Và cũng để có và giữ được nền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cốnghiến, hy sinh của cả một dân tộc, trong đó có những người con “kiệt xuất” vớiphẩm chất anh dũng, kiên cường, k
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam ta đang ngày một tiến lênsánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới, đang dần khẳng định vịthế của mình với các nước bạn về một nền độc lập, tự do, dân chủ
Để đạt được thành quả này là cả một quá trình đấu tranh gian khổ vớinhững hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông chúng ta
Và cũng để có và giữ được nền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cốnghiến, hy sinh của cả một dân tộc, trong đó có những người con “kiệt xuất” vớiphẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợ khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổquốc Người thanh niên tên Nguyễn Tất Thành đã một mình bôn ba khắp nămchâu bốn bể để tìm ra con đường mang lại độ lập tự do cho tổ quốc mình Nhắctới người là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá của nhânloại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người cha già kình yêu của dân tộc Họctập ở người là học tập cả một kho tàng kiến thức quý giá mà không một sách vởnào có thể dạy nổi
Thật may mắn cho chúng ta vì được sinh ra, lớn lên và hưởng trọn nhữngthành quả mà cả đời người đã cống hiến, Qua thời gian học tập, nghiên cứu, tìmtòi trên sách vở, báo chí, đặc biệt là sự chỉ dạy tận tình của Thầy cô giúp chúng
ta tiếp cận với hệ thống tư tưởng của người, cho chúng ta hiểu được tầm quantrọng của hệ thống tư tưởng này trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.Hơn nữa đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là độc lập, tự do, dân chủ Chính
vì tầm quan trọng này và mong muốn được tìm hiểu, học hỏi cũng như chia sẻnhững hiểu biết nhỏ bé của mình mà nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tưtưởng Hồ Chí Minh về dân chủ”
Để hoàn thành bài viết của mình, chúng tôi đã sử dụng một số phươngpháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp phân tích, sosánh, diễn dịch, quy nạp kết hợp với phương pháo tổng hợp để làm rõ vấn đềcủa bài viết để hiểu rõ vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ” xin kínhmời Thầy và các bạn cùng đi vào phần nội dung chi tiết
Trang 22 Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Có lẽ không có cách gì tìm hiểu về tư tưởng một con người tốt hơn là quabài viết của người đó ở những thời kì lịch sử khác nhau Xuyên suốt các thời kìlịch sử, có lẽ nguyện vọng lớn nhất của cụ Hồ là xây dựng một Việt Nam “ Dânchủ mới “, một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như các nước văn minh trênthế giới
Giở lại lịch sử, ngay khi đất nước còn đang chìm trong đêm trường nô lệ,tại nước Pháp, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được nhữngquyền lợi căn bản mà một con người, một công dân trong xã hội phải có, vì đó là
“ những quyền không ai có thể xâm phạm được “ (Tuyên ngôn độc lập) Tại đạihội Tours năm 1920 của đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu nhưsau:
Người Việt Nam bị phân biệt đối xử, họ không có những sự bảo đảm nhưngười châu Âu hoặc có quốc tịch châu Âu Chúng tôi không có quyền tự do báochí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có
Việc nhận thức được thế nào là nhân quyền, dân quyền có lẽ là một bướcphát triển rất lớn trong tư tưởng của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc Vớinhận thức rằng chính phủ sinh ra là để phục vụ dân chứ không phải để cai trịdân, chính phủ không có quyền ngăn cấm công dân phát biểu và hội họp vớinhau Do vậy, chính phủ thực dân Pháp đã xử sự hoàn toàn sai trái khi ngăn cấm
và hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người Việt Nam
Trang 3Dù vậy, thực dân Pháp vẫn huênh hoang là họ có công “khai hóa” chonhân dân Việt Nam Thực dân Pháp đã tổ chức những cuộc vui chơi, thể dục thểthao, âm nhạc, thậm chí cho bầu cử giả hiệu để thanh niên Việt Nam lãng quênnghĩa vụ giải phóng đất nước Nhìn bề ngoài không ai có thể nghĩ rằng ngườidân Việt Nam cần độc lập, tự do, dân chủ nhưng với con mắt nhìn xa trông rộng,
