1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi

101 629 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 715,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: là ngư dân, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và quản lí liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản ở khu vực đảo Lý Sơn... Nghiên cứu sẽ chỉ ra những khó khăn

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC PHỤ LỤC vii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu 3

1.4.2 Thu thập số liệu 3

1.4.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 KẾT QUẢ MONG ĐỢI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU 4

1.6 SƠ KHẢO TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHỀ CÁ 4

1.7 KẾT CẤU BÁO CÁO 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 VẤN ĐỀ NGHÈO TRONG NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ 6

2.1.1 Tìm hiểu chung về nghèo 6

2.1.1.1 Định nghĩa nghèo 6

2.1.1.2 Những tiêu chuẩn để xếp vào tình trạng nghèo 7

2.1.2 Những nguyên nhân chung của tình trạng nghèo 8

2.1.3 Nguyên nhân nghèo đói phổ biến ở các vùng ven biển và hải đảo 8

2.1.4 Xu hướng nghèo của cộng đồng ngư dân vùng ven biển, hải đảo ở Việt Nam 9

2.2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN .10

2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 10

Trang 2

2.2.2 Các mối quan hệ trong phát triển bền vững 11

2.2.3 Sự cần thiết phải phát triển bền vững trong lĩnh vực thủy sản 11

2.3 MỐI GẮN KẾT GIỮA NGHÈO, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG 12

2.3.1 Mối quan hệ giữa nghèo và môi trường 12

2.3.1.1 Khái niệm môi trường 12

2.3.1.2 Những tác động môi trường tự nhiên đến con người .12

2.3.1.3 Tác động của con người đến môi trường tự nhiên .13

2.3.1.4 Mối liên hệ giữa người nghèo và môi trường .13

2.3.1.5 Mối quan hệ giữa sinh kế của người nghèo và môi trường .15

2.3.2 Mối quan hệ giữa nghèo và nguồn lực phát triển 15

2.3.2.1 Tìm hiểu chung về nguồn lực 15

2.3.2.2 Mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên và cuộc sống người dân 16

2.3.2.3 Mối quan hệ giữa tài nguyên thủy sản và vấn đề nghèo đói của hộ gia đình ở khu vực ven biển 17

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 MÔ TẢ VÙNG NGHIÊN CỨU 19

3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU .19

3.2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 19

3.2.2 Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu 20

3.2.3 Lập kế hoạch nghiên cứu 20

3.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU .20

3.3.1 Thu thập dữ liệu 20

3.3.1.1 Nguồn dữ liệu .20

3.3.1.2 Xác định cỡ mẫu .21

3.3.1.3 Cách thức phỏng vấn ngư dân .21

3.3.1.4 Xây dựng bảng câu hỏi .22

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 22

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

Trang 3

4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN .25

4.1.1 Vị trí địa lý 25

4.1.2 Đặc điểm khí hậu 26

4.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 26

4.1.3.1 Tài nguyên đất .26

4.1.3.2 Tài nguyên biển .27

4.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn 29

4.1.4.1 Đơn vị hành chính và dân số và nguồn lao động: 29

4.1.4.2 Những quan điểm xã hội của người dân vùng đảo 30

a Tâm lý muốn sinh nhiều con trai 30

b Tâm lý bám biển 31

c Vấn đề đầu tư con đi học .31

4.1.4.3 Tình hình kinh tế tại vùng nghiên cứu .32

a Tổng quan về kinh tế của huyện 32

b Đóng góp của hai ngành kinh tế lớn đối với huyện đảo Lý Sơn .34

4.2 THỰC TRẠNG NGHÈO CỦA NGƯ DÂN LÝ SƠN 36

4.2.1 Tổng quan về tình trạng nghèo ở Lý Sơn 36

4.2.2 Đặc điểm của hiện tượng nghèo ở đảo Lý Sơn 36

4.2.2.1 Quan điểm nghèo theo cách đánh giá của chính quyền và hộ dân:36 4.2.2.2 Phân tích nguyên nhân nghèo ở Lý Sơn .37

a Nguyên nhân nghèo xuất phát từ hộ gia đình .38

b Nguyên nhân từ cơ chế chính sách 40

c Nguyên nhân nghèo do điều kiện tự nhiên .41

4.2.3 Sinh kế của người dân Huyện đảo Lý Sơn 42

4.2.3.1 Đặc điểm nguồn lực của hộ ngư dân .42

4.2.3.2 Những khó khăn trong sinh kế quan trọng của các hộ ngư dân: 43

a Các rủi ro và khó khăn cho ngành khai thác thủy sản .43

b Khó khăn của ngành nông nghiệp Lý Sơn 46

4.2.4 Nhu cầu của ngư dân .48

Trang 4

4.2.4.1 Nhu cầu về đất canh tác .48

4.2.4.2 Nhu cầu về vốn .49

4.2.4.3 Nhu cầu hỗ trợ chi phí đầu vào .50

4.2.4.4 Nhu cầu về sự quan tâm của các cấp chính quyền, các tổ chức 51

4.3 PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN BIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN 52

4.3.1 Thực trạng sản xuất .52

4.3.1.1 Các nghề khai thác thủy sản ở Lý Sơn .52

4.3.1.2 Tổ chức sản xuất trên các tàu khai thác thủy sản .54

4.3.2 Thực trạng thu nhập 55

4.3.4 Các hình thức khai thác thủy sản của ngư dân Lý Sơn 56

4.3.4.1 Đánh bắt xa bờ 56

4.3.4.2 Đánh bắt gần bờ 57

4.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NGHÈO, NGUỒN LỢI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN Ở LÝ SƠN 57

4.4.1 Ngư dân với vấn đề cạn kiệt nguồn lợi thủy sản: 57

4.4.2 Nghèo và nghề khai thác hủy diệt đang rất phổ biến ở Lý Sơn 58

4.4.3 Những vấn đề chung của ngư dân Lý Sơn: 59

CHƯƠNG 5:GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNGCHO NGƯ DÂN HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 60

5.1 CƠ SỞ ĐƯA RA CÁC GIẢI PHÁP .60

5.1.1 Căn cứ vào những khó khăn trong quá trình phát triển ngư nghiệp của ngư dân 60

5.1.2 Căn cứ vào những lợi thế và tiềm năng của Huyện đảo Lý Sơn 60

5.1.3 Căn cứ vào tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản 61

5.1.4 Căn cứ vào những chính sách của Đảng và nhà nước .62

5.2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH KHAI THÁC THỦY SẢN 63

5.3 GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO NGƯ DÂN LÝ SƠN .64

Trang 5

5.3.1 Giải pháp trước mắt: 65

5.3.1.1 Giải pháp giải quyết chi phí đầu vào cho ngư dân: 65

a Tham khảo các hình thức hỗ trợ của các quốc gia trên thế giới 65

b Hình thức hỗ trợ đã áp dụng ở Việt Nam .66

c Những hạn chế của hình thức hỗ trợ đã được áp dụng 67

d Giải pháp hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho ngư dân trong thời gian tới: 67

5.3.1.2 Giải pháp đầu ra 68

5.3.2 Biện pháp lâu dài 69

5.3.2.1 Nâng cao kiến thức cho các hộ gia đình .70

a Tuyên truyền tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản và nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn lợi thủy sản .70

b Nâng cao kiến thức chuyên môn khác cho các hộ ngư dân 72

5.3.2.2 Phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững – hình thành khu bảo tồn biển 73

a Sự cần thiết 73

b Định hướng sử dụng và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản 73

c Sự ảnh hưởng của khu bảo tồn đến hoạt động và lợi ích của các nhóm ngư dân hoạt động vùng bờ 73

5.3.2.3 Gợi ý những sinh kế cho ngư dân vùng ven bờ khu vực đảo Lý Sơn 74

a Cơ sở cho việc đưa ra các sinh kế .74

b Sinh kế 1: Cắt giảm tàu khai thác ven bờ phục vụ cho vận tải 75

c Sinh kế 2: Phát triển tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng ở địa phương .77

5.3.2.4 Các hành động quan trọng khác .78

a Quản lý nguồn lợi tự nhiên .78

b Quy hoạch và phát triển nghề khai thác hải sản .79

c Xây dựng lực lượng kiểm ngư .80

Trang 6

ĐỀ XUẤT 83

KẾT LUẬN 85

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU: 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Tình hình sử dụng đất 26

Bảng 2:Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển vùng biển tỉnh Quảng Ngãi .28

Bảng 3: Tình hình diện tích, phân bố dân cư của huyện đảo Lý Sơn 29

Bảng 4: Cơ cấu lao động của huyện 30

Bảng 5: Cơ cấu kinh tế các ngành của huyện Lý Sơn 32

Bảng 6: Năng lực tàu thuyền huyện Lý Sơn 34

Bảng 7: Tình trạng nghèo ở huyện Lý Sơn 38

Bảng 8: Thống kê trình độ học vấn của các chủ hộ 39

Bảng 9: Tình trạng vay vốn của các hộ gia đình nghèo và không nghèo .50

Bảng 10: Cơ cấu nghề nghiệp khai thác của huyện Lý Sơn năm 2009 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững 11

Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa giảm nghèo – phát triển kinh tế - bảo vệ môi trường .19

Sơ đồ 3: Mô hình thể hiện các mối quan hệ cần phân tích trong nghiên cứu 23

Sơ đồ 4: Những tác động làm giảm sản lượng khai thác 58

Sơ đồ 5: Hệ thống cây giải pháp 65

Sơ đồ 6: Mô tả tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ ngư dân 72

DANH MỤC PHỤ LỤC Phiếu điều tra thông tin kinh tế - xã hội hộ ngư dân .90

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực tìm kiếm những biện pháp phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ven biển và hải đảo Vấn đề phát triển bền vững cho cộng đồng ngư dân càng trở nên cấp thiết khi dân số liên tục tăng, nhu cầu thực phẩm từ thủy sản cũng ngày càng tăng trong khi nguồn lợi biển lại đang dần suy kiệt vì có quá nhiều người cùng tham gia đánh bắt một lượng cá hạn chế

Nguồn lợi ven bờ đang chịu áp lực và sự thiếu bền vững trong việc khai thác thủy sản Nếu không giải quyết hài hòa mới quan hệ giữa bảo vệ tài nguyên nguồn lợi thủy sản gần bờ, sinh kế và phát triển bền vững sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho

đa dạng sinh học và sinh kế bền vững cho ngư dân địa phương

Lý Sơn là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, nằm chếch về phía Đông Bắc của tỉnh cách đất liền hơn 15 hải lý Tuy là một đảo nhỏ, nhưng Lý Sơn có vị thế quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Với dân số tương đối cao nhưng diện tích chỉ 997 km2, đất cát là chủ yếu, nguồn nước ngọt thì hạn hẹp, do đó rất khó để đầu tư vào các ngành trồng trọt, chăn nuôi Khai thác thủy sản có lẽ là một trong những lợi thế hàng đầu của huyện đảo Lý Sơn, tuy nhiên sự suy giảm nguồn lợi thủy sản trong những năm gần đây đã làm nhiều gia đình ngư dân đang trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, sinh kế ngày càng bị đe dọa Trồng hành tỏi cũng là một thế mạnh của vùng đất đảo bấy lâu, tuy nhiên lại phụ thuộc và điều kiện

tự nhiên Diễn biến khí thời tiết ngày càng khắt nghiệt làm năng suất các vụ hành, tỏi những năm gần đây điều giảm, mất mùa thường xảy ra Việc thay cát biển trồng tỏi đã gây nên sự xâm thực của nước biển làm diện tích đảo ngày càng thu hẹp dần

Các hoạt động kinh tế của người dân Lý Sơn đều phụ thuộc vào thiên nhiên Thủy sản được coi là nguồn tài nguyên chính giữ vai trò lớn trong việc tạo ra thu nhập cho người dân Sự phụ thuộc gần như hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên của ngư dân kéo theo cuộc sống của họ cũng bấp bênh Câu hỏi lớn luôn đặt ra cho

Trang 9

chính quyền địa phương là làm thế nào để các hộ ngư dân ổn định kinh tế lâu dài, phát triển ngư nghiệp bền vững, giảm tỷ lệ hộ nghèo Xuất phát từ tình hình thực tế trên, việc nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở Huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi là vô cùng cần thiết

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu những khó khăn của ngư dân trong quá trình tạo ra thu nhập

- Mối quan hệ giữa đói nghèo và môi trường

- Lựa chọn tiềm năng phát triển các nghề khác phù hợp với điều kiện địa phương

- Tìm hiểu các trở ngại trong việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh

tế

- Xây dựng một báo cáo về kết quả của điều tra nhằm xác định các lựa chọn phát triển cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là ngư dân, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và quản lí liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản ở khu vực đảo Lý Sơn

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung tìm hiểu vấn đề nghèo trong nghề cá qui

mô nhỏ ở vùng đảo Lý Sơn, sự phát triển bền vững trong nghề khai thác thủy sản và mối quan hệ giữa giảm nghèo và phát triển bền vững

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu phải mạng tính đại diện cho những khó khăn của vùng biển Quảng Ngãi, cuộc sống của người dân vùng được nghiên cứu phần lớn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, cụ thể là nguồn lợi biển Lựa chọn khu vực có truyền thống lâu đời và có những bất cập trong hoạt động khai thác thủy sản

Xuất phát từ quan điểm trên, nghiên cứu đã tiến hành điều tra thông tin để phục vụ nghiên cứu ở huyện đảo Lý Sơn, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao so với các huyện ven biển khác trong tỉnh và có những đặc thù riêng của vùng đảo

1.4.3 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu những thông tin cơ bản của hộ gia đình, những nguyên nhân nghèo theo ý kiến hộ ngư dân nghiên cứu đã sử dụng bảng câu hỏi điều tra các hộ ngư dân theo phương thức phỏng vấn có cấu trúc Ngoài ra, để tìm hiểu được những nhu cầu khác nhau của ngư dân, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để tìm hiểu thêm thông tin phục vụ cho nghiên cứu

Sau đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê tần số để trình bày dữ liệu nghiên cứu và xác định những nguyên nhân chủ yếu tác động đến nghèo theo ý kiến hộ dân Phương pháp phân tích so sánh tỷ lệ nghèo ở địa điểm nghiên cứu so với các khu vực Phương pháp phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu để viết báo cáo nghiên cứu

Trang 11

1.5 Kết quả mong đợi và đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ chỉ ra những khó khăn của ngư dân trong việc phát triển kinh

tế, thực trạng nguồn lực của ngư dân, những tác động của môi trường ảnh hưởng đến đời sống và đề xuất một số giải pháp phần đảm bảo sinh kế lâu dài của ngư dân Nghiên cứu chú trọng vào mối quan hệ giữa giảm nghèo, phát triển kinh tế và bảo

vệ nguồn lợi thủy sản nhằm góp phần phát triển kinh tế ở huyện đảo Lý Sơn Sau khi hoàn thành, nghiên cứu này sẽ có một số đóng góp như:

Về mặt lý luận: Xác định được thực trạng tình hình kinh tế xã hội, các nguồn lực của các hộ ngư dân và những khó khăn của họ trong phát triển kinh tế

Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần tìm ra những giải pháp giúp ngư dân huyện Lý Sơn ổn định phát triển kinh tế lâu dài trên cơ sở khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.6 Sơ khảo tài liệu về vấn đề nghèo trong nghề cá

Ở Việt Nam, tổ chức SEDEC đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu và triển khai các mô hình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế và phát triển bền vững ở nhiều địa phương Cụ thể một số chương trình như: “ Điều tra, phân tích thực trạng kinh tế của các vùng và các nhóm xã hội” 2004 – 2005: Dự án do viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, tiến hành điều tra cơ bản kinh tế - xã hội ở tất cả các vùng trên

cả nước

SEDEC cũng đã thực hiện một số dự án triển khai chính như hỗ trợ xây dựng

và thực hiện mô hình kết hợp nông – lâm – ngư kết hợp với vùng cát ven biển miền Trung nhằm mục đích xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững nông thôn: Thí điểm ở xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa SEDEC còn nghiên cứu chất lượng cuộc sống của phụ nữ vùng ven biển nuôi trồng thủy sản và thí điểm mô hình can thiệp nhằm nâng cao đời sống của họ” năm 2004 – 2005, tổ chức này thực hiện công tác điều tra khảo sát ở 3 xã thuộc các tỉnh Thái Bình, Khánh Hòa và Bến Tre, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp can thiệp Dự án do DANINA và bộ thủy sản tài trợ

Trang 12

Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác về vấn đề nghèo đói và giải pháp phát triển kinh tế như: “Đánh giá nghèo theo vùng tại vùng ven biển miền Trung và Tây Nguyên”, Nghiên cứu của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) thực hiện năm 2003

và “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam, các yếu tố địa lí và không gian”, do tiến sĩ Đặng Kim Sơn, giám đốc trung tâm thông tin Nông Nghiệp và PTNT (ICARD) làm trưởng ban điều hành

1.7 Kết cấu báo cáo

Luận văn gồm 5 chương chính

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Vấn đề nghèo trong nghề cá qui mô nhỏ

Nghề cá gắn liền với việc khai thác nguồn lợi sinh vật biển Vấn đề nghèo đói trong cộng đồng nghề cá gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm của nghề khai thác

cá biển, đặc điểm nguồn lợi, điều kiện khai thác, các rủi ro về thiên tai, những hạn chế về nguồn lực Việc tìm hiểu những khó khăn của ngư dân; khắc phục những khó khăn về tự nhiên và hạn chế trong vấn đề phát triển kinh tế gắn liền với việc nâng cao hiệu quả khai thác và ổn định kinh tế cho ngư dân lâu dài

