1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh

88 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 609,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với trình độ còn thấp, tiềm lực của các doanh nghiệp còn yếu hầu như trên tất cả các mặt thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ đem lại động lực thúc đẩy sản xuất đi lên, đẩy

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, không những củng cố lại kiến thức đã học mà còn vận dụng các kiến thức đó vào thực tiễn Hơn nữa đồng thời giúp sinh viên nâng cao kiến thức luận, phương pháp làm việc một cách hiệu quả đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Từ những cơ sở đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại Công ty Thịnh Hưng (TNHH) từ ngày 27/12/2010 đến ngày 27/05/2011 với đề

tài:“Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh”

Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã tận tình giảng dạy

và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Đặng Văn Tiến đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian hoàn thành luận văn

Qua đây tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn Ban giám đốc, Phòng kế toán Công ty Thịnh Hưng (TNHH) đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp

Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu nhưng do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Khác hẳn với các doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp trong thời mở cửa ngày nay luôn biết đặt mình vào vòng xoáy kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cho nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết chấp nhận, tuân thủ khai thác các quy luật kinh tế

Trong cơ chế mới này mục tiêu hàng đầu cao nhất của các doanh nghiệp là hiệu quả sản xuất kinh doanh bởi đó chính là điều kiện, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong hiện tại và trong tương lai Đó còn là tiền đề cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, tăng vị thế cạnh tranh trên thị trường và khẳng định chỗ đứng trong xã hội chỉ khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả lợi ích kinh tế được đảm bảo thì lợi ích xã hội mới được thực hiện

Với trình độ còn thấp, tiềm lực của các doanh nghiệp còn yếu hầu như trên tất cả các mặt thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ đem lại động lực thúc đẩy sản xuất đi lên, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp doanh nghiệp thoát khỏi nguy cơ phá sản và chiến thắng trên thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay Đây đang là một bài toán khó đối với tất cả các doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, trong thời gian thực tập tại công ty, vận dụng một số lý

thuyết đã học, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài cho bài báo cáo thực tập của mình.

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng, từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu tình hình kinh doanh thực tế diễn ra tại công ty Những cơ hội

và thách thức mà môi trường bên trong cũng như bên ngoài mang lại cho công ty

- Nghiên cứu các công ty bạn cũng đang kinh doanh cùng lĩnh vực với Thịnh Hưng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Từ đó thấy được môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng ở tỉnh Bắc Ninh trong đó Thịnh Hưng là một thành viên diễn ra gay gắt như thế nào

- Từ thực trạng trên mới đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công ty Thịnh Hưng (TNHH) và các công ty bạn hoạt động cùng lĩnh vực với Thịnh Hưng trên thị trường tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Công ty Thịnh Hưng (TNHH) và thị trường tỉnh Bắc Ninh.+ Phạm vi thời gian: từ ngày 27/12/2010 đến ngày 27/05/2011

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến

- Đánh giá được thực trạng hoạt động cạnh tranh diễn ra tại công ty

- Đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty

- Có được những nhận thức sâu hơn cho bản thân về cạnh tranh

Trang 4

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tài liệu

2.1.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1.1 Cạnh tranh, đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường

a Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh

* Khái niệm cạnh tranh:

Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau Theo Mác “cạnh tranh là sự phấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác” (theo nhóm tác giả cuốn “Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”) Theo kinh tế chính trị học thì “cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình”

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh

Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng bước đi của các doanh nghiệp Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con người cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh Ví như các quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi, các doanh nghiệp cạnh tranh

Trang 5

nhau để lôi cuốn khách hàng về phía mình, để chiếm lĩnh những thị trường có nhiều lợi thế và con người cạnh tranh nhau để vươn lên khẳng định vị trí của mình

cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ để những người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế trong quan hệ với các đối tác Như vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến

vĩ mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội Điều này xuất phát từ một

lẽ đương nhiên nước ta đã và đang bước vào giai đoạn phát triển cao về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, mà bên cạnh đó cạnh tranh vốn là một quy luật

tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển Bởi vậy, để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và năng động phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có phương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động Thực tế cho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trị trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh tế thị trường Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Cạnh tranh

là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu cực, đó là sự phân hóa sản xuất hàng hóa, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ

Trang 6

thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp những rủi ro khách quan mang lại như thiên tai, hỏa hoạn… hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi.

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó

là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận Các doanh nghiệp thương mại cần nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận cạnh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, mặt khác tránh tình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình

b Các loại hình cạnh tranh

* Căn cứ vào đối tượng cạnh tranh: người ta chia làm 2 loại

+ Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:

Là cuộc cạnh tranh chính và khốc liệt nhất trong nền kinh tế thị trường Nó

có ý nghĩa sống còn đối với các chủ doanh nghiệp Cạnh tranh giữa những người bán điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường Khi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu thì cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả hàng hóa đó giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là tăng lợi nhuận, tăng doanh số và thị phần Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh

là hiện tượng tất yếu không thể tránh khỏi đối với bất kỳ doanh nghiệp nào

Thực tế cho thấy cạnh tranh giữa những người bán với nhau sẽ đem lại lợi ích cho người mua và trong quá trình ấy những doanh nghiệp nào không có chiến lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ bị gạt ra khỏi thị trường và đi đến phá sản Nhưng mặt khác sẽ có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ nắm chắc “Vũ khí” cạnh tranh thị trường và dám chấp nhận “luật chơi” phát triển

+ Cạnh tranh giữa những người mua:

Trang 7

Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó mà mức cung nhỏ hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh càng trở nên quyết liệt và giá hàng hóa, dịch vụ đó sẽ càng tăng Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, còn người mua phải mất thêm một số tiền Khi đó người kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nào của các cơ quan quản lý Nhà nước.

* Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường: 3 loại

+ Cạnh tranh hoàn hảo:

Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, họ đều quá nhỏ lẻ nên không ảnh hưởng đến giá cả thị trường Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành Vì vậy mặt hàng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường Đồng thời hàng năm cũng không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu hàng tăng giá thì hãng

sẽ không bán được hàng, do người tiêu dùng sẽ đi mua hàng với mức giá hợp lý từ các đối thủ cạnh tranh của hãng Do đó các hãng sản xuất sẽ luôn tìm các biện pháp để giảm chi phí sản xuất đến mức tối đa, nhờ đó để có thể tăng lợi nhuận

Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có những hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước, vì vậy trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dẫn tới chi phí sản xuất

+ Cạnh tranh không hoàn hảo:

Nếu một hàng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối với đầu ra của hãng ấy thì hãng ấy được liệt vào “hàng cạnh tranh không hoàn hảo” Như vậy, cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau mặc dù sự khác biệt

Trang 8

giữa các sản phẩm là không đáng kể Mỗi loại sản phẩm lại có uy tín, hình ảnh khác nhau, các điều kiện mua bán hàng cũng rất khác nhau Người bán có thể có

uy tín độc đáo khác nhau đối với người mua do nhiều lý do khác nhau như: khách hàng quen, gây được lòng tin từ trước… Người bán là kéo khách về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng và cung cấp dịch

vụ, tín dụng, chiết khấu giá… Loại hình cạnh tranh không hoàn hảo hiện nay rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường

+ Cạnh tranh độc quyền:

Là cạnh tranh trên thị truờng mà ở đó có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hóa bán ra trên thị trường Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh, được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền, ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có rất nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ Thị trường này không có cạnh tranh về giá cả, mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả

Họ có thể định giá cao hơn, điều này tùy thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, mục đích cuối cùng là họ thu được lợi nhuận tối đa Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này thường phải chấp nhận bán hàng theo giá cả của Nhà độc quyền

Trong thực tế có thể có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc khi các nhà độc quyền liên kết với nhau Độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển và làm thiệt hại đến người tiêu dùng Vì vậy, hiện nay ở một số nước đã có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh doanh

* Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: 2 loại

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành:

Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các chủ doanh nghiệp

Trang 9

thôn tính nhau Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường Nhưng doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản.

+ Cạnh tranh giữa các ngành:

Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành ít thu được lợi nhuận sang những ngành có lợi nhuận cao hơn Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên

sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất Kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợi nhuận như nhau Tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành

c Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầu như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về Nhà nước Vì vậy, vô hình chung Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Chính điều đó đã không tạo được động lực cho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung

* Đối với nền kinh tế quốc dân:

Đối với nền kinh tế cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao

Trang 10

động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hóa Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu

và rộng Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

* Đối với doanh nghiệp:

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững

Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cà tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cấu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu

từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?

và sản xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất ra những gì mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình

Trang 11

sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường, tăng thêm

uy tín cho doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế

* Đối với ngành:

Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung, cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Nhất

là đối với ngành xây dựng là một ngành có vai trò chủ lực trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó

Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đáp ứng ở tầm vĩ mô hay

vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh

* Đối với sản phẩm:

Nhờ có cạnh tranh mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày nay các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua nhưnữg ý nghĩa trên, ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội

Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lỹ của Nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng đoạn, xáo trộn thị trường

Trang 12

2.1.1.2 Nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

a Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?

Cạnh tranh không phải là sự hủy diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiẹu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của một quốc qua, hay một ngành, một công ty xí nghiệp

Phải nói rằng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh Nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khả năng cạnh tranh của công ty

a.1) Theo cách tiếp cận khả năng cạnh tranh ở tầm quốc gia

Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm diễn đàn kinh tế thế giới (gọi tắt là WEF) Theo định nghĩa của WEF thì khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững vàng tương đối và các đặc trưng kinh tế khác(WEF – 1997)

Như vậy khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được thực hiện Ví dụ điển hình là Nhật Bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong cảnh mất mùa, thiếu thốn Vậy mà đến năm 1968 Nhật Bản đã trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) và được xếp hàng các cường quốc kinh

tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng trưởng kinh tế này là một trong những đỉnh cao để xác định năng lực cạnh tranh lớn của nền kinh tế Nhật Bản Cũng theo WEF thì

Trang 13

các yếu tố xác định khả năng cạnh tranh được chia làm 8 nhóm chính bao gồm 200 chỉ số khác nhau.

a.2) Tiếp cận khả năng cạnh tranh ở cấp ngành, cấp công ty

+ Quan điểm của M.Poter : Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sách của M.Poter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại ( hay sản phẩm thay thế) của công ty đó Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau:

1 Số lượng các doanh nghiệp mới tham gia

2 Sự có mặt của các sản phẩm thay thế

3 Vị thế của khách hàng

4 Uy tín của nhà cung ứng

5 Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh

Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với giai đoạn, thời kỳ phát triển của nền kinh tế

+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm

Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xét khả năng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất Như vậy khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp tùy thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh

+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren:

VarDwer, E.Martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn “Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”-1991 Theo các tác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong nước và nước ngoài Như vậy, lợi nhuận và thị phần là hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty Chúng

có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh

Trang 14

tranh của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phản ánh năng lực cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao Tuy nhiên chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ số thành phần khác nhau như:

1 Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất các yếu tố sản xuất

2 Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và triển khai

3 Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt

4 Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các nguồn lực

b Các yếu tố quyết định tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

* Yếu tố giá cả:

Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu Người bán và người mua thỏa thuận mặc cả với nhau để đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, “khách hàng là thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên

Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn hay tùy thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường

* Chất lượng dịch vụ:

Nếu như trước kia, giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó đã phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng dịch vụ và sản phẩm nhất là khi đời sống ngày càng được nâng cao Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là “biện pháp nghèo nàn” nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại, cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm và dịch vụ nào tốt, đáp ứng được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với một mức giá có cao hơn

Trang 15

một chút cũng không sao, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, vì thế đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhiều so với trước thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải đưa lên hàng đầu.

