành công nghiệp và thương mại Tỉnh Vĩnh Phúc là trọng điểm hạtnhân trong hành lang công nghiệp nối Trung Quốc với miền Bắc Việt Nam đóng vaitrò thúc đẩy công nghiệp nông thôn hàng hoá phát triển hơn nữa, tỉnh Vĩnh Phúchướng tới liên kết các đô thị lân cận, hình thành hệ thống đô thị lấy trung tâm làPhúc Yên, Vĩnh Yên, hình thành cấu trúc đô thị tập trung liên kết đa cực thông quacon đường huyết mạch "đường Xuyên Á"

Việc quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch đô thị theo hướng mở đãtạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài và bền vững của tỉnh Vì vậy, công tác giảiphóng mặt bằng là nhiệm vụ được đặc biệt quan tâm Trong thời gian qua, VĩnhPhúc đã giải phóng mặt bằng được hơn 4.000 ha đất để giao cho gần 700 dự ánkhông sử dụng vốn ngân sách Nhà nước Hàng năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sởban ngành, thành phố, thị xã, huyện, xã, phường xây dựng kế hoạch triển khai thựchiện Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm túc thựchiện quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND tỉnh, việc lập phương án bồi thườnggiải phóng mặt bằng được thực hiện theo đúng trình tự, đúng chế độ chính sách.Trong đó quan tâm xem xét đến quyền lợi chính đáng của các hộ dân có đất bị thuhồi, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nên việc bàn giao mặt bằng diễn ranhanh, đúng tiến độ cho các dự án

Trang 29

Tuy nhiên, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn cũng cònnhững tồn tại: Việc các nhà thầu thi công chậm, dẫn đến tình trạng nhiều hộ dân cóđất bị thu hồi đã tái lấn chiếm, ngăn cản thi công, gây áp lực để đòi thêm tiền đền

bù Điển hình, tại xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên có 323 hộ dân có đất bị thu hồiphục vụ cho dự án đường xuyên Á (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Quảng Ninh) làcông trình trọng điểm quốc gia, đoạn đi qua Vĩnh Phúc; 100% số hộ dân đã nhậntiền đền bù, nhưng đến tháng 5 năm 2011, hàng trăm người kéo ra khu vực thi công

để ngăn cản, trồng cây trên mặt đường đang thi công, ảnh hưởng đến quá trình thuhút đầu tư của địa phương Nhiều dự án đã được triển khai từ nhiều năm nay, nhữngvướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn chưa được giảiquyết triệt để như: Cụm kinh tế xã hội Tân Tiến ở huyện Vĩnh Tường; Khu côngnghiệp Bá Hiến ở huện Bình Xuyên, Khu đô thị Hùng Vương - Tiền Châu Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do các chính sách về bồi thường, giảiphóng mặt bằng, thu hồi đất, chuyển đổi nghề, tái định cư, đất dịch vụ chưa đồng

bộ, chưa có chính sách ổn định, bền vững đối với người bị thu hồi đất tạo nên tâm

lý bất an khi thu hồi đất trong nhân dân

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ,tái định cư tỉnh Vĩnh Phúc đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ nông dân trongviệc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp quỹ 1 là 108kg thóc/1 sào (360m2)/1 năm theoNghị quyết số 20/2008/NQ-HĐND ngày 25/7/2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh;tiếp tục hoàn thiện chính sách giao đất dịch vụ cho người có đất bị thu hồi bằngcách ban hành các văn bản để hướng dẫn các địa phương thực hiện như: quyết định

số 2502/2004/QĐ-UB ngày 22/7/2004, quyết định số 25/2006/QĐ-UBND ngày04/4/2006, quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 04/02/2008, quyết định số14/2009/QĐ-UB ngày 26/02/2009, quyết định số 60/209/QĐ-UBND ngày11/11/2009, quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 23/3/2013 Có thể nói đây làchính sách đầu tiên trong cả nước, được vận dụng linh hoạt để hỗ trợ cho người sửdụng đất là hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi với mức hỗ trợ là 12m2/ 1 sào Bắc

Bộ bị thu hồi; đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp; chính sách đào tạo bồi dưỡng