cụ Hồ đã nhìn thấy điều khác hẳn
Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đãchín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương khôngmuốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng tathường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa Sự thật là người Đông Dươngkhông có một phương tiện hành động và học tập nào hết Báo chí, hội họp, lậphội, đi lại đều bị cấm… Việc có những báo hoặc tạp chí mang tư tưởng tiến bộmột chút hoặc có một tờ báo của giai cấp công nhân Pháp là một tội nặng
Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đangsôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến Bộ phận
ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến
Để phục vụ cho chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918, chế độ thựcdân đã tranh thủ và huy động sự tham gia của người dân sống ở các nước thuộcđịa tham gia giải phóng “ Mẫu quốc “, với vô số lời hứa hẹn sẽ ban bố quyền “
tự do, dân chủ “ cho người dân Thế nhưng, khi cuộc chiến kết thúc, tất cả chỉ lànhững lời hứa suông Người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ điều đó,không chỉ cho người dân Việt Nam mà toàn thể nhân loại đang sống ở chế độthuộc địa (trích bài Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên tạp chí Cộngsản Pháp, số 14, năm 1921)
Nhưng khi cơn bão táp đã qua, thì cũng vẫn như trước, anh em phải sốngtrong chế độ bản xứ, với những điều luật đặc biệt, thiếu hẳn các quyền lợi gắnliền với phẩm giá con người như quyền tự do lập hội và hội họp, tự do báo chí,
tự do đi lại ngay cả trong nước Đó là về mặt chính trị.Nói tóm lại, người ta hứahẹn đủ thứ, nhưng giờ đây mọi người đều thấy toàn là những lời lừa dối Chỉ có
Trang 4bản thân nỗ lực đấu tranh thì mới mong có giải phóng được.(Tuyên ngôn của hội
“ Liên hiệp thuộc địa”)
Khi các nước thắng trận như Mỹ, Anh, Pháp họp ở Versailles ngày 18tháng 1 năm 1919, nhiều đoàn đại biểu các nước bị áp bức đã đến hội nghị này
để đưa nguyện vọng của mình Nguyễn Ái Quốc đã nhân danh “ một nhómngười Việt Nam yêu nước “ ở Pháp đã gửi bản “ Những yêu sách của nhân dânViệt Nam “ cho nghị viện Pháp và tất cả những đoàn đại biểu ở hội nghị này
Bản yêu sách đã thể hiện tư tưởng ngời sáng của cụ Hồ, thể hiện sự tiếpnhận sâu sắc tư tưởng nhân quyền, dân quyền của cụ Phan Châu Trinh Tưtưởng này đã khởi đầu cho nhận thức về một đất nước Việt Nam trong đó quyền
tự do của người dân được bảo đảm, một thể chế dân chủ, pháp trị chứ khôngphải hoạt động dựa trên “ chỉ thị “ hay “ sắc lệnh “ của một nhóm người cai trịnào
- Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam
- Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảođảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố
Tự do báo chí và tự do tư tưởng
- Tự do lập hội và tự do hội họp
- Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương
- Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho ngườibản xứ ở khắp các tỉnh
- Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ đạo luật
- Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ởbên cạnh nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ (Nguyễn
Ái Quốc - Những yêu sách của nhân dân Việt Nam)
Không chỉ giác ngộ cách mạng cho tầng lớp công nhân và nông dân, cụ
Hồ còn chủ trương giúp đỡ các tầng lớp khác trong xã hội thành lập đảng đạidiện cho nguyện vọng của họ Có lẽ cụ đã vượt trước thời đại rất xa khi thấuhiểu sự cần thiết của nhiều đảng phái trong xã hội để nói lên tiếng nói của nhiềutầng lớp Ngay trong báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai
Trang 5của đảng Lao Động Việt Nam (sau đổi tên thành đảng Cộng Sản), cụ Hồ đã phátbiểu “Đảng Lao Động lại giúp những anh em trí thức tiến bộ thành lập đảng DânChủ Việt Nam để thu hút những thanh niên trí thức và công chức Việt Nam”.