Chất lượng sản phẩm dịch vụ là một vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân khi mà họ đang phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh khác Một khi chất lượng sản phẩm và dịch vụ không được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất thị trường, nhanh chóng tới chỗ suy yếu và phá sản

hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp có được

Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tốt sẽ làm tăng sản lượng bán hàng từ đó sẽ tăng doanh thu, tăng lợi nhuận dẫn tới tốc độ thu hồi vốn nhanh, kích thích sản xuất phát triển Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp tìm ra được nhiều bạn hàng mới, mở rộng thị trường nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

* Các hoạt động chiêu thị:

Ngày nay các hoạt động chiêu thị rất được chú ý trong cá doanh nghiệp Hoạt động chiêu thị là tổng hợp các chương trình quảng cáo, khuyến mãi xác định cả về chi phí, cách thức thực hiện, phương tiện thực hiện, nhân sự, thời gian, đối tượng doanh nghiệp hướng tới… Hoạt động chiêu thị nhằm kích thích người

Trang 16

tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, làm cho người tiêu dùng hiểu rõ hơn về sản phẩm.

* Phương thức thanh toán:

Là một yếu tố được sử dụng khá phổ biến hiện nay để tạo ra khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau được áp dụng hiện nay như thanh toán chậm, trả góp, mở L/C… Phương thức thanh toán hợp lý giúp cho hoạt động mua bán diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người bán và người mua

c Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

* Các nhân tố chủ quan:

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc yếu tố bên trong doanh nghiệp Các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty Bởi vậy mà nó được coi là các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của công ty

+ Khả năng về tài chính:

Vốn là tiền đề cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn, tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín

về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng Từ đó làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản Như vậy khả năng tài chính

là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển

+ Nguồn lực về vật chất kỹ thuật:

Trang 17

Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với đối thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi lẽ trình độ máy móc và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hóa Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm thì cũng sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao, thiết bị máy móc hiện đại nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnh tranh.

+ Nguồn nhân lực:

Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh Bởi vậy doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người, xây dựng môi trường văn hóa và có nề nếp, tổ chức Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ nghiệp vụ, năng suất lao động, thu nhập bình quân, năng lực của cán bộ quản lý

Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp Chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm Chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu của con người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp và tất cả những yếu

tố này đã hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong

Trang 18

doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến các nhà quản trị cấp cao Bởi mỗi người đều có một vị trí một chức năng quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm nặng nề nhất Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền.

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ có lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ, vẫn chỉ có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện thì công việc không thể hoàn thành Phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ tay nghề, có óc sáng tạo, có trách nhiệm và ý thức trong công việc thì mới có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ tốt nhất, mang tính cạnh tranh cao nhất Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể không có trình độ chuyên môn cao, họ chỉ cần có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo,

và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào thải của nền kinh tế thị trường thì không bao giờ tồn tại hiện tượng đó nữa

Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình, họ luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển Trách nhiệm và quyền lợi của họ được đảm bảo và phát huy Ở đâu có nhân viên nhiệt tình có trách nhiệm thì ở đó có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm về nghĩa vụ của mình Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự phải được quan tâm hàng đầu, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

* Các nhân tố khách quan:

Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp Các

Trang 19

nhân tố khách quan bao gồm:

Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía các nhà cung cấp, các doanh nghiệp phải biết tìm đến các nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lí với phương châm là đa dạng hóa các nguồn cung cấp, thực hiện nguyên tắc “không bỏ tiền vào một ống” Mặt khác trong quan hệ này doanh nghiệp nên tìm cho mình một nhà cung cấp chính có đầy đủ sự tin cậy nhưng phải luôn tránh sự lệ thuộc, cần phải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình Như vậy doanh nghiệp cần phải thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp để họ cung cấp đầy đủ về số lượng

+ Khách hàng:

Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tính chất quyết định của khách hàng thể hiện ở các mặt sau:

Khách hàng quyết định hàng hóa của doanh nghiệp được bán theo giá nào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào? Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lựa chọn theo ý thích của mình và đồng

Trang 20

quyết định phương thức phục vụ của người bán Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trường chuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thành thượng đế Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bới yếu tố khách hàng, khách hàng có thể ganh đua với doanh nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống, mặt khác khách hàng còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và dẫn đến làm tổn hao đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nhóm khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn Nhóm khách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ có thể tìm được nhà cung cấp khác một cách dễ dàng hoặc nhóm khách hàng có đầy đủ thông tin về sản phẩm, giá cả thị trường, giá thành của nhà cung cấp Điều này đem lại cho khách một lợi thế mạnh hơn trong cuộc mặc cả so với trường hợp họ chỉ có ít thông tin.

Bên cạnh đó sự yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụt giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở chỗ nếu doanh nghiệp không theo đuổi kịp những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xu hướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ Và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảm sút Điều đó chứng

tỏ yếu tố khách hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp

+ Các đối thủ cành tranh hiện tại và tiềm ẩn:

Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt đối thủ cạnh tranh Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kì đối thủ nào, nhưng cũng không nên coi đối thủ là kẻ địch Cách xử lí khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại phải xác định, điều khiển và hòa giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng là có nghĩa mình đã thành công một phần trong cạnh tranh Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng Vì thế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được

Trang 21

tôn vinh là thượng đế Để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không những thể còn phải chiều lòng khách hàng, lôi kéo khách hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị.

Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắt đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gây dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vào khu vực thị trường này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng

về phía mình

Trong những thời điểm và giai đoạn khác nhau thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung những đặc điểm mới của thì trường, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt nổi trội hơn trên thị trường, doanh nghiệp nên đề phòng và lường trước các đối tác làm ăn, các bạn hàng, bởi vì họ có thể trở thành những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Nếu ở trong một thị trương kinh doanh nhất định, doanh nghiệp vượt trội lên các đổi thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục vụ thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện tiến xa hơn so với các đối thủ

+ Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế:

Những sản phẩm thay thế cũng là một trong các lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng ngành Sự ra đời của sản phẩm mới

là một tất yếu nhắm đáp ứng biến động của nhu cẩu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú Chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế Các sản phẩm thay thế sẽ có ưu thế hơn và sẽ dần thu hẹp thị trường của sản phẩm thay thế Để khắc phục tình trạng thị trường bị thu hẹp các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản

Trang 22

phẩm, cải tiến mẫu mã, hay nói cách khác doanh nghiệp phải luôn hướng tới khách hàng để tìm độ thỏa dụng mới.

d Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh:

- Hệ số thanh toán lãi vay:

Hệ số thanh toán lãi vay LN trước thuế + Lãi tiền vay

Lãi tiền vayChỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp Nếu tỷ

lệ này quá thấp sẽ làm giảm khả năng trả lãi, đồng thời lợi nhuận của doanh nghiệp cũng không thể cao Đây là một trong các căn cứ để Ngân hàng quyết định

có cung cấp các khoản vay tiếp theo hay không

- Hệ số thanh toán hiện hành:

Hệ số thanh toán hiện hành Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn

- Hệ số thanh toán nhanh:

Hệ số thanh toán nhanh

=

Tài sản lưu động - hàng tồn

kho

Nợ ngắn hạn

- Hệ số thanh toán tức thời:

Hệ số thanh toán tức thời Tiền mặt

Nợ ngắn hạn

- Hệ số doanh lợi:

Lợi nhuận trước

Trang 23

Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu thuế

Doanh thu

Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn SXKD Lợi nhuận trước thuế

Vốn sản xuất kinh doanh

Hai hệ số trên phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn

d.2) Những chỉ tiêu riêng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

* Giá trị trúng thầu và số lượng các công trình thắng thầu:

Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầu của doanh nghiệp Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và biết quy mô của các công trình mà doanh nghiệp đã trúng thầu

Từ đó ta thấy được khả năng, tiềm lực của doanh nghiệp

- ∑Gdt: tổng giá trị hợp đồng tham gia dự thầu

* Thị phần và uy tín của doanh nghiệp:

Đây là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trong đó thị phần biểu hiện thành hai mặt: thị phần tuyệt đối và thị phần

Trang 24

∑ giá trị xây lắp của doanh nghiệp

∑ doanh thu xây lắp toàn ngànhThị phần tương đối: được xác định trên cơ sở tự so sánh phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp với phần thị trường tuyệt đối của một số đối thủ cạnh tranh nhất

Uy tín của doanh nghiệp: chỉ tiêu này liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên

và các yếu tố khác như: chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức các

dự án thi công, marketting

2.1.1.3 Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

a Thực chất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp đều tìm mọi cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Các biện pháp dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành để nâng cao khả năng cạnh tranh như cải tiến dịch vụ giúp tiết kiệm chi phí Một dịch vụ hoàn hảo sẽ giúp cho doanh nghiệp có được các sản phẩm dịch vụ mang tính cạnh tranh cao hơn nhờ chất lượng dịch vụ được đảm bảo uy tín

Vậy nâng cao khả năng cạnh tranh là việc tăng cường các hoạt động từ dịch

vụ, kinh tế khả năng ra quyết định nhằm giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển

b Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung

Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh Trước những cơ hội và thách thức như vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm cách vượt qua nếu không nhuy cơ phá

Trang 25

sản là rất lớn trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan Các doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh, chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng tất cả khả năng của mình mới có thể giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chính vì vậy, tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường.

c Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH)

Công ty Thịnh Hưng (TNHH) là một doanh nghiệp trẻ hoạt động trong lĩnh vực xây dựng với ngành nghề chính là chuyên nhận thầu và xây lắp công trình Khi mới thành lập công ty Thịnh Hưng gặp không ít khó khăn Thị phần của công

ty không đáng kể, công ty phải chịu một sự cạnh tranh rất gay gắt Trước tình hình

đó, để tồn tại và phát triển công ty cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển

2.1.2 Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu có liên quan trước đây

Năm 1985, cuốn sách “ Lợi thế cạnh tranh” được xuất bản lần đầu Cuốn sách là sự bổ sung chính yếu cho tác phẩm “ Chiến lược cạnh tranh” Nếu “ Chiến lược cạnh tranh” tập trung vào các ngành kinh doanh thì “ Lợi thế cạnh tranh” lại chủ yếu nói về các công ty và doanh nghiệp Mục tiêu là khái niệm hoá một công

ty với những nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của lợi thế

đó Trọng tâm của tác phẩm này là một lý thuyết dựa trên hoạt động ( activity- based theory) của công ty Để cạnh tranh trong bất kỳ ngành nào, các công ty phải thực hiện một loạt những hoạt động riêng rẽ như thực hiện đơn đặt hàng, tiếp xúc khách hàng, lắp rắp sản phẩm, đào tạo nhân viên… Chính các hoạt động này, vốn

ở tầm nhỏ hẹp hơn các chức năng như Marketing hay R&D, mới là nơi phát sinh chi phí và tạo ra giá trị cho người mua Chính chúng mới là các đơn vị cơ bản ( basic units) của lợi thế cạnh tranh Đa số các công trình nghiên cứu trước đây gắn lợi thế cạnh tranh với quy mô và thị phần, và điều này thực ra đã quá đơn giản