Trang 30

cán bộ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp nông thôn và nôngthôn đảm bảo an ninh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản

lý của chính quyền các cấp Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luậttrên các phương tiện thông tin đại chúng, từng bước làm chuyển biến nhận thức củacộng đồng trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai làm cho người sử dụng đất cũngnhư người quản lý đất đai thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trongquá trình quản lý và sử dụng đất theo đúng pháp luật

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ dân chịu ảnh hưởng của việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ,tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án:

- Dự án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà, thị xã Phúc Yên

- Dự án hồ chứa nước Lập Đinh tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên

Các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trênđịa bàn nghiên cứu

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khái quát 2 dự án và tập trung điều tra, khảo sát, đánh giáviệc thực hiện chính sách bồi thường về đất ở, hỗ trợ, tái định cư của dự án tại thị xãPhúc Yên:

+ Dự án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà:

- Tổng diện tích đất thu hồi: 326.000,0m2

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất: 293 hộ

+ Dự án hồ chứa nước Lập Đinh:

- Tổng diện tích đất thu hồi: 649.400,0m2

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất: 126 hộ

2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6 năm 2012 đến hết tháng 7 năm 2013.Địa điểm: Trên địa bàn phường Xuân Hoà và xã Ngọc Thanh, thị xã PhúcYên, tỉnh Vĩnh Phúc; Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

2.3 Nội dung nghiên cứu

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên

+ Tình hình về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên.+ Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án: Dự

án xây dựng khu đô thị mới phường Xuân Hoà; Dự án hồ chứa nước Lập Đinh trên

Trang 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Nghiên cứu Luật Đất đai, các văn bản chính sách có liên quan đến việc bồithường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Chính phủ, UBND tỉnhVĩnh Phúc

- Thu thập các tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài từ các cơ quangồm Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòngTài nguyên và Môi trường, Ban giải phóng mặt bằng thị Phúc Yên, UBND xã NgọcThanh, UBND phường Xuân Hoà, Chủ đầu tư 2 dự án phục vụ cho mục đích đánhgiá của đề tài nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý Nhà nước

về đất đai trên địa bàn thị xã Phúc Yên

- Điều tra tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhànước thu hồi đất ở 2 dự án: Dự án hồ chứa nước Lập Đinh và dự án xây dựng khu

đô thị mới phường Xuân Hoà

- Điều tra giá đất: điều tra giá đất thị trường tại thời điểm thực hiện 2 dự ánthông qua thông tin của cơ quan quản lý đất đai, trên mạng Internet và trực tiếpphỏng vấn người dân để có số liệu so sánh với giá đất áp dụng để lập phương án bồithường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giá đất theo khung giá doUBND tỉnh Vĩnh Phúc quy định

- Điều tra về các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư bằng cách phỏngvấn trực tiếp các hộ gia đình trong diện được bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sảngắn liền với đất bằng các câu hỏi để thu thập các thông tin về giá đất, về giá bồithường đất và tài sản trên đất

Trang 33

Về tiêu chí chọn các hộ điều tra: điều tra 150 hộ trên tổng số 419 hộ có đấtthu hồi của 2 dự án Việc lựa chọn các hộ bao gồm: hộ có điều kiện kinh tế khá giả,trung bình và khó khăn Những người dân được điều tra bao gồm cả nam và nữ ởcác lứa tuổi khác nhau Về việc làm bao gồm cả các hộ thuần nông và các hộ cónghề nghiệp khác, công chức, viên chức, buôn bán dịch vụ

2.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia

Tham khảo ý kiến của Lãnh đạo UBND thị xã Phúc Yên, phòng Tài nguyên

và Môi trường, Ban giải phóng mặt bằng, địa chính phường Xuân Hòa, địa chính xãNgọc Thanh, lãnh đạo và cán bộ tham gia thực thi nhiệm vụ của 2 dự án hồ chứanước Lập Đinh và khu đô thị mới phường Xuân Hòa

2.4.4 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu sẵn có

- Tham khảo các tài liệu về đánh giá kết quả công tác bồi thường hỗ trợ, táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Tham khảo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hộinăm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

2.4.5 Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh và xử lý số liệu

- Tổng hợp, thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về giá đất bồi thường,nhà và tài sản trên đất, số liệu về hỗ trợ và nhà tái định cư phục vụ cho mục đíchnghiên cứu

- Phân tích, so sánh và đánh giá tổng hợp để đánh giá thực trạng công tác thuhồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án và đề xuất các giải pháp có tínhkhoa học và phù hợp với thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện việc thực hiện chínhsách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nâng cao đời sống của người dân có đất bịthu hồi đất cả trong hiện tại và tương lai

- Xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phần mềm chuyên dụng Exels

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

3.1.1 Về điều kiện tự nhiên [23]

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông của tỉnh Vĩnh Phúc, có tổng diện tích tựnhiên 12.013,05 ha; chiếm 9,72% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thị xã có vị tríđịa lý từ 105022’ đến 105041’ độ vĩ Bắc, từ 21022’ đến 21035’ độ kinh Đông và cóđịa giới hành chính tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;

- Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội;

- Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 35

Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên

Thị xã có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 phường (Xuân Hòa, ĐồngXuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng) và 4 xã (Cao Minh, NamViêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh); thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùngđồng bằng sông Hồng, là một trong những đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, là trungtâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao, là trung tâm kinh tế công nghiệp - dịch vụquan trọng của tỉnh và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và quốc gia.Trong xu thế phát triển hiện nay, thì vị trí của thị xã có nhiều tiềm năng, lợi thế pháttriển kinh tế - xã hội và hội nhập:

- Về giao thông: Với vị trí gần như cửa ngõ phía Đông Bắc của vùng và của

tỉnh nên thị xã Phúc Yên có điều kiện thuận lợi thông thương với các địa phươngtrong và ngoài tỉnh nhờ các trục giao thông quan trọng như: đường sắt Hà Nội - LàoCai, đường bộ (quốc lộ 2, quốc lộ 23 ) và đặc biệt là thị xã nằm cách không xa vớisân bay quốc tế Nội Bài (8 km), cách thành phố Hà Nội 30 km

- Về mở rộng thị trường: Với vị trí giao thông thuận lợi như trên, thị xã Phúc

Yên đã trở thành một trong những mắt xích quan trọng của tỉnh Vĩnh Phúc, có thịtrường rộng lớn để cung cấp và tiêu thụ hàng hoá do có hệ thống giao thông thuậntiện tới cảng Hải Phòng thông qua đường quốc lộ 5, cảng Cái Lân - Quảng Ninh(thông qua quốc lộ 18) Kết hợp với hệ thống đường bộ đi các tỉnh Phú Thọ, HàGiang; đường sắt đi các tỉnh phía Bắc trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai vàtuyến đường xuyên Á (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội – Quảng Ninh) do đó thịtrường không chỉ mở rộng đến các tỉnh trong nước mà còn mở rộng thị trường vớiTrung Quốc và các nước ASEAN

- Về liên kết vùng trong nước: Thị xã Phúc Yên có lợi thế về địa lý tiếp giáp

với Hà Nội và là đô thị vệ tinh của Hà Nội, trong những năm qua trên địa bàn thị xã

đã hình thành các khu công nghiệp trong hệ thống vành đai công nghiệp các tỉnhphía Bắc, là nơi có khu du lịch nghỉ dưỡng mang tầm quốc gia (hồ Đại Lải) và lànơi đào tạo nguồn nhân lực không chỉ cho các tỉnh phía Bắc mà cho cả nước Vì vậy

sự phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và thị xã Phúc Yên nói riêng gắn liềnvới sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt đối với Hà Nội trong

Trang 36

mối quan hệ về phát triển công nghiệp (gần các khu công nghiệp của Hà Nội), tốc

độ đô thị hóa, sức ép về lao động, giải quyết việc làm, đất đai và những mối quan hệ

về du lịch, dịch vụ, các vấn đề về xã hội

Như vậy, vị trí địa lý của thị xã Phúc Yên không chỉ tạo điều kiện thuận lợicho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, tiếp cận nhanh với cáctiến bộ khoa học kỹ thuật và giao lưu dễ dàng với các địa phương khác mà còn là mắtxích có vai trò rất quan trọng của tỉnh Vĩnh Phúc và đối với cả vùng Bắc Bộ

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Thị xã Phúc Yên thuộc vùng trung du, tiếp giáp núi cao của tỉnh Vĩnh Phúc, địahình thấp dần từ Bắc xuống Nam và mang tính đa dạng, được chia làm 2 vùng chính:

- Vùng đồi núi bán sơn địa: Gồm có các xã Ngọc Thanh, Cao Minh và

phường Xuân Hòa, Đồng Xuân với diện tích khoảng 9.300 ha (chiếm 77,50% diệntích tự nhiên)

