1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN

70 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 151,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội hiện nay vụ án mạng mà thủ phạm lại là những người mắc bệnh tâm thần vẫn xảy ra với xu hướng ngày càng gia tăng. Gần đây ở huyện Lăk đã xảy ra liên tiếp nhiều vụ tự tử như: Bệnh nhân, RLTT Y Hen Du, Y Hà Dak Cat xã Bông Krang, Y Tang Ndu, Y Nganh Ndu ở Krông Knô hết sức thương tâm và còn nhiều vụ khác liên tiếp xẩy ra. Những cái chết hết sức bất ngờ, phi lý của người thân, gia đình, vợ con, hàng xóm, như bệnh nhân RLTT Y Sung Dak Căt Buôn Phi Dih Ja B, 4 anh em ruột (Y Wo, Y Ze, Y Krong và Y Săr) chém diệt lẫn nhau dã man khiến một người anh (Y Săr R’je) tử thương tại chổ ở Buôn Dơng Blang xã Krông Knô, đã và đang gây hoang mang cho cộng đồng xã hội, khiến cho các nhà chức trách, nhà chuyên môn phải đau lòng trăn trở... Vậy nguyên do từ đâu và chúng ta cần làm gì để ngăn chặn những vụ án chết người có liên quan đến bệnh tâm thần

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong xã hội hiện nay vụ án mạng mà thủ phạm lại là những người mắc bệnh tâmthần vẫn xảy ra với xu hướng ngày càng gia tăng Gần đây ở huyện Lăk đã xảy ra liên tiếpnhiều vụ tự tử như: Bệnh nhân, RLTT Y Hen Du, Y Hà Dak Cat xã Bông Krang, Y TangNdu, Y Nganh Ndu ở Krông Knô hết sức thương tâm và còn nhiều vụ khác liên tiếp xẩy ra.Những cái chết hết sức bất ngờ, phi lý của người thân, gia đình, vợ con, hàng xóm, nhưbệnh nhân RLTT Y Sung Dak Căt Buôn Phi Dih Ja B, 4 anh em ruột (Y Wo, Y Ze, YKrong và Y Săr) chém diệt lẫn nhau dã man khiến một người anh (Y Săr R’je) tử thương tạichổ ở Buôn Dơng Blang xã Krông Knô, đã và đang gây hoang mang cho cộng đồng xã hội,khiến cho các nhà chức trách, nhà chuyên môn phải đau lòng trăn trở Vậy nguyên do từđâu và chúng ta cần làm gì để ngăn chặn những vụ án chết người có liên quan đến bệnh tâmthần

Người tâm thần phạm tội không phải là một vấn đề mới, mà nó đã tồn tại trong xãhội từ rất lâu Xã hội càng phát triển, càng kéo theo những căn bệnh có nguyên nhân từ áplực công việc, cuộc sống, xã hội Bệnh tâm thần vì thế mà cũng có nhiều thể thức khácnhau

Mặc dù đã tồn tại trên thực tế như một trong những loại bệnh oái oăm, gây khổ sở chokhông chỉ người bệnh, mà còn làm cho người nhà họ cũng khốn đốn, song không dễ dàng gìđiều trị dứt điểm hẳn căn bệnh này Như tôi theo dõi thì thời gian gần đây số lượng các vụ

án cũng như tính chất của tội phạm do những người mắc bệnh tâm thần thực hiện là hết sứcbáo động, có ảnh hưởng rất lớn tới an ninh trật tự và an toàn xã hội Vấn đề này báo chícũng đã phản ánh nhiều để góp phần có biện pháp ngăn chặn phòng ngừa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002), tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm khoảng 0,48 - 0,69% dân số và mỗi năm cứ 10 000 người dân từ 12 đến 60 tuổi thì có một người mắc tâm thần phân liệt [7], [32] Tại Việt Nam theo Trần Viết Nghị và cs tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm khoảng 0,3 - 1% dân số [9].

Một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng đó là nhận thức của đại đa sốngười dân về căn bệnh tâm thần còn rất mơ hồ, thiếu kiến thức Đa số người bệnh tâm thần

Trang 2

chỉ biểu lộ suy nghĩ hành vi bất thường khi có cơn hoang tưởng ảo giác, kích động hoặctrầm cảm chi phối Còn phần lớn, những người mắc bệnh tâm thần vẫn có tư duy, sinh hoạtnói năng tương đối bình thường cho nên rất khó nhận biết nếu không có kiến thức chuyênmôn và kinh nghiệm nghề nghiệp Thậm chí có nơi, có gia đình thoạt đầu thấy con em mìnhđôi khi có những hành vi và nhận thức sai lệch khác thường thì bán tín bán nghi cho là bị

ma ám thường đưa đi các đình chùa cầu khấn hoặc thuê thầy về cúng đuổi tà ma Chỉ đếnkhi người bệnh phát cơn và gây án trầm trọng lúc đó mới biết con em mình mắc bệnh Cònmột số gia đình đưa con em mình đi bệnh viện chuyên khoa điều trị song khi bệnh ổn địnhtrở về nhà đã không tự nguyện đưa người bệnh tham gia vào chương trình quản lý điều trịngười bệnh tâm thần tại cộng đồng để được các thầy thuốc tiếp tục quản lý, thăm khám theodõi và cấp phát thuốc điều trị định kỳ tại cơ sở y tế huyện, xã, phường mà thường là uốngthuốc thất thường hoặc tự ý bỏ thuốc không điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ, không chongười bệnh tái khám nên bệnh đã tái phát nhiều lần trở thành mạn tính và mỗi lần tái phátthì bệnh có xu hướng nặng lên, nguy cơ đe dọa gây nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng vàchính bản thân người bệnh là rất lớn

90% mắc chứng tâm thần phân liệt do trong các ngày lễ Tết, bệnh nhân dùng nhiềucác chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá hoặc trầm cảm, thức khuya.[Báo điện tử]

Việt Nam đã thiết lập được một hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần từ Trung ươngđến địa phương Việc quản lý điều trị người bệnh tâm thần tại cộng cồng được tổ chức vàđiều hành rất tốt trong vài thập kỷ gần đây Song, trên thực tế, số bệnh nhân được quản lýđiều trị chỉ mới có một phần và chủ yếu là chỉ quản lý những bệnh nhân mắc bệnh tâm thầnphân liệt Còn phần lớn người bệnh vẫn đang ở thể tự do ngoài xã hội

Để có thể ngăn chặn sự gia tăng của những vụ án chết người có liên quan đến bệnhtâm thần hiện nay cần tăng cường công tác truyền thông nâng cao hiểu biết của người dân

về căn bệnh tâm thần để mọi người trên cơ sở những kiến thức cơ bản hiểu rõ hơn, từ đóxóa đi những định kiến với người bệnh, có ý thức sẻ chia thông cảm và giúp đỡ người bệnhtrong quá trình điều trị cũng như trong lao động, học tập, tái hòa nhập cộng đồng