Trang 26

hoá vấn đề Một là, tại một số bộ phận của doanh nghiệp, quy mô và thị phần quan trọng hơn nhiều so với chi phí và khác biệt hoá Hai là, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn trong nhiều ngành kinh doanh Cuối cùng, ngay cả khi quy mô và thị phần gắn liền với hiệu quả của sản xuất kinh doanh, thông thường thì chúng chỉ là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của lợi thế cạnh tranh Một nỗ lực khác nhằm giải thích lợi thế cạnh tranh – chẳng hạn như điểm mạnh và điểm yếu, các yếu tố thành công hay các khả năng riêng biệt Cuốn sách “ Lợi thế cạnh tranh” bắt đầu với tiền đề rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau; sau đó đưa ra cách thức gắn lợi thế cạnh tranh với những hoạt động cụ thể cũng như cách liên kết các hoạt động ấy với nhau và với hoạt động của nhà cung cấp, khách hàng

Michael E Porter khi nghiên cứu về cạnh tranh giữa các công ty đã chỉ ra rằng, trên khắp thế giới, các công ty mà đã đạt được sự dẫn đầu quốc tế áp dụng các chiến lược mà khác biệt với những công ty khác về mọi khía cạnh Nhưng trong khi mọi công ty thành công sẽ sử dụng chiến lược cụ thể của riêng mình, thì cách thức hoạt động cơ bản - đặc trưng và đường đi của tất cả các công ty thành công - về cơ bản là giống nhau Các công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua những hành động đổi mới Các công ty này tiếp cận sự đổi mới theo nghĩa rộng nhất của nó, bao gồm cả các công nghệ mới lẫn những cách thức mới để làm việc Các công ty này nhận thức được một cơ sở mới cho việc cạnh tranh hay tìm ra các phương thức tốt hơn trong việc cạnh tranh theo cách cũ Sự đổi mới có thể được bộc lộ trong một thiết kế sản phẩm mới, một qui trình sản xuất mới, một phương pháp tiếp thị mới, hay một cách thức mới để thực hiện việc đào tạo Phần lớn sự đổi mới là bình thường và tăng dần từng chút, phụ thuộc nhiều hơn vào sự tích lũy của những hiểu biết sâu sắc và tiến bộ nhỏ hơn là một sự đột phá duy nhất và quan trọng về công nghệ Sự đổi mới thường liên quan đến các ý tưởng mà thậm chí không phải là “mới” – các ý tưởng mà đã quanh quẩn đâu đó nhưng chưa bao giờ được theo đuổi một cách mạnh mẽ Một số sự đổi mới tạo ra lợi thế cạnh tranh qua việc nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới hay qua việc phục vụ

Trang 27

cho một phân khúc thị trường mà những đối thủ khác đã bỏ qua Khi các đối thủ

cạnh tranh chậm chân trong việc phản ứng, thì sự đổi mới như vậy tạo ra lợi thế

cạnh tranh Ví dụ, trong những ngành như xe hơi hay điện tử gia dụng, các công ty

Nhật Bản đã tạo được lợi thế ban đầu bằng cách tập trung vào các mẫu sản phẩm

nhỏ hơn, gọn hơn, công suất thấp hơn mà các đối thủ cạnh tranh nước ngoài không

thèm để ý đến và xem như là ít có khả năng tạo lợi nhuận hơn, ít quan trọng hơn

và kém hấp dẫn hơn Trên các thị trường quốc tế, những sự đổi mới mà tạo ra lợi

thế cạnh tranh dự đoán trước được các nhu cầu trong nước và nước ngoài.Mặt

khác, những sự đổi mới mà đáp ứng được các quan ngại hay những tình huống

cụ thể của thịtrường nước chủ nhà thật sự có thể làm chậm lại sự thành công trong

cạnh tranh trên trường quốc tế Thông tin đóng một vai trò to lớn trong quá trình

đổi mới và cải thiện – thông tin mà hoặc là không sẵn có đối với các đối thủ cạnh

tranh hoặc là các đối thủ này không tìm kiếm Đôi khi thông tin đến từ khoản đầu

tư đơn giản vào nghiên cứu và phát triển hay nghiên cứu thị trường; và thường xảy

ra hơn là thông tin đến từ nổ lực, từ sự cởi mở và từ việc xem xét đúng nơi mà

không bị làm trở ngại bởi những giả định che khuất hay sự hiểu biết thông thường

Đây là lý do tại sao các nhà cách tân thường là những người ngoài cuộc từ một

ngành khác hay một quốc gia khác Sự đổi mới có thể đến từ một công ty mới, mà

người sáng lập ra công ty đó có một nền tảng không truyền thống hay đơn giản là

không được đánh giá cao tại một công ty lâu đời hơn và đã định hình Hoặc năng

lực đổi mới có thể đi vào một công ty hiện hữu thông qua các nhà quản lý cấp cao

mà là mới đối với một ngành cụ thể và vì vậy có nhiều khả năng hơn trong việc

nhận thức các cơ hội và có khả năng hơn trong việc theo đuổi

Ngày nay, hơn một thập kỷ sau lần xuất bản đầu tiên của “ Lợi thế cạnh tranh”, các ý tưởng của nó vẫn đang tiếp tục lan toả Cuốn sách tạo cơ sở nền

móng cho việc mô tả và đánh giá chiến lược, liên kết nó với hành vi doanh nghiệp,

giúp hiểu được nguồn gốc của cạnh tranh

2.1.3 Xây dựng khung nghiên cứu của đề tài.

Thực trạng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH)

Cơ sở lý

thuyết các nghiên Tổng hợp

cứu có liên quan

Phương pháp nghiên cứu

Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty

Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty

Thực trạng tình hình kinh doanh của Công ty trong vài năm gần đây

Các biện pháp mà Công ty

đã áp dụng để cạnh tranh

Phân tích thị trường xây dựng tỉnh Bắc Ninh

Các yếu

tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Giải pháp 1

Giải pháp 2

Trang 29

hành chính của công ty Từ đó có những cơ sở xác thực để đánh giá, nhận xét về thực trạng tình hình kinh doanh của công ty Qua đó sẽ phục vụ cho bài viết được tốt hơn.