Trong chương này, nghiên cứu tìm hiểu những khái niệm liên quan đến nghèo, môi trường và bảo vệ môi trường, tập trung phân tích những mối quan hệ giữa nghèo, suy giảm nguồn lợi ven bờ và phát triển kinh tế của những hộ ngư dân

2.1.1 Tìm hiểu chung về nghèo

2.1.1.1 Định nghĩa nghèo

Không có một khái niệm thống nhất chung nào về nghèo trong các nghiên cứu khác nhau Nghèo đói là một phạm trù rất rộng và định nghĩa về nghèo đói theo ngân hàng thế giới là “không chỉ đơn thuần là vấn đề túng thiếu vật chất mà còn liên quan đến rủi ro, tính dễ bị tổn thương, vấn đề xã hội và các cơ hội (Ngân hàng thế giới, 2006)

Tuy nhiên, nghèo không chỉ là thu nhập thấp mà còn là thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ như: giáo dục, văn hóa, y tế, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà nghèo còn trong tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá đó là lòng tin và lòng tự trọng (Lê Quang Viết và Bùi Văn Trịnh, năm 2005)

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra 3 tiêu chí cần phải có để ước tính các chuẩn đói nghèo ở Việt Nam là: (i) dựa trên mức tối thiểu về vật chất, lương thực, thực phẩm và các nhu cầu cần thiết khác; (ii) lương thực thực phẩm phải chiếm đa số trong chuẩn đói nghèo vì đây là nhu cầu thiết yếu nhất và (iii) nhu cầu

Trang 14

tối thiểu về kcalo đối với một người/một ngày phải đảm bảo 2100 kcalo, nhưng rổ lương thực thực phẩm đó phải gồm các loại lương thực thực phẩm rẻ nhất, thông dụng nhất và với một lượng tối thiểu các thực phẩm khác để làm phong phú cho đời sống của họ (Phạm Hồng Mạnh, 2010)

Ở Việt Nam, nghèo được thừa nhận theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Nghèo là tình trạng trong đó các nhu cầu thiết yếu của bộ phận dân cư không được thỏa mãn, đó là những nhu cầu mà đã được xã hội thừa nhận, tùy thuộc và mức độ phát triển kinh tế xã hội và các phong tục, tập quán của địa phương (Hội nghị giảm nghèo đói châu Á – Thái Bình Dương, 1993)

Như vậy: Có 3 điểm cần lưu ý về nghèo là:

Thứ nhất: Nhu cầu thiết yếu: ăn, ở, mặc, đi lại, y tế, giáo dục và giao tiếp xã hội

Thứ hai: Nghèo đói thay đổi theo thời gian, khi kinh tế càng phát triển, nhu cầu cơ bản của con người cũng thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn

Thứ ba: Nghèo đói thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc

và sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, từng vùng Xu hướng chung là các nước phát triển, ngưỡng nghèo đói ngày càng cao

Qua các nghiên cứu và khái niệm đưa ra về nghèo đói, nghèo được bao gồm: Nghèo tuyệt đối: là tình trạng mà dân số hay một bộ phận dân số khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu cần thiết về lương thưc, thực phẩm, quần áo, nhà ở và duy trì một mức sống tối thiểu

Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng dân cư tại địa phương đang xét

2.1.1.2 Những tiêu chuẩn để xếp vào tình trạng nghèo

Mỗi quốc gia khác nhau sử dụng những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo Cụ thể như Liên hợp quốc (2005) quy định người có mức thu nhập dưới 1 đô la Mỹ/ngày tức 365 USD/năm là người nghèo Chính phủ Mỹ thì

Trang 15

căn cứ vào thu nhập hàng năm của hộ gia đình để quy định mức nghèo và mức nghèo thay đổi theo từng năm tùy tình hình năm đó

Việt Nam đã có quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, theo đó hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

2.1.2 Những nguyên nhân chung của tình trạng nghèo

Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo (2000) đã xác định 3 nhóm nhân

tố chính là nguyên nhân của tình trạng nghèo:

Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: Do địa hình phức tạp, đất đai khô

cằn, thời tiết khí hậu khắt nghiệt

Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu

hoặc không có vốn, đông con, neo đơn, thiếu sức lao động hoặc không có việc làm, đau ốm

Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về

chính sách đầu tư các cơ sở hạ tầng cho các vùng, các chính sách khuyến khích sản xuất và vấn đề tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ làm tăng thu nhập, cung cấp hỗ trợ các dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí

2.1.3 Nguyên nhân nghèo đói phổ biến ở các vùng ven biển và hải đảo

Vùng biển chịu sự tác động tổng thể từ ba yếu tố cơ bản: vùng đất liền (hay đảo), biển cả và con người Hai yếu tố đầu là hai yếu tố bị chi phối chủ yếu bởi các quy luật tự nhiên và chúng luôn thay đổi dưới tác dụng của loài người Con người chẳng những thông qua các hoạt động sinh kế và xã hội của mình luôn luôn thay đổi chính mình mà còn luôn tác động vào môi trường tự nhiên chung quanh làm cho chúng thay đổi theo Chính vì vậy để phát triển cũng như để quản lý sự phát triển

Trang 16

kinh tế sao cho không làm tổn hại đến những lợi ích lâu dài mà vẫn đảm bảo sự trường tồn của loài người thì hành động của con người và cộng đồng xã hội có vai trò rất quan trọng

Một hiện trạng phổ biến ở các tỉnh ven biển và hải đảo là thường có dân số đông và mật độ dân số cao, trung bình khoảng trên 369 người/km2 , diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người thấp, có người thì lại không có đất canh tác, hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng đều kém phát triển Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo

Nhiều nghiên cứu cho thấy, nghèo đói là tình trạng phổ biến đối với phụ nữ Người phụ nữ ở khu vực biển chủ yếu làm công việc nội trợ gia đình, trình độ học vấn thấp Tình trạng thiếu việc làm thường xuyên, lao động nữ ở nhà nội trợ là chủ yếu, trông chờ chồng đi biển về để bán cá chứ không có công việc gì khác

Sinh kế quan trọng của ngư dân nghèo là khai thác thủy sản gần bờ và việc khai thác quá mức tài nguyên này khiến chúng dần suy kiệt cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng nghèo đói

2.1.4 Xu hướng nghèo của cộng đồng ngư dân vùng ven biển, hải đảo ở Việt Nam

Các vùng ven biển, hải đảo thường chịu ảnh hưởng nhiều nhất của lũ lụt, hạn hán, bão Nhiều gia đình lâm vào cảnh nghèo hoặc bị tái nghèo do mất tài sản do thiên tai gây ra

Các nguồn lợi hải sản bị suy giảm do khai thác quá mức, thu hoạch sau mỗi chuyến đi không đáng kể và những tháng đầu năm thường xuyên lỗ tổn

Việc chuyển từ nghề khai thác sang nuôi trồng thủy sản không được quy hoạch một cách có hệ thống làm ô nhiễm môi trường do nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản

Nhiều nông dân chuyển từ đất canh tác sang nuôi tôm, nhưng khi quy trình nuôi tôm có nhiều hạn chế, thiếu hệ thống xử lý nước thải, dịch bệnh xảy ra tràn lan Nhiều hộ gia đình lâm vào tình cảnh phá sản, nợ nần chồng chất, không còn

Trang 17

sinh kế nào khác vì không còn vốn, đất đai thì không thể sử dụng cho mục đích nông nghiệp nữa

2.2 Phát triển bền vững trong khai thác thủy sản

2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỉ XX Năm 1987, trong báo cáo

“Tương lai chung của chúng ta” của hội đồng thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững’ được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa

3 mặt của sự phát triển, gồm: Phát triển kinh tế; phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Theo định nghĩa của hội đồng của FAO (FAO Council, 1998): “Phát triển bền vững là quản lý và bảo tồn cơ sở nguồn tài nguyên, hướng tới thay đổi thể chế

và công nghệ theo một cách thức để đảm bảo thỏa mãn liên tục nhu cầu con người cho thế hệ hôm nay và mai sau Phát triển bền vững như thế sẽ bảo tồn đất, nước, cây trồng và nguồn lợi gen không bị suy giảm về môi trường, phù hợp công nghệ, khả thi về mặt kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội”

Tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế

ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống

Trang 18

2.2.2 Các mối quan hệ trong phát triển bền vững

Phát triển bền vững có nghĩa là cả ba khía cạnh chủ yếu liên quan đến đời sống của con người là: kinh tế, xã hội và môi trường phải được tổng hòa, kết hợp lồng ghép khi có thể và được cân đối một cách có hiệu quả qua các cơ chế, công cụ

và quá trình thực hiện các chính sách

Phát triển bền vững giống như việc xây dựng một tòa nhà kinh tế - xã hội trên nền móng hệ thống môi trường sinh thái Tòa nhà chỉ bền vững khi cả khung nhà và mái nhà đều có nền móng vững chắc, gắn kết hài hòa với nhau Mối quan hệ cốt lõi trong phát triển bền vững là mối quan hệ giữa con người và môi trường