Bệnh tâm thần đang có xu hướng gia tăng trong cuộc sống hiện đại Chăm sóc sứckhỏe cho bệnh nhân tâm thần tốt sẽ giúp cho xã hội phát triển ổn định Chính vì vậy, điều trị

và chăm sóc những bệnh nhân này rất cần nhận được sự quan tâm, chia sẻ của gia đình,cộng đồng và xã hội

Trang 3

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đặt kế hoạch nghiên cứu đề tài “Thực trạng – giải pháp về quản lý, khám và điều trị bệnh nhân tâm thần tại huyện Lăk năm 2014”

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể :

Nghiên cứu một số yếu tố thúc đẩy hành vi phạm tội tự sát ở những bệnh nhân tâm thần

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIÁM ĐỊNH PHÁP Y TÂM THẦN

1.1.1 Khái niệm về bệnh tâm thần

Bệnh tâm thần là một thuật ngữ tổng quát ám chỉ một nhóm bệnh tật, cũng giống nhưcách nói bệnh tim thì ám chỉ một nhóm bệnh tật và rối loạn ảnh hưởng đến trái tim

Một căn bệnh tâm thần là một vấn đề về sức khỏe, ảnh hưởng đáng kể đến tâm trạngcách suy nghĩ, cư xử và giao tiếp của một ai đó với những người khác Bác sĩ chẩn bệnh tâmthần dựa vào những tiêu chí đã được chuẩn hóa Thuật ngữ rối loạn tâm thần cũng được sửdụng để ám chỉ những vấn đề về sức khỏe này

1.1.2 Khái niệm pháp y về bệnh tâm thần

Pháp y tâm thần (Forensic Psychiatry) là một lĩnh vực của tâm thần học Nhiệm vụ trọngtâm của pháp y tâm thần là đánh giá khả năng nhận thức, khả năng điều khiển biểu hiệnhành vi tự sát và điều trị bắt buộc những người phạm tội và tự sát có rối loạn tâm thần nặng[36]

1.1.3 Một số luận thuyết về tội phạm

+ Các luận thuyết về nhân chủng học

+ Các luận thuyết về bệnh lý tâm thần

+ Các luận thuyết về tâm lý và phân tâm

+ Các luận thuyết về xã hội học

1.1.4 Các hình thức giám định pháp y tâm thần

Bao gồm: giám định nội trú, giám định tại phòng khám, giám định tại chỗ, giám định tạihội đồng xét xử và giám định vắng mặt

1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH TÂM THẦN

1.2.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh tâm thần:

1.2.1 1 Rối loạn trầm cảm:

Rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân suy nhược thần kinh mãn tính sau nhiễm khuẩn như mắcbệnh lao, phong,… thường biểu hiện kín đáo, nhẹ nhàng, dễ bị che lấp bởi các trệu chứngcủa bệnh suy nhược thần kinh mãn tính và các bệnh nhiễm khuẩn khác không điển hình nhưtrong các bệnh trầm cảm nội sinh Theo Westaway NS., (1992) có 68% bị rối loạn trầm cảmvới mức độ khác nhau từ nhẹ cho đến nặng ở bệnh nhân lao phổi.Theo Nguyễn Văn Ngọc

Trang 5

(2003) trong suy nhược thần kinh mãn tính sau nhiễm khuẩn như mắc bệnh lao, phong, laothâm nhiễm… chiếm tỉ lệ 30% có rối loạn trầm cảm Biểu hiện thường gặp là sự mệt mỏi,người bệnh thường than phiền mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần, mệt mỏi cả khi nghỉngơivà tăng lên dù chỉ một cố gắng nhỏ Ngoài ra dấu hiệu thường thấy là giảm khí sắc,buồn phiền, lo lắng, thờ ơ, chậm chạp, dễ mũi lòng,mau nước mắt Nặng hơn là ý tưởng quáđáng và ý nghĩ tự hủy hoại,những ý tưởng nàyxuất phát từ thực trạng bệnh tật của ngườibệnh đặc biệt ở bệnh nhân suy nhược thần kinh mãn tính sau nhiễm khuẩn như mắc bệnhlao, phong, lao thâm nhiễm, lao xơ hang với đặc điểm bệnh kéo dài,hay tái phát,điều trịnhiều lần.

1.2.1 2 Rối loạn lo âu:

Lo âu được xem là một trong những biểu hiện chính của bệnh suy nhược thần kinhmãn tính sau nhiễm khuẩn như mắc bệnh lao, phong, lao thâm nhiễm, lao phổi Cũng theoNguyễn Văn Ngọc (2003) rối loạn lo âu ở nhóm lao thâm nhiễm chiếm 31,4% và lao xơhang chiếm 60,5%.Có sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa hai nhóm là do lao xơ hang với đặc điểmbệnh tiến triển kéo dài, BK trong đờm có dương tính mạnh,tổn thương xơ phổi rộng gây rốiloạn chức năng hô hấp và tuần hoàn hậu quả làm giảm oxy máu,hay có biến chứng ho ramáu nặng có thể dẫn đến tử vong Điều này tác động trực tiếp đến hoạt động của não gây rốiloạn về tâm lý hành vi và thần kinh tự trị.Hầu hết bệnh nhân có đặc điểm rối loạn lo âu caobằng thiếu nhạy bén,giảm năng lực học tập,giảm hoạt động và thích ứng của xã hội.Đặcđiểm Rối loạn lo âu xuất hiện sớm ngay từ khi bị bệnh.Rối loạn lo âu trở nên nặng nề hơnkhi bệnh diễn biến xấu do việc điều trị và dự phòng không tốt.Lo âu có thể không có chủ đềnào cụ thểNgười bệnh dễ lo lắng,không an tâm hồi hộp,thở gấp,khó chịu vùng thượngvị,chóng mặt, khô miệng.Sự lo lắng về bệnh tật thời gian điều trị kéo dài ảnh hưởng đếncuộc sống của bản thân và gia đình bệnh nhân,cho tương,lai của họ.Các rối loạn lo âu hoảng

sợ thường gặp khá phổ biến,có khi gặp ám ảnh sợ xã hội,sợ khoảng trống.Ngoài ra rối loạn

lo âu còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như phong tục tập quán thái độ của mọi ngườixung quanh của cộng đồng cũng như vấn đề kinh tế,giao tiếp

1.2.1 3 Rối loạn cảm giác tri giác:

Biểu hiện thường gặp là tăng cảm giác.Các rối loạn tri giác ở đây chủ yếu là ảogiác thô sơ,nội dung của các ảo giác này là những cảm giác khác thường như tiếng ù,tiếngđộng,tiếng rì rào…Thường mơ hồ lúc có lúc không xuất hiện lúc chuẩn bị đi ngủ hoặc lúcthức dậy.Các ảo giác thường thuyên giảm và hết dần khi bệnh lao ổn định

