Vậy làm sao để phân công, tổ chức sắp xếp nhiệm vụ cho các phòng ban, cho từng người cho phù hợp với khả năng của họ và để phát huy hết năng lực của mỗi cá nhân, để thực hiện sự điều hòa
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế được tạo ra từ các doanh nghiệp, nền kinh tế đó có mạnh hay không là phụ thuộc vào kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Quá trình hội nhập kinh tế hiện nay tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt dộng sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp Vậy để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt đó đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên tự đổi mới mình để phù hợp với điều kiện môi trường Trong đó nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng, tiên quyết cần được chú trọng trong bất kỳ một doanh nghiệp nào Nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ nhân viên trực tiếp tạo ra sản phẩm và đội ngũ cán bộ quản lý là đội ngũ vô cùng quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ công ty nào Họ là những người trực tiếp chèo lái, định hướng doanh nghiệp phát triển đúng hướng Quản lý không chỉ là khoa học mà nó còn là nghệ thuật, là vấn đề đang được nhiều người quan tâm và cần quan tâm Do vậy cơ cấu tổ chức có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến
sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Trong mỗi doanh nghiệp lựa chọn một mô hình tổ chức thích hợp với quy mô và thích hợp với doanh nghiệp là đòn bẩy chiến lược giúp doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Bộ máy tổ chức phù hợp với mỗi doanh nghiệp không chỉ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời khi bộ máy gọn nhẹ và linh hoạt năng động thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động theo đúng định hướng đã đề ra ban đầu
Tổ chức là việc bố trí, sắp xếp mọi người trong công ty vào những công việc, với vai trò cụ thể cho mỗi người nhưng mục đích là nhằm đạt được mục tiêu
và nhiệm vụ cuối cùng của doanh nghiệp Vì vậy việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức
bộ máy của mỗi doanh nghiệp là nhiệm vụ quan trọng và nó là một yêu cầu
Trang 2khách quan mang tính cấp thiết đối với bất kì một doanh nghiệp nào Vậy làm sao để phân công, tổ chức sắp xếp nhiệm vụ cho các phòng ban, cho từng người cho phù hợp với khả năng của họ và để phát huy hết năng lực của mỗi cá nhân, để thực hiện sự điều hòa, phối hợp với nhau nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp?.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Cổ phần Tài Nguyên, Cầu Giấy, Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng cơ cấu tổ chức hiện tại của công ty Cổ phần Tài Nguyên nhằm tìm ra một số biện pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức đó
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nắm vững một cách có hệ thống cơ sở lý luận về cơ cấu tổ chức
- Tìm hiểu thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hiện tại của công ty
- Các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
- Phân tích các ưu điểm và nhược điểm của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hiện tại
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý của công ty
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hiện nay của công ty Cổ phần Tài Nguyên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại Công ty cổ phần Tài Nguyên
Phạm vi thời gian: Từ 27/12/2010 đến 18/05/2011
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
b Phân loại lao động quản lý
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý người ta chia lao động quản lý thành ba loại sau:
Một là: Cán bộ quản lý doanh nghiệp gồm có giám đốc, các phó giám đốc,
kế toán trưởng Các cán bộ này có nhiệm vụ phụ trách từng phần công việc, chịu trách nhiệm về đường lối chiến lược, các công tác tổ chức hành chính tổng hợp của doanh nghiệp
Hai là: Cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp gồm trưởng, phó quản đốc phân
xưởng (còn gọi là lãnh đạo tác nghiệp) và phòng ban chức năng Đội ngũ lãnh đạo này có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, đường lối của lãnh đạo cấp cao
đã phê duyệt cho bộ phận chuyên môn của mình
Ba là: Viên chức chuyên môn nghiệp vụ, gồm những người thực hiện
những công việc rất cụ thể và có tính chất thường xuyên lặp đi lặp lại
Trong bất kỳ một doanh nghiệp, một tổ chức nào thì ba loại lao động quản
lý nói trên đều cần thiết và phải có, tuy nhiên tuỳ theo từng quy mô hoạt động và
Trang 4Trong đó cán bộ lãnh đạo cấp cao và cán bộ lãnh đạo cấp trung gian có vai trò và
vị trí hết sức quan trọng, là nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại của bộ máy quản lý
- Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được mục đích đã hoạch định Để một tổ chức có thể tồn tại và phát triển hiệu quả thì cần phải có những kế hoạch cụ thể, rõ ràng để thực hiện được mục đích
- Một doanh nghiệp hoạt động sẽ cần đến vốn, nguyên vật liệu, máy móc, thông tin từ các nhà cung cấp, từ các tổ chức khác nhau để có thể thực hiện được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy giữa các tổ chức luôn có mối quan hệ ràng buộc, tương tác lẫn nhau
- Cuối cùng, mọi tổ chức đều cần những nhà quản trị, chịu trách nhiệm chèo lái, liên kết, phối hợp những con người bên trong và bên ngoài tổ chức cùng những nguồn lực khác để đạt mục đích với hiệu quả cao Nhà quản trị có vai trò quan trọng trong một tổ chức, nếu một tổ chức mà không có họ thì sẽ hoạt động không có phương hướng
Trang 52.1.1.3 Bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý là cơ quan điều khiển hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp bao gồm cả khâu sản xuất kinh doanh trực tiếp cũng như khâu phụ trợ, phục vụ cả hoạt động sản xuất tại doanh nghiệp cũng như lao động tiếp thị ngoài dây truyền sản xuất, cả hệ thống tổ chức quản lý cũng như hệ thống các phương thức quản lý doanh nghiệp Bộ máy quản lý là lực lượng vật chất để chuyển những ý đồ, mục đích, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thành hiện thực, biến những nỗ lực chủ quan của mỗi thành viên trong doanh nghiệp thành hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hệ thống các phòng ban chức năng tạo nên bộ máy quản lý doanh nghiệp Nhưng nếu để các bộ phận này riêng lẻ không có mối liên hệ nào thì sẽ vô nghĩa, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quản lý Do vậy phải đặt các bộ phận này trên một tổ chức nhất định, các bộ phận này phải hoạt động nhịp nhàng ăn khớp với nhau
Bộ máy quản lý thường được xem xét trên ba mặt chủ yếu sau:
- Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
- Lực lượng lao động quản lý để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy
Trong đó lực lượng lao động quản lý có vai trò quyết định
2.1.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý
a Khái niệm
Tổ chức bộ máy quản lý là quá trình dựa trên các chức năng, nhiệm vụ đã được xác định của bộ máy quản lý để xắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng về mô hình và giúp cho toàn bộ hệ thống quản lý hoạt động như một chỉnh thể có hiệu quả nhất
b Nội dung của tổ chức bộ máy quản lý
Trang 6Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp có rất nhiều nội dung, sau đây là các nội dung chủ yếu:
- Xác định mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ mà bộ máy quản lý cần hướng tới và đạt được Mục tiêu của bộ máy quản lý phải thống nhất với mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Xác định cơ cấu tổ chức quản lý theo khâu và cấp quản lý, phụ thuộc vào quy mô của bộ máy quản lý, hệ thống các chức năng nhiệm vụ đã xác định và việc phân công hợp tác lao động quản lý Trong cơ cấu quản lý có hai nội dung thống nhất nhau, đó là khâu quản lý và cấp quản lý
- Xác định mô hình quản lý: Mô hình quản lý là sự định hình các quan hệ của một cơ cấu quản lý trong đó xác định các cấp, các khâu, mối liên hệ thống nhất giữa chúng trong một hệ thống quản lý, về truyền thống có mô hình quản lý theo kiểu trực tuyến, theo kiểu chức năng, theo kiểu tham mưu và các kiểu phối hợp giữa chúng
- Xây dựng lực lượng thực hiện các chức năng quản lý căn cứ vào quy mô sản xuất kinh doanh, từ đó xác định quy mô của bộ máy quản lý và trình độ của lực lượng lao động và phương thức sắp xếp họ trong guồng máy quản lý, vào mô hình tổ chức được áp dụng, vào loại công nghệ quản lý được áp dụng, vào tổ chức
và thông tin ra quyết định quản lý
2.1.1.5 Nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý gắn với phương hướng, mục đích của hệ thống: Phương hướng, mục đích của hệ thống quy định cách thức tổ chức bộ máy quản lý của hệ thống Chính nó quy định các bộ phận hợp thành trong tổ chức của
hệ thống Chính vì thế tổ chức bộ máy quản lý phải gắn với mục tiêu và phương hướng hoạt động của hệ thống Có gắn với mục tiêu và phương hướng thì bộ máy quản lý hoạt động mới hiệu quả
Chuyên môn hoá và cân đối:
Trang 7Theo nguyên tắc này thì tổ chức bộ máy quản lý phải xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống và phải đảm bảo sự cân đối, loại trừ những chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, trùng lặp, thiếu người chịu trách nhiệm rõ ràng Mặt khác số lượng các cấp quản lý phải hợp lý để phù hợp với thực tế.
