1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYEN DE NGHIEN CUU VE BENH TAM THAN PHAN LIET

29 695 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 41,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀBỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT I- ĐẠI CƯƠNG 1- KHÁI NỆM CHUNG VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynhhướng tiến triển mạn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tâm thần phân liệt là một trong những bệnh loạn thần nặng nhất,thường gặp trong thực hành tâm thần Bệnh có xu hướng tiến triển mạn tính, dẫnđến rối loạn nặng nề về tư duy, hành vi, cảm xúc, trí tuệ, làm giảm hoặc mất khảnăng tái thích ứng xã hội

Bệnh tâm thần phân liệt thường phát sinh ở tuổi trẻ và diễn biến mạn tính.Đặc điểm tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt là các giai đoạn: khởi phát, toànphát, thoái lui và tái phát Bệnh có thể tái phát vào bất cứ giai đoạn nào của cuộcđời người bệnh

Bệnh tâm thần phân liệt là bệnh bệnh nguyên, bệnh sinh chưa rõ ràng vẫn làmột bí ẩn nên không có biện pháp điều trị triệt để mà chỉ có các biện pháp phòngbệnh mục đích để giữ mức ổn định bệnh lâu dài, tránh tái phát hạn chế tối đa sựsuy giảm trí tuệ và khả năng lao động do bệnh tâm thần gây ra

Do vậy tôi viết chuyên đề Tâm thần phân liệt với mục đích:

1 Tìm hiểu về khái niêm, bệnh nguyên, bệnh sinh của Bệnh tâm thần phân liệt.

2 Phân tích đặc điểm lâm sàng, đặc điểm tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt.

3 Nguyên tắc chẩn đoán Tâm thần phân liệt.

4 Một số liệu pháp điều trị, tiên lượng bênh, dự phòng cho bệnh tâm thần phân liệt.

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

I- ĐẠI CƯƠNG

1- KHÁI NỆM CHUNG VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynhhướng tiến triển mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho bệnh nhândần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài thu dần vào thế giới bên trong, cảm xúc trởlên khô lạnh dần, khả năng học tập và lao động ngày một sút kém và có nhữnghành vi, ý nghĩ kỳ dị khó hiểu

Các rối loạn trong bệnh TTPL có đặc điểm chung là rối loạn tư duy, tri giác

và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, khô lạnh, ý thức còn rõ ràng và nănglực trí tuệ thường được duy trì mặc dù có một số thiếu sót về nhận thức có thể xuấthiện trong quá trình tiến triển

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt

ở các khu vực khác nhau trên thế giới khoảng 0,6 - 1% dân số và mỗi năm cứ10.000 người dân từ 12 đến 60 tuổi thì có một người mắc tâm thần phân liệt.Theo Trần Viết Nghị và cơ sở tại Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh TTPL chiếmkhoảng 0,3 - 1% dân số Tuổi khởi phát từ 18-40 tuổi

2- LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Bệnh tâm thần phân liệt đã được biết đến từ lâu nhưng đến thế kỷ XVIII mớiđược mô tả trong y văn

Năm 1857 Morel B.A (1809-1873) lần đầu tiên mô tả một loại bệnh tâmthần ở người trẻ tuổi và thường dẫn đến sa sút và gọi là bệnh sa sút sớm

Năm 1863 Kahlbaum K.L nhà tâm thần học Đức (1828-1899) mô tả bệnhtâm thần phát triển ở người trẻ tuổi có các rối loạn tâm thần dữ dội gọi là tâm thầnthanh xuân (Hebephrenia)

Trang 3

Sau đó năm 1874 Kahlbaum K.L lại mô tả bệnh tâm thần biểu hiện chủ yếu

là các rối loạn tâm thần vận động gọi là bệnh căng trương lực (Catatonia)

Năm 1892 nhà tâm thần học Pháp Magnan (1835-1916) mô tả bệnh loạnthần hoang tưởng mãn tính và một số sau đó dẫn đến sa sút và vô cảm