Sơ đồ 1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững

Nguồn: Nguyễn Thị Cẩm Hiếu (2010)

2.2.3 Sự cần thiết phải phát triển bền vững trong lĩnh vực thủy sản

Trong lĩnh vực thủy sản, hoạt động khai thác thủy sản của nước ta về cơ bản vẫn đang đặt trong tình trạng “tiếp cận tự do”, nhiều ngư dân khai thác thủy sản mang tính hủy diệt, kích thước mắc lưới quá nhỏ, khai thác hải sản quá mức làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản Điều này làm đe dọa các sinh kế hiện tại và lâu dài của một bộ phận lớn dân cư vùng biển Việt Nam

Hiện nay, nguồn lợi thủy sản vẫn được khai thác tự do, chưa được quản lý chặt chẽ, đồng thời việc khai thác không bền vững nguồn lợi thủy sản đã tạo áp lực lên hệ sinh thái san hô, khiến các cá thể lớn hoặc già tuổi không còn trong hệ sinh thái Điển hình là nghề lưới kéo, nghề đánh bắt bằng thuốc nổ từ lâu đã được coi là loại hình đánh bắt hủy diệt toàn diện, làm giảm trữ lượng quần thể xuống mức thấp

Đời sống

Kinh tế

Môi trường

Trang 19

và phá hủy sinh cảnh Việc khai thác cá nhỏ có giá trị thấp với số lượng lớn đã khiến nguồn lợi thủy sản khó có thể phục hồi được

Hơn nữa, số người có nhận thức về khai thác quá mức từ đại dương gây ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài là rất thấp Do đó, cần phải có những biện pháp và nỗ lực trong việc quản lý nghề cá, đảm bảo sinh kế lâu dài cho ngư dân bởi nhiều nghiên cứu trên thực tế và lý thuyết, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng sự phát triển bền vững

là quan trọng trong việc bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế

Để đảm bảo phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế phải đảm bảo tính bền vững đồng thời trong các lĩnh vực môi trường, xã hội và thể chế Trong lĩnh vực kinh tế cần thiết phải giảm tỷ lệ tổn thất sản phẩm sau thu hoạch, tăng tối đa giá trị gia tăng trong các sản phẩm chế biến Về mặt xã hội, cần phải đảm bảo thu nhập ổn định cho cộng đồng ngư dân và sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý, phát triển nguồn lợi Về mặt thể chế cần có sự tham gia của các bên liên quan trong việc quản lý nguồn lợi, duy trì các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển bền vững ngành thủy sản

2.3 Mối gắn kết giữa nghèo, phát triển kinh tế và môi trường

2.3.1 Mối quan hệ giữa nghèo và môi trường

2.3.1.1 Khái niệm môi trường

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Khoản 1, điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005)

Suy thoái môi trường: là việc làm biến đổi tài sản của môi trường, tác động xấu và làm phá vỡ các tiêu chuẩn môi trường

2.3.1.2 Những tác động môi trường tự nhiên đến con người

Mặt tốt: Môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Con người trên trái đất cần có không khí để thở, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể, đất đai để xây dựng nhà cửa Môi trường tự nhiên gắn liền với

sự tồn tại của con người và là cơ sở để con người sống và phát triển

Trang 20

Mặc xấu: Môi trường tự nhiên cũng luôn mang đến cho con người những thiên tai nếu con người gia tăng các hoạt động tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên

2.3.1.3 Tác động của con người đến môi trường tự nhiên

Mặc tích cực: Con người cũng có những hành động tích cực như bảo vệ rừng, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo vệ động vật quý hiếm Tuy nhiên phần lớn những hoạt động của con người đều tác động tiêu cực đến môi trường

Mặc tiêu cực: đa số các hoạt động của con người đều gây ô nhiễm môi trường như do các chất thải sinh hoạt, chất thải từ các khu công nghiệp, bệnh viện Các hoạt động gây mất cân bằng sinh thái: săn bắt các động vật quý hiếm, săn bắn, đánh bắt quá mức

2.3.1.4 Mối liên hệ giữa người nghèo và môi trường

Giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và duy trì các nguồn tài nguyên môi trường phục vụ cho cuộc sống có mối liên hệ chặt chẽ Đa số người nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thuộc sở hữu riêng của riêng ai để kiếm sống Họ thường tập trung ở những khu vực môi trường dễ bị suy thoái, nguồn tài nguyên thì đang ngày càng cạn kiệt nên cuộc sống của họ cũng dễ bị tổn thương

Đói nghèo là nguyên nhân khiến những người dân khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhưng khi các tài nguyên này trở nên cạn kiệt và không thể phục vụ cho sinh kế con người thì người nghèo sẽ càng trở nên nghèo hơn

Con số minh họa về mối gắn kết giữa con người và môi trường ở Việt Nam

là hơn 50% lao động làm trong ngành nông – lâm – ngư (sơ bộ năm 2009) và do vậy cuộc sống của họ, hạnh phúc của họ phụ thuộc và việc quản lí bền vững các nguồn tài nguyên này

Mối quan hệ giữa cái được và cái mất, những đánh đổi trong việc phát triển kinh tế, giảm nghèo với bảo vệ nguồn tài nguyên thủy sản được tóm lược qua sơ đồ sau:

Trang 21

Sơ đồ 2:

Mối quan hệ giữa giảm nghèo – phát triển kinh tế - bảo vệ môi trường

(Nguồn: Sáng kiến đói nghèo – môi trường của chương trình phát triển liên hợp quốc và chương trình môi trường liên hợp quốc, năm 2009)

Mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường có hai quan điểm khác nhau chủ yếu đó là:

- Nghèo đói là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái môi trường: Sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là kết quả của các hoạt động kinh tế mang tính hủy hoại của con người, làm nguy hại thêm tình hình đói nghèo của nhiều vùng Nghèo đói cũng buộc người nghèo phải khai thác quá mức nguồn lực tự nhiên để sinh sống

- Nghèo đói không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy thoái môi trường

Thực tế, nếu người dân ở các quốc gia đang phát triển có mức sống như người dân Mỹ hay châu Âu thì chất lượng môi trường ở khu vực này cũng khó có

Giảm nghèo – phát triển kinh tế

Bảo vệ môi trường

Được – Mất

Quản lý nguồn lợi không để

cộng động địa phương tham gia

(=> Không tiếp xúc với tài

nguyên thủy sản => đói nghèo)

Được – Được

Sinh kế bền vững, nguồn lợi ổn định, tạo điều kiện phát triển kinh tế lâu dài, thích ứng với những biến đổi của môi trường

Mất – Mất

Thiếu quản lí nguồn lợi ảnh

hưởng tiêu cực đến đời sống ngư

dân nói riêng và khu vực nói

chung (suy giảm nguồn lợi, mất

cân bằng hệ sinh thái => đói

Mất –Được

Sinh kế trước mắt (như khai thác quá mức nguồn lợi => Cạn kiệt)

Trang 22

thể duy trì ổn định Việc tiêu thụ nhiên liệu và việc thải khí cacbon chủ yếu là do người giàu, thậm chí mức tiêu thụ nước uống bình quân với nguồn nước khan hiếm thì người giàu tiêu thụ lớn hơn rất nhiều, trong khi đó người nghèo không cho phép mình sử dụng nước một cách lãng phí

2.3.1.5 Mối quan hệ giữa sinh kế của người nghèo và môi trường

Sinh kế có bền vững hay không phụ thuộc vào cách đối xử của con người đối với môi trường và cách thức quản lý môi trường Chất lượng môi trường trực tiếp

và gián tiếp góp phần phát triển kinh tế và việc làm Nó đóng vai trò cực kì quan trọng ở các nước đang phát triển, nhất là ở các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, năng lượng và du lịch

Sự thích ứng của người nghèo đối với những rủi ro của thiên tai là rất kém Khi môi trường bị suy thoái hay khi tiếp cận của người nghèo với môi trường bị hạn chế hay không được chấp thuận thì họ là người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Không chỉ có các hoạt động kinh tế của người nghèo có liên quan tới việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, mà khả năng thực hiện các hoạt động kinh tế của họ cũng bị ảnh hưởng do chất lượng môi trường

Tuy vậy có một điều dễ nhận ra rằng việc cải thiện nghèo đói sẽ có tác động tích cực đến môi trường Người nghèo chiếm đến 80% dân số thế giới nhưng chỉ sử dụng 20% tài nguyên và nguyên liệu của thế giới Những người nghèo chỉ có con đường khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, biển, đất đai, khoáng sản ) không có khả năng phục hồi Do dó cần tìm ra những giải pháp cho việc giảm nghèo và bảo

vệ môi trường bởi nghèo đói và môi trường là một mối quan hệ hai chiều và cải thiện chất lượng môi trường cũng góp phần làm giảm đói nghèo và ngược lại

