1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ứng phó BDKH cho cộng đồng ngư dân

19 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 434,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình PLI này được thực hiện nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 02 xã Trung Bình thuộc huyện Trần Đề và xã An Thạnh Nam thuộc huyện Cù Lao Dung cùng các cán bộ

Trang 1

BÁO CÁO HỘI THẢO:

THÚC ĐẨY SÁNG KIẾN ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VEN BIỂN TỈNH SÓC TRĂNG

Dự án: “Cải thiện sức chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu vùng ven biển Đông Nam Á”

Sóc Trăng, ngày 26-27 tháng 09 năm 2012

Trang 2

Từ Viết Tắt

BCR : Dự án Cải thiện sức chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu vùng ven

biển Đông Nam Á CRSD : Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững

CDE :Trung tâm Môi trường và Phát triển

IUCN : Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

PLI : Thúc đẩy sáng kiến địa phương

VCA : Đánh giá tính dễ tổn thương và Năng lực thích ứng

KT&BVNLTS : Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trang 3

1 Thông tin chung

1.1 Mục tiêu và phương pháp

Chương trình Thúc đẩy Sáng kiến Địa phương (PLI) được nhóm thực hiện dự án BCR IUCN Việt Nam phối hợp cùng Chi cục Biển và Hải Đảo - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng tổ chức tại thành phố Sóc Trăng vào ngày 26 và 27 tháng 09 năm 2012 Chương trình PLI này được thực hiện nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 02 xã Trung Bình thuộc huyện Trần Đề và xã An Thạnh Nam thuộc huyện Cù Lao Dung cùng các cán bộ Sở ban ngành liên quan trong việc chia sẻ, đóng góp ý kiến và cùng phác thảo kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu tại 02 điểm thực hiện hoạt động thí điểm của dự án BCR Bên cạnh đó, hội thảo còn nhằm đề cao vai trò của các sáng kiến địa phương, tăng cường mức độ tương tác giữa người dân với chính quyền và các cơ quan chuyên môn trong tỉnh về các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu Cuối cùng, một kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu cho khu vực thực hiện dự án BCR sẽ được xây dựng sau khi hội thảo kết thúc Kế hoạch này bao gồm các hoạt động thích ứng khả thi, quy mô, thời gian và cách thức thực hiện, vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan cũng như các nguồn lực cần thiết sẽ được thiết kế

PLI là chương trình do Trung tâm Môi trường và Phát triển (CDE) trực thuộc trường Đại học Bern, Thụy Sỹ xây dựng nhằm phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Nam Mỹ Trong một chương trình hợp tác giữa CDE và IUCN, PLI đã được thiết kế lại nhằm tập trung chủ yếu vào công tác thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp hơn với bối cảnh của các vùng ven biển khu vực Đông Nam Á Phương pháp tiếp cận được sử dụng trong quá trình thực hiện PLI tại tỉnh Sóc Trăng đã được nhóm thực hiện dự án BCR điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực

tế địa phương

Chương trình PLI được tổ chức gồm 03 phần chính:

• Báo cáo kết quả Đánh giá tính dễ tổn thương và Năng lực thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu được thực hiện tại ấp Mỏ Ó và ấp Chợ thuộc xã Trung Bình, huyện Trần Đề;

ấp Vàm Rầy và ấp Võ Thành Văn thuộc xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng

• Trình bày tóm tắt các nhu cầu và sáng kiến thích ứng với BĐKH do các thành viên tham gia VCA Sóc Trăng đề xuất trong đợt thực hiện VCA Các đề xuất này sẽ được thảo luận chi tiết, góp ý bổ sung và xác định tính ưu tiên của từng đề xuất dựa trên nhu cầu của địa phương

• Dựa trên mức độ ưu tiên của các đề xuất, các đại biểu tham gia hội thảo tiến hànhchia sẻ kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và thảo luận chi tiết về các hoạt động thích ứng tại địa phương Một kế hoạch hành động thích ứng sơ bộ sẽ được xây dựng bao gồmcác hoạt động thành phần, chi phí ước tính, thời gian thực hiện khả thi, vai trò và trách nhiệm các

bên liên quan

Chương trình bao gồm sự tham gia của3 cán bộ IUCN, 13 đại biểu là cán bộ chuyên trách thuộc các Sở ban ngành cấp tỉnh, huyện, xã và 16 đại diện nông dân tiêu biểu thuộc 04 ấp thí điểm gồm