Năm 1898 nhà tâm thần học Đức Karaepelin E đã thống nhất các thể bệnhđộc lập được các tác giả trên mô tả thành một bệnh riêng biệt gọi là bệnh sa sútsớm

Năm 1911 nhà tâm thần học Thụy Sỹ Bleuler E đưa ra kết luận lý thú về cácrối loạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt trên các mặt hoạt động tâm thần đó là lý doông đưa ra thuật ngữ Bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia) Theo ông nét đặctrưng của tâm thần phân liệt gồm 4 chữ A (Asociation: rối loạn sự liên tưởng,Affect: rối loạn cảm xúc, Autism: tự kỷ, Ambivalence: tính 2 chiều trái ngược)

Năm 1939 Schneider K mô tả một số triệu chứng hàng đầu, được ông coi làtriệu chứng đặc trưng cho tâm thần phân liệt :

(a)- Các triệu chứng hàng đầu là tư duy vang thành tiếng, tiếng nói tranhluận, thảo luận hoặc cả hai, tiếng nói bình luận, trải nghiệm bị động về cơ thể, tưduy tự động và các trải nghiệm khác về tư duy bị tác động, tư duy bị phát thanh, trigiác hoang tưởng, tất cả các trải nghiệm khác về ý chí, cảm xúc và xung động

(b)- Các triệu chứng hàng thứ hai là: Các rối loạn tri giác khác, ý tưởnghoang tưởng đột ngột, tính khó hiểu, biến đổi cảm xúc trầm cảm và khoái cảm,nghèo nàn về cảm xúc, một số triệu chứng khác

Năm 1960 Snejnevski A.V dựa vào sự tiến triển của các triệu chứng bệnhtâm thần phân liệt, các triệu chứng âm tính, các triệu chứng dương tính để chẩnđoán bệnh và thể bệnh

Các triệu chứng âm tính thể hiện sự tiêu hao mất mát trong các mặt hoạtđộng tâm thần, là nền tảng cơ bản của quá trình phân liệt

Trang 4

Các triệu chứng dương tính là những triệu chứng phong phú đa dạng nổi lêntrên bề mặt của hoạt động tâm thần và luôn biến đổi, thường kết hợp với nhauthành hội chứng và làm cơ sở để phân biệt các thể lâm sàng của bệnh tâm thầnphân liệt

Năm 1968 bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD-8), bệnh tâm thầnphân liệt được xếp vào mã 29.5

Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9 (ICD-9), bệnh tâm thần phân liệt vẫnđược giữ nguyên mã 29.5 như ICD-8

Năm 1992 bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) ra đời Trong đóbệnh tâm thần phân liệt, các rối loạn phân liệt, rối loạn hoang tưởng được xếp vào

mã số F20 đến F29 Bảng phân loại này dựa trên nền tảng phân loại của KurtSchneider

Trong bảng phân loại này, các triệu chứng đặc trưng của bệnh tâm thần phânliệt được xếp thành 9 nhóm triệu chứng chính Trong đó các triệu chứng dươngtính được coi là có giá trị quyết định trong chẩn đoán, các triệu chứng âm tínhđược xếp là thứ yếu

Các bảng phân loại của hội tâm thần học Mỹ:

Trong DSM-III các triệu chứng dương tính như: tâm thần tự động, hoangtưởng, ảo giác cũng được coi là có giá trị quyết định, các triệu chứng âm tính vẫn

là thứ yếu như trong ICD-10 Tiêu chuẩn về thời gian trong ICD-10 ít nhất là 1tháng, còn trong DSM-III là 6 tháng Trong ICD-10 không đề cập về tuổi, còntrong DSM-III tuổi bắt đầu bị bệnh thường dưới 40 tuổi

Trong DSM-III các triệu chứng tâm thần đặc trưng nêu ra cụ thể hơn, kể cảcác triệu chứng âm tính Các tiêu chuẩn khác cũng giống trong ICD-10 trừ tiêuchuẩn về thời gian

Trong DSM-IV các triệu chứng âm tính được đề cao hơn nếu không nói làngang bằng với các triệu chứng dương tính, các tiêu chuẩn khác cơ bản giống nhưtrong ICD-10 trừ tiêu chuẩn về thời gian