- Vùng đồng bằng: Vùng này gồm các xã Nam Viêm, Tiền Châu và các

phường Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc, Trưng Nhị, với diện tích khoảng2.700 ha (chiếm 22,50% diện tích tự nhiên)

3.1.1.4 Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của thị xã Phúc Yên chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ nướccủa hệ thống sông Cà Lồ, hồ Đại Lải, sông Bá Hanh Chỉ tính riêng khu vực thị xãthì việc điều tiết nước cho sản xuất và sinh hoạt luôn đảm bảo trong cả 2 mùa: MùaĐông và mùa Hè

- Ngoài ra trên địa bàn thị xã còn có các đầm như đầm Rượu và các hồ nhỏ cótác dụng cung cấp nước và điều hòa môi trường sinh thái trong khu vực

Trang 37

3.1.2 Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội [22, 24]

Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả tỉnh, thị xã Phúc Yên đã cónhững bước phát triển đáng kể về kinh tế, chính trị, xã hội theo báo cáo phát triểnkinh tế xã hội năm 2012 của thị xã Phúc Yên cho thấy:

*/ Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Năm 2012 tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản ước đạt

119 tỷ đồng, đạt 94.4% kế hoạch và giảm 1,41% so với năm 2011, trên địa bàn thị

xã có 28 hợp tác xã (tăng 02 HTX so với cuối năm 2011), trong đó có 06 hợp tác xãnông, lâm nghiệp, thuỷ sản (chiếm 22%) và 22 hợp tác xã phi nông nghiệp (chiếm78%) Các HTX vẫn duy trì ổn định, một số HTX hoạt động sản xuất kinh doanh cóhiệu quả cao

*/ Sản xuất Công nghiệp - Xây dựng

+ Về công nghiệp:

Năm 2012 Sản xuất công nghiệp cơ bản vẫn duy trì tốc độ phát triển ở tất cảcác ngành và khu vực nhà nước và ngoài nhà nước (trừ 2 Công ty Toyota và HondaViệt Nam sản xuất, tiêu thụ giảm mạnh so với năm 2011) Do sự suy giảm về kinh tế,nhu cầu tiêu dùng xã hội giảm, mặt khác một số chính sách thuế, phí thay đổi… nênkéo theo giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm;

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp đạt 36.445 tỷ đồng, bằng 83% kế hoạch,giảm 4,5% so với năm 2011 Trong đó: Công nghiệp trong nước đạt 1.176 tỷ đồng,tăng 0,8%; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 35.269 tỷ đồng, giảm 4,9% sovới năm 2011

+ Về xây dựng:

Năm 2012, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thị xã ước đạt 1.500 tỷđồng Riêng tổng nguồn xây dựng cơ bản năm 2012 từ ngân sách Nhà nước đượcphân bổ cho Thị xã Phúc Yên 260 tỷ đồng, chủ yếu cho các công trình trọng điểm,công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, công trình xây dựng nông thôn mới, giải phóngmặt bằng các trường học Trong đó: thực hiện quyết toán được 17 công trình, tổnggiá trị công trình 48.023.357.740 đồng, tổng giá trị giảm trừ 1.563.802 đồng, 14

Trang 38

công trình đang thẩm định và 40 công trình đang kiểm toán độc lập.

Ước giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2012 đạt 252 tỷ đồng, bằng 85%

kế hoạch, giảm 4,1% so với năm 2011

*/ Hoạt động các ngành dịch vụ

Năm 2012, hầu hết các ngành dịch vụ có sự tăng trưởng cao về giá trị sảnxuất so với năm 2011 như: dịch vụ kinh doanh khách sạn, nhà hàng, thông tin liênlạc, y tế và dịch vụ cứu trợ xã hội chỉ riêng hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tíndụng, thuế xuất nhập khẩu hàng hoá giảm

+ Thương mại, giá cả:

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2012 ước đạt 3.116 tỷđồng, đạt 116,4% kế hoạch và tăng 28% so năm 2011 Giá cả hàng hoá trên thịtrường có biến động tăng, bình quân 10 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng tăng12,91% so cùng kỳ năm 2011

+ Dịch vụ vận tải:

Hoạt động kinh doanh vận tải tuy gặp nhiều khó khăn do chi phí xăng dầu,lương, chi phí bảo hiểm liên tục tăng cao Tổng cộng chi phí đầu vào của vận tảităng trên 20% Tuy nhiên, hệ thống giao thông công cộng (xe buýt), các hãng taxi,các doanh nghiệp vận tải hoạt động khá hiệu quả đáp ứng nhu cầu vận chuyển chosản xuất kinh doanh và nhu cầu đi lại của nhân dân Năm 2012 doanh thu vận tải

ước đạt 286 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2011

+ Kinh doanh du lịch:

Doanh thu du lịch năm 2012 ước đạt 390 tỷ đồng, bằng 90% kế hoạch vàbằng 100% so với năm 2011 Số lượt khách đến Phúc Yên ước đạt 190 ngàn lượtkhách tăng 5,57% so với năm 2011

+ Các dịch vụ bưu chính, viễn thông:

Cơ bản đáp ứng được yêu cầu về dịch vụ viễn thông, Internet, các nhà cungcấp dịch vụ viễn thông trên địa bàn tăng cường đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến,hiện đại, nâng cao chất lượng phục vụ Năm 2012 ước phát triển mới 1.900 thuêbao Internet, tăng 108% so với năm 2011, nâng tổng thuê bao đạt 1.000 thuê baobằng 50% kế hoạch và bằng 103% so với cùng kỳ

Trang 39

+ Dịch vụ tín dụng, ngân hàng:

Do tác động của cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tếtrong nước cũng như trên thế giới có nhiều biến động, kinh tế còn gặp nhiều khókhăn Lĩnh vực cho vay cần ưu tiên như cho vay nông nghiệp, nông thôn một sốkhách hàng vay chưa đủ điều kiện để ngân hàng xem xét cho vay, cầu tín dụng ở mứcthấp, phương án sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả hoặc không đủtài sản bảo đảm, tình hình tài chính không minh bạch, nợ xấu phát sinh, khả năng trả nợgốc và lãi của các doanh nghiệp và hộ dân suy giảm, đã hạn chế khả năng hấp thụ vốnnên tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012 đạt thấp (tăng 3,1% so với cuối năm 2011)

Nợ xấu có xu hướng gia tăng, ước năm 2012 tỷ lệ nợ xấu chiếm 5,6% tổng dư nợ

*/ Dân số và nguồn lực lao động

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2012 của thị xã Phúc Yên, tổng dân sốcủa thị xã là 99.954 người tăng 10.614 người so với năm 2009 Mật độ dân số đạt

832 người/km2; là thị xã có dân số trẻ nên số người trong độ tuổi lao động có60.038/99.954 người chiếm tỷ lệ 60,07% tạo ra cho thị xã có nguồn nhân lực dồidào đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, được thể hiện bảng 3.1

Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số của các xã, phường

trên địa bàn thị xã Phúc Yên (tính đến ngày 31/12/ 2012)

STT Đơn vị hành chính Diện tích

(Km 2 )

Dân số (Người)

Trong độ tuổi LĐ

Mật độ dân số (Người/1km 2 )

(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê thị xã Phúc Yên năm 2012)

*/ Văn hoá, giáo dục, y tế

+ Về văn hoá:

Trang 40

Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá được tăngcường, xây dựng thiết chế văn hoá cơ sở theo tinh thần Nghị quyết 08 của HĐNDtỉnh đã có tiến bộ, năm 2012 toàn thị xã đã xây mới và tận dụng được 91/114 nhàvăn hoá thôn, làng, tổ dân phố đạt 80%, có 9/10 nhà văn hoá xã, phường đạt 90%(tăng 11 nhà văn hoá so với năm 2007 đạt chỉ tiêu đề ra song có 1 số xã vượt điểnhình là xã Ngọc Thanh và 1 số xã lại thiếu không đạt như xã Nam Viêm, xã CaoMinh, phường Phúc Thắng).