2.3.2 Mối quan hệ giữa nghèo và nguồn lực phát triển

2.3.2.1 Tìm hiểu chung về nguồn lực

Nguồn lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ hay một vùng là nhân tố cơ sở, là khả năng, động lực của một khu vực, một đất nước được huy động vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội Nguồn lực là tiền đề vật chất quan trọng để phát triển

Trang 23

kinh tế xã hội của khu vực đó Nguồn lực bao gồm tổng thể địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở trong và ngoài vùng có thể khai thác được nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của vùng đó

Mục này của nghiên cứu sẽ tìm hiểu sơ lược về nguồn lực tự nhiên và mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên đối với cuộc sống ngư dân

Nguồn lực tự nhiên chia làm hai nhóm: có thể tái tạo và không thể tái tạo Các nguồn lực tự nhiên có thể tái tạo như nguồn thủy sản, rừng có thể tái tạo nếu như con người khai thác và sử dụng có chừng mực Nếu nguồn lực có thể tái tạo mà

sử dụng quá mức thì có thể sẽ bị mất đi

Đối với những nguồn lực không thể tái tạo như đất, nước, khoáng sản do

sự hạn chế của nó trong tự nhiên và do quá trình hình thành phải mất hàng tỷ năm Như vậy, việc khai thác các tài nguyên không thể tái tạo phải hết sức chú ý tránh làm tổn hại và khai thác bừa bãi dẫn đến việc thoái hóa các nguồn lực này

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý của mỗi quốc gia và mỗi khu vực, tuy

nó không có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của hầu hết tất

cả các khu vực nhưng đó là điều kiện cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất, có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hóa, các ngành kinh tế mũi nhọn

2.3.2.2 Mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên và cuộc sống người dân

Trang 24

b Việt Nam

Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km và khu vực dọc biển bao gồm các đầm phá rộng lớn, rừng ngập mặn và đồng bằng ven sông Mặc dù chỉ có hơn 3,1 triệu dân (chiếm khoảng 3.7% dân số cả nước) sống bằng nghề đánh bắt cá

và các hoạt động khác liên quan nhưng nguồn thủy sản ven biển đang bị đe dọa do

khai thác quá mức

Trong báo cáo nghiên cứu đảm bảo bền vững về môi trường của nhóm hành động chống đói nghèo tháng 6 năm 2006 cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa đói nghèo và nguồn lực Nhìn chung người nghèo phụ thuộc nhiều vào nguồn lực tự nhiên nhiều hơn là người khá giả Hầu hết những người nghèo ở Việt Nam vẫn phụ thuộc vào hoạt động canh tác nhỏ bé để sinh sống và khi chất lượng đất, nước, rừng

và các nguồn lực khác bị giảm sút, chất lượng cuộc sống của hộ cũng bị giảm theo 2.3.2.3 Mối quan hệ giữa tài nguyên thủy sản và vấn đề nghèo đói của hộ gia đình ở khu vực ven biển

Có một mối liên hệ rõ ràng giữa nguồn lợi thủy sản và nghèo đói Cộng đồng

ở khu vực đảo đều sống dựa vào hoạt động đánh bắt thủy sản Nhiều gia đình không thuộc vào diện nghèo nhưng cũng rất dễ bị tổn thương vì họ sống dựa vào nguồn tài nguyên biển đang cạn kiệt và thứ hai là đặc thù công việc của họ khác so với người sống ở đất liền

Vùng biển Việt Nam đi qua một số khu sinh thái và địa lý khác nhau nên mức độ đa dạng sinh học rất phong phú Do đó, nguồn lợi hải sản đã và sẽ rất quan trọng đối với sinh kế người dân ven biển Việt Nam, nó đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Tuy nhiên, nguồn lợi hải sản, tính đa dạng sinh học và môi trường biển hiện nay đang mất cân bằng và đang bị tác động hàng ngày do người dân thiếu kiến thức (Bộ thủy sản, 2006) Trong khi sản lượng đánh bắt thủy sản ven biển tối đa cho phép để đạt độ ổn định là khoảng 600.000 tấn, nhưng thực tế con số này lớn hơn rất nhiều (Vietnam news, 2005) Do áp lực lên nguồn lợi thủy sản là quá cao và điều

Trang 25

này đã được dẫn chứng bằng con số thống kê là sản lượng đánh bắt/mã lực giảm từ 0,6 tấn năm 1994 xuống còn dưới 0,4 tấn năm 2004

Nguồn tài nguyên thủy sản có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của cộng đồng ngư dân cũng như sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một nước, một quốc gia có biển Chính vì vậy, duy trì môi trường biển và ven biển tốt là điều kiện tiên quyết để phát triển bền kinh tế cho ngư dân khu vực này

Trang 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô tả vùng nghiên cứu

Lý Sơn là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền khoảng 15 hải lý và có diện tích 997 km2 với dân số khoảng trên 20.344 người.(2008) Mật độ dân số trung bình là 2042 người/km2, đảo có trên 4000 hộ dân.(2008) Lý Sơn là một cụm ba đảo như những ngọn núi nhô cao giữa biển Huyện chỉ có ba xã là An Hải, An Vĩnh và An Bình Hầu hết các hộ dân ở đây xem ngư nghiệp là hoạt động kinh tế quan trọng nhất

Số người tham gia hoạt động ngư nghiệp trên 3500 người, số người tham gia hoạt động nông nghiệp trên 4000 người Tuy vậy nhưng giá trị sản xuất của ngành ngư nghiệp lại cao hơn nhiều so với nông nghiệp Do đó, ngư nghiệp trở thành một ngành chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây Đóng góp của ngành ngư nghiệp đối với giá trị sản xuất của toàn huyện trên 60% (năm 2009) và số hộ tham gia trong ngành nông - ngư nghiệp chiếm 80% tổng số hộ của huyện Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 theo thống kê của huyện chiếm trên 27,9%

3.2 Quy trình nghiên cứu

3.2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Ý tưởng để hình thành nghiên cứu xuất phát từ quá trình tìm hiểu về thực trạng ngành thủy sản của tỉnh Quảng Ngãi nói chung và của các huyện trong tỉnh nói riêng Qua quá trình tìm hiểu, thấy được những khó khăn và những bất cập trong nghề cá ở huyện Lý Sơn, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao và sự phụ thuộc của người nghèo vào nguồn lợi thủy sản là rất lớn Sự gia tăng nguồn lực khai thác vùng bờ cùng với hoạt động khai thác thủy sản hủy diệt đã làm tăng nguy cơ giảm nguồn lợi thủy sản ở khu vực này Trong khi đây lại là khu vực hoạt động chính của những ngư dân nghèo

Việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu phải có những đặc điểm mang tính đại diện cao như: vùng biển hoặc hải đảo, tỷ lệ hộ nghèo cao và cuộc sống phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn lợi thủy sản hay môi trường tự nhiên

Trang 27

3.2.2 Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu

Việc tìm hiểu các lý thuyết liên quan đến nghiên cứu thông qua công cụ chủ yếu là internet Qua internet và công cụ tìm kiếm ta có thể tìm được nhiều nghiên cứu và bài viết liên quan đến vấn đề nghèo đói, vấn đề nghèo ở nghề cá quy mô nhỏ, nghèo đói và môi trường, các chính sách về giảm nghèo

Có rất nhiều nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến người nghèo và nghèo đói ở vùng ven biển Do vậy, cần học hỏi cách phân tích và những kinh nghiệm được rút ra từ những nghiên cứu trước đó Cần phân tích, sắp xếp các quan điểm của những nghiên cứu trước về nghèo đói và môi trường, từ đó có những hướng đi riêng cho bản thân

3.2.3 Lập kế hoạch nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu các lý thuyết liên quan sẽ xây dựng các khung lý thuyết, hình thành bảng câu hỏi, xác định các thông tin và các loại số liệu cần thu thập để phục vụ cho nghiên cứu

Bảng câu hỏi được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu trước Mục tiêu của bảng câu hỏi là xác định các thông tin sơ bộ của hộ gia đình ngư dân như: tình trạng việc làm, sức khỏe, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận nguồn vốn và những nguyên nhân nghèo theo ý kiến của ngư dân Do đó, không điều tra sơ bộ mà chỉ có một cuộc điều tra chính thức

Sau khi xây dựng bảng câu hỏi sẽ tiến hành thu thập số liệu thứ cấp, phân tích số liệu, giải thích làm sáng tỏ số liệu, tìm ra những giải pháp và viết báo cáo kết quả