Trang 6

1.2.1 4 Rối loạn tư duy:

Chủ yếu gặp ở bệnh nhân có các ý tưởng quá đáng bao gồm các ý tưởng bấthạnh,chán sống,bị hại,đôi khi gặp hội chứng paranoid

1.2.1 5 Rối loạn trí nhớ,chú ý:

*Rối loạn trí nhơ:

Thường gặp thường là giảm nhớ.Chủ yếu là giảm trí nhớ gần.Người bệnh hay thanphiền hoặc bị người khác than phiền là đãng trí,hay quên.Có sự giảm trí nhớ ngắn hạn này

là trong trạng thái mệt mỏi,suy nhược,lo âu,mất ngủ,thiếu tập trung dẫn đến khả năng ghinhận kém,thiếu chú ý tích cực.Giãm trí nhớ thường gặp trong trạng thái hoảng sợ,xúc động

**Rối loạn chú ý:

Người bệnh không tập trung chú ý hoặc chỉ tập được trung trong khoảng thời gianngắn.Nngười bệnh khó duy trì việc đọc sách,xem báo lâu.Các yếu tố ngoại cảnh như tiếngđộng,tiếng cười…dễ làm bệnh nhân phân tán và phá vỡ sự tập trung chú ý của mình

1.2.1 6 Đặc điểm hội chứng suy nhược:

Thường xuất hiện ngay từ đầu,thậm chí nó còn kéo dài sau khi đã điều trị khỏilao.Biểu hiện chính là tình trạng mệt mỏi,kích thích suy nhược.Người bệnh ngại làm việc dù

là việc nhẹ nhàng,giảm khả năng làm việc,tình trạng dễ bị kích thích,tính tình thay đổi,khókiềm chế,dễ xúc động,luôn căng thẳng,khó thư giãn.Bệnh nhân có cảm giác hụt hơi,chân tay

rã rời,không muốn hoạt động,một tiếng cười to tiếng cũng có thể làm người bệnh khóchịu,giận dữ,bực tức.Đôi khi than đau đầu không tuân theo một qui luật nào về thời gian,vịtrí, về sự khu trú hay lan toả.Đôi khi cảm giác đau,choáng váng tăng lên về chiều tối

1.2.1 7 Rối loạn giấc ngủ:

Theo Aydin I.O (2001) có trên 75% rối loạn giấc ngủ đi kèm các triệu chứng mệtmỏi,giảm khả năng làm việc.Đặc điểm mất ngủ thường thấy người bệnh khó đi vào giấcngủ,ngủ không sâu,hay giật mình,có nhiều mộng mị hay thở dài,lo lắng về bệnh tật giấc ngủhay trằn trọc, không yên giấc.Sáng dậy mệt mỏi,ể oải,ngủ gà và cảm thấy toàn thân mệtmỏi,khó chịu làm bệnh nhân đã suy nhược lại càng suy nhược thêm điều này là do hậu quảcủa bệnh lao gây nên

1.2.1 8 Rối loạn hoạt động có ý chí:

Trang 7

Theo Nguyễn Văn Ngọc (2003) thường gặp ở lao xơ hang chiếm 60,5%, người bệnhcảm thấy mệt mỏi, ngại vận động, giao tiếp hạn chế do đặc điểm bệnh lao là bệnh truyềnnhiễm Bệnh nhân thường bị sốt,vho, khó thở, gầy sút…nên khi vận động thường quá sứcđối với họ Nhận định của một số tác giảcho rằng hầu hết bệnh nhân lao phổi đều suy giảm

rõ rệt về thể chất và tinh thần biểu hiện của sự suy giảm là hạn chế giao tiếp,giảm năng lựchọc tập và giãm hoạt động cũng như thích ứng với xã hội

1.2.1 9 Rối loạn hoạt động bản năng:

Biểu hiện của triệu chứng này đa số bệnh nhân phàn nàn cảm giác chán ăn,ăn khôngngon miệng.Bệnh lao do phải điều trị một thời gian dài người bệnh lâm vào tình cảnh mệtmõi,suy nhược,mất ngủ kéo dài làm rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể chán ăn tácđộng trở lại làm cho bệnh nhân càng suy nhược,giảm sức đề kháng nên sẽ ảnh hưởng khôngnhỏ đến kết quả điều trị bệnh lao

1.2.1 10 Rối loạn bản năng tình dục

Hầu hết bệnh nhân có biểu hiện thiếu hoặc giảm sự ham muốn tình dục.ở namthường gặp là bất lực

1.2.2 Những rối loạn tâm thần kỳ lạ trong y học hiện đại

Theo BS Valerie Taylor, một chuyên gia sức khỏe tâm thần Canada

Hội chứng Stendhal (bị sốc vì cái đẹp): Hội chứng Stendhal/Standhal là một dạng bệnh tâm

căn xảy ra khi một người tiếp xúc với quá nhiều tác phẩm nghệ thuật đẹp trong một khoảngthời gian ngắn

Hội chứng Stockholm (yêu kẻ bắt cóc mình): Jaycee Dugard bị bắt cóc năm 11 tuổi Khi

được giải cứu lúc 29 tuổi, cô đã nói với những người điều tra rằng kẻ bắt cóc cô, PhillipGarrido, là “một người rất tốt” và “là người cha tốt với những đứa con của cô”

Hội chứng Lima (kẻ bắt cóc trở nên gắn bó với nạn nhân): Trái người với hội chứng

Stockholm, trong trường hợp này kẻ bắt cóc lại trở nên thông cảm và gắn bó với nạn nhân

Triskaidekaphobia (sợ số 13): Triskaidekaphobia là hội chứng sợ số “13”, trong khi hội

chứng sợ thứ Sáu ngày 13 được gọi là paraskavedekatriaphobia hoặcfriggatriskaidekaphobia

Trang 8

Hội chứng “bàn tay lạ” (Alien Hand Syndrome) (bàn tay có cuộc sống riêng): Những người

bị hội chứng này không kiểm soát được “bàn tay lạ” của mình Bàn tay thậm chí có thể thựchiện được những động tác phức tạp như cởi khuy, cởi quần áo và sử dụng dụng cụ

Hội chứng “nói giọng nước ngoài” (Foreign Accent Syndrome): Đây là tình trạng hiếm gặp

xảy ra sau một chấn thương sọ não hoặc đột quỵ, khiến người bệnh nói tiếng mẹ đẻ như thể

họ là người nước ngoài

Hội chứng Diogenes (người già thờ ơ với bản thân): Hội chứng Diogenes, hay hội chứng