Linh hoạt và thích nghi với môi trường
Theo nguyên tắc này thì tổ chức bộ máy quản lý không được bảo thủ, trì trệ, quan liêu mà luôn phải linh hoạt, thích ứng với những thay đổi hay biến động của các yếu tố tác động Tuy nhiên cần phải hiểu đúng sự thay đổi ở đây không phải là thay đổi toàn bộ mà đó chỉ là những biến đổi nhỏ trong cơ cấu để thích nghi với môi trường mới, để không bị môi trường đào thải Sự linh hoạt được thể hiện trong việc thiết kế các bộ phận phù hợp với ít đầu mối trung gian, số lượng cấp quản lý phù hợp và đảm bảo cho mỗi bộ phận một mức độ tự do sáng tạo để đạt được hiệu quả cao nhất và phát triển được tài năng của cán bộ, công nhân viên chức trong từng bộ phận
Nói như vậy không có nghĩa là cơ cấu tổ chức chịu sự chi phối của môi trường mà trong một chừng mực của sự thay đổi nó tác động vào môi trường theo những hướng nhất định phù hợp với mục đích của mình
Bảo đảm tính hiệu quả quản lý
Hiệu quả và hiệu lực luôn là mục đích và mục tiêu tiến tới của bất kỳ tổ chức nào Mỗi tổ chức luôn đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định để đạt tới
Vì thế tổ chức bộ máy quản lý phải:
- Tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất ở cấp cao nhất, phát huy được tính tích cực của các cơ quan quản lý ở các cấp, khiến cho họ tận tâm tận lực với công việc và phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc Dựa trên nguyên tắc nâng cao hiệu quả quản lý để xác định biên chế tổ chức và chế độ quản lý Đảm bảo phối hợp giữa các cấp một cách tốt nhất, phải lựa chọn phương thức truyền tin, trao đổi nghiệp vụ trong doanh nghiệp một cách nhanh nhất và phân công hợp
Trang 8- Gắn các cấp quản lý thành một dây xích, trách nhiệm, quyền hạn giữa các
bộ phận, các cấp rõ ràng, gắn bó với nhau Mỗi cấp chỉ có một người ra lệnh, tránh mâu thuẫn và làm tổn hao công sức và phải tăng cường sự hợp tác trong doanh nghiệp
- Gọn nhẹ, phải có định biên rõ ràng, tổ chức công việc và biện pháp kiểm tra
- Tính mục đích: Mọi tổ chức đều có một mục đích nhất định, rõ ràng Mục đích của tổ chức là cái mà mọi người trong tổ chức đều cố gắng để đạt tới Tuy nhiên tuỳ từng tổ chức khác nhau mà mục đích cũng khác nhau (một tổ chức tham gia sản xuất thì mục đích là đạt lợi nhuận tối đa còn các tổ chức phúc lợi xã hội thì mục đích là phục vụ được nhiều các công tác xã hội), nhưng trong mọi tổ chức thì mục đích hoạt động luôn được xác định một cách rõ ràng
- Tính thích ứng với môi trường: Mọi tổ chức luôn chịu sự tác động của hai môi trường là môi trường bên trong và bên ngoài Trong đó môi trường bên ngoài hình thành nên môi trường bên trong của doanh nghiệp, tác động lên môi trường bên trong và ảnh hưởng gián tiếp đến doanh nghiệp Xong doanh nghiệp chỉ có thể tác động đến môi trường bên trong mà không thể (hoặc chỉ ít) tác động làm biến đổi môi trường bên ngoài, mà nó chỉ thay đổi cho thích ứng với trước những thay đổi của môi trường bên ngoài, từ đó điều chỉnh và tác động đến môi trường bên trong
Trang 9- Tính chỉnh thể: Các yếu tố tổ chức nên doanh nghiệp kết hợp với nhau một cách hữu cơ, phát huy hiệu quả của một chỉnh thể, đó không phải là dàn trải hoặc cộng lại một cách giản đơn.
Để đảm bảo được nguyên tắc trên, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cần phải: Tăng cường được mối liên hệ dọc và ngang, mỗi bộ phận trong tổ chức vừa phải phục tùng sự lãnh đạo thống nhất vừa phải có tính linh hoạt, chủ động, tích cực để đạt được hiệu quả của chỉnh thể Sự phục tùng thể hiện sự chấp hành nội quy, quy định từ trên đưa xuống tạo nên một chỉnh thể thống nhất Tuy nhiên sự phục tùng trên cơ sở sự linh hoạt bởi lẽ không phải lúc nào mọi sự vật cũng như nhau mà luôn biến động, vì thế trong quá trình áp dụng các bộ phận cần có sự linh hoạt để đạt hiệu quả cao hơn
2.1.1.6 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
a Khái niệm
Cơ cấu tổ chức là sự phân chia tổng thể của một tổ chức thành những bộ phận nhỏ theo những tiêu thức chất lượng khác nhau, những bộ phận đó thực hiện những chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp
Ta thấy rằng, bản chất của việc tồn tại cơ cấu tổ chức là sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý Vì vậy cơ cấu tổ chức một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong doanh nghiệp, mặt khác tác động tích cực đến việc phát triển doanh nghiệp
Trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp ta thấy có các cấp quản lý, ví dụ cấp Công ty, cấp đơn vị, cấp chức năng Các cấp quản lý này phản ánh sự phân chia
Trang 10chức năng quản lý theo chiều dọc (trực tuyến) thể hiện sự tập trung hoá trong quản
lý Trong cơ cấu này ta thấy các bộ phận, phòng ban chức năng như phòng tổ chức, phòng tài chính, phòng Marketing, phòng nghiên cứu và phát triển, phòng sản xuất các bộ phận, phòng ban này thể hiện sự phân chia chức năng quản lý theo chiều ngang, biểu thị sự chuyên môn hoá trong phân công lao động quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản lý Nó có tác động đến quá trình hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp Nó một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất, mặt khác tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất
Tóm lại, bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệp có bộ máy quản lý hợp lý sẽ đạt hiệu quả cao trong sản xuất Thêm vào đó một doanh nghiệp biết phát huy nhân tố con người trong sản xuất thì bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả và làm cho sản xuất kinh doanh phát triển