3.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.3.1 Thu thập dữ liệu

3.3.1.1 Nguồn dữ liệu

Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu thập bởi nhiều nguồn và gồm hai kiểu dữ liệu: thứ cấp và sơ cấp Dữ liệu thứ cấp về số lượng tàu cá và công suất tàu

Trang 28

ở địa phương do chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi cung cấp Nguồn dữ liệu liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản của huyện Lý Sơn và tỉnh Quảng Ngãi được lấy từ những nguồn đáng tin cậy như: Địa chí Quảng Ngãi, niên giám thống kê huyện Lý Sơn, niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi Nguồn dữ liệu về các thông tin kinh tế, dân cư và nguồn lao động được lấy từ trang

thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp ngư dân Mục đích của bảng câu hỏi là thu thập các thông tin cơ bản của những hộ dân làm nghề khai thác thủy sản, thông tin cơ bản về kinh tế - xã hội của

hộ gia đình ngư dân bằng hình thức câu hỏi đóng Hình thức thứ hai: trò chuyện với ngư dân để lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của ngư dân trong việc phát triển kinh tế nông - ngư nghiệp Phần trao đổi với ngư dân sẽ được ghi ra trên một sổ tay để ghi nhớ những thông tin cần thiết của hộ ngư dân cung cấp

Phỏng vấn trực tiếp hộ ngư dân Đối tượng phỏng vấn có thể là chủ hộ hoặc

có thể là bất kì thành viên nào có đủ hiểu biết về gia đình mình và hoạt động khai thác thủy sản cũng như những hoạt động kinh tế khác của gia đình

Trang 29

3.3.1.4 Xây dựng bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi là một công cụ dùng để thu thập thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu Do đó, bảng câu hỏi phải tập trung vào việc thu thập các thông tin quan trọng mà mục tiêu của nghiên cứu đặt ra

Nội dung của bảng câu hỏi phỏng vấn chỉ gồm những thông tin rất đơn giản gồm những mục:

Phần 1: Thông tin chung về hộ gia đình: Tên chủ hộ và các thành viên, số người tạo thu nhập chính, tình trạng học vấn, tình trạng sức khỏe, nghề nghiệp của các thành viên Những thông tin này nhằm khái quát một cách tổng quan về gia đình chủ hộ

Phần 2: Những câu hỏi cụ thể về tình trạng hộ gia đình, các điều kiện cuộc sống của hộ gia đình như: Thông tin về tình trạng hộ gia đình, những nguyên nhân nghèo của hộ gia đình; đất đai, tình trạng nhà ở, thông tin về tiếp cận nguồn vốn

Ngoài ra, dựa vào những trao đổi với ngư dân, nghiên cứu sẽ tóm lược những quan điểm của người dân về hiện trạng nghèo ở địa phương cùng với mối quan tâm của người dân về sự biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và sự suy giảm nguồn lợi thủy sản cùng với những khó khăn ngư dân

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm ra những giải pháp phát triển kinh tế lâu dài cho ngư dân huyện Lý Sơn, sự cần thiết là phải xác định được những khó khăn mà ngư dân đang phải đối mặt cùng với những nguyện vọng của họ cho vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình

Nghiên cứu đã sử dụng đồng thời nhiều phương pháp là: phân tích mô tả, phân tích dữ liệu chéo và phân tích và tổng hợp

Với những dữ liệu thu thập được ở bảng câu hỏi, nghiên cứu tập trung phân tích những nguyên nhân nào theo đánh giá của các hộ ngư dân là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo ở đảo

Trang 30

Tìm hiểu mối quan hệ giữa nghèo với trình độ học vấn của chủ hộ, mối quan

hệ giữa có hay không sự khác biệt về khả năng tiếp cận nguồn vốn giữa những hộ nghèo và hộ không nghèo qua phân tích bảng chéo với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 11.5

Nghiên cứu cũng tập trung phân tích mối liên hệ giữa nghèo, phát triển kinh

tế và môi trường Xác định những khó khăn của ngư dân huyện đảo, từ đó có những giải pháp kịp thời và lâu dài cho sự phát triển kinh tế của huyện nhà

Những kết quả thu được từ nghiên cứu là một quá trình phân tích các mối quan hệ được thể hiện qua mô hình sau:

Sơ đồ 3: Mô hình thể hiện các mối quan hệ cần phân tích trong nghiên cứu

Nghèo, kinh tế chậm phát triển

Phân tích: mối quan hệ giữa nghèo và các yếu tố tự nhiên, xã hội

Sản phẩm

Khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, sức cạnh tranh kém của các sản phẩm

Giải pháp phát triển kinh tế bền vững Ảnh hưởng của giá cả thị

trường đến các yếu tố đầu

vào

Trang 31

Trước nhất: nghiên cứu đã tìm hiểu tình trạng nguồn lực của khu vực và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động sinh kế của các hộ dân trong huyện Mối quan hệ giữa nguồn lực, thị trường và hoạt động sinh kế là một mối quan hệ hai chiều, chúng tác động qua lại lẫn nhau

Thứ hai: Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên – xã hội và vấn đề nghèo của huyện

Thứ ba: Hoạt động sinh kế của ngư dân sẽ tạo ra các phẩm Một trong những nhiệm vụ của nghiên cứu là tìm hiểu những khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của người dân như thế nào

Cuối cùng, nghiên cứu tổng hợp các mối quan hệ trong phân tích và tìm hướng đi phù hợp cho sự phát triển kinh tế của huyện

Trang 32

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm của Huyện đảo Lý Sơn

tế khác

Lợi thế trong việc tiếp cận nguồn lợi biển là một thuận lợi cho các ngư dân khai thác quá mức, khai thác với nhiều hình thức tận diệt và làm cho nguồn lợi thủy sản ven bờ của huyện ngày càng cạn kiệt dần và ngày càng ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ

Trang 33

4.1.2 Đặc điểm khí hậu

Lý Sơn chịu tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa trên vùng biển nhiệt đới nóng, ẩm và có chế độ mưa từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau Do là huyện đảo nằm trên biển Đông, lại có vĩ độ thấp, nên chế độ nắng thuộc loại dồi dào nhất trong hệ thống các đảo ven bờ nước ta với tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 2430,3 giờ/năm

Ngoài những đặc điểm chung là khí hậu nhiệt đới gió mùa ở vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Ngãi, Lý Sơn còn có những đặc điểm riêng: dễ khô hạn về mùa nắng, thiếu nước ngọt để sinh hoạt, chịu nhiều giông bão về mùa mưa Nhiệt độ trung bình khoảng 26.40C, lượng mưa 2260mm, độ ẩm trung bình 85%

Đặc điểm vị trí địa lý đã làm cho huyện phải đối mặt với nhiều thiên tai Hạn hán và mưa bão hàng năm làm ảnh hưởng đến hoạt động nông nghiệp Mưa giông, bão tố kéo dài hàng tháng gây cản trở hoạt động của ngành khai thác thủy sản

4.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Nguồn: Thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn

Trang 34

Đất nông nghiệp ở khu vực Lý Sơn chủ yếu là đất cát, chuyên phục vụ cho trồng hành và tỏi, đây là hai loại đặc sản nổi tiếng trong và ngoài tỉnh Do những thành phần đặc biệt có trong cát biển đã làm nên những hương vị riêng mà chỉ có tỏi

Lý Sơn mới có

Tuy nhiên, do dân số quá đông, quỹ đất lại hạn hẹp nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp Hơn nữa sự xâm thực của biển vào vùng canh tác, những rủi ro từ tự nhiên đang là những mối nguy lớn cho ngành nông nghiệp của huyện

4.1.3.2 Tài nguyên biển

Nguồn lợi cá biển Quảng Ngãi cũng nằm trong khu hệ cá biển thuộc vùng biển miền Trung Tổng trữ lượng toàn vùng biển khoảng 68.000 tấn; trữ lượng cá đáy khoảng 26.000 tấn Trữ lượng tôm và mực ở vùng biển Quảng Ngãi tương đối

ít Khả năng khai thác tôm biển khoảng 550 tấn và khả năng khai thác mực khoảng 1.000 tấn Nguồn lợi thủy sản biển Quảng Ngãi bao gồm các loài cá tầng nổi, cá tầng đáy và các loài giáp xác, thân mềm như: Tôm hùm, tôm sú, tôm chì, cua, ghẹ, cua huỳnh đế, mực ống, mực nang là những loài hải sản có giá trị kinh tế cao

Trang 35

Bảng 2:Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển vùng biển tỉnh Quảng Ngãi

Đơn vị: Tấn

TT Độ sâu Loại cá Trữ lượng Tỷ lệ

(%)

Khả năng khai thác

Nguồn: Địa chí Quảng Ngãi (2005)

Trữ lượng nguồn lợi thủy sản vùng biển Quảng Ngãi tuy không nhiều nhưng

là điều kiện quan trọng góp phần phát triển ngành thủy sản của tỉnh, giải quyết công