“nhếch nhác tuổi già”, là một rối loạn đặc trưng bởi tình trạng bỏ bê bản thân trầm trọng,nhà cửa bẩn thỉu, cô lập với xã hội, lãnh đạm với mọi người, ám ảnh tích trữ các vật dụng

bỏ đi và không còn biết xấu hổ

Kleptomania (ám ảnh lấy cắp): Kleptomania là căn bệnh đặc trưng bởi mong muốn không

thể cưỡng lại phải lấy trộm những đồ vật không mấy giá trị Món đồ có thể hoàn toàn khôngđáng giá gì như ghim kẹp hoặc cuộn giấy vệ sinh Một số người bị hội chứng kleptomaniathậm chí còn không ý thức được là mình đang có hành vi trộm cắp

Hội chứng Cotard (tin rằng mình là một xác sống): Hội chứng Cotard khiến người bệnh tin

rằng mình đang chết, không tồn tại, đang thối rữa, đã bị mất hết máu hoặc các cơ quan trong

cơ thể Mặc dù hiếm gặp, song một số người bệnh bị hoang tưởng là mình bất tử

Synesthesia (chữ cái có màu sắc, màu sắc có hương vị): Đây là sự hợp nhất về thần kinh

của các giác quan khiến người bệnh thấy các chữ cái có màu sắc, âm thanh có màu sắc, vàmàu sắc có hương vị Ví dụ từ “cốc” có vị giống như kem sô cô la

Hoang tưởng Capgras (nghĩ người thân là người lạ): Hoang tưởng Capgras là một rối loạn

hiếm gặp trong đó người bệnh tin rằng một người thân trong gia đình hoặc thậm chí vợ haychồng mình là kẻ mạo danh có vẻ ngoài giống hệt

Trang 9

Hoang tưởng Fregoli (tất cả mọi người đều giống nhau): Người bệnh tin rằng những người

xung quanh mình đang mang khuôn mặt của một người luôn thay đổi dáng vẻ hoặc đang cảitrang

Bigorexia (ám ảnh về cơ bắp): Người bị bệnh này luôn bị ám ảnh rằng mình không đủ “vạm

vỡ”

Arctic Hysteria: Chứng bệnh này phần lớn gặp ở chó và phụ nữ người Eskimo Các triệuchứng bao gồm la hét dữ dội và hành vi hoang dại không kiểm soát được, trầm cảm, mấtcảm giác với giá lạnh và nhiều triệu chứng khác

Reduplicative Paramnesia: Người bệnh tin rằng một chỗ hoặc một địa điểm nào đấy đã bị

sao chép, tồn tại đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí, hoặc vị trí đó đã bị “di chuyển” tới mộtnơi khác

Celebriphilia (cuồng thần tượng): Celebriphilia là ham muốn mạnh mẽ bất thường được có

quan hệ lãng mạn/tình dục với thần tượng

Bibliomania (ám ảnh sách): Người bệnh bị ám ảnh phải thu thập sách tới mức ảnh hưởng

tới các quan hệ xã hội và gia đình

Hội chứng Munchausen (muốn được quan tâm): Người bệnh làm giả hoặc cường điệu các

triệu chứng bệnh tật của mình hoặc của người đang được mình chăm sóc để mong nhậnđược sự quan tâm và thông cảm từ người khác

Androphobia (thù ghét đàn ông): Androphobia là tình trạng người bệnh thù ghét đàn ông

một cách thái quá

Trichotillomania (muốn nhổ tóc): Người bệnh bị thôi thúc phải nhổ lông tóc của mình.

Người bệnh có thể nhổ tóc, lông mi, lông ngực, lông mũi, lông mu, lông mày v.v…

Trang 10

Hội chứng “Đầu nổ tung” (Exploding Head Syndrome): Hội chứng này khiến người bệnh

đôi khi phải chịu tiếng ồn khủng khiếp phát ra từ ngay chính đầu mình, thường được mô tả

là âm thanh của tiếng nổ, tiếng gầm, tiếng súng, giọng nói to hoặc tiếng thét

Paedophilia (chứng ấu dâm): Paedophilia đặc trưng bởi chủ yếu hoặc hoàn toàn chỉ có ham

muốn tình dục với trẻ em chưa dậy thì

Hội chứng “Alice ở xứ thần tiên”: Người bệnh cho biết cảm giác của họ về thời gian, không

gian và hình ảnh cơ thể bị méo mó Ví dụ, với họ con chó có thể trông chỉ có kích thướcbằng con chuột nhắt

Apotemnophilia/Rối loạn cắt cụt chi: Bệnh nhân bị ám ảnh bởi ham muốn phải cắt cụt các

chi đang khỏe mạnh hoặc những bộ phận khác của cơ thể tới mức có thể tìm cách để tự làmviệc đó

Hybristophilia (yêu tội phạm): Đó là khi một người có ham muốn tình dục hoặc bị hấp dẫn

bởi kẻ có hành vi tội ác

Jumping Frenchmen of Maine: Chứng bệnh này gây ra phản xạ “máy giật” quá mức, tương

tự như phản xạ “giật mình” không kiểm soát được, nhưng cũng có thể bao gồm cử động độtngột ở tất cả các phần của cơ thể

1.2.2.1 Các cơn tâm thần và hội chứng tâm thần toàn thể

+ Hội chứng Lennox – Gastaut

+ Hội chứng tâm thần giật cơ - mất đứng

Trang 11

1.2.2.2 Các cơn tâm thần và hội chứng tâm thần cục bộ

* Các cơn tâm thần cục bộ đơn giản

+ Các cơn tâm thần cục bộ với triệu chứng vận động

+ Các cơn tâm thần cục bộ với triệu chứng giác quan

+ Các cơn với triệu chứng tiền đình

+ Các cơn tâm thần cục bộ với triệu chứng thần kinh thực vật

+ Các cơn tâm thần cục bộ với triệu chứng tâm thần

* Các cơn tâm thần cục bộ phức tạp

+ Động tác tự động

+ Các cơn tâm thần cục bộ với triệu chứng biến đổi ý thức

+ Tâm thần cục bộ lành tính (tâm thần kịch phát Rolando)

+ Hội chứng Kojewnikow

+ Các loại tâm thần thuỳ

1.3 GIÁM ĐỊNH PHÁP Y VỀ BỆNH NHÂN TÂM THẦN

1.3.1 Tỷ lệ phạm tội và tự sát của bệnh nhân tâm thần

Theo kết quả nghiên cứu của James Edward Gunn (2000) trong nhà tù của Anh và Xứ

Wales thấy tỷ lệ bị tâm thần là 0,7-0,8%, tỷ lệ này cao hơn ở trong dân số nói chung(0,45%) [65]

Ở Việt Nam , theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Cường và cộng sự (2001) cho thấy tỷ

lệ bệnh nhân tâm thần chiếm 12,25% tổng số các đối tượng giám định [9]