Trang 5

Như vậy bệnh TTPL là một bệnh mạn tính, làm suy giảm nặng nề các chứcnăng tâm thần Bệnh bao gồm nhiều thể bệnh, những biểu hiện của bệnh gồm cáctriệu chứng rối loạn về tư duy, nhận thức, cảm xúc, tri giác gây khó khăn trongviệc giao tiếp với mọi người xung quanh Triệu chứng đặc trưng của bệnh là nhữngbiểu hiện loạn thần như hoang tưởng, ảo giác nhưng điều lo ngại nhất lại là

sự suy giảm quá trình xử lý thông tin do bệnh gây ra Bệnh nhân tâm thần phânliệt có tỉ lệ thất nghiệp cao hơn và khả năng tự lập trong cuộc sống thấp hơn

so với những người bình thường

3-MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Ở Mỹ tỷ lệ mắc trong đời của TTPL xấp xỉ 1%, nghiên cứu ECA(Epideniologe Cathment Area) của Viện tâm thần học quốc gia Mỹ là 0,6-1,9%.Bệnh xuất hiện ở tất cả các tầng lớp xã hội

Ở Việt Nam theo điều tra 10 bệnh tâm thần chính thì bệnh TTPL chiếmkhoảng 0,2-1%

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt0,6-1% dân số Tỷ lệ này ở Việt Nam là 0,3-1% dân số

Một số nghiên cứu về giới tính của bệnh tâm thần phân liệt nhận thấy tỷ lệnam/nữ là 1,2/1 Tuy nhiên tuổi khởi phát ở Nam sớm hơn từ 18-25 tuổi, còn ở Nữkhởi phát muộn hơn thường 25-35 tuổi

Tỷ lệ mắc điểm của bệnh tâm thần phân liệt 0,25-0,73%, tỷ lệ mới mắc 0,57%, nguy cơ mắc bệnh đối với tâm thần phân liệt 0,36-1,87%

0,17-4- QUAN NIỆM VỀ BỆNH SINH CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Hơn một thế kỷ nghiên cứu về bệnh tâm thần phân liệt, có rất nhiều côngtrình nghiên cứu khác nhau nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được nguyên nhânđặc hiệu của bệnh tâm thần phân liệt

Có một số giả thuyết về yếu tố di truyền, về sự thay đổi cấu trúc và chứcnăng não, về sinh hóa não, về các yếu tố tâm lý xã hội…

a-Các yếu tố di truyền.

Trang 6

Qua nhiều nghiên cứu dịch tễ học người ta thấy bệnh tâm thần phân liệt cóliên quan đến yếu tố gia đình Quan niệm di truyền đa gen được nhiều người thừanhận, người ta cho rằng có sự tổ hợp nhiều gen quyết định tính di truyền trongbệnh TTPL.

Nguy cơ mắc bệnh ở phả hệ thứ nhất là 10%, ở phả hệ thứ hai là 4%, cókhoảng 10-20% con cái bị bệnh nếu một trong hai bố hoặc mẹ bị bệnh, nếu cả bố

b- Rối loạn về cấu trúc và chức năng não.

Nghiên cứu cấu trúc não của những bệnh nhân bị bệnh tâm thần phân liệtnhận thấy có rối loạn cấu trúc vùng trán chẩm, đỉnh và giảm kích thước trước saucủa não

Các thay đổi bao gồm giãn rộng não thất bên và não thất ba, giảm thể tích vỏnão, giảm thể tích các thùy thái dương và đồi thị

Nghiên cứu chức năng não nhận thấy giảm dòng máu đi vào vỏ não thùytrán từng bên

Ở mức độ vi thể mất thần kinh đệm

c- Vấn đề sinh hóa trong tâm thần phân liệt.