Sản xuất ngày càng phát triển thì mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao nó đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban và phân xưởng sản xuất ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất Như vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được xem như vấn đề trọng tâm của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế cạnh tranh Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải dựa trên những nguyên tắc nhất định và phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
b Các yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy cần phải đảm bảo thực hiện những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu: Phải đảm bảo giữa các khâu và các cấp quản lý đều được thiết
lập các mối quan hệ hợp lý, mang tính năng động cao, luôn đi sát và phục vụ cho mục đích đề ra của doanh nghiệp
Trang 11- Tính linh hoạt: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo khả năng
thích ứng linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong hệ thống cũng như ngoài hệ thống
- Tính tin cậy: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo tính chính xác
của thông tin được xử lý trong hệ thống, nhờ đó đảm bảo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp
- Tính kinh tế: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải được tổ chức sao cho
chi phí bỏ ra trong quá trình xây dựng và sử dụng là thấp nhất nhưng phải đạt hiệu quả cao nhất
- Tính bí mật: Việc tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo kiểm soát được
hệ thống thông tin, thông tin không được rò rỉ ra ngoài dưới bất kỳ hình thức nào Điều đó sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
c Vai trò của cơ cấu tổ chức
Nhằm cụ thể hoá mục tiêu, nhiêm vụ hoàn thành công việc được chuyên môn hoá tạo dựng nên các bộ phận chức năng để thực hiện công việc này.Xây dựng mối quan hệ, quyền hạn, trách nhiệm và quyền lợi giữa các bộ phận, tạo nên môi trường nội bộ của doanh nghiệp thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Ổn định phát triển hoạt động kinh doanh của công ty
d Một số kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
- Cơ cấu theo kiểu trực tuyến (Cơ cấu đường thẳng)
Đây là kiểu cơ cấu tổ chức đơn giản nhất, trong đó có cấp trên và cấp dưới
Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả công việc của người dưới quyền
Trang 12Sơ đồ1: Cơ cấu tổ chức theo kiểu trực tuyến
Đặc điểm cơ bản của cơ cấu này là người lãnh đạo thực hiện tất cả các chức năng quản lý, hoàn toàn chịu trách nhiệm về hệ thống mình phụ trách Còn người thừa hành mệnh lệnh chỉ nhận lệnh một người phụ trách và chỉ thi hành lệnh của người đó
- Ưu điểm: bộ máy gọn nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế
độ một thủ trưởng
- Nhược điểm: Cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp, đồng thời cơ cấu này làm hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ cao theo chuyên môn Kiểu cơ cấu này chỉ áp dụng cho các tổ chức có quy mô nhỏ và việc quản lý không quá phức tạp
- Cơ cấu theo chức năng
Theo kiểu cơ cấu này, nhiệm vụ quản lý được phân chia cho các bộ phận riêng biệt theo các chức năng quản lý, mỗi bộ phận đảm nhiệm một chức năng nhất định
Người lãnh đạo C3
Người lãnh đạo C4
Trang 13Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức theo kiểu chức năng
Kiểu cơ cấu này sẽ hình thành nên người lãnh đạo được chuyên môn hoá, chỉ đảm nhận thực hiện một số chức năng nhất định Mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức rất phức tạp và chịu sự lãnh đạo của nhiều thủ trưởng Như vậy khác với cơ cấu tổ chức trực tuyến ở chỗ: người lãnh đạo chia bớt công việc cho người cấp dưới
Ưu điểm: Thu hút được các chuyên gia vào công tác lãnh đạo, sử dụng tốt cán bộ hơn, phát huy tác dụng của người chuyên môn, giảm bớt gánh nặng cho người lãnh đạo
Nhược điểm: Đối tượng quản lý phải chịu sự lãnh đạo của nhiều thủ trưởng khác nhau, kiểu cơ cấu này làm suy yếu chế độ thủ trưởng Mô hình này phù hợp với tổ chức, doanh nghiệp có quy mô lớn, việc tổ chức phức tạp theo chức năng
- Cơ cấu theo trực tuyến –chức năng
Cơ cấu này là sự kết hợp của hai cơ cấu trên, theo đó mối liên hệ giữa cấp dưới và lãnh đạo là một đường thẳng, còn những bộ phận chức năng chỉ làm nhiệm vụ chuẩn bị những lời chỉ dẫn, những lời khuyên và kiểm tra sự hoạt động
Người lãnh đạo tổ chức A
Người lãnh đạo chức
năng A1
Người lãnh chức năng A2
Người lãnh đạo chức năng A3
Người lãnh đạo B1 Người lãnh đạo B2 Người lãnh đạo B3
Trang 14Cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng.
Sơ đồ 3: Sơ đồ cơ cấu theo kiểu trực tuyến - chức năng
Ưu điểm: Lợi dụng được ưu điểm của hai bộ mô hình trực tuyến và chức
năng Nó phát huy được năng lực, chuyên môn của các bộ phận chức năng, đồng thời đảm bảo được quyền chỉ huy trực tiếp của lãnh đạo cấp cao của tổ chức
Nhựơc điểm: Cơ cấu phức tạp, nhiều vốn, cơ cấu này đòi hỏi người lãnh
đạo tổ chức phải thường xuyên giải quyết các mối quan hệ giữa các bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng
Người lãnh đạo tổ chức
Người lãnh đạo chức
Người lãnh đạo B1 Người lãnh đạo B2
Người lãnh đạo
C1 Người lãnh đạo C2 Người lãnh đạo C3 Người lãnh đạo C4
Trang 15- Cơ cấu tổ chức kiểu ma trận.
Sơ đồ 4: Sơ đồ cơ cấu kiểu ma trận
F: Là các bộ phận chức năng (như tài vụ, sản xuất – kỹ thuật, nhân sự, …)
O: Là các dự án (sản phẩm hay công trình xây dựng).