1.3.2 Đặc điểm, tính chất biểu hiện hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần

1.3.2.1 Đặc điểm rối loạn tâm thần khi phạm tội

Chính nhân cách bùng nổ, tính khiêu khích gây gổ là cốt lõi của khả năng phạm tội.Frenwick P (1986) nghiên cứu trên 270 bệnh nhân tâm thần thùy thái dương và 199 bệnhnhân tâm thần cục bộ phức tạp, thấy hầu hết các trường hợp phạm tội và tự sát xảy ra ngoàicơn và trong tình trạng rối loạn nhân cách [63]

1.3.2.2 Hình thức, tính chất hành vi phạm tội

Bệnh nhân tâm thần hành động một cách tức thì, bám riết nạn nhân và có biểu hiện quên saukhi thực hiện hành vi phạm tội

Lửng lơ trách nhiệm người giám hộ, Báo động thực trạng cho bệnh nhân tâm thần gây án

Có nhiều vụ án còn để lại những hậu quả nặng nề đối với các nạn nhân cũng như đặt ranhững gánh nặng lớn cho xã hội (như vụ án giết người của Hà Văn Pẩu ở Lạng Sơn; Vụ

Trang 12

Nguyễn Hữu Trung ở Gia Lai trong lúc lên cơn điên đã chém chết vợ chồng người em ruột;Hay như vụ Dương Văn Nuôi ở TP HCM do bị bệnh rối loạn nhân cách cảm xúc nên saukhi uống rượu đã dùng búa tấn công 7 người trong gia đình, 1 giám đốc doanh nghiệp vàcông nhân ở đó, khiến nhiều nạn nhân phải nhập viện trong tình trạng đa chấn thương vàchấn thương sọ não Ngoài ra còn hàng chục vụ án nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọngkhác xảy ra trên địa bàn cả nước trong thời gian vừa qua).

[Theo PGS Trần Hữu Bình - nguyên viện trưởng Viện sức khỏe tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) đến thăm một bệnh nhân tâm thần.]

Xét trên góc độ bệnh lý thì những người thực hiện tội phạm thường là những người mắcbệnh tâm thần phân liệt, phát bệnh vì một bệnh lý của não, do những biến đổi sinh học phứctạp hoặc vì tác động bất lợi của môi trường tâm lý xã hội Việc liên tục để xảy ra tình trạngngười tâm thần phạm tội, theo tôi là xuất phát từ việc các đối tượng này không được quantâm, chăm sóc, quản lý và phát hiện bệnh sớm hoặc chữa trị không kịp thời, hợp lý

Ngoài các đối tượng mắc bệnh tâm thần phân liệt thì hiện tại trong xã hội hiện nay, còn cóphần đa những người có biểu hiện thần kinh không bình thường như: Trầm cảm, lo âu, rốiloạn hành vi, sa sút tâm thần, kích động do loạn thần vì uống rượu, chậm phát triển tâmthần Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước ta mới có cơ chế quản lý đối với những người mắcbệnh ở thể dạng tâm thần phân liệt, mà chưa có phương pháp quản lý cũng như chế địnhpháp lý cụ thể đối với các đối tượng thuộc thể dạng ngoài tâm thần phân liệt Trong khi đó,đây cũng là những đối tượng thuộc nhóm có nguy cơ cao gây ra các hành vi vi phạm phápluật hình sự

1.3.2.3 Hậu quả do bệnh nhân tâm thần phạm tội và tự sát gây ra

Hậu quả do người bệnh tâm thần phạm tội và tự sát gây ra là hết sức nặng nề, chủ yếu dẫnđến chết người và gây thương tích nặng [14]

1.4 CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY HÀNH VI TỰ SÁT Ở BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH 1.4.1 Yếu tố bệnh lý

1.4.1.1 Trạng thái ý thức hoàng hôn

Hành vi của bệnh nhân do hoang tưởng và ảo giác chi phối nên bệnh nhân thường có hành

vi hết sức nguy hiểm, tấn công một cách dã man, phá phách một cách vô nghĩa tất cả những

gì ngăn cản trước mắt[4],[5] Bệnh nhân tâm thần phạm tội và tự sát trong trạng thái nàychiếm tỷ lệ khoảng 2% đến 6,25% [14],[117]

1.4.1.2 Tâm thần và các rối loạn tâm thần trong bệnh tâm thần

Trang 13

+ Tâm thần: chiếm 45,13% tổng số các bệnh nhân tâm thần được nghiên cứu và phần lớntâm thần tâm thần xuất hiện ở lứa tuổi trẻ [72],[95] Bệnh nhân tâm thần tâm thần phạm tội

và tự sát chiếm khoảng 4,2-5,6% [14]

+ Các rối loạn tâm thần trong bệnh tâm thần: Rối loạn tâm thần trong tâm thần được nhiềutác giả đề cập đến và được chia ra các thời kỳ trước cơn, trong cơn, sau cơn và giữa các cơn[59],[68],[71] Biểu hiện chủ yếu của rối loạn tâm thần giữa các cơn tâm thần được nhiềutác giả đề cập đến đó là rối loạn về cảm xúc, tư duy, trí tuệ và nhân cách[4],[66],[90],[91]

1.4.2 Yếu tố tâm lý xã hội.

Người bệnh tâm thần phần lớn bị bất lợi về mặt xã hội: 1/2 có khó khăn nghiêm trọng vớicông việc, bệnh nhân chịu nhiều tổn thất từ nhận thức và thành kiến của người khác về tâmthần hơn là tình trạng thực của bản thân người bệnh Nhiều vấn đề nảy sinh trong trườnghọc, công việc và trong cuộc sống gia đình, triển vọng kết hôn có thể bị ảnh hưởng Trênnền một nhân cách biến đổi thì yếu tố tâm lý xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phạmtội và tự sát [63]

1.4.4 Sử dụng các chất kích thích

Rượu có thể phát động cơn tâm thần trong nhiều tình huống chiếm 0,5-45% tâm thần ởngười lớn Ở Pháp 1/4 tâm thần ở người lớn là do rượu - qua điều tra một số tác giả thấy có3,7-6,6% người nghiện rượu bị tâm thần [89] Trong giám định pháp y tâm thần các tác giảthấy yếu tố sử dụng chất kích thích thúc đẩy biểu hiện hành vi tự sát chiếm tỷ lệ từ 9,28 đến13,94% [14]

1.5 Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo dân tộc các xã tại huyện Lăk.

Bảng 1.1: Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo dân tộc tại các xã

Trang 14

1.5 Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo giới tính các xã tại huyện Lăk.