ăn việc làm cho người dân và có vai trò rất lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo

Nguồn lợi thủy sản của huyện Lý Sơn là một bộ phận của nguồn lợi thủy sản của vùng biển Quảng Ngãi với khả năng khai thác của huyện chiếm khoảng 1/3 so với toàn tỉnh Về khả năng nuôi trồng thủy sản của huyện đảo Lý Sơn: Theo tài liệu của viện nghiên cứu Biển và đại học thủy sản Nha Trang: Tổng diện tích nuôi trồng

có thể lên tới 250ha Tuy nhiên, hiện tại mô hình nuôi trồng thủy sản trên biển Lý Sơn vẫn chưa phát triển do tồn tại rất nhiều nguyên nhân

Trang 36

4.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn

4.1.4.1 Đơn vị hành chính và dân số và nguồn lao động:

Về đơn vị hành chính: huyện chỉ có 3 xã là An Hải, An Vĩnh và An Bình,

trong đó, xã An Vĩnh được xem là trung tâm của huyện Đảo lớn nhất là đảo Lý Sơn (hay còn gọi là đảo Lớn, cù lao Ré) gồm xã An Hải và An Vĩnh, tập trung phần lớn dân cư Đảo Bé nhỏ nằm ở phía tây bắc đảo Lớn, gọi là cù lao Bờ Bãi, dân số tương đối ít (chỉ 110 hộ dân), hoạt động nông ngư nghiệp là chủ yếu Người dân bản xứ đi làm ăn xa tương đối nhiều Nguồn thu nhập của ngư dân xã An Bình một phần từ khai thác thủy sản, một phần thu nhập của người thân từ nơi khác gửi về

Về dân số: dân cư – lao động là một trong những yếu tố cơ bản của kinh tế -

xã hội, là căn cứ cho việc hoạch định chính sách phát triển của vùng lãnh thổ nói chung và các vùng biển nói riêng

Một sự khác biệt về sự phân bố dân cư là việc tập trung dân cư ở vùng đảo

Lý Sơn là cao hơn rất nhiều so với khu vực ven biển và các trung tâm, thành phố, thị xã và đông hơn các khu vực vùng biển khác

Bảng 3: Tình hình diện tích, phân bố dân cư của huyện đảo Lý Sơn

(km 2 )

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

Nguồn: Thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn

Mật độ dân cư ở Lý Sơn trung bình năm 2008 là 2042 người/km2. Trong khi

đó, vùng ven biển được đánh giá là khu vực tập trung mật độ dân cư đông đúc trung bình chỉ khoảng 369 người/km2 ( Hà Xuân Thông, 2003)

Tỷ lệ gia tăng dân số cao, lên đến 1,5; bình quân gia đình nào cũng có 4 con Việc tăng nhanh dân sối đối với nhiều vùng khác đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sử dụng đất hoang hóa và các tài nguyên khác nhau Nhưng đối với một huyện có tỷ lệ nghèo cao như Lý Sơn, dân cư đông đúc cùng với sự gia tăng dân số ngày càng gây

Trang 37

thêm áp lực đối với tất cả các nguồn lực và nâng cao mức sống chung cho địa phương

Về nguồn lao động: theo số liệu thống kê của huyện, năm 2008 lực lượng

lao động của huyện là 10.944 người chiếm 53,79% tổng dân số toàn huyện Tuy nhiên, chất lượng lao động là vấn đề lớn đặt ra với huyện khi hiện tại có khoảng 87,3% số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ yếu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản

Bảng 4: Cơ cấu lao động của huyện

Nguồn: Thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn

Trong số những người có việc làm thì tỷ lệ lao động trong nông – lâm – thủy sản chiếm phần lớn 77,97% Lao động trong nông nghiệp chiếm phần lớn hơn các ngành kinh tế khác Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người cũng rất ít

ỏi

Về trình độ lao động: mặc dù lực lượng lao động đông đảo nhưng trình độ

lao động còn bị hạn chế Trình độ của hầu hết nông – ngư dân vùng đảo chưa đến hết cấp 2 Trình độ lao động thấp cùng với vùng đảo cách biệt với đất liền là một rào cản cho phát triển kinh tế ở vùng đảo

4.1.4.2 Những quan điểm xã hội của người dân vùng đảo

a Tâm lý muốn sinh nhiều con trai

Hộ ngư dân có tâm lý cố đẻ nhiều con trai ngự trị ở các xóm ngư phủ vì chỉ

có đàn ông mới thích nghi với nghề biển và có nhiều lao động nam đi biển thì kinh

tế gia đình mới khá lên được Chính vì thế, tỷ lệ sinh ở vùng biển luôn cao hơn so với những vùng khác Vì dẫu rằng nghề cá quy mô nhỏ vô cùng khó khăn nhưng nhìn chung thu nhập vẫn cao hơn hoạt động trong ngành nông nghiệp và các ngành phụ khác Cho nên, sống bằng nghề cá phải sinh nhiều con trai

Trang 38

b Tâm lý bám biển

Từ bao đời nay, nghề cá luôn là nghề chính của người dân Lý Sơn, sự gắn bó lâu dài với biển truyền từ đời này sang đời khác nên biển đã ăn sâu vào tâm trí mỗi ngư dân Trong khi nhận thức của người dân còn kém, hệ thống trường đào tạo nghề, công tác hướng nghiệp ở huyện còn chưa phát triển nên các nghề thủ công nghiệp, du lịch và các nghề khác không có sức lôi cuốn lớp thanh niên Nghề biển vẫn luôn là nghề lựa chọn duy nhất

Mặc dù trong thời gian gần đây hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu vào tăng mà sản lượng mỗi chuyến biển chẳng bao nhiêu nhưng khi được hỏi về vấn đề chuyển sang nghề khác, nhiều ngư dân vẫn không có ý định chuyển nghề với câu trả lời chính: Biết chuyển sang nghề gì? Có tự

do như nghề đi biển hay không?

Thật vậy, tìm được một nghề mới phù hợp với những ngư dân ngoài nghề biển trên vùng đất đảo không phải là vấn đề đơn giản vì Lý Sơn chỉ là một huyện nhỏ, tài nguyên thiên nhiên chỉ có một ít diện tích đất cát hạn hẹp và nguồn thủy sản đang cạn kiệt Tài nguyên du lịch thì chưa được khai thác đúng mức, chủ yếu các tour du lịch được du khách tự tổ chức, tự tìm hiểu và tự tìm đến tham quan chứ chưa có tuyến du lịch Diện tích nuôi trồng thủy sản có, nguồn vốn cũng có thể có nhưng ngư dân nghèo liệu có dám vay để đầu tư với một mô hình nuôi biển không thể lường trước được rủi ro?

Những gì được coi là thế mạnh của huyện thì đang ở dạng tiềm năng và khơi dậy những tiềm năng đó không phải là chuyện ngày một ngày hai

c Vấn đề đầu tư con đi học

Mạng lưới trường lớp của huyện trong những năm gần đây đã được đầu tư, huyện đã có trường cấp I, cấp II và cấp III, lượng trẻ em trong độ tuổi đi học tăng lên Sự đầu tư này góp phần nâng cao trình độ văn hóa chung, tăng chất lượng lao động của vùng Tuy nhiên, con em ngư dân thường chưa học hết cấp II và bắt đầu theo nghề biển khi chỉ mới 15 hay 16 tuổi

Trang 39

Những nỗi vất vả khi làm nghề biển, những rủi ro trong nghề và thu nhập bấp bênh đã làm người dân có cái nhìn tinh tế hơn về vấn đề đầu tư cho việc học hành của con cái Hầu hết những hộ gia đình có con đang trong độ tuổi đi học đều muốn con mình học hành đỗ đạt để làm ăn xa, sớm thoát khỏi vùng đất đảo Tuy nhiên, do tình hình chung, đa số trẻ em nghèo thường bỏ học sớm, nghề cá thì lại

mang tính chất cha truyền con nối nên trẻ em nghỉ học đều quay về với nghề biển 4.1.4.3 Tình hình kinh tế tại vùng nghiên cứu

a Tổng quan về kinh tế của huyện

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện hàng năm từ 11,5 đến 12% Thu nhập bình quân đầu người tại huyện đảo Lý Sơn là, 5,3 triệu đồng (năm 2004), đến năm

2009 tăng lên gần 7,8 triệu đồng (Nguồn: Thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn)

Bảng 5: Cơ cấu kinh tế các ngành của huyện Lý Sơn

(Nguồn: Thông tin kinh tế - xã hội huyện Lý Sơn)

Về nông nghiệp: sản phẩm chủ yếu là cây hành, tỏi và ngô Đây là 3 cây

trồng chủ lực của huyện nhưng cung cấp ra thị trường dưới dạng sản phẩm thô chưa qua sơ chế Ngoài ra còn có một số sản phẩm khác như rau, củ, quả Tổng giá trị sản xuất trong ngành nông nghiệp của huyện năm 2009 đạt 15.556 triệu đồng