Đặc điểm: Theo kiểu này, người ta phân ra các chức năng theo phương
ngang của các dự án O, và các chức năng theo phương dọc (các đơn vị chức năng F) Các đơn vị O giải quyết các vấn đề: làm cái gì, khi nào và làm cho ai Các đơn
vị F giải quyết vấn đề làm như thế nào
Khi cần thực hiện một dự án O nào đó sẽ cử ra một chủ nhiệm dự án, các đơn vị chức năng F sẽ cử ra các cán bộ tương ứng để cùng tham gia thực hiện dự
án, khi dự án kết thúc người nào lại trở về vị trí ban đầu của người đó Việc cắt cử như thế hình thành các dòng và các ô như một ma trận
Trang 16Ưu điểm: Có tính năng động cao, dễ di chuyển các cán bộ có năng lực để
thực hiện các dự án khác nhau Sử dụng cán bộ có hiệu quả, tận dụng cán bộ có chuyên môn cao sẵn có Giảm bớt cồng kềnh cho các bộ máy quản lý của các dự án
Nhược điểm: Hay xảy ra mâu thuẫn giữa người quản lý dự án và các người lãnh
đạo các bộ phận chức năng Đòi hỏi phải có tinh thần hợp tác cao
2.1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức
Trong quá trình vận động cơ cấu tổ chức luôn chịu sự tác động rất nhiều yếu tố như: khoa học công nghệ, chính sách của Nhà nước Các yếu tố này được tập hợp thành 2 nhóm chính là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Khi các yếu
tố này thay đổi sẽ làm cho tổ chức phải tự điều chỉnh cơ cấu tổ chức cho phù hợp bằng cách giải thể, bổ sung, sát nhập hoặc thêm một số bộ phận
Các yếu tố khách quan
Những yếu tố khách quan là những yếu tố mà tổ chức không thể thay đổi cũng như dự đoán và kiểm soát được nó Các yếu tố này gồm:
- Khối lượng công việc được giao
- Trình độ công nghệ, kỹ thuật và mức độ trang bị lao động
- Địa bàn hoạt động của tổ chức
- Môi trường hoạt động của tổ chức
- Môi trường chính trị pháp luật: Những yếu tố thuộc môi trường này tạo nên những cơ hội cũng như nguy cơ cho tất cả các tác nhân trong nền kinh tế Nắm bắt được sự thay đổi của môi trường chính trị pháp luật sẽ giúp công ty đưa ra những chính sách phù hợp, tránh được những thiếu sót đáng tiếc
- Môi trường kinh tế: Đây là môi trường có ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động phân phối của công ty Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
Trang 17- Lạm phát: Là vấn đề cố hữu của mọi nền kinh tế thị trường, đặc biệt ở nước ta, tình hình lạm phát khá phức tạp, thay đổi lạm phát dữ dội từ thời kỳ phi
mã đến thiểu phát Lạm phát có ảnh hưởng lớn đến tất cảc các nhân tố và tổ chức trong nền kinh tế, nhất là đối với người tiêu dùng Người tiêu dùng là cá nhân hay
hộ gia đình sẽ giảm hoặc không mua các mặt hàng dắt tiền hoặc không phải là hàng thiết yếu những khách hàng công nghiệp sẽ thắt chặt chi tiêu giảm đầu tư
Tuy đây là các yếu tố bất biến nhưng tổ chức hoàn toàn có thể tự thay đổi cho phù hợp với những yếu tố này, khi đó tổ chức sẽ tận dụng được nguồn lực sẵn
có nhằm phát huy tối đa hiệu quả
Các yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan là những yếu tố ở bên trong tổ chức Đây là những yếu
tố có ảnh hưởng mạnh đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Hơn nữa đây là các yếu
tố mà tổ chức hoàn toàn có thể kiểm soát, điều chỉnh, thay đổi theo hướng của mình Các yếu tố này gồm:
- Trình độ của người lao động quản lý
- Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức cũ
- Trình độ, năng lực của cán bộ ở bộ phận tham mưu tổ chức
- Quan hệ bên trong tổ chức
- Mục tiêu, phương hướng của tổ chức
- Đối thủ cạnh tranh: phải biết dự báo được đối thủ của mình định làm gì để
có giải pháp phù hợp nếu không các đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh hết thị trường Đặc biệt ngày nay trong nền kinh tế thị trường tự do kinh doanh thì cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn Nó sẽ vừa tạo ra cho nhiều công ty phát triển nhanh chóng nhưng cũng làm cho nhiều công ty sụp đổ
- Khách hàng: Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Đặc biệt là gây áp lực
về giá cả, chất lượng, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng
Trang 18Để hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trước hết bắt nguồn từ việc xác định mục tiêu và phương hướng phát triển của hệ thống, trên cơ sở đó tiến hành tập hợp các yếu tố của cơ cấu tổ chức và xác lập mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó Việc hình thành cơ cấu tổ chức cũng có thể bắt đầu từ việc mô tả chi tiết hoạt động của các đối tượng quản lý và xác lập tất cả các mối quan hệ thông tin rồi sau đó mới hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Để có một cơ cấu tổ chức hợp lý người ta thường dựa vào hai phương pháp chủ yếu sau:
a Phương pháp kinh nghiệm
Theo phương pháp này cơ cấu tổ chức được hình thành dựa vào việc kế thừa những kinh nghiệm thành công và gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý của cơ cấu
tổ chức có sẵn Những cơ cấu tổ chức có trước đây có những yếu tố tương tự với
cơ cấu tổ chức sắp hình thành và để hình thành cơ cấu tổ chức mới thì có thể dựa vào một cơ cấu tổ chức mẫu nhưng có tính đến các điều kiện cụ thể của đơn vị mới như so sánh về nhiệm vụ, chức năng, đối tượng quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật để xác định cơ cấu tổ chức thích hợp Do vậy đôi khi phương pháp này còn được gọi là phương pháp tương tự
Ưu điểm: Quá trình hình thành cơ cấu nhanh, chi tiết để thiết kế nhỏ, kế
thừa có phân tích những kinh nghiệm quý báu của quá khứ
Nhược điểm: Dễ dẫn đến sao chép máy móc, thiếu phân tích những điều
kiện cụ thể
b Phương pháp phân tích
Theo phương pháp này, việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại được bắt đầu bằng cách nghiên cứu kỹ lưỡng cơ cấu tổ chức hiện tại, tiến hành đánh giá những hoạt động của nó theo những tiêu thức nhất định, phân tích các chức năng, các quan hệ phụ thuộc của từng bộ phận để đánh giá những mặt hợp lý của cơ cấu hiện hành và trên cơ sở đó dự kiến cơ cấu mới sau đó bổ sung, thay thế, thay đổi cán bộ, xây dựng điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động cho từng bộ phận cũng như đối với cán bộ lãnh đạo, chuyên viên, các nhân viên thừa hành chủ chốt
Trang 19Ưu điểm: Phương pháp này phân tích được những điều kiện thực tế của cơ
quan, đánh giá được các mặt hợp lý và chưa hợp lý để hoàn thiện cơ cấu mới hiệu quả hơn
Nhược điểm: Phương pháp này tốn nhiều thời gian và chi phí lớn để thiết kế
cơ cấu tổ chức mới
Tuy nhiên trong hoạt động quản lý để hình thành và tổ chức được một bộ máy quản lý tốt người ta không chỉ sử dụng thuần nhất một trong hai phương pháp trên Mà tuỳ theo tình hình của công ty có thể hình thành cơ cấu quản lý theo phương pháp hỗn hợp, nghĩa là kết hợp cả hai phương pháp trên để lợi dụng ưu điểm của chúng
2.1.2 Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan trước đây
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công
ty In Tạp chí Cộng Sản, Lê Duy Tưởng (2004) đã nêu lên một số vấn đề cơ sở lý
thuyết cơ bản về quản lý, đồng thời đã phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty In tạp chí tạp chí Cộng Sản Trong nghiên cứu tác giả đã đưa
ra được các yêu tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức, đặc biệt tác giả đã nhắc đến những lưu ý cần quan tâm khi lựa chon cơ cấu tổ chức sao cho phù hợp với công
ty Tác giả đã giải thích được tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức bộ máy đối với một doanh nghiệp như thế nào.Tác giả phân tích kết quả sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ của công ty và đánh giá môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của công ty từ đó đưa ra các biện pháp, chiến lược để hoàn thiện cơ cấu tổ chức của công ty Các biện pháp được đưa ra đó là tổ chức sắp xếp lại phòng ban chức năng Hoàn thiện một số hoạt động quản trị nhân lực trong công ty như đào tạo, phát triển, công tác tuyển dụng, tạo động lực vật chất và tinh thần cho nhân viên, đàm phán, thuyết phục và nâng cao công tác lựa chọn cán bộ lãnh đạo quản
lý doanh nghiệp
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty liên doanh cơ khí xây dựng, Nguyễn Thị Hường (2004) trong nghiên cứu của mình đã trình bày cơ sở
Trang 20lý thuyết của bộ máy quản lý, phân tích rõ những yêu cầu đặt ra của một tổ chức
bộ máy quản lý Nêu lên vai trò và sự cần thiết của bộ máy quản lý đối với công ty liên doanh cơ khí xây dựng Phân tích thực trạng của công ty về các vấn đề kỹ thuật, nguồn lực, tài chính công ty, thị trường tiêu thụ, những thuận lợi và khó khăn mà công ty gặp phải Dựa trên định hướng phát triển của công ty và phân tích
cơ cấu tổ chức hiện tại để đưa ra các biện pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức nhằm hoàn thiện tốt hơn Các biện pháp được đưa ra đó là hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí đối với ban giám đốc và các phòng ban, hoàn thiện chức năng nhiệm
vụ của bộ máy quản lý đối với các phòng ban Bên cạnh đó, các biện pháp còn tập trung vào việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý, hoàn thiện tổ chức nơi làm việc và điều kiện lao động, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất Tác giả phân tích được khó khăn và thuận lợi của công ty gặp phải, nhưng chưa phân tích được môi trường bên trong và bên ngoài của công ty từ đó phân tích điểm mạnh điểm yếu, thời cơ và thách thức của công ty từ đó ta biết được công ty đang trong tình trạng như thế nào, chưa nói rõ được quy mô của công ty như thế nào để lựa chọn được cơ cấu tổ chức phù hợp với công ty
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài Đồng thời thu thập thông tin qua các bài báo kinh tế, các bài báo cáo, luận văn, sách báo, tạp chí…
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua quan sát thực tế tại Công ty Cổ phần Tài Nguyên
Phương pháp điều tra quan sát: Quan sát mô hình công ty và thực trạng hiện tại của công ty, cách bố trí, tổ chức giữa các phòng ban Quan sát xem cách sắp xếp nhân sự giữa các phòng ban đã phù hợp hay chưa Nhân viên nhận lệnh
Trang 21làm từ đâu, công việc có bị chồng chéo hay không Công việc đã phù hợp với khả năng của họ chưa.