Giả thuyết về tăng hoạt tính của Dopamin (DA) được chú ý trong cơ chếgây nên các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt

Theo Leo E.H (1989): Tăng hoạt tính của hệ Dopamin của não, đặc biệt ở hệthống Limbic - trán có thể do tổng hợp quá mức và giải phóng Dopamin ở trướcSinap hoặc do tăng độ nhạy cảm của các receptor sau sinap

Một số cơ sở dữ liệu cho giả thuyết Dopamin về bệnh TTPL là:

Trang 7

- Một số nghiên cứu từ não của bệnh nhân TTPL sau khi tử vong cho thấyrằng tổ chức não có chứa nồng độ DA cao hơn ở receptor.

- Lạm dụng chất kích thích làm tăng giải phóng DA nội sinh gây nên tìnhtrạng Paranoid giống TTPL

- Tất cả các thuốc ATK đều phong tỏa receptor DA ở hệ thần kinh trungương Sự tăng hoạt động của hệ thống DA đi từ vùng trung não đến hồi viền dẫnđến các triệu chứng dương tính Các thuốc ATK phong tỏa DA ở hệ thống màngnên có tác dụng tốt trên các triệu chứng dương tính

- Sự giảm hoạt động của hệ thống DA đi từ trung não đến vỏ não sẽ dẫn đếncác triệu chứng âm tính

d- Yếu tố tâm lý, xã hội

Freud coi TTPL như một đáp ứng thoái lui trước sự bất toại và xung đột trànngập với con người trong môi trường

Một số tác giả khác cho thấy rằng Stress là một nguy cơ tiềm tàng cho sự bắtđầu của các loạn thần rõ rệt ở những người nhạy cảm, đặc biệt ở thanh thiếu niên

và vị thành niên Stress cũng ảnh hưởng lên cấu trúc não qua trục đồi thị tuyến yêngây nên giảm thể tích hồi hải mã

Các yếu tố Stress cũng có thể là mâu thuẫn gia đình hoặc ở ngoài xã hội,công nghiệp hóa, đô thị hóa, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường cùng tham giavào sự phát triển của bệnh TTPL

e- Giả thuyết về phát triển tâm thần

Các nghiên cứu trong nửa cuối thế kỷ XX đã xác định rằng: Các yếu tố pháttriển tâm thần có liên quan tới cơ chế bệnh sinh của TTPL Các yếu tố nguy cơtrong thời kỳ mang thai, mùa sinh, nơi sinh, dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng

f- Vai trò của một số yếu tố khác.

Trang 8

- Có một số ý kiến cho rằng bệnh TTPL có thể phát sinh sau nhiễm khuẩn,sau khi đẻ.

- Crow còn chứng minh được sự hiện diện của một virus tạo dạng chậm trongdịch não tủy ở bệnh nhân TTPL

Như vậy mỗi giả thuyết chỉ giải thích được từng khía cạnh của bệnh Do vậy,bệnh sinh trong TTPL vẫn còn là một bí ẩn và chưa có một nguyên nhân duy nhấtnào có thể được coi là nguồn gốc của bệnh và như Reynolds G.P (1987) đã kếtluận: Hiện nay hoàn toàn không thể xây dựng được một giả thuyết duy nhất về bệnhTTPL bởi vì chính nó đã rất không đồng nhất

II- ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Bệnh TTPL biểu hiện rất đa dạng, triệu chứng của bệnh vô cùng phong phú,phức tạp và luôn biến đổi trên các mặt hoạt động tâm thần

Nhìn chung trong quá trình diễn biến của bệnh TTPL có những nét cơ bản

để phân biệt với các bệnh tâm thần khác Năm 1960 Snejnevski A.V nhà tâm thầnhọc người Nga nêu ra các triệu chứng âm tính và dương tính trong TTPL cho đếnnay vẫn được đa số các nhà tâm thần học chấp nhận

1- Các triệu chứng âm tính

Các triệu chứng âm tính là nhóm triệu chứng xuyên suốt quá trình bệnh, nóthể hiện sự tiêu hao mất mát trong các mặt hoạt động tâm thần

Triệu chứng âm tính là nền tảng của quá trình phân liệt và biểu hiện bằng

tính thiếu hòa hợp, tính tự kỷ và sự giảm sút thế năng hoạt động tâm thần

a-Tính thiếu hòa hợp.