Trang 4

ấp Mỏ Ó và ấp Chợ thuộc xã Trung Bình; ấp Vàm Rầy và ấp Võ Thành Văn thuộc xã An Thạnh Nam (Danh sách thành viên tham gia hội thảo xin xem ở phần Phụ lục) Các đại biểu tham dự hội thảo được IUCN BCR và Phòng Tài nguyên biển-Sở TNMT mời dựa trên tính cần thiết hỗ trợ về nguồn lực để thực hiện các đề xuất thích ứng củangười dân xã Trung Bình và An Thạnh

Nam dựa trênkết quả VCA

1.2 Các đề xuất và nhu cầu của người dân địa phương (Kết quả VCA)

Kết quả này được tóm tắt từ báo cáo VCA thực hiện tại tỉnh Sóc Trăng từ ngày 03-08 tháng 05 năm 2012.Các đề xuất chính gồm:

1) Hỗ trợ ấp Mỏ Ó trong tư vấn gia cố đê bao và bảo vệ tuyến đê bằng rừng ngập mặn nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng trên diện rộng và tác động trực tiếp của triều cường đối với 60 ha đất trồng màu (nguồn sinh kế chính của người dân nghèo) ven biển thuộc ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình

2) Kết hợp với Hội Phụ nữ tỉnh thực hiện chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về biến đổi khí hậu bao gồm nguyên nhân, tác động, hậu quả và các hoạt động thích ứng mà ở cấp độ địa phương có thể thực hiện Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động ngư dân sử dụng ngư lưới cụ phù hợp trong khai thác, tránh làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển như hiện nay Thực hiện mô hình quỹ tài trợ nhỏ hỗ trợ các hộ gia đình nghèo đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhậpqua đó giảm hiện tượng vay mượn và chơi hụi tự phátdo tínhchất rủi ro cao của loại hình này

3) Kết hợp với Trung tâm Khuyến nông, Hội Nông dân để trang bị kỹ thuật canh tác, hướng dẫn các mô hình trồng trọt, chăn nuôi hiệu quả một cách sâu rộng; sau đó hỗ trợ giống cây trồng và vật nuôi cho nông dân dưới hình thức có kiểm soát Chính quyền nên tổ chức các buổi hội thảo

để chia sẻ kinh nghiệm về các mô hình sản xuất thành công, các kinh nghiệm hiệu quả trong cùng địa phương cũng như kinh nghiệm từ những địa phương khác với nhau để học tập và phát triển mở rộng

4) Hỗ trợ hệ thống nước sạch cho địa phương gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn nước ngọt Mô hình lọc nước phèn quy mô nhỏ (5-10 hộ/cột lọc), tận dụng các nguồn vật liệu lọc của địa phương

5) Tăng cường công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm:

• Kết hợp với Chi cục KT&BVNLTS tiến hành bảo tồn loài ghẹ dưới hình thức đầu tư ngân hàng ghẹ giống tại các khu vực cửa sông;

• Kết hợp với Hội Phụ nữ và Chi Cục KT&BVNLTS trong công tác phổ biến các chính sách, luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tăng cường tuyên truyền, vận động ngư dân sử dụng ngư lưới cụ phù hợp trong khai thác, tránh làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển

• Phối hợp với Chi Cục KT&BVNLTS tiến hành khoanh vùng bảo tồn, quy định khu vực đánh bắt và khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nhằm tạo điều kiện cho nguồn lợi thủy sản có thời gian phục hồi;

Trang 5

• Kết hợp với Chi cục Kiểm Lâm trong công tác trồng thêm và bảo vệ rừng, lựa chọn mô hình giao khoán rừng phù hợp với tình hình địa phương để dân nghèo có thể dựa vào rừng sống và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này

2 Kết quả thảo luận

Phần này trình bày nội dung thảo luận, các kinh nghiệm cũng như ý kiến đóng góp của các đại biểu nhằm cụ thể hơn cho các đề xuất thích ứng của xã Trung Bình và An Thạnh Nam Bên cạnh

đó, các đề xuất thích ứng bổ sung,cótính khả thi và phù hợp với mục tiêu của dự án BCR cũng được thu thập và trình bày theo thứ tự ưu tiên cho từng dự án