Bảng 1.2: Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo giới tính tại các xã

Tỷ lệ (%)

TS

TSchung

DTTS

Trang 15

9

Trang 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tất cả bệnh nhân tâm thần đang quản lý và điều trị tại cộng đồng huyện Lăk

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu đại diện, có phân tích

Chúng tôi nghiên cứu theo phương pháp mô tả lâm sàng kết hợp hồi cứu và tiến cứu

2.2.1.1 Phương pháp hồi cứu

Dựa vào bệnh án trong thời gian theo dõi giám định, các xét nghiệm cận lâm sàng đã thựchiện và biên bản giám định pháp y tâm thần đã có, chỉ sử dụng những bệnh án đáp ứng đượccác yêu cầu theo mẫu hồ sơ nghiên cứu được thiết kế như đối với các trường hợp nghiêncứu theo phương pháp tiến cứu để đưa vào số liệu đánh giá kết quả cùng với số liệu cáctrường hợp thực hiện theo phương pháp tiến cứu

2.2.1.2 Phương pháp tiến cứu

+ Thu thập thông tin từ hồ sơ trưng cầu giám định

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin từ các tài liệu do cơ quan trưng cầu giám địnhcung cấp nhằm xác định rõ:

- Tiền sử sản khoa, nhi khoa, quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng học tập, lao động,công tác và tình trạng sức khoẻ, bệnh tật của đối tượng giám định

- Xác định một số nguyên nhân gây tâm thần

- Xác định tình trạng tâm thần của đối tượng giám định khi phạm tội và tự sát

- Xác định phương tiện sử dụng, hình thức và tính chất hành vi phạm tội

- Đánh giá hậu quả do đối tượng phạm tội và tự sát gây ra cho nạn nhân

- Xác định quan hệ của người bị hại với đối tượng phạm tội

+ Lập hồ sơ bệnh án theo mục tiêu nghiên cứu

Các mục cần nghiên cứu bao gồm: tiền sử, bệnh sử, quá trình phạm tội và tự sát và yếu tốthúc đẩy hành vi phạm tội

+ Lập quy trình thăm khám, giám định

- Quan sát chuyên khoa

- Khám tâm thần

Trang 17

• Về y học: Đối tượng giám định có bị bệnh tâm thần hay không, loại cơn tâm thần, mức độbiến đổi nhân cách và rối loạn tâm thần.

• Về pháp luật: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh đến khả năng nhận thức và kiềm chếhành vi

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu:

2.2.2.1 Cỡ mẫu:

Cỡ mẫu ước lượng theo công thức:

Trong đó: n là cỡ mẫu cần nghiên cứu

Z: hệ số 1,96 ứng với khoảng tin cậy 95%

p: tỷ lệ bệnh nhân tâm thần được giám hộ quan tâm quản lý dự kiến giá trị p = 0,5(Theo kết quả nghiên cứu của PGS.TS Trần Văn Cường và cộng sự (2001) cho thấy tỷ lệngười thân bệnh nhân tâm thần 50% được tư vấn SKTT có quan tâm đến bệnh nhân tâmthần) [14]

q: 1-p tỷ lệ người thân lửng lơ, thiếu trách nhiệm với bệnh nhân tâmthần

D: Độ chính xác mong muốn tin cậy 95%, D = 1- 0.95 = 0.05 mức độ sai số tuyệt đối chấp nhận (D= ± 0,05)

Từ công thức trên tính ra mẫu cần nghiên cứu:

Vậy, cỡ mẫu được chọn theo công thức là n = 384 bệnh nhân tâm thần Để tăng lực mẫu vàkhống chế sai số chúng tôi chọn thêm 25% và đủ điều kiện là 480 bệnh nhân tâm thần được

Trang 18

Tỷ lệ BN RLTT có HV BL-TS =

Số BN RLTT gây bạo lực – tự sat

X 100

∑ BNRLTT được quản lý điều trị

quản lý điều trị tại trung tâm y tế huyện Lăk Chúng tôi đã nghiên cứu và điều tra toàn bộ sốnày

Cách chọn mẫu :

- Lập danh sách BNTT tại cộng đồng huyện Lăk, với tổng số 480 bệnh nhân (có danh

sách kèm theo trong phụ lục)

Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu

Chọn đủ 480 đối tượng được khám quản lý điều trị tại Trung Tâm và kèm đối tượng làngười thân(giám hộ) bệnh nhân, tiếp cận phỏng vấn

2.2.3.Tiêu chuẩn chọn đối tuợng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định cho đối tượng nghiên cứu gồm:

- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn theo tiêu chuẩn chẩn đoán của tổ chức y tếgiới lần thứ 10 (ICD-10) mục G về bệnh hệ thần kinh

- Về lâm sàng: có biến đổi bệnh lý phù hợp với cơn tâm thần trên lâm sàng

2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ

+ Hồ sơ trưng cầu giám định không đáp ứng được yêu cầu của cơ quan chuyên môn y tế.+ Các hiện tượng giống cơn tâm thần

- Nguồn gốc nội khoa

- Giả vờ cơn tâm thần

2.2.5 Phương pháp nghiên cứu trắc nghiệm tâm lý

- Cơ sở tiến hành kỹ thuật trắc nghiệm: phòng test tâm lý nhân cách

- Test MMPI rút gọn tính trị số trung bình các thang, so sánh với chỉ số chuẩn

- Test Raven so sánh kết quả làm test của nhóm bệnh nhân với chỉ số chuẩn, minh mẩn trítuệ

2.5 CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

2.5.1 Nhóm chỉ số tỷ lệ bệnh nhân rối loạn tâm thần có hành vi bạo lực - tự sát

- Tỷ lệ BN RLTT chung có hành vi bạo lực tự sát

- Tỷ lệ BN RLTT Nam có hành vi bạo lực tự sát

Trang 19

- Tỷ lệ BN RLTT nữ có hành vi bạo lực tự sát

- Tỷ lệ BN RLTT dân tộc có hành vi bạo lực tự sát

2.5.2 Nhóm chỉ số về kết quả điều tra KAP

Tiến hành điều tra đối tượng đang khám, quản lý điều trị bệnh nhân rối loạn tâmthần kèm người thân (giám hộ) ở 11 xã thị trấn trên địa bàn huyện Lăk, tiếp cận qua câuhỏi phỏng vấn

- Phân loại bệnh nhân theo độ tuổi

- Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

- Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

- Phân loại bệnh nhân theo dân tộc

- Phân loại theo loại bệnh

- Kết quả vụ án mạng BNTT tại công đồng

- Kết quả vụ tự tử BNTT tại công đồng

- Tính chất khởi phát

- Thời gian khởi phát

- Đặc điểm triệu chứng giai đoạn khởi phát

- Các triệu chứng thường gặp trong giai đoạn toàn phát

- Phân loại cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu

- Nguyên nhân xuất hiện cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các hội chứng rối loạn ý thức ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các triệu chứng rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các triệu chứng rối loạn tư duy ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các triệu chứng rối loạn trí nhớ và trí tuệ ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các loại hoang tưởng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Số lượng hoang tưởng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Đặc điểm rối loạn hình thức tư duy trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Các loại rối loạn tri giác thường gặp trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Phân bố ảo thanh trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Đặc điểm rối loạn tri giác trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Sự kết hợp hoang tưởng, ảo giác trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trang 20

- Thời gian tồn tại của hoang tưởng, ảo giác dưới tác động của điều trị.