Thể hiện bằng tính hai chiều trái ngược, tính dị kỳ khó hiểu, tính khó thâmnhập, tính phủ định và tính tự động Thiếu sự thống nhất toàn vẹn trong hoạt độngtâm thần

Thiếu hòa hợp trong tư duy: Ngôn ngữ của người bệnh TTPL thường khóhiểu, có thể nói một mình, không nói hoặc nói rất khẽ Có khi nói liên hồi không

Trang 9

cưỡng lại được, nói đầu gà đuôi vịt hoặc lặp đi lặp lại, giả giọng người khác, địaphương khác hoặc đặt ra lời nói mới, từ ngữ mới mà chi một mình bệnh nhân mớihiểu được Dòng tư duy có lúc chậm, có lúc nhanh, lúc bị ngừng lại Nội dung tưduy thường nghèo nàn, tối nghĩa.

Thiếu hòa hợp trong cảm xúc: Cảm xúc trở nên lạ lùng, khó hiểu, thiếu tìnhcảm với người thân, bàng quan lạnh nhạt với những thích thú trước đây

Cảm xúc trái ngược: Gặp đám cưới thì khóc, gặp đám ma thì cười, cảm xúchai chiều vừa yêu vừa ghét, vừa ca ngợi tôn trọng, vừa chửi bới tức giận, vừa khócvừa cười vô duyên cớ

Thiếu hòa hợp trong hành vi tác phong: Hành vi xung động, bột phát khóhiểu, hành vi hai chiều trái ngược, lố lăng, định hình

Người bệnh TTPL thường xa lánh mọi người, sống độc thân, đi lang thangkhông có mục đích, có người lên cơn kích động, hò hét, đập phá, có người cónhững động tác lặp đi lặp lại, điệu bộ nhún vai, nhếch mép… Một số người cónhững hành vi kỳ dị: trời nắng thì mặc áo bông, trời rét lại ở trần, lội sông bơi Cóngười lúc thì ngồi co ro một mình ở nhà, lúc thì chạy ra ngoài đường can thiệp vàocông việc của người khác

b- Tính tự kỷ.

Tính tự kỷ là mức độ cao của tính thiếu hòa hợp, biểu hiện bằng các hiệntượng tách rời thực tại, cắt đứt với thế giới bên ngoài, quay về với cuộc sống nộitâm bên trong chủ yếu bằng tính khó thâm nhập, dị kỳ, khó hiểu

Thế giới tự kỷ là thế giới riêng của người bệnh trong đó các quy luật tựnhiên và xã hội đều bị đảo lộn, chỉ có người bệnh hiểu và làm những điều kỳ dị màkhông ai có thể hiểu được

c- Thế năng tâm thần giảm sút.

Thế năng tâm thần là năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động tâm thần, biểuhiện bằng tính nhiệt tình, tính năng động, tính linh hoạt và sáng tạo…

Trang 10

Khi thế năng tâm thần bị giảm sút thể hiện bằng cảm xúc ngày càng khôlạnh và trở lên bàng quan vô cảm xúc, tư duy ngày càng nghèo nàn, cứng nhắc, họctập ngày càng sút kém, thói quen nghề nghiệp ngày càng tan biến dần, ý chí ngàycàng suy đồi Bệnh nhân không thiết làm gì thậm chí không tắm giặt, ăn ở bẩn thỉu,rách rưới, hôi hám.