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý trên Excel, các bảng số liệu như kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình tài sản và nguồn vốn, lao động… được nhập trên Excel rồi sử dụng các hàm, lệnh để cho ra kết quả
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp được dùng phổ biến hiện này Dùng để so sánh tình hình cơ bản của Công ty để đánh giá mức độ tăng trưởng bình quân của các chỉ tiêu: So sánh các giá trị của năm nay so với năm trước để thấy được sự biến động của quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể là so sánh tài sản và nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh để thấy được tình hình phát triển của Công ty Cổ phần Tài Nguyên qua các năm Và dùng để so sánh các kiểu cơ cấu tổ chức, xem khi áp dụng cơ cấu đó có ưu điểm, nhược điểm nào,
và phân tích tình hình thực tế của công ty qua đó lựa chọn được kiểu cơ cấu phù hợp với công ty
Trang 22PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới thiệu khái quát về công ty
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Tài Nguyên
Tên gọi Công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI NGUYÊN
Tên giao dịch đối ngoại : TAI NGUYEN CORPORATION
Tài khoản: 1302201033451 tại ngân hàng NN&PTNT Việt Nam
Mã số thuế: 0101881347 do Chi cục thuế TP Hà Nội cấp ngày 04/07/2007Đại diện theo pháp luật : Ông NGUYỄN GIA LONG
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Sinh ngày: 21/05/1977
Số CMND: 012636740
Trang 23Hộ khẩu thường trú: Số 61/562, đường Láng, phường Láng Hạ, quận Đống
Đa, Hà Nội
Công ty Cổ phần Tài Nguyên được hình hình dựa trên nền tảng các công ty sau:
Công ty TNHH Dương Quân
Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư Tài Nguyên
Công ty Cổ phần Tài Nguyên
Ngày 24/02/2006, Công ty TNHH Dương Quân được thành lập với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102024446 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 24/02/2006
Ngày 25/8/2006, Công ty TNHH Dương Quân được đổi tên thành Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư Tài Nguyên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0102024446 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 25/8/2006
Ngày 02/7/2007, Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư Tài Nguyên được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Tài Nguyên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103018230 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 02/7/2007
Bảng 1.1: Các cổ đông Công ty
Đơn vị: Đồng
(Nguồn: Công ty Cổ phần Tài Nguyên)
Ngày 18/6/2008, Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Tài Nguyên được đổi tên thành Công ty Cổ phần Tài Nguyên, đồng thời tăng vốn điều lệ của công ty lên
Trang 24thành 30 tỷ đồng (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103018230 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 18/6/2008).
Ngày 04/12/2008 Công ty Cổ phần Tài Nguyên tăng vốn điều lệ từ 30 tỷ lên 40 tỷ đồng theo phương thức phát hành cho cổ đông hiện hữu (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 3 số 0103018230 do Sở kế hoạch và Đầu tư
Hà Nội cấp ngày 04/12/2008)
Bảng 1.2: Các cổ đông Công ty
Đơn vị: Đồng
1 Ông Nguyễn Gia Long 12.750.000.000 25.500.000.000
2 Ông Trương Sơn Hiền 1.200.000.000 2.400.000.000
3 Ông Nguyễn Bá Huấn 1.050.000.000 2.100.000.000
(Nguồn: Công ty Cổ phần Tài Nguyên)
Giữa năm 2009, mỏ chì – kẽm tại Mùn Chung, Xá Nhè, Điện Biên đã hoàn tất giai đoạn đầu tư, và bắt đầu đi vào sản xuất thử Cuối năm 2009, mỏ đã mang lại doanh thu cho Công ty
Năm 2009 Công ty triển khai thêm mảng kinh doanh bất động sản với sự ra đời của Công ty Cổ phần sàn bất động sản Tài Nguyên và góp vốn liên doanh xây dựng khu chung cư và văn phòng làm việc cho thuê tại Nhân Chính – Hà Nội Cuối năm 2009, khu chung cư và văn phòng làm việc cho thuê tại Nhân Chính –
Hà Nội đã được khởi công xây dựng Vào năm 2010 chương trình đã đem lại doanh thu và lợi nhuận cho công ty
Ngày 26/5/2009, Công ty thành lập Văn phòng đại diện và đăng ký thay đổi lần 4 số 0103018230 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 26/05/2009
Ngày 15/06/2009, Công ty Cổ phần Tài Nguyên có quyết định phân phối số
cổ phần không mua hết là 500.000 cổ phần của đợt tăng vốn từ 30 tỷ đồng lên 40
tỷ đồng cho các đối tượng khác để vốn thực góp là 40 tỷ đồng
Trang 25Ngày 26/05/2009, Công ty Cổ phần Tài Nguyên quyết định tăng vốn điều lệ
từ 40 tỷ đồng lên 85 tỷ đồng theo phương thức phát hành riêng lẻ và phát hành cho
cổ đông hiện hữu (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 5 số
0103018230 do Sở kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 02/10/2009) Vốn thực góp sau khi tăng vốn là 85 tỷ đồng
Ngày 21/5/2010 đánh dấu một bước phát triển quan trọng, Công ty Cổ phần Tài Nguyên chính thức niêm yết cổ phiếu trên Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) với mã chứng khoán TNT, mang đến nhiều cơ hội hợp tác cùng phát triển cho các nhà đầu tư và đối tác của Công ty
Ngày 31 tháng 12 năm 2010, Công ty có 3 công ty con Chi tiết thông tin về các Công ty con của Công ty được hợp nhất trong Báo cáo tài chính hợp nhất như sau:
Công ty con thứ nhất: Công ty TNHH Tài nguyên và Khoáng sản Hà Nội - Điện Biên
Tên Công ty bằng tiếng Anh: HA NOI - DIEN BIEN MINERAL AND RESOURCES COMPANY LIMITED
Địa chỉ: Bản Nậm Bay, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Điện thoại / Fax: 0230.3867.171
ĐKKD số 5600185270 do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên cấp ngày 06/3/2008
Vốn điều lệ: 10.000.000.000 đồng (100% vốn đầu tư của Công ty CP Tài Nguyên)
Giá trị đầu tư ghi nhận tại Công ty tại ngày 31/12/2010: 31.915.517.036 đồng
Trang 26Tỷ lệ lợi ích của Công ty mẹ : 100%
Quyền biểu quyết của Công ty mẹ : 100%
Công ty TNHH Tài nguyên và Khoáng sản Hà Nội - Điện Biên được thành lập vào tháng 03 năm 2008, vốn điều lệ là 10 tỷ đồng, là đơn vị trực thuộc 100% vốn của Công ty Cổ phần Tài Nguyên Công ty TNHH Tài Nguyên và Khoáng sản
Hà Nội - Điện Biên có trách nhiệm tiếp quản, đầu tư và quản lý toàn bộ các dự án khai thác và chế biến khoáng sản của Công ty Cổ phần Tài Nguyên tại tỉnh Điện Biên