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu thứ cấp đã được tổng hợp từ các phòng kế hoạch, phòng kế toán trong công ty và một số tài liệu thông qua sách, báo, tạp chí Thu thập thông qua tham khảo, trao đổi với một số cán bộ tại công ty

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu.

- Phương pháp thống kê mô tả: Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu các lĩnh vực kinh tế, xã hội Sau khi thu thập được số liệu, tiến hành thống kê những số liệu thu thập được bao gồm cả những số liệu sơ cấp

và thứ cấp Sau đó dùng những phương pháp trong thống kê ( như phân tổ,…) để đưa ra những kết luận Đồng thời sử dụng Excel để xử lý số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá các kết quả kinh doanh của Công ty

- Phương pháp biến động dãy số : Căn cứ vào những số liệu đã thóng kê được tiến hành sắp xếp theo dãy số thời gian từ quá khứ đến hiện tại Để từ đó thấy được xu hướng phát triển tương lai và đưa ra những kết luận chính xác Trong

đề tài sử dụng phương pháp này để phân tích xu hướng biến động của tài sản, nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm 2008, 2009, 2010

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu.

Dùng các chỉ số về hiệu quả để đánh giá số liệu, từ đó phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài sản… của Công ty

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được dùng để so sánh số liệu giữa các năm, so sánh giữa lý thuyết và thực tế, từ đó xác định được tình hình biến động các số liệu của Công ty

- Phương pháp quy nạp : Phương pháp đi từ những vấn đề nhỏ rồi đi đến kết luận

Trang 30

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong việc nâng cao hiệu quả cạnh tranh ở các Phòng kỹ thuật, phòng tài chính kế toán trong Công ty

Trang 31

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.

3.1 Nghiên cứu tổng quan về Công ty Thịnh Hưng (TNHH).

3.1.1 Giới thiệu chung về Công ty

Công ty Thịnh Hưng là một đơn vị chuyên nhận thầu xây lắp, được thành lập vào ngày 11/06/2001 và đã được sở kế hoạch đầu tư Bắc Ninh cấp giấy phép kinh doanh số 2102000149 ngày 11/06/2001

Trụ sở chính của công ty nằm tại số 14 - Đường Ngô Gia Tự - Phường Thị Cầu - Thành Phố Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh

Tổ chức của công ty ngoài trụ sở chính còn có trụ sở chi nhánh và các đội của công ty đã và đang tổ chức thi công nhiều công trình trong và ngoài tỉnh

Với đội ngũ kỹ sư giỏi, công nhân lành nghề, thiết bị thi công tiến tiến đảm bảo tiến độ thi công công ty Thịnh Hưng đã và đang tham gia đấu thầu và thi công nhiều công trình xây dựng, đồng thời mở rộng các hoạt động kinh doanh khác có hiệu quả

Ngành nghề kinh doanh:

- Xây dựng công trình dân dụng, nhà bao che công trình công nghiệp, công trình giao thông thủy lợi vừa và nhỏ, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, xây dựng công trình điện đến 35 KV, san lấp mặt bằng, trang trí nội ngoại thất

- Xây dựng các công trình cấp, thoát nước và vệ sinh mội trường

- Cho thuê nhà ở, cho thuê nhà phục vụ mục đích kinh doanh

- Sản xuất bê tông đúc sẵn…

- Mua bán đồ dùng cá nhân và gia đình, mua bán thiết bị điện: điện tử, điện lạnh, đồ điện gia dụng Mua bán máy móc thiết bị phụ tùng thay thế, đại tu…

Trang 32

Phương hướng phát triển của đơn vị:

- Phát huy cao độ hiệu quả máy móc thiết bị thi công đã đầu tư, duy trì phát triển sản xuất công nghệ hiện có

- Chủ động tìm kiếm các công trình trong mọi lĩnh vực xây dựng và mở rộng được ngành nghề xây dựng

- Thiết lập và tạo ra những mối quan hệ tốt với các chủ đầu tư

- Tạo mối quan hệ chặt chẽ lâu dài với một số công ty, Tổng công ty xây dựng lớn ở trong nước để qua những mối quan hệ này công ty có thể sẽ có những liên doanh khi cần thiết theo các hình thức thích hợp để có thể nhận thêm một số công trình có giá trị lớn từ đó tăng khả năng trúng thầu

3.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty.

Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động của Công ty Thịnh Hưng (TNHH)

Đội xây dựng số 3

Đội xây dựng số 4

Xưởng sản xuất NVL

Xưởng mộc

Phòng kế hoạch – kỹ thuật

Phó giám đốc Công ty Phòng tài vụ Phòng hành chính – Tài

chính

Trang 33

3.1.3.Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban

- Giám đốc công ty: là người đứng đầu công ty, thực hiện mối quan hệ giao

dịch, ký kết hợp đồng Chịu trách nhiệm trước pháp luật và là người quyết định tổ chức bộ máy quản lý và phương hướng hoạt động kinh doanh của công ty

- Phó giám đốc: là người có chức năng tham mưu, giúp cho giám đốc công

ty trong những lĩnh vực được phân công, đề xuất với giám đốc các phương án, chương trình, kế hoạch kinh doanh thuộc phạm vi phụ trách, điều hành chung khi giám đốc vắng mặt

3.1.3.1.Phòng hành chính – tài chính

a Phòng hành chính

* Chức năng: Phòng hành chính công ty là phòng tham mưu và tổ chức thực hiện trong các lĩnh vực: quản lý văn phòng giao dịch với khách đến làm việc, nội quy cơ quan, giữ gìn trật tự, an ninh trong cơ quan trong khi làm việc và phục

vụ ăn ở, sinh hoạt tại cơ quan công ty

Trang 34

+ Quản lý tài sản: đất đai, thiết bị, dụng cụ làm việc, sinh hoạt tại trụ sở của công ty và các dụng cụ do công ty cấp cho các đơn vị.