Dự án 1: Thích ứng với triều cường và nước biển dâng dựa vào nội lực cộng đồng thông qua tăng cường công tác trồng trừng, củng cố đê bao tại khu vực 60 ha trồng màu thuộc ấp

Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề

Thông tin chung:

Ấp Mỏ Ó là một ấp giáp biển với đường bờ biển dài khoảng 9 km Ấp có tổng diện tích tự nhiên gần 1.200ha trãi dọc theo quốc lộ Nam sông Hậu, trong đó diện tích trồng màu chiếm gần 80ha chủ yếu tập trung ở khu vực đất giồng cát ven biển (nằm bên ngoài tuyến đê biển quốc lộ Nam sông Hậu – xem Hình 1) Hàng năm, vào các tháng 7-8-9, dưới tác động của triều cường và nước biển dâng, khu vực đất trồng màu giáp xã Lịch Hội Thượng (chiếm khoảng 60ha) thường xuyên

bị tác động bởi triều cường và nước biển dâng gây ngập nghiêm trọngvà ảnh hưởng đến sinh hoạt của hơn 140 hộ dân cư đang sinh sống trong khu vực Hiện tượng vỡ bờ bao, nước biển tràn vào cũng gây ra tình trạng sạt lở đất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái đất nông lâm nghiệpnằm ngoài tuyến đê biển Nam sông Hậu này

Trang 6

Hình 1: Vị trí khu vực trồng màu bị ngập úng thuộc ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề

Tác động của triều cường và nước biển dâng đến ~60ha đất trồng màu ngoài đê biển ấp Mỏ Ó:

Về Kinh tế - xã hội:

Hoa màu là nguồn thu nhập chính của người dân tại khu vực này Các loại cây trồng chủ yếu bao gồm dưa hấu, đậu phộng, dây thuốc cá… Hàng năm, diện tích trồng hoa màu này mang lại nguồn thu nhập bình quân khoảng 120 triệu đồng/ha cho 140 hộ dân nơi đây

Người dân khu vực này có lịch sử khai hoang phục vụ cho hoạt động trồng trọt hoa màu trên đất cồn cát ven biển từ lâu đời kết hợp với các hoạt động nuôi trồng thủy sản ven rừng ngập mặn.Do đặc thù về vị trí địa lý, người dân không có nhiều lựa chọn sinh kế cho bản thân nên phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu nhập từ trồng trọt hoa màu, tài nguyên thiên nhiên ven biển như rừng ngập mặn và thủy sản

Tuy nhiên, dưới tác động của triều cường và nước biển dâng kéo dài từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, đặc biệt chịu tác động nghiêm trọng nhất vào tháng 8 và 9 hàng năm Do đó,người dân địa phương đã và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong canh tác và duy trì cuộc sống Đặc

Khu vực trồng

màu bị ngập

úng hàng

năm

Trang 7

biệt, họ không thể canh tác trong suốt 2 tháng 8 và 9trongnăm do tình trạng ngập nặng bởi triều cường Nguồn thu nhập từ hoa màu với các vụ mùa luân chuyển quanh năm mang đến cho người dân nơi đây với thu nhập bình quân khoảng 4 triệu/hộ/tháng.Như vậy,triều cường gây ranhiều tác động rất lớn đến sinh kế, đời sống kinh tế của người dân trồng màu ngoài tuyến đê bao

Bên cạnh đó, những ảnh hưởng do triều cường và NBD đến đời sống xã hội của người dân khu vực này cũng không kém nghiêm trọng NBD gây ngập nhà cửa, cản trở giao thông, xáo trộn sinh hoạt hàng ngày của 140 hộ dân sinh sống tại khu vực này.Mặc dù phải đối mặt với cuộc sống nhiều khó khăn và rủi ro từ thiên nhiên thế nhưng người dân vùng trồng màu ven biển này vẫn không thể chuyển vào khu quy hoạch trong đê sinh sống do nhiều hạn chế về sinh kế, đất đaicanh tác, tập quán sinh hoạt…

Về sinh thái, môi trường:

Dưới tác động của triều cường và NBD, diện tích đất cát ven biển bị sạt lở và ngập mặn Hệ sinh thái trên cạn và dưới nước khu vực này cũng bị ảnh hưởng theo đặc biệt là hệ sinh thái đất nông nghiệp và rừng ngập mặn ven biển Đất bị nhiễm mặn làm giảm năng suất của cây trồng,tình trạng khoan giếng tự phát phục vụ cho mục đích tưới tiêu hoa màu và nuôi trồng thủy sản cũng ảnh hưởng đến trữ lượng nước ngầm vùng ven biển.Ảnh hưởng của NBD còn gây sạt lở đất, mất đất đe dọa trực tiếp đến hoa màu và khu dân cư nằm ngoài đê bao

Trong mùa triều cường lên cao, nước biển tràn vào khu vực dân cư gây ô nhiễm nguồn nước ngầm dẫn đến tình trạng người dân thiếu nước sinh hoạt và phần lớn phải sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe

Hoạt động đề xuất cho dự án 1:

¾ Vận dụng nội lực cộng đồng (khoảng 140 hộ dân) - khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi triều cường cùng thực hiện công tác gia cố đê bao (vị trí thường xuyên bị vỡ) bằng vật liệugiá thành rẻ Đường kính bề mặt đê D=4m, chiều cao đê H=2m, chiều dài đoạn

đê cần gia cố L=3 km gồm 1 km xung yếu và 2 km cần nâng cao hơn

Hình 2: Mô hình đoạn đê bao cần gia cố

Cộng đồng ven biển khu vực này sẽchung tay góp sức gia cố đê bao (công lao động), đồng thời phía cơ quan chính quyền địa phương sẽ xem xét cung cấp lượng đất cần thiết cho công tác gia

cố đê

3 km

2m 4m

Trang 8

¾ Trồng thử nghiệm mô hình thí điểm rừng ngập mặn trên đất cát pha, thường xuyên chịu ngập do triều cường (mô hình thử nghiệm có diện tích khoảng 1ha dọc theo tuyến đê đất bao quanh khu vực trồng màu) với các loài cây ngập mặn thích hợp với điều kiện lập địa

và chế độ thủy triều của ấp Mỏ Ó.Mở rộng quy mô nếu mô hình này thành công cho tổng chiều dài tuyến đê cần phủ xanh khoảng 3km Các loài thực vật rừng ngập mặn như dừa nước, mắm, giá… được người dân địa phương đề xuất và tin là sẽ phù hợp với điều kiện khu vực này Tuy nhiên, dự án cần nghiên cứu và trồng thử nghiệm nhiều loài cây ngập mặn (multi-species) khác nhau trên cùng diện tích thí điểm để đảm bảo (1) tuyến đê sau khi gia cố được thảm thực vật ngập mặn bảo vệ, (2) tính khả thi của mô hình để từ đó mở rộng cho 3km diện tích cần phủ xanh còn lại cũng như chia sẻ bài học cho các khu vực/địa phương khác

¾ Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng ven biển vùng trồng màu về các chủ đề như vai trò và giá trị của rừng ngập mặn, sử dụng nguồn nước tưới tiêu hiệu quả, thay đổi mùa vụ và cây trồng nhằm tiết kiệm nước tưới tiêu… Các chương trình tập huấn này có thể lồng ghép vào chương trình nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường

do Hội Phụ nữ tỉnh thực hiện hàng năm tại huyện Trần Đề đồng thời kết hợp nguồn ngân sách nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường hàng năm từ DoNRE

¾ Kết hợp chương trình đồng quản lý (GIZ) tạo điều kiện cho người dân được tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ngập mặn đồng thời thừa hưởng những lợi ích do rừng ngập mặn mang lại

Ý nghĩa của các hoạt động:

- Về khía cạnh kinh tế - xã hội:

Với tuyến đê bao được gia cố và mô hình rừng ngập mặn thích ứng với điều kiện lập địa

và triều cường của ấp Mỏ Ó có thể góp phần giảm thiểu các thiệt hại do NBD, triều cường đến vùng trồng màu ngoài đê.Đồng thời, tình trạng ngập úng gây hư hại nhà cửa của những hộ dân sống ven biển cũng sẽ được cải thiện đáng kể.Mặt khác, hoạt động này sẽ làm tăng cường sức mạnh đoàn kết của cộng đồng trong ứng phó với các tác

động của thiên tai

- Về khía cạnh sinh thái, môi trường:

Mô hình trồng rừng ngập mặn trên đất cát pha vàthường xuyên ngập triều nếu thí điểm thành công sẽ là một mô hình điểm để ngành nông lâm nghiệp của tỉnh nhân rộng.Diện tích rừng ngập mặn ven biển gia tăng góp phần che chắn và giảm thiểu tình trạng mất đất và vỡ bờ bao dẫn đến giảm tình trạng xâm nhập mặn và ô nhiễm đất cũng như nguồn nước ngầm tại ấp Mỏ Ó

- Về khía cạnh giáo dục:

Nâng cao nhận thức của người dân địa phương về tính đoàn kết, cùng chung tay góp sức phối hợp thực hiện các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ thiên tai Bên cạnh đó, với các kiến thức về BĐKH, thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH cũng như giá trị rừng

Trang 9

ngập mặn được chuyển tải, người dân sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của sức mạnh cộng đồng

và hệ sinh thái trong công tác thích ứng BĐKH

Dự án 2:Hỗ trợ sinh kế và xây dựng chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nhằm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH cho các đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH tại xã Trung Bình và An Thạnh Nam

Thông tin chung:

Qua kết quả khảo sát VCA được thực hiện tại xã Trung Bình và An Thạnh Nam vào tháng 06/2012 cho thấy, các đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của BĐKH chính là người nghèo, người dân tộc thiểu số vì trình độ dân trí thấp và có mức thu nhập không ổn định (hộ nghèo theo tiêu chuẩn của nhà nướcvới mức thu nhập bình quân 450.000đồng/người/tháng trở xuống), các đối tượng thất nghiệp, phụ nữ, và trẻ em Bên cạnh đó, do đặc thù về vị trí địa lý ở vùng cửa sông ven biển nên nguồn thu nhập chính của các đối tượng này phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, ít/không cóvốn và sinh kế thay thế.Theo thống kê của các xã, tỷ lệ hộ nghèo các ấp khảo sát (Mỏ Ó, Vàm Hồ, Võ Thành Văn) có tỷ lệ trung bình trên 20%, chủ yếu là các hộ người dân tộc, các hộ có ít hoặc không có đất đai canh tác Do nguồn thu nhập hàng ngày phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên nên các đối tượng này khai thác tài nguyên dưới mọi hình thức (bao gồm các phương thức đánh bắt hủy diệt, chặt phá rừng ngập mặn…) dẫn đến nguồn tài nguyên khu vực này ngày càng cạn kiệt

Bên cạnh đó, tình trạng xâm nhập mặn, triều cường tác động rất lớn đến nguồn nước ngầm của khu vực khảo sát Hiện tại, chưa có đánh giá cụ thể về trữ lượng nguồn nước ngầm trong khu vực, tuy nhiên theo chủ trương của nhà nước là không khuyến khích việc khai thác nước ngầm tràn lan vì đây là nguyên nhân gây thông tầng giữa các mực nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước ngọt

Với những khó khăn và thách thức đó, nhu cầu đa dạng hóa sinh kế cũng như cải thiện chất lượng môi trường nước và vệ sinh nông thôn tại khu vực xã Trung Bình và An Thạnh Nam là rất cấp thiết đối với cuộc sống của người nghèo 2 xã này

Các hoạt động được đề xuất cho dự án 2:

Các đề xuất cho hoạt động của dự án 2 được trình bày theo mức độ ưu tiên:

¾ Hỗ trợ tổ chức chương trình dạy nghề đan lưới cho phụ nữ ấp Chợ, xã Trung Bình nhằm giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập cho chị em phụ nữ

¾ Hỗ trợ xây dựng 02 trạm cung cấp nước sạch, hợp vệ sinh cho 100 hộ dân ấp Vàm

Hồ và Võ Thành Văn thuộc xã An Thạnh Nam và cung cấp 50 bồn trữ nước mưa

sử dụng trong mùa khô cho người nghèo ấp Mỏ Ó thuộc xã Trung Bình

¾ Cải thiện tình trạng ô nhiễm hữu cơ do các nhà vệ sinh trên sông rạch thông qua chương trình hỗ trợ xây dựng hố xí hợp vệ sinh kết hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường nước tại xã Trung Bình và An Thạnh Nam