Về thủy sản: đây là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, sản lượng khai thác

chiếm gần 1/3 của toàn tỉnh, chủ yếu tập trung lĩnh vực khai thác thủy sản nước mặn với các hình thức như: lặn, câu, lưới cước, vây ngày, vây đêm, rút chì, chong đèn và hình thức khai thác bằng thuốc nổ cũng chiếm chủ yếu Sản lượng hải sản

Trang 40

đánh bắt năm 2009 đạt 10.944 tấn Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản thì chưa được quan tâm đầu tư Tổng giá trị thủy sản năm 2009 đạt 174.566 triệu đồng, tăng gần 7 lần

so với năm 1993

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: toàn huyện có 241 cơ sở sản xuất

công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, chú trọng các ngành nghề huyện có thế mạnh như: sản xuất đá lạnh, sơ chế hải sản, khai thác đá xây dựng, may mặc, mộc dân dụng, chế biến nước mắm… nhưng vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ mang tính chất hộ gia đình chủ yếu chưa có cơ sở sản xuất nào có quy mô do thiếu nguồn điện, thiếu

cơ sở hạ tầng để phát huy thế mạnh của ngành Tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2009 dạt 20.327 triệu đồng, tăng gấp 4,3 lần so với năm

1993

Về thương mại, dịch vụ: trong những năm gần đây, kinh tế của huyện có

những bước phát triển đáng kể, các hoạt động thương mại dịch vụ phát triển tương đối nhộn nhịp Toàn huyện có 625 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp

tư nhân góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Doanh thu ngành thương mại dịch vụ từ năm 2009 đạt 143.951 triệu đồng, tăng gấp 5,9 lần so với 1993

Tuy vậy, do đặc thù của huyện đảo cách xa đất liền, hoạt động thương mại chủ yếu lưu thông bằng đường thủy, vào mùa biển động vùng đảo bị cô lập với đất liền thì việc cung ứng hàng hóa lại hết sức khó khăn Hơn nữa, hệ thống thương mại, dịch vụ của huyện hầu như chưa phát triển, chủ yếu là các chợ nhỏ và các điểm buôn bán nhỏ lẻ Hiện nay, toàn huyện chỉ có 01 chợ huyện và 02 chợ xã, chưa có trung tâm thương mại nên việc trao đổi, mua bán hàng hóa của người dân còn gặp

không ít khó khăn

Nhận xét chung về kinh tế của huyện Lý Sơn

Trong những năm gần đây, cùng với sự dịch chuyển của nền kinh tế thị trường trên phạm vi cả nước, nền kinh tế của vùng đảo cũng có những chuyển dịch theo hướng tích cực là tăng dần tỷ trọng các ngành ngư nghiệp, dịch vụ - thương mại, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp

Ngày đăng: 04/03/2015, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh, Lê Thế Giới, Nguyễn Trường Sơn(2010), “Xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh giá phát triển của ngành thủy sản – trường hợp ngành thủy sản Khánh Hòa”, Tạp chí Khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng, 5(40), tr 86 – 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh giá phát triển của ngành thủy sản – trường hợp ngành thủy sản Khánh Hòa”, Tạp chí "Khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Lê Thế Giới, Nguyễn Trường Sơn
Năm: 2010
2. Phan Thị Dung (2010) “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng phát triển bền vững khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ”, tạp chí Khoa học và Công nghệ, đại học Đà Nẵng, 5(40), tr 113 – 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng phát triển bền vững khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ"”", tạp chí "Khoa học và Công nghệ
3. Phan Thị Dung, Nguyễn Thị Như Liêm, Mai Văn Nam (2010), “Đánh giá khía cạnh môi trường trong phát triển khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ theo quan điểm bền vững”, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng,1(36), tr 77 – 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khía cạnh môi trường trong phát triển khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ theo quan điểm bền vững”, "Tạp chí khoa học và công nghệ
Tác giả: Phan Thị Dung, Nguyễn Thị Như Liêm, Mai Văn Nam
Năm: 2010
4. Võ Thị Cẩm Hiếu (2010), Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh
Tác giả: Võ Thị Cẩm Hiếu
Năm: 2010
5. Phạm Hồng Mạnh (2010), “Nghèo đói và môi trường nhìn từ khía cạnh của ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ”, Tạp chí khoa học – công nghệ thủy sản, (3) , tr 21 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và môi trường nhìn từ khía cạnh của ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ”, "Tạp chí khoa học – công nghệ thủy sản
Tác giả: Phạm Hồng Mạnh
Năm: 2010
6. Hà Xuân Thông, Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ở Việt Nam, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ở Việt Nam
8. Sophie De Coninck (2009), Lồng ghép các mối liên hệ giữa đói nghèo – môi trường với quy hoạch phát triển: Sách hướng dẫn người thực hiện, Quỹ Đói nghèo – Môi trường của UNDP-UNEP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lồng ghép các mối liên hệ giữa đói nghèo – môi trường với quy hoạch phát triển: Sách hướng dẫn người thực hiện
Tác giả: Sophie De Coninck
Năm: 2009
9. Th.S Lê Quang Viết, TS Bùi Văn Trịnh, Sự nghèo đói và môi trường ở đồng bằng Sông Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th.S Lê Quang Viết, TS Bùi Văn Trịnh
10. Bộ tài nguyên và môi trường Việt Nam – Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc(2009), Tóm tắt chính sách Xây dựng khả năng phục hồi: Các chiến lược thích Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt chính sách Xây dựng khả năng phục hồi: Các chiến lược thích
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường Việt Nam, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Năm: 2009
14. Ngân hàng thế giới – Bộ thủy sản – Viện kinh tế Việt Nam (2006), Sự tham gia của cộng đồng ngư dân nghèo trong xác định nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của cộng đồng ngư dân nghèo trong xác định nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy sản
Tác giả: Ngân hàng thế giới, Bộ thủy sản, Viện kinh tế Việt Nam
Năm: 2006
7. Angus McEwin, Nguyễn Tố Uyên, Thẩm Ngọc Diệp, Hà Minh Trí, Keith Symington (2007), Sinh kế bền vững cho các khu bảo tồn biển Việt Nam Khác
13. Ngân hàng phát triển châu Á (ADP) (2003), Đánh giá nghèo theo vùng tại vùng ven biển miền Trung và Tây Nguyên Khác
15. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Ngãi, Quy hoạch tổng thể, phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2020 Khác
16. Ủy ban nhân dân huyện Lý Sơn, Quy hoạch phát triển kinh tế huyện Lý Sơn đến năm 2020 Khác
17. Viện nghiên cứu chính sách lương thực Quốc tế và Viện nghiên cứu phát triển (2003), Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam: Các yếu tố về địa lý và không gian Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Sơ đồ 2 (Trang 21)
Sơ đồ 3: Mô hình thể hiện các mối quan hệ cần phân tích trong nghiên cứu. - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Sơ đồ 3 Mô hình thể hiện các mối quan hệ cần phân tích trong nghiên cứu (Trang 30)
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 1 Tình hình sử dụng đất (Trang 33)
Bảng 2:Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển vùng biển tỉnh Quảng Ngãi. - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 2 Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển vùng biển tỉnh Quảng Ngãi (Trang 35)
Bảng 3: Tình hình diện tích, phân bố dân cư của huyện đảo Lý Sơn - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 3 Tình hình diện tích, phân bố dân cư của huyện đảo Lý Sơn (Trang 36)
Bảng 5: Cơ cấu kinh tế các ngành của huyện Lý Sơn - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 5 Cơ cấu kinh tế các ngành của huyện Lý Sơn (Trang 39)
Bảng 6: Năng lực tàu thuyền huyện Lý Sơn - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 6 Năng lực tàu thuyền huyện Lý Sơn (Trang 41)
Bảng 7: Tình trạng nghèo ở huyện Lý Sơn - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 7 Tình trạng nghèo ở huyện Lý Sơn (Trang 45)
Bảng 8: Trình độ học vấn của các chủ hộ - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 8 Trình độ học vấn của các chủ hộ (Trang 46)
Bảng 9: Tình trạng vay vốn của các hộ gia đình nghèo và không nghèo. - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Bảng 9 Tình trạng vay vốn của các hộ gia đình nghèo và không nghèo (Trang 57)
Sơ đồ 4: Những tác động làm giảm sản lượng khai thác - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Sơ đồ 4 Những tác động làm giảm sản lượng khai thác (Trang 65)
Sơ đồ 5: Hệ thống cây giải pháp. - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Sơ đồ 5 Hệ thống cây giải pháp (Trang 72)
Sơ đồ 6: Mô tả tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ ngư dân - nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng ngư dân ở huyện đảo lý sơn, quảng ngãi
Sơ đồ 6 Mô tả tác động đến việc nâng cao thái độ cho các hộ ngư dân (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w