- Đặc điểm rối loạn cảm xúc trên nhóm BN nghiên cứu

- Đặc điểm rối loạn hoạt động có ý chí trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu khi mới nhập viện

- Đặc điểm rối loạn hoạt động bản năng trên nhóm nghiên cứu khi mới nhập viện

2.5.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Tên biến Định nghĩa – loại biến Các chỉ số Công cụ

A Thông tin về BNRLTT có hành vi phạm tội – tự sát trên địa bàn huyện

Trung học cơ sởTrung học phổ thôngĐại học, trung họcchuyên nghiệp

Phiếuphỏngvấn

Phiếu phỏng vấn

Tâm thần phân liệt Động Kinh

Rối loạn Trầm cảm Loạn thần do CTSN Loạn thần tuổi già

Phiếu phỏng vấn

Trang 21

Chậm phát triển tâmthần

Loạn thần do rượuLoạn thần do ma túy Rối loạn tâm thần kinh

B Nhận thức - thái độ - hành vi của chị em về sức khỏe sinh sản

Hoang tưởng bị truy hại

Ảo giác

Biến thứ hạng

Tỷ lệ BNRLTT có hành vi bạo lực

- Có hành vi

- Không hành vi

Phiếuphỏngvấn

- Rối loạn hànhvi

Phiếuphỏngvấn

Trang 22

∑ (Qi-Li)2 Li

2.5.3 phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu được làm sạch mã hóa và xử lý bằng phần mền SPSS 16.0

Sử dụng tests 2 khi so sánh các tỷ lệ quan sát

- Khi số liệu được trình bày bằng bảng 2x2 thì dùng công thức Yates:

α thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

2.5.4 Một số tiêu chí đánh giá thuật ngữ dùng trong nghiên cứu.

Trang 23

- Nguyên nhân xuất hiện cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các triệu chứng rối loạn trí nhớ và trí tuệ ở bệnh nhân nghiên cứu

- Các loại rối loạn tri giác thường gặp trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Đặc điểm rối loạn tri giác trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Thời gian tồn tại của hoang tưởng, ảo giác dưới tác động của điều trị

2.6 KẾ HOẠCH VÀ KINH PHÍ NGHIÊN CỨU:

Phụ lục 3.

2.7 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu đánh giá sẽ được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu,trước khi tiến hành nghiên cứu, phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp táctham gia của đối tượng nghiên cứu Đối tượng tham gia nghiên cứu có thể ngừng tham giatrong bất kỳ giai đoạn nào của nghiên cứu

Mọi thông tin của cơ quan đơn vị nghiên cứu sẽ được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thậpđược chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ kín các số Các số liệu, thôngtin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nàokhác

Đề cương nghiên cứu được hội đồng nghiên cứu khoa học cơ quan trung tâm y tế huyệnLăk thẩm định và thông qua trước khi tiến hành tổ chức triển khai trên thực đia

Nội dung nghiên cứu phù hợp, được chính quyền, đoàn thể các tổ chức cá nhân đồng tìnhủng hộ

Trang 24

Kết quả nghiên cứu là cơ sở đánh giá nguyên thúc đẩy hành vi phạm tội và tự sát của

BN RLTT và đưa ra những biện pháp ngăn chặn thích hợp nhằm hạn chế bạo lực, tự sát vàphạm tội của BNRLTT tại huyện Lăk

2.8 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu có một số biến đòi hỏi đối tượng nghiên cứu phải nhớ lại nên có thể sai

số Chúng tôi khắc phục bằng cách chỉ hỏi các đối tượng có hiểu biết và hợp tác tốt, dễ tiếpcận, trả lời câu hỏi phỏng vấn chính xác hơn, rõ ràng hơn

Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp sai số do kỹnăng phỏng vấn của từng điều tra viên Khắc phục tập huấn điều tra viên cẩn thận trước khitiến hành thu thập số liệu tại thực địa, những phiếu điều tra ban đầu sẽ được nhóm nghiêncứu giám sát hỗ trợ Các phiếu điều tra được nhóm nghiên cứu kiểm tra cuói mỗi ngày khinộp phiếu với những phiếu thông tin thu thập chưa đầy đủ và không hợp lý sẽ được yêu cầuđiều tra viên bổ sung Pretest bộ câu hỏi trước khi phỏng vấn chính thức

Để trách sai sót trong quá trình nhập số liệu, nên số liệu sẽ được nhập 2 lần với 2 ngườikhác nhau Chon 20% số phiếu nhập 2 lần (2 người khác nhau), sau đó so sánh kết quả 2 lầnnhập, sai số dươi 2% là chấp nhận được

Do điều kiện hạn chế về thời gian, nguồn lực nên nghiên cứu tiến hành chọn những bệnhnhân tâm thần được quả lý điều trị tại các trạm y tế xã và Trung Tâm y tế huyện nghiên cứu

Vì vậy, kết quả nghiên cứu chỉ đặc trưng cho BN RLTT

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu kỳ vọng sẽ đưa ra được những khuyến nghị phù hợp nhằmđánh giá đúng nguyên thúc đẩy hành vi phạm tội và tự sát của BN RLTT và đưa ra nhữngbiện pháp ngăn chặn thích hợp nhằm hạn chế bạo lực, tự sát và phạm tội của BNRLTT tạihuyện Lăk Dưa trên các kết quả của các hoạt động đó có thể làm mô hình để nhân rộng cáchuyện khác có cùng đặc điểm nghiên cứu

CHƯƠNG 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Giới tính của đối tượng nghiên cứu

Trang 25

Chỉ số thống kê

Giới tính

NamNữCộng

Bảng 3.1 cho thấy, nam giới chiếm tỷ lệ …….% và nữ giới chiếm tỷ lệ …….%

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Trung học cơ sởTrung học phổ thôngĐại học, trung học chuyên nghiệpCộng

Bảng 3.2 cho thấy chủ yếu là trình độ tiểu học và trung học cơ sở (………%)

Trang 26

Bảng 3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Chỉ số thống kê

Không nghề nghiệpNông dân

Công nhânViên chứcHọc sinhNghề nghiệp khácCộng

Bảng 3.3 cho thấy chủ yếu là nông dân (45%) và không nghề (38,34%)

Bảng 3.4 Phân loại bệnh nhân theo dân tộc

Chỉ số thống kê

KinhDân tộc thiểu số Tổng cộng

Bảng 3.5 Phân loại bệnh nhân theo độ tuổi

Bảng 3.6 Phân loại theo loại bệnh

Chỉ số thống kê

Tâm thần phân liệt Động Kinh

Trang 27

Rối loạn Trầm cảm Loạn thần do CTSN Loạn thần tuổi già Chậm phát triển tâm thần Loạn thần do rượu

Loạn thần do ma túy Rối loạn tâm thần kinh

Bảng 3.7 Kết quả vụ án mạng BNTT tại công đồng

Uống thuốc đều ổn định

Uống thuốc không đều, bỏ

Gia đình và xã hội có quan tâm

Gia đình và xã hội ít quan tâm

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG

3.2.1 Biểu hiện lâm sàng chung

Trang 28

Bảng 3.9 Tuổi khởi phát bệnh.