Hiện nay, Công ty TNHH Tài nguyên và Khoáng sản Hà Nội - Điện Biên đang chịu trách nhiệm khai thác điểm mỏ chì, kẽm 65 ha tại bản Xá Nhè, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên và dự án đầu tư nhà máy chế biến luyện chì, kẽm thỏi xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên với công suất chế biến giai đoạn 1 là 99.000 tấn quặng nguyên khai/năm và công suất luyện chì, kẽm thỏi giai đoạn 2 là 6.842 tấn/năm (theo Giấy chứng nhận đầu tư số 62121000014
do Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên cấp cho Công ty TNHH Tài nguyên và Khoáng sản Hà Nội-Điện Biên ngày 09/10/2008)
Công ty con thứ hai: Công ty Cổ phần Sàn bất động sản Tài Nguyên Địa chỉ : Tầng 1, nhà N2A, đường Hoàng Minh Giám, khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu số 0103037945 do sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 28/05/2009
Vốn điều lệ: 6.500.000.000 (Sáu tỷ năm trăm triệu đồng)
Giá trị đầu tư ghi nhận tại Công ty tại ngày 31/12/2010 : 3.682.770.000 đồng
Nghành nghề kinh doanh: Kinh doanh dịch vụ bất động sản: dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản, dịch vụ đấu giá bất động sản, dịch vụ quản lý bất động sản, thăm dò, khai thác…
Trang 27Tỷ lệ lợi ích của Công ty mẹ : 70%
Quyền biểu quyết của Công ty mẹ : 70%
Đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2010, toàn bộ vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Sàn bất động sản Tài Nguyên là do Công ty Cổ phần Tài Nguyên góp Các
cổ đông khác chưa thực hiện góp vốn điều lệ
Công ty con thứ ba: Công ty CP Bất động sản Tài Nguyên Hà Nội
Tên giao dịch: HANOI RESOURCES LAND JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: HARE LAND., JSC
Vốn điều lệ 30.000.000.000 đồng (ba mươi tỷ đồng)
Địa chỉ trụ sở chính: Số 17, Lô 2A, đuờng Trung Yên 1, Phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Xây dựng nhà các loại, bán buôn xi măng sắt thép Kinh doanh dịch vụ bất động sản
Kinh doanh dịch vụ bất động sản: dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản, dịch vụ tư vấn bất động sản, dịch vụ đấu giá bất động sản, dịch vụ quản lý bất động sản, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản
Giá trị đầu tư ghi nhận tại Công ty tại ngày 31/12/2010 : 1.877.000.000 đồng
Tỷ lệ lợi ích của Công ty mẹ : 68%
Quyền biểu quyết của Công ty mẹ : 68%
3.1.2 Nhiệm vụ và Chức năng của Công ty
- Nhiệm vụ của công ty: Sản xuât kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký,
chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật, và chịu trách nhiệm trước kết quả sản xuất kinh doanh của mình
Trang 28Bảng 1.3: Các lĩnh vực Công ty kinh doanh
STT Tên ngành nghề
1 Tư vấn đầu tư
2 Môi giới, xúc tiến thương mại
3 San lấp mặt bằng các công trình xây dựng
4 Thi công xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
5 Vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách
6 Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ du lịch khác (không bao
gồm kinh doanh phòng hát karaoke, quán Bar, vũ trường
7 Môi giới bất động sản, dịch vụ nhà đất
8 Kinh doanh bất động sản
9 Khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản (trừ khoáng sản Nhà nước
cấm)
10 Kinh doanh các dịch vụ về môi trường
11 Kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát
12 Tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
13 Tư vấn giới thiệu việc làm trong nước
14 Đào tạo bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản, định giá bất động
sản và quản lý sàn bất động sản
15 Kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại
16 Kinh doanh dịch vụ bất động sản
(Nguồn: Công ty CP Tài Nguyên)
- Chức năng của công ty:
Công ty có trách nhiệm nhận, sử dụng có hiệu quả, bảo quản và phát triển vốn, nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn lực khác để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và những nhiệm vụ khác
Tổ chức quản lý, triển khai công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện đầu tư chiều sâu, đổi mới khoa học công nghệ tiên tiến và trang thiết bị hiện đại, đổi mới công tác quản lý điều hành sản xuất kinh doanh
3.1.3 Đặc điểm về cán bộ công nhân viên trong công ty
Trang 29Cơ cấu lao động phân theo trình độ học vấn của Công ty cổ phần Tài Nguyên tại thời điểm 31/12/ 2010 được thể hiện trong bảng 1.4.
Bảng 1.4: Cơ cấu trình độ học vấn của lao động trong Công ty
Lao động có trình độ Đại học chiếm tỷ lệ 25% trên tổng số lao động của công ty, lao động có trình độ cao đẳng trung cấp, công nhân chiếm tỷ lệ lớn nhất
là 68,3%
Có thể thấy rằng trình độ đội ngũ lao động của Công ty khá cao Đây là một thuận lợi lớn trong công tác sản xuất kinh doanh, bởi lẽ người lao động có trình độ cao thường làm việc có ý thức tự giác trong công việc, tỷ lệ sai hỏng hoặc lỗi kỹ thuật được hạn chế tới mức tối thiểu
Bảng 1.5: Cơ cấu giới tính của lao động trong công ty CP Tài Nguyên
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Trang 30Tỷ lệ đội ngũ cán bộ trong Hội đồng quản trị/ ban giám đốc chiếm 6,67% trên tổng lao động của công ty, trong đó tỷ lệ nam giới chiếm 100%
Lao động quản lý không trực tiếp tạo ra sản phẩm, do vậy vấn đề đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải bố trí một cách hợp lý sao cho chỉ với một tỷ lệ nhỏ trong tổng số lao động toàn Công ty nhưng vẫn hoàn thành tốt công việc được giao nhằm tiết kiệm tối đa chi phí bỏ ra và mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý
Theo kết quả nghiên cứu của các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì trung bình tỷ lệ lao động quản lý so với tổng số lao động toàn công ty là tối ưu khi nó chiếm khoảng từ 9% đến 12% (với điều kiện lao động quản lý phải làm việc theo đúng chức năng và có tinh thần làm việc cao)
Trang 31Đội ngũ cán bộ quản lý quản lý của công ty chiếm 25% trên tổng số lao động Điều này cho thấy tỷ lệ lao động quản lý của công ty cao hơn so với mức trung bình, điều này cũng chứng tỏ rằng cơ cấu tổ chức của công ty khá công kềnh, và công ty phải bỏ ra một số chi phí khá lớn để trả cho đội ngũ cán bộ quản lý.