Trang 10

¾ Cải thiện sinh kế của người nghèo thông qua mô hình trồng thử nghiệm các giống cây trồng có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện đất ngập mặn tại xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung nhằm đa dạng hóa cây trồng.[Người dân đề xuất được dự án BCR hỗ trợ mô hình trình diễn giống míacao sản K88-92 trên 4ha]

¾ Tổ chức các chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm về các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH, các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao ở các tỉnh ven biển khác trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và các nước bạn

Ý nghĩa của các hoạt động:

- Về khía cạnh kinh tế - xã hội:

Chương trình đào tạo nghề, đa dạng hóa sinh kế sẽ giải quyết tình trạng lao động nhàn rỗi,tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có của địa phương như cỏ, thân ngô, dây lang… tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân vùng ven biển dễ bị tổn thương, đặc biệt đối với giới nữ thuộc hai xã Trung Bình

và An Thạnh Nam Thông qua chương trình này, thu nhập của người nghèo sẽ được cải thiện đồng thời tính kết nối trong cộng đồng với các chương trình chia sẽ kiến thức, các bài học kinh nghiệm, các lớp đào tạo nghề tại địa phương sẽ gia tăng

Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn là chương trình mang tính thiết thực,giải quyết nhu cầu cấp thiết của địa phương và góp phần làm giảm chi phí cho nước sinh hoạt của người dân 02 xã.Đồng thời, chương trình sẽgiúp nâng cao nhận thức cũng như khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý và sử dụng nguồn nước bền vững

- Về khía cạnh sinh thái, môi trường:

Tình trạng ô nhiễm hữu cơ trên các con sông, rạch sẽ giảm đáng kể khi các hố xí hợp vệ sinh được xây dựng, qua đó sức khỏe của người dân sẽ được đảm bảo hơn Nếu chương trình được thực hiện thành công, đây sẽ là tiền đềđể mô hình được nhân rộng và phát triển ra các địa phương khác trong huyện, từ đó tình trạng ô nhiễm nguồn nước sẽ được cải thiện

Chương trình quản lý và sử dụng nguồn nước bền vững với bước đầu hỗ trợ trạm cấp nước hợp

vệ sinh và các dụng cụ trữ nước mưa tại vùng ven biển là giải pháp cấp thiết trong thời điểm người dân địa phương đang rất thiếu nguồn nước ngọt hợp vệ sinh và tình trạng khai thác nước ngầm bất hợp pháp diễn ra khó kiểm soát.Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động này, các tác động đến môi trường nước ngầm do khoan giếng cấp nước cho trạm bơm cần phải được đánh giá chi tiết

- Về khía cạnh giáo dục:

Các chiến dịch vận động người dân xóa nhà vệ sinh trên sông rạch, chung tay cùng cồng động sử dụng và quản lý nguồn nước ngọt vùng ven biển bền vững… là một trong những hoạt động nâng cao nhận thức được thực hiện từ trường học đến nhà dân với mong đợi sẽ làm thay đổi tập quán sống và sử dụng nguồn nước của người dân địa phương

Dự án 3: Hỗ trợ thí điểm Mô hình chuyển đổi ngư cụ khai thác hủy diệt sang ngư cụ khai thác thân thiện với môi trường kết hợp bảo tồn nguồn giống thủy sản địa phương

Ngày đăng: 28/05/2016, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Vị trí khu vực trồng màu bị ngập úng thuộc ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề - Ứng phó BDKH cho cộng đồng ngư dân
Hình 1 Vị trí khu vực trồng màu bị ngập úng thuộc ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề (Trang 6)
Hình 2: Mô hình đoạn đê bao cần gia cố - Ứng phó BDKH cho cộng đồng ngư dân
Hình 2 Mô hình đoạn đê bao cần gia cố (Trang 7)
Hình 3: Một số ngư cụ người dân địa phương sử dụng đánh bắt thủy sản gần bờ. - Ứng phó BDKH cho cộng đồng ngư dân
Hình 3 Một số ngư cụ người dân địa phương sử dụng đánh bắt thủy sản gần bờ (Trang 11)
Bảng 2: Danh sách cán bộ tham gia họp PLI tại Sóc Trăng - Ứng phó BDKH cho cộng đồng ngư dân
Bảng 2 Danh sách cán bộ tham gia họp PLI tại Sóc Trăng (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w