+ Về giáo dục:

Hệ thống, mạng lưới trường lớp từ mầm non đến phổ thông cơ bản đáp ứng nhucầu học tập ngày càng cao và có chất lượng Cơ sở vật chất và trang thiết bị học tậptiếp tục được quan tâm đầu tư Tính đến cuối năm học 2011 - 2012, tỷ lệ kiên cốhóa bậc học mầm non đạt 78%, bậc tiểu học đạt 93%, bậc THCS đạt 98%, bậcTHPT đạt 100% và Giáo dục thường xuyên là 100% Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốcgia: Mầm non đạt 84,6%; Tiểu học đạt 60% trong đó có 1 trường đạt chuẩn mức độ

2 chiếm tỷ lệ 6,7%; Trung học cơ sở 45,5% Được Bộ Giáo dục và Đào tạo côngnhận đạt chuẩn phổ cập mẫu giáo 5 tuổi (tháng 8/2012)

+ Về y tế:

Năm 2012 các biện pháp phòng, chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, kiênquyết không để dịch bệnh lớn xảy ra Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân tiếptục được quan tâm, đặc biệt là với đối tượng người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đốitượng chính sách xã hội, người có công Tỷ lệ cán bộ y tế đạt 16,9 bác sỹ/vạn dân Chấtlượng các dịch vụ y tế được cải thiện; một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao được triển khai

*/ Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường + Những lợi thế chủ yếu:

- Thị xã Phúc Yên có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội

vì nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đặc biệt là liền kề với thủ đô Hà Nộinên có những thuận lợi cơ bản để thu hút đầu tư từ bên ngoài cũng như thuận lợitrong phát triển kết cấu hạ tầng Thủ đô Hà Nội đã được mở rộng, sẽ phát triểnmạnh về phía Bắc (hình thành khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu công nghiệpThăng Long, Sóc Sơn ) Vì vậy thị xã Phúc Yên có điều kiện phát triển các ngànhsản xuất bổ trợ, các loại hình dịch vụ cho thủ đô Mặt khác là một trong những đầumối giao thông quan trọng nên có điều kiện thuận tiện giao thương với các tỉnhđồng bằng sông Hồng và mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài

Ngày đăng: 09/08/2014, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005): Báo cáo kiểm tra thi hành Luật Đất đai Khác
2. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 về hướng dẫn thi hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP Khác
3. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư 116/2004/TT-BTC Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 về hướng dẫn Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Khác
5. Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Thông tư số 14/2008/TTLB- BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Khác
7. Chính phủ (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/2008 về đền bù, thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Khác
8. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 Khác
9. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009: Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư Khác
16. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2005), Quyết định số 302/2005/QĐ-UB ngày 27/01/2005 ban hành quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
18. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2009), Quyết định số 60/2009/QĐ-UBND ngày 11/11/2009 ban hành quy định giải quyết đất dịch vụ Khác
19. UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Quyết định số 18/2011/QĐ-UB ngày 20/4/2011 ban hành quy định về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Khác
20. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 ban hành quy định hỗ trợ đất dịch vụ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh có đất nông nghiệp bị thu hồi từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2015 Khác
21. UBND thị xã Phúc Yên, Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Khác
22. UBND thị xã Phúc Yên (2012): Báo cáo kết quả kinh tế xã hội năm 2012 của thị xã Phúc Yên Khác
23. UBND thị xã Phúc Yên, Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai thị xã Phúc Yên đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) Khác
25. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, NXB thống kê, Hà Nội Khác
26. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004, NXB thống kê, Hà Nội Khác
1. Gia đình ông (bà) được xếp vào đối tượng nào:Được bồi thường: Được hỗ trợ : Được TĐC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên (Trang 33)
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Phúc Yên - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Phúc Yên (Trang 41)
Bảng 3.3:  Thống kê diện tích đất thu hồi của 2 dự án - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.3 Thống kê diện tích đất thu hồi của 2 dự án (Trang 45)
Bảng 3.4: Diện tích các loại đất đai của khu đô thị mới phường Xuân Hoà - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.4 Diện tích các loại đất đai của khu đô thị mới phường Xuân Hoà (Trang 45)
Hình 3.2: Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Hình 3.2 Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (Trang 48)
Bảng 3.8:  Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 1 theo  phương án bồi thường đã được phê duyệt - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.8 Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 1 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt (Trang 58)
Bảng 3.9:  Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 2 theo  phương án bồi thường đã được phê duyệt - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.9 Thống kê diện tích, kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án 2 theo phương án bồi thường đã được phê duyệt (Trang 61)
Bảng 3.10: Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp trước và sau  thu hồi đất và tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.10 Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp trước và sau thu hồi đất và tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân (Trang 67)
Bảng 3.11: Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân STT Phương thức sử dụng - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.11 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân STT Phương thức sử dụng (Trang 68)
Bảng 3.12: Thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất - đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc”
Bảng 3.12 Thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w