+ Giữ gìn xe máy, xe đạp cho CBCNV và khách đến làm việc tại trụ sở công ty

+ Mua sắm thiết bị, dụng cụ hành chính và văn phòng phẩm

+ Theo dõi công văn đi, đến đúng, kịp thời và lưu trực theo mẫu sổ sách quy định, quản lý công văn tài liệu và các loại con dấu của công ty

b Phòng tài chính

* Chức năng: Phòng tài chính là tổ chức thuộc bộ máy quản lý của công ty,

có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện công tác tài chính theo pháp luật của Nhà Nước và yêu cầu sản xuất kinh doanh của công ty nhằm khai thác, huy động, đáp ứng kịp thời và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất

+ Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị sản xuất thực hiện công tác tài chính kế toán theo quy chế khoán đội của công ty

+ Kiểm tra thường xuyên việc sử dụng vốn tạm ứng của công ty cho các đơn vị sản xuất thi công Kiểm tra, giám sát đến từng công trình và có biện pháp

Trang 35

thích ứng, hoặc tạm dừng việc cung cấp vốn đối với các đơn vị không sử dụng đúng mục tiêu của đồng vốn, không báo cáo hoàn vay, không chứng từ đúng lịch quy định.

+ Lập báo cáo quyết toán hàng kỳ theo quy định gửi các cơ quan: thuế, ngân hàng…

+ Phân tích hoạt động kinh tế của công ty, chỉ ra những hiệu quả hoặc tồn tại ở từng công trình

+ Soạn thảo các văn bản hướng dẫn việc thực hiện quy chế, quy trình nghiệp vụ, nhận báo cáo nghiệp vụ kế toán của các đơn vị sản xuất kịp thời, đúng hạn và tổng hợp báo cáo khi lãnh đạo yêu cầu

+ Phối hợp với các phòng nghiệp vụ công ty chỉ đạo tốt việc thực hiện quy chế quản lý cấp đội

+ Lưu trữ, bảo quản các chứng từ, giữ gìn bí mật công tác kế toán và thực hiện kiểm tra, giám sát các hoạt động bằng tiền của công ty theo pháp luật hiện hành của Nhà nước

3.1.3.2 Phòng kế hoạch – kỹ thuật.

* Chức năng: Phòng kế hoạch – kỹ thuật là tổ chức bộ máy quản lý của công ty, có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện các vấn đề về kế hoạch sản xuất, hạch toán kinh doanh, quản lý kỹ thuật và chất lượng các công trình thi công, tham mưu chính trong công tác đầu tư, giá cả hợp đồng kinh tế, chỉ đạo và điều hành mọi mặt sản xuất kinh doanh và quản lý kỹ thuật của giám đốc công ty

* Nhiệm vụ - quyền hạn:

+ Tham mưu cho giám đốc công ty việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, hàng quý, hàng tháng, hàng kỳ căn cứ theo nhiệm vụ và năng lực của công ty tự khai thác

+ Lập các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật theo biểu mẫu quy định và phân tích ra

Trang 36

từng hạng mục, bóc tách dự toán để phân khai nhiệm vụ cho các phòng tham mưu khác về: kế hoạch vật tư, kế hoạch xe máy thiết bị, kế hoạch lao động tiền lương,

kế hoạch tài chính…

+ Tìm kiếm, khai thác việc làm, lập hồ sơ đấu thầu các dự án trên cơ sở khối lượng công việc tự khai thác, trình lãnh đạo công ty triển khai, giao khoán cho các đội sản xuất

+ Lập phiếu khoán cho các đội sản xuất theo quy chế khoán đội của công ty

đã ban hành Thiết kế bản vẽ thi công các hạng mục công trình mà công ty thực hiện

+ Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc trong việc quản lý chất lượng kỹ thuật công trình do công ty thi công Xây dựng các quy trình, quy phạm trong quá trình sản xuất

+ Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ sản xuất theo lịch quy định Tham gia chỉ đạo các đơn vị sản xuất trong việc nghiệm thu, thanh quyết toán và lập phiếu giá thanh toán công trình

+ Báo cáo thường xuyên việc thực hiện công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh và công tác kỹ thuật, lập báo cáo hàng kỳ theo biểu mẫu quy định của công ty

+ Giữ gìn bí mật trong kinh doanh của công ty

+ Hướng dẫn các cán bộ kỹ thuật của phòng và cán bộ thi công của các đơn

vị sản xuất, nghiên cứu kỹ bản vẽ thiết kế

+ Giám sát và chỉ đạo các đơn vị thi công đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật và an toàn lao động

+ Tổ chức đi nghiệm thu tại công trình hàng tháng để cập nhật số liệu chính xác

+ Quan hệ với chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, các cơ quan hữu quan khác

Trang 37

có liên quan đến công trình, dự án.