Trình độ của lao động quản lý Công ty rất cao, với 100% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học Với trình độ lao động quản lý như vậy Công ty cần tổ chức tốt bộ máy quản lý theo hướng chuyên tinh, gọn nhẹ, phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
3.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Tình hình hoạt động
Các lĩnh vực hoạt động, sản xuất kinh doanh chính của Công ty là đầu tư kinh doanh bất động sản, khoáng sản, sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng…Các dự án và hoạt động kinh doanh tiêu biểu sau:
+ Lĩnh vực khoáng sản
Lĩnh vực khoáng sản bao gồm 2 hoạt động chính: Khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản và tư vấn trong lĩnh vực khoáng sản Đối với hoạt động khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản, Công ty đang thực hiện dự án khai thác quặng chì – kẽm hàm lượng thấp ở mỏ chì – kẽm của khu vực bản Xá Nhè, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên để chế biến tinh quặng đạt tiêu chuẩn chất lượng nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy trong nước và xuất khẩu Nhà máy tại Xá Nhè, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên được Công ty giao cho Công ty TNHH Tài nguyên và Khoáng sản Hà Nội - Điện Biên quản lý
+ Bất động sản
Lĩnh vực kinh doanh bất động sản của Công ty mới được triển khai trong năm 2009 với hai hoạt động chính là tư vấn, môi giới bất động sản và kinh doanh
Trang 32Tài Nguyên và Công ty con là Công ty Cổ phần sàn bất động sản Tài Nguyên thực hiện Việc thành lập Công ty Cổ phần sàn bất động sản Tài Nguyên nhằm tạo thêm kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm cho chính Công ty mà sắp tới đây là sản phẩm của dự án xây dựng khu chung cư và văn phòng làm việc cho thuê tại khu chung
cư Nhân Chính Ngoài ra, Công ty Cổ phần sàn bất động sản Tài Nguyên cũng được Công ty mẹ hỗ trợ về tài chính để chủ động tìm kiếm thêm nguồn hàng trên thị trường bất động sản cung cấp cho sàn giao dịch
Bảng 1.6: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Tài Nguyên
(Đvt: nghìn đồng)
Trang 34(*): Năm 2008 và 2009, Công ty không thực hiện việc trả cổ tức cho cổ đông do hoạt động của Công ty đang trong giai đoạn đầu tư mở rộng hoạt động
Do đó, lợi nhuận được giữ lại bổ sung nguồn vốn
Nhìn chung vào bảng 1.6 ta thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty có xu hướng tăng dần qua các năm
Năm 2009, nhà máy khai thác chì kẽm tại Xá Nhè Mùn Chung Điện Biên chính thức đi vào hoạt động Do đó, tổng tài sản của Công ty năm 2009 tăng gấp 3 lần so với năm 2008 Nhờ sản phẩm của nhà máy khai thác chì kẽm của Công ty
đã được tiêu thụ vào cuối năm 2009, doanh thu của Công ty đạt 25.546.271 nghìn đồng Tăng lên so với năm 2008 là 94,87% tương đương với 12.436.924 nghìn đồng Trong khi lợi nhuận thuần của Công ty cũng đạt 12.252.040 nghìn đồng, tăng lên so với năm 2008 là 979.8% tương đương với 11.117.378 nghìn đồng Lợi nhuận thuần tăng đột biến là do Công ty đầu tư vào dây chuyền mới vào sản xuất, gia tăng hàm lượng sản phẩm sản xuất so với mỏ cũ ở Lạng Sơn và tiết kiệm chi phí đầu vào Bên cạnh đó, giá bán của tinh quặng chì và kẽm cũng tăng trong năm 2009 Một phần lớn ảnh hưởng tới lợi nhuận của năm 2009 đó là chi phí tăng lên rất ít, chỉ tăng lên 2,5% so với năm 2008
Mặc dù năm 2009 có bị ảnh hưởng của sự khủng hoảng nền kinh tế thế giới nhưng với các phương án kinh doanh linh hoạt, mềm dẻo, hợp lý của ban lãnh đạo
và nhờ có sự tổ chức hợp lý, phân công nhiệm vụ hợp lý cho các cán bộ công nhân viên nên Công ty đã khắc phục được khó khăn Kết quả đạt được là sự gia tăng lợi nhuận góp phần củng cố, tích lũy nguồn vốn nhằm mục tiêu mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới
Năm 2010, hoạt động kinh doanh của công ty ngoài mảng khai thác khoáng sản, công ty đã mở rộng và thu lợi lớn từ hoạt động dịch vụ tư vấn bất động sản và kinh doanh vật liệu xây dựng Nhờ vậy doanh thu năm 2010 của Công ty tăng lên 174,10% so với năm 2009 tương đương với 44.475.544 nghìn đồng Và nhờ vào hoạt
Trang 35động sản xuất kinh doanh khác của Công ty Nhưng bên cạnh đó chi phí năm 2010 cũng tăng lên 134,82% so với năm 2009 tương đương với 17.923.723 nghìn đồng Vì thế lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2010 đạt 38.803.861 nghìn đồng, tăng lên
so với năm 2009 là 216.71% tương đương với 26.551.821 nghìn đồng
Năm 2010 nền kinh tế hết sức khó khăn đối với các doanh nghiệp, nền kinh
tế bất ổn Và việc Nhà nước ban hành, sửa đổi một số luật nhằm quản lý nền kinh
tế thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty như: Luật khoáng sản, Nghị đinh 71, Nghị định 69 và thông tư 16 về quản lý các dự án BĐS làm lỡ các kế hoạch kinh doanh của TNT Dự án chì kẽm Điện Biên phải tạm ngừng khai thác,
Dự án BĐS Nhân Chính phải tạm ngừng thi công làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của TNT không hoàn thành
Vì những khó khăn trên, TNT đã không đạt được kế hoạch sản xuất kinh doanh như Nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010 và Nghị quyết đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2010 đề ra Năm 2010 doanh thu đạt được hơn 70 tỷ, thực hiện được hơn 82% so với Kế hoạch đã đề ra
Trước tình hình đó, ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ toàn Công ty đã quyết tâm, nỗ lực không ngừng trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng và đối tác Trong năm 2010 mặc dù phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế, nhưng với định hướng phát triển đúng đắn, Công
ty vẫn duy trì tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trong Công ty, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước
Đây là một cố gắng rất lớn của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công
ty cũng như có sự chỉ đạo đúng hướng của Ban giám đốc Đây là một mặt tích cực của Công ty cần tiếp tục phát huy trong các kỳ kinh doanh tiếp theo
Trang 36
3.1.5 Tình hình về tài sản và nguồn vốn của công ty
Bảng 1.7: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2008 – 2010.
Đơn vị: nghìn đồng
Giá trị Tỷ
trọng (%)
Giá trị Tỷ
trọng (%)
trọng (%)
(Nguồn: Phòng kế toán công ty CP Tài Nguyên)
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì tài sản và nguồn vốn luôn phản ánh quy mô và trình độ phát triển của Công ty Đồng thời nó cũng là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Qua bảng trên ta thấy rằng tài sản và nguồn vốn của công ty tăng mạnh qua
3 năm Năm 2009 tài sản tăng lên so với năm 2008 là 51,6%, năm 2010 tăng gần gấp đôi so với năm 2009, tăng lên 92,5% Tài sản và nguồn vốn của Công ty tăng mạnh qua các năm như thế này là do Công ty đang mở rộng thị trường, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận cho Công ty Công ty
Trang 37hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư nhiều nên tài sản dài hạn của công ty qua các năm nhiều hơn tài sản ngắn hạn Năm 2010 Công ty làm ăn có lãi, đem lại lợi nhuận lớn cho Công ty nên nợ phải trả của Công ty thấp hơn 2 năm trước Đồng thời, vốn chủ sở hữu của của Công ty cũng tăng lên nhiều so với 2 năm trước, tăng lên 155,2% so với năm 2009 Đây là dấu hiệu tốt cho thấy Công ty đang hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển và hiệu quả.