Các triệu chứng âm tính thường tiến triển dần dần, âm ỉ làm tan rã nhân cáchcủa người bệnh một cách sâu sắc

2- Các triệu chứng dương tính trong bệnh TTPL

Là những triệu chứng mới xuất hiện trong quá trình bị bệnh Triệu chứngdương tính rất phong phú và đa dạng luôn biến đổi xuất hiện nhất thời rồi lại mất

đi hay được thay thế bằng những triệu chứng dương tính khác

*Các triệu chứng âm tính và dương tính trong bệnh TTPL

Các triệu chứng âm tính và dương tính đều có thể biểu hiện trong các mặthoạt động tâm thần Mối liên quan giữa các triệu chứng âm tính và dương tính phụthuộc vào các thể bệnh Các thể tiến triển càng nặng thì các triệu chứng âm tínhcàng chiếm ưu thế

Hai nét đặc trưng nhất của tư duy là hội chứng tâm thần tự động và hoangtưởng bị chi phối, những cảm giác ý nghĩa và hành vi sâu kín nhất thường đượccảm thấy như bị những người khác biết hay lấy mất Người bệnh thường nói đếnhiện tượng bị chi phối bằng các máy móc như máy vô tuyến điện, máy ghi âm,

Trang 11

máy điều khiển từ xa…Có những trường hợp cảm thấy bị chi phối bằng phù phép,bằng thôi miên, bằng một sức mạnh siêu nhân nào đó.

b- Về tri giác.

Đặc trưng nhất là ảo thanh bình luận về hành vi của bệnh nhân hoặc thảoluận với nhau về bệnh nhân, có thể đe dọa, cưỡng bức hay ra lệnh cho bệnh nhân.Các loại ảo giác như ảo thị, ảo khứu, ảo vị giác, xúc giác có thể xuất hiện nhưnghiếm gặp hơn Một số bệnh nhân có những rối loạn cảm giác trong cơ thể nhất là

cơ quan nội tạng (loạn cảm giác bản thể) hoặc có cảm giác biến đổi các cơ quantrong cơ thể như không có tim phổi, chân tay dài ra hay ngắn lại, cảm xúc suy nghĩtác phong đã biến đổi, cái “Ta” đã mất (giải thể nhân cách)

e- Rối loạn ý chí.

Trang 12

Người bệnh mất sáng kiến, mất động cơ, hoạt động không hiệu quả, thóiquen nghề nghiệp cũ mất dần đến chỗ không thiết làm gì nữa Đời sống ngày càngsuy đồi không chú ý đến vệ sinh thân thể tiến tới nằm ỳ một chỗ.

3 C¸c giai ®o¹n tiÕn triÓn cña bÖnh t©m thÇn ph©n liÖt.

Bệnh thường tiến triển qua 3 giai đoạn: Giai đoạn khởi đầu, giai đoạn toànphát và giai đoạn di chứng

3.1 Giai đoạn khởi đầu.

Những triệu chứng báo trước của thời kỳ đầu thường biểu hiện bằng cáctriệu chứng suy nhược, người bệnh cảm thấy chóng mặt, mệt mỏi, khó chịu, đauđầu, mất ngủ cảm giác khó khăn trong học tập và công việc, khó tiếp thu cái mới,đầu óc mù mờ, khó suy nghĩ, cảm xúc lạnh nhạt dần, khó thích ứng với ngoại cảnh,giảm dần các thích thú trước kia, bồn chồn, lo lắng không duyên cớ, dễ nóng nảy,

dễ bùng nổ

Sau nữa cảm giác bị động tăng dần, thấy như đuối sức trước cuộc sống,không theo kịp những biến đổi xung quanh Một số bệnh nhân thấy có những biếnđổi kỳ lạ trong người, thay đổi nét mặt, màu da…cũng có bệnh nhân say sưa đọcsách các loại sách triết học, lý luận viển vông không phù hợp với thực tế

3.2 Giai đoạn toàn phát.

Các triệu chứng khởi đầu tăng dần lên đồng thời xuất hiện các triệu chứngloạn thần rầm rộ, phong phú, bao gồm các triệu chứng dương tính (ảo giác, hoangtưởng) và các triệu chứng âm tính Tùy theo triệu chứng hay hội chứng nào nổi bậtlên hàng đầu và chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng mà người ta chia ra các thểkhác nhau

3.2 Giai đoạn di chứng.

Trang 13

Một giai đoạn mạn tính và muộn trong tiến triển của bệnh TTPL biểu hiệnbằng các triệu chứng âm tính nổi bật, các triệu chứng dương tính mờ nhạt Cácbiến đổi nhân cách và rối loạn hành vi kèm sa sút tâm thần biểu hiện rõ rệt.