+ Lưu trữ hồ sơ, bản vẽ, phối hợp cùng đơn vị thi công lập hồ sơ hoàn công

3.1.4 Vốn và CSVCKT của Công ty.

3.1.4.1 Vốn của Công ty Thịnh Hưng

Là một công ty tư nhân, vốn của Công ty Thịnh Hưng thường được bổ sung bằng nhiều hình thức như: vốn tự có, vốn góp của các thành viên, vốn vay , trong đó chủ yếu là vốn vay, góp phần vào việc mở rộng và phát triển sản xuất Trong 3 năm gần đây, nguồn vốn của Công ty luôn được đầu tư và sử dụng có hiệu quả Nếu như khi mới thành lập nguồn vốn của Công ty chỉ có là hơn 9 tỷ thì đến nay nguồn vốn của Công ty đã tăng lên gần 17 tỷ VNĐ Bảng sau đây sẽ cho thấy cụ thể hơn về tình hình nguồn vốn tại Công ty trong 3 năm gần đây

Bảng 1: Báo cáo năng lực vốn của Công ty

(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty)

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy nguồn vốn của Công ty luôn tăng qua các năm, góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn của các công trình Từ đó cho thấy khả năng khéo léo huy động vốn của Công ty Thịnh Hưng Bên cạnh việc khéo léo huy động vốn, việc bố trí cơ cấu vốn một cách hợp lý cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Công ty, vì nhờ đó mà Công ty có thể điều chỉnh và sử dụng một cách hợp lý hơn các nguồn vốn có được

3.1.4.2 CSVCKT của Công ty.

Trang 38

CSVCKT của Công ty Thịnh Hưng luôn luôn được trang bị và tu sửa hàng năm Máy móc thiết bị đều ở trong tình trạng làm việc tốt Hiện nay, Công ty có tổng cộng 74 xe và máy thi công các loại, trong đó có 20 xe thi công và 54 máy thi công phục vụ cho các công trình được hoạt động liên tục trong văn phòng làm việc, máy tính được trang bị đầy đủ cho nhân viên Ngoài ra còn có 03 máy in và

01 máy photocopy Tất cả các thiết bị khác như tủ đựng hồ sơ, bàn làm việc, quạt…được công ty đầu tư mua sắm đầy đủ, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho nhân viên Ngoài ra còn nhiều máy móc thiết bị hiện đại khác mà Công ty thường xuyên trang bị cho mình Nói chung, CSVCKT của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) rất đầy đủ và hiện đại, chất lượng tốt, điều đó đã tác động tích cực đến công việc

và chất lượng của các công trình mà công ty thi công

3.1.5.Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm gần đây

Bảng 2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH)

(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty)

Thông qua các chỉ tiêu tài chính cơ bản ở trên của Công ty từ năm 2008 đến năm 2010 ta có thể thấy tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty không ổn

Trang 39

định giữa các năm Khi so sánh liên hoàn ta thấy:

- Tổng doanh thu của Công ty (doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ) có

sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng qua các năm

- Lợi nhận gộp có sự tăng lên liên tục qua các năm khi so sánh tuyệt đối Nhưng so sánh về % phát triển lại có sự giảm sút Điều này cho thấy lợi nhuận gộp của Công ty không ổn định và đang có sự đi xuống

- Lợi nhuận thuần tăng mạnh liên tục qua các năm khi so sánh cả về tuyệt đối và tương đối

- Tổng lợi nhuận trước thuế tăng mạnh về % phát triển Đặc biệt, có sự tăng vượt bậc từ năm 2009 đến 2010

- Tổng lợi nhuận sau thuế cũng có sự tăng mạnh khi so sánh liên hoàn.Qua phân tích trên ta thấy tình hình kinh doanh của công ty bị trì trệ và khủng hoảng mạnh giai đoạn 2008 – 2009 Nhưng đến năm 2010, Công ty đã có

sự chuyển mình theo hướng tích cực, dần ổn định và phát triển, cố gắng lấy lại thị phần đã mất của mình trên thị trường

3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty.

3.2.1 Thực trạng tình hình kinh doanh của công ty trong vài năm gần đây

a Trong những năm qua, Thịnh Hưng luôn được coi là một điểm đến tin cậy của rất nhiều nhà thầu, nhiều cơ quan, đơn vị, bởi lẽ Công ty có một đội ngũ

kỹ sư, cán bộ giỏi, trang thiết bị máy móc hiện đại, kinh nghiệm làm việc lâu năm trong ngành Do vậy Công ty là một đối thủ mạnh trong lĩnh vực xây lắp trên thị trường xây dựng tỉnh Bắc Ninh nói riêng và một số tỉnh bạn nói chung Nếu vẫn duy trì được bước đi như trước thì không có gì cần phải nói nhưng trong ba năm gần đây, Công ty đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhiều đối thủ cạnh tranh trên cùng sân chơi, nên đã khiến cho doanh thu của Công ty có phần thay đổi, giá trị sản lượng giảm Công ty đang dần dần xuống dốc và không giữ được vị thế như lúc đầu nữa

Có thể thấy rõ thực trạng về giá trị sản lượng các hợp đồng của Công ty

Trang 40

Thịnh Hưng qua bảng sau:

Bảng 3: Bảng tổng giá trị sản lượng của Công ty Thịnh Hưng từ năm 2008 đến

2010 ĐVT: tr.đ

(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty)

Qua bảng tổng giá trị sản lượng của Công ty Thịnh Hưng từ năm 2008 đến năm

Ngày đăng: 15/05/2016, 20:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Báo cáo năng lực vốn của Công ty - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 1 Báo cáo năng lực vốn của Công ty (Trang 37)
Bảng 2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) (Trang 38)
Bảng 3: Bảng tổng giá trị sản lượng của Công ty Thịnh Hưng từ năm 2008 đến - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3 Bảng tổng giá trị sản lượng của Công ty Thịnh Hưng từ năm 2008 đến (Trang 40)
Bảng 5: Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 5 Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty (Trang 42)
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 6 Một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty (Trang 43)
Bảng 11: Bảng năng lực tài chính - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 11 Bảng năng lực tài chính (Trang 61)
Bảng 12: Bảng danh sách thiết bị hiện có của Công ty - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 12 Bảng danh sách thiết bị hiện có của Công ty (Trang 62)
Bảng 14: Kế hoạch đào tạo, tuyển dụng CBCNV năm 2011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh
Bảng 14 Kế hoạch đào tạo, tuyển dụng CBCNV năm 2011 (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w