Dưới 15 tuổi

16 - 20 tuổi 20-25 tuổi Trên 25 tuổi

Trang 29

Bảng 3.11 Thời gian khởi phát.

Trang 30

Bảng 3.13 Các triệu chứng thường gặp trong giai đoạn toàn phát:

Bảng 3.14 cho thấy đa số là cơn tâm thần toàn thể ……… cơn tâm thần cục bộ chiếm tỷ lệ

là ……… và cơn tâm thần không xác định là ………

Bảng 3.15 Nguyên nhân xuất hiện cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu

Chỉ số thống kê

Chấn thương sọ nãoViêm não – màng nãoNguyên nhân khácChưa rõ nguyên nhân Cộng

Trang 31

Bảng 3.15 cho thấy, xác định được nguyên nhân ở ……… còn lại ……… chưa rõ nguyênnhân.

3.2.2 Kết quả nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân tâm thần trong giám định Pháp y tâm thần.

Bảng 3.16 Các hội chứng rối loạn ý thức ở bệnh nhân nghiên cứu

Chỉ số thống kê

Ý thức lú lẫn

Ý thức hoàng hônRối loạn ý thức không xác định

Bảng 3.16 cho thấy ý thức lú lẫn là chủ yếu (… %), các hội chứng rối loạn ý thức khác có

Cảm xúc thờ ơCơn xung động cảm xúc

Bảng 3.17 cho thấy chủ yếu là triệu chứng loạn khí sắc (………%), các triệu chứng khác có

Trang 32

Hành vi đơn điệu

Bảng 3.18 cho thấy hành vi khó kiềm chế chiếm tỷ lệ cao nhất (… %), tiếp đến là tăng hoạtđộng (….%), hành vi đơn điệu (… %) và thấp nhất là triệu chứng kích động tâm thần vậnđộng (….%)

Bảng 3.19 Các triệu chứng rối loạn tư duy ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.19 cho thấy nói chậm và nói lặp lại chiếm tỷ lệ cao hơn cả (……%)

Bảng 3.20 Các triệu chứng rối loạn trí nhớ và trí tuệ ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.20 cho thấy có ……/60 bệnh nhân nghiên cứu có biểu hiện rối loạn trí nhớ và trí tuệ,trong đó …….% số bệnh nhân này có giảm trí nhớ ở các mức độ khác nhau, giảm trí tuệ(……%) và chậm phát triển tâm thần chiếm tỷ lệ là …….%

3.2.2 Rối loạn tư duy.

Bảng 3.21 Các loại hoang tưởng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Trang 33

Bảng 3.22 Số lượng hoang tưởng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Mét hoang tưởng

Hai hoang tưởng

Trên hai hoang tưởng

Bảng 3.23 Đặc điểm rối loạn hình thức tư duy trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Tư duy ngắt quãng.

3.2.3 Rối loạn tri giác

Bảng 3.24 Các loại rối loạn tri giác thường gặp trên nhóm bệnh nhân nghiên

cứu.

Bình phẩm Thảo luận

Trang 35

Bảng 3.26 Đặc điểm rối loạn tri giác trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Tính chất xuất

hiện

Hàng ngày Dưới 1tuần 1 lần Trên 1 tuần 1 lần

Tính chi phối bệnh

nhân

Không chi phối Chi phối Ýt Chi phối rõ

Thái độ của bệnh

nhân

Tin tưởng

Mơ hồ Không tin tưởng

Cộng

Bảng 3.27 Sự kết hợp hoang tưởng, ảo giác trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Bệnh nhân

Hoang tưởng+ Ảo giác

Hoang tưởng đơn thuần

Ảo giác đơn thuần

ảo giác đơn

Ngày đăng: 28/05/2016, 22:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo giới tính tại các xã - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 1.2 Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo giới tính tại các xã (Trang 15)
Bảng 1.1: Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo dân tộc tại các xã - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 1.1 Phân bổ bệnh nhân tâm thần theo dân tộc tại các xã (Trang 15)
Bảng 3.1. Giới tính của đối tượng nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.1. Giới tính của đối tượng nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3.2 cho thấy chủ yếu là trình độ tiểu học và trung học cơ sở (………%). - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.2 cho thấy chủ yếu là trình độ tiểu học và trung học cơ sở (………%) (Trang 28)
Bảng 3.3. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.3. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.3 cho thấy chủ yếu là nông dân (45%) và không nghề (38,34%). - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.3 cho thấy chủ yếu là nông dân (45%) và không nghề (38,34%) (Trang 29)
Bảng 3.4. Phân loại bệnh nhân theo dân tộc - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.4. Phân loại bệnh nhân theo dân tộc (Trang 29)
Bảng 3.7. Kết quả vụ án mạng  BNTT tại công đồng. - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.7. Kết quả vụ án mạng BNTT tại công đồng (Trang 30)
Bảng 3.9. Tuổi khởi phát bệnh. - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.9. Tuổi khởi phát bệnh (Trang 31)
Bảng 3.15 cho thấy, xác định được nguyên nhân ở ……….. còn lại ………. chưa rõ nguyên nhân. - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.15 cho thấy, xác định được nguyên nhân ở ……….. còn lại ………. chưa rõ nguyên nhân (Trang 33)
Bảng 3.15. Nguyên nhân xuất hiện cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.15. Nguyên nhân xuất hiện cơn tâm thần ở bệnh nhân nghiên cứu (Trang 33)
Bảng 3.17. Các triệu chứng rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.17. Các triệu chứng rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 3.16. Các hội chứng rối loạn ý thức ở bệnh nhân nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.16. Các hội chứng rối loạn ý thức ở bệnh nhân nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 3.19. Các triệu chứng rối loạn tư duy ở bệnh nhân nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.19. Các triệu chứng rối loạn tư duy ở bệnh nhân nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 3.20. Các triệu chứng rối loạn trí nhớ và trí tuệ ở bệnh nhân nghiên cứu - ĐÊ CƯƠNG NCKH BỆNH TÂM THẦN
Bảng 3.20. Các triệu chứng rối loạn trí nhớ và trí tuệ ở bệnh nhân nghiên cứu (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w