4 C¸c thÓ l©m sµng.

Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) bệnh tâm thần phânliệt gồm các thể sau

1 Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0).

Đây là thể thường gặp nhất, các triệu chứng nổi bật nhất là các hoang tưởng

và ảo giác (hội chứng ảo giác Paranoid) Các hoang tưởng đặc trưng là hoangtưởng bị chi phối, bị kiểm tra và hoang tưởng bị truy hại

Các ảo giác thường gặp là ảo giác thính giác dưới dạng bình phẩm ý nghĩ vàhành vi của bệnh nhân hoặc nói chuyện với nhau về bệnh nhân, hoặc đe dọa, ralệnh cho bệnh nhân Các ảo giác khứu giác, vị giác, thị giác cũng có thể xuất hiệnnhưng hiếm

Có thể gặp tri giác sai thực tại và nhân cách giải thể

Hội chứng tâm thần tự động: như tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặthay bị đánh cắp

Cảm xúc không thích hợp ở mức độ nhẹ như cáu gắt, giận dữ, sợ hãi và nghingờ

Các triệu chứng âm tính xuất hiện muộn và không sâu sắc

Thể Paranoid có thể tiến triển từng giai đoạn với thuyên giảm từng phần hayhoàn toàn hoặc tiến triển thành mạn tính

2 Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1).

Thể này thường xuất hiện ở tuổi trẻ từ 15-25 tuổi Nổi bật là hội chứng kíchđộng thanh xuân: Hành vi lố lăng, si dại, cảm xúc hỗn hợp hời hợt, lúc khóc, lúccười, hát nói trêu chọc người xung quanh

Tư duy không liên quan, rời rạc, đặt ra chữ mới, giả giọng địa phương

Trang 14

Hành vi tác phong điệu bộ, nhăn mặt, nheo mắt tinh nghịch, quấy phá.

Các hoang tưởng, ảo giác thoáng qua và rời rạc

Có thể có hội chứng căng trương lực kích động hoặc bất động lẻ tẻ

Người bệnh có khuynh hướng sống cô độc, cảm xúc và hành vi thiếu mụcđích Các triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và tiến triển nhanh, đặc biệt cảm xúccùn mòn và ý chí giảm sút báo hiệu một tiên lượng xấu

3 Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2).

Thường xuất hiện cấp tính, giai đoạn đầu biểu hiện thay đổi tính tình, ít nói,

ít hoạt động Rồi xuất hiện trạng thái bất động và kích động xen kẽ nhau Hoangtưởng, ảo giác rời rạc

Hội chứng căng trương lực có thể kết hợp với một trạng thái ý thức giống

mê mộng với những ảo giác sinh động

Tiến triển nặng, giai đoạn xuất hiện nhiều triệu chứng âm tính

4 Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3).

Thể này bao gồm các trạng thái đáp ứng các tiêu chuẩn chung của bệnh tâmthần phân liệt, nhưng không tương ứng với bất cứ thể nào đã mô tả ở trên Bệnhcảnh biểu hiện đồng thời các nhóm triệu chứng mà không có một nhóm nào chiếm

ưu thế rõ rệt

5 Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4).

Biểu hiện một trạng thái trầm cảm kéo dài xuất hiện sau một quá trình phânliệt, đồng thời một số triệu chứng phân liệt vẫn tồn tại nhưng không còn chiếm ưuthế trong bệnh cảnh Các triệu chứng phân liệt có thể là dương tính hoặc âm tínhnhưng thường gặp các triệu chứng âm tính nhiều hơn

Hội chứng trầm cảm không trầm trọng và mở rộng đến mức đáp ứng mộtgiai đoạn trầm cảm nặng trong rối loạn cảm xúc Trạng thái trầm cảm sau phân liệtthường đáp ứng kém với các thuốc chống trầm cảm và tăng nguy cơ tự sát

6 Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5).

Ngày đăng: 01/06/2016, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w