3.1.6 Thuận lợi và khó khăn công ty gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh
Thuận lợi
Chính sách của Nhà nước về khoáng sản: Luật Khoáng sản được Quốc hội
khoá IX thông qua năm 1996 và được sửa đổi bổ sung một số điều vào năm 2005
đã bộc lộ nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện Do đó, Quốc hội dự kiến sẽ sửa đổi Luật Khoáng sản vào kỳ họp quốc hội tháng 11 năm 2010, trong đó, quy định chặc chẽ hơn việc quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản của Nhà nước, bỏ quy chế xin cho các mỏ khoáng sản Đây là rào cản đói với các đối thủ gia nhập ngành khoáng sản
Kinh nghiệm và năng lực của Ban quản trị điều hành: Công ty Cổ phần Tài
Nguyên có một Ban quản trị điều hành là những người có năng lực, kinh nghiệm,
và nhiệt huyết trong hai lĩnh vực vực khoáng sản và bất động sản, đồng thời có nhiều quan hệ và thông tin liên quan đến các địa điểm mỏ trữ lượng lớn và các dự
án bất động sản Đây là một trong những nhân tố then chốt giúp Công ty luôn khai thác được cơ hội, chủ động đối phó được với thách thức để không ngừng lớn mạnh
Đồng thời bộ máy quản lý của Công ty không ngừng được kiện toàn, công tác tuyển dụng và công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động được chú trọng, từng bước đã chấn chỉnh công tác định mức lao động, định mức nguyên nhiên vật liệu và khoán tiền lương theo sản phẩm, sắp xếp bố trí
Trang 38Áp dụng các biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm: Đội ngũ chuyên gia của Công ty được đúc rút nhiều kinh nghiệm
thông qua quá trình sản xuất thử, do đó, chi phí sản xuất những năm về sau giảm
so với những năm trước Hơn nữa, Công ty đã đi vào giai đoạn hoạt động ổn định sau giai đoạn sản xuất thử năm 2009 nên sản lượng và chất lượng sản phẩm của Công ty những năm tới dự kiến sẽ đạt mức tăng trưởng ổn định
Giá bán của sản phẩm chì kẽm đang trong xu thế tăng: Do nền kinh tế dần
hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, nhu cầu các kim loại
cơ bản cho sản xuất công nghiệp đang tăng dần lên Dự báo giá chì sẽ tăng trong năm nay do nhờ nhu cầu cao của từ phía các nhà sản xuất ô tô và pin, ắc quy toàn cầu, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ Giá chì năm hồi tháng 6/2009 từ 1.700 USD/tấn đã tăng lên mức 2.300 USD/tấn vào giữa tháng 1/2010 Giá chì thế giới năm 2010 dao động ở mức 2.303 USD/tấn, tăng 33% so với năm 2009 Giá kẽm năm 2010 đạt trung bình 2.270 USD/tấn và cầu sẽ vượt cung khoảng 86.000 tấn
Khó khăn
Sự thay đổi của chính sách thuế: Mức thuế xuất khẩu kim loại chì, kẽm
trong năm 2008 được thay đổi từ 15% đến 20% theo Quyết định số BTC ngày 06/06/2008 của Bộ Tài Chính Do đó, giá bán chì kẽm của doanh nghiệp cũng tăng theo Trong thời gian tới, nếu Chính phủ tiếp tục tăng thuế xuất khẩu chì kẽm, trong khi Công ty không thể tăng ngay giá bán cho các đối tác thì lợi nhuận của Công ty sẽ bị ảnh hưởng đáng kể
35/2008/QĐ-Giá cả nguyên vật liệu tăng: Một trong những chi phí chiếm tỷ trọng lớn
trong giá vốn hàng bán của Công ty là giá điện, chiếm tới gần 20% trong cơ cấu giá vốn của Công ty Giá điện năm 2011 tăng 15,28% so với năm 2010 Đây cũng
là một thách thức đối với Công ty Công ty sẽ phải tính toán sắp xếp các ca sản xuất hợp lý để tận dụng nguồn điện Một khó khăn khác nữa của Công ty là Công
ty nằm ở vùng sâu vùng xa, khó khăn về địa lý, nên việc cung cấp điện sản xuất của Công ty cũng gặp một số khó khăn như bị cắt điện, nguồn cung không ổn định… Để hạn chế khó khăn này, Công ty đã chủ động dựng đường truyền tải điện riêng phục vụ cho hoạt động sản xuất
Điều kiện tự nhiên: Thời tiết mưa nhiều, thời gian mưa trong năm chiếm tới
50% cũng ảnh hưởng không tốt đến việc khai thác mỏ và thực hiện các dự án của Công ty Công ty thường chỉ tập trung khai thác và chế biến khoáng sản vào mùa
Trang 39khô, trong khoảng quý I và quý IV hàng năm Sản lượng sản phẩm trong mùa mưa (quý II và quý III) hàng năm chỉ bằng một nửa so với các quý mùa khô.
Môi trường làm việc: Sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng có
hiệu quả chưa cao Các biện pháp kích thích tạo động lực cho người lao động còn đơn điệu, nhiều biện pháp còn mang tính hình thức… Ngoài ra Công ty chưa tạo được môi trường thuận lợi đầy đủ cho người lao động phấn khởi, yên tâm lao động
Ngoài ra năm 2010 là một năm hết sức khó khăn với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam Nền kinh tế có nhiều bất ổn: Lạm phát cao, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra, lãi suất tăng cao, khả năng tiếp cận với các khoản vay thấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của công ty và làm tăng chi phí tài chính một cách phi lý, thị trường ngoại hối căng thẳng, tỷ giá liên tục tăng cao, việc huy động ngoại tệ cho các hoạt động kinh doanh trở nên khó khăn, việc hình thành hai tỷ giá làm tăng chi phí của công ty thị trường chứng khoán giảm điểm mạnh, cộng với việc UBCK hạn chế việc tăng vốn của công ty làm cho TNT không thể thực hiện tăng vốn theo như kế hoạch
3.1.7 Định hướng và Mục tiêu phát triển của công ty
Định hướng của Công ty:
Định hướng của Công ty trong thời gian tới là phát triển song song hai lĩnh vực là khoáng sản và bất động sản Sau khi chuyển đổi thành Công ty cổ phần, Công ty đã thực hiện 3 lần phát hành cổ phiếu riêng lẻ để tăng vốn điều lệ Vốn thực góp sau khi tăng vốn là 85 tỷ đồng
Đưa ra định hướng chiến lược, hỗ trợ tích cực Ban Tổng giám đốc trong việc nghiên cứu phát triển, tìm kiếm dự án mới, cũng như tập trung cao độ thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đồng cổ đông đã thông qua
Tăng cường quan hệ với các đối tác trong và ngoài nước tạo giá trị gia tăng bằng các liên doanh liên kết, tìm kiếm đối tác quốc tế để thực hiện các dự án lớn của Công ty
Các mục tiêu chủ yếu của Công ty:
Trang 40- Kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn của các cổ đông đã đầu tư vào Công ty, hoàn thành các nhiệm vụ đã được Đại hội cổ đông thông qua
- Tối đa hoá hiệu quả đầu tư chung của Công ty
- Hướng tới một doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản và khai khoáng
Bảng 1.8: Mục tiêu doanh thu, lợi nhuận của Công ty trong 3 năm tới
Giá trị % tăng/ giảm so với năm 2012
Vốn điều lệ 100.000 130.000 130,0% 150.000 115.4%
Vốn chủ sở
hữu 136.475 169.652 124,3% 200.157 117.98%Doanh thu
thuần từ sản
xuất 119.937 129.604 108,1% 140.506 108.41%Lợi nhuận
trước thuế 46.699 50.417 108,0% 59.754 118.52%Lợi nhuận sau
(Nguồn: Phòng đầu tư và kinh doanh)
3.2 Phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty Cổ phần Tài Nguyên
3.2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty
Năm 2008 lĩnh vực sản xuất của Công ty chủ yếu là về lĩnh vực kinh doanh bất động sản và khoáng sản, quy mô hoạt động của Công ty nhỏ Cơ cấu tổ chức của Công ty theo kiểu trực tuyến chức năng Trong cơ cấu tổ chức bao gồm ĐHĐCĐ,