Không chỉ vậy, đảng Lao Động còn học hỏi những điều tốt đẹp của cácđảng phái khác Trong lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/06/1948, chủ tịch HồChí minh đã nêu ra chủ trương của Việt Nam Quốc Dân Đảng để toàn dânhướng vào, đó là chủ thuyết Tam Dân mà tác giả là Tôn Trung Sơn, người chacủa nền Cộng hòa Trung Quốc: “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinhhạnh phúc” Ba chữ “Độc lập”, “Tự do”, “Hạnh phúc” đã trở thành ba mục tiêulớn nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bây giờ là nước Cộng HòaXHCN Việt Nam
Đến tận những năm cuối đời, cụ Hồ vẫn căn dặn những lời hết sức hợptình hợp lý Trong di chúc, cụ mong muốn xây dựng một Việt Nam “Hòa bình,độc lập, thống nhất, dân chủ, và giàu mạnh” Nếu ai đọc được các văn bản do cụ
Hồ viết qua từng thời kì, sẽ hiểu ngay đường lối chiến lược này của cụ
“Hòa bình” nghĩa là các bên tham gia chiến tranh phải ngưng bắn để bướcvào bàn đàm phán
Tiếp theo, “độc lập” nghĩa là nước ngoài không được can thiệp vào nội bộViệt Nam, cụ thể là Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam vô điều kiện
Rồi đến “thống nhất”, nghĩa là hai miền Nam Bắc sẽ tổ chức bầu cử tự do
và công bằng để bầu ra chính phủ thống nhất trên toàn quốc
Ngay sau đó, chính phủ thống nhất cần thực hiện ngay thể chế “dân chủ”,chấm dứt tình trạng phải hạn chế nhân quyền, dân quyền do yêu cầu của thờichiến ở cả hai miền
Một khi đã có nền tảng dân chủ vững chắc, chúng ta mới có thể xây dựngđất nước “giàu mạnh”, và giàu mạnh một cách bền vững
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu đến cuối vẫn là đấu tranh để trả lạinhững quyền căn bản cho người dân, thực hiện thể chế dân chủ để bảo đảmnhững quyền tự do của người dân được thực thi như quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tự do lập hội và hội họp, tự do ứng cử và tự do bầu cử…
Trang 6Ngay trong bài viết “Thực hành tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí,chống bệnh quan liêu” năm 1952, cụ Hồ đã viết “Dân chủ là dựa vào lực lượngquần chúng, đi đúng đường lối quần chúng” Để làm được như vậy thì ý dân cầnphải được thể hiện qua báo chí tự do và bầu cử công bằng.
II DÂN CHỦ QUA CÁC THỜI KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam đã được đặt ra trong giớinghiên cứu của chúng ta từ hơn một thập kỷ nay Qua những bài viết được công
bố và những lời phát biểu trong các cuộc hội thảo khoa học, đã hình thành haiquan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về vấn đề này
Một số người khẳng định và nêu cao truyền thống dân chủ, coi như mộttrong những truyền thống ưu việt của nhân dân được tạo nên trong quá trìnhdựng nước và giữ nước, và là một cơ sở thuận lợi để xây dựng chế độ làm chủtập thể, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Một số người khác, nhất làtrong thời gian gần đây, lại tỏ ý hoài nghi hoặc phủ nhận hoàn toàn về sự xuấthiện và tồn tại của một truyền thống dân chủ trong điều kiện của chế độ quânchủ chuyên chế ở Việt Nam và phương Đông nói chung Cả hai quan điểm tráingược đó lại gần như thống nhất về mặt phương pháp : sử dụng một số ca dao,tục ngữ, tập quán trong kho tàng văn hoá dân gian hay một số tư liệu về mốiquan hệ vua - quan - dân rút từ trong thư tịch cổ, để chứng minh cho nhận địnhcủa mình Đó là phương pháp chọn lọc một số tư liệu, chứ không phải là sự kháiquát khoa học dựa trên cơ sở phân tích và tổng hợp mọi tư liệu có liên quan và
lý giải nguồn gốc của nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể Đấy cũng là biểuhiện của phương pháp minh họa mang nặng tính chủ quan đã một thời chi phốicông tác nghiên cứu sử học của chúng ta
Sau một thời kỳ phát triển lâu dài của chế độ công xã nguyên thủy vớinhững quan hệ cộng đồng-dân chủ nguyên thủy, lịch sử Việt Nam cũng như cácnước khác trên thế giới, bước vào thời kỳ phân hoá xã hội với cuộc đấu tranhtriền miên diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau giữa người laođộng bị áp bức, bóc lột với kẻ thống trị áp bức, bóc lột Trong cuộc đấu tranh xã
Trang 7hội đó thường xuất hiện những tư tưởng dân chủ nhất định phản ánh khát vọng
và ước mơ của quần chúng lao khổ chống lại các bất công và bất bình đẳng xãhội Nội dung và mức độ phát triển của những tư tưởng dân chủ đó tùy thuộcvào tính chất của hình thái kinh tế - xã hội thống trị, vào mức độ phân hoá vàđấu tranh xã hội, vào vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp bị áp bức, bóc lột Những
tư tưởng dân chủ như vậy đã từng xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ, trong
xã hội phong kiến và được phản ánh trong tư tưởng của một số nhà hiền triết,trong đạo Cơ Đốc sơ kỳ, đạo Phật sơ kỳ, trong cải cách tôn giáo, trong chiếntranh nông dân… Tuy nhiên ta có thể ghi nhận một đặc điểm quan trọng là trong
xã hội đó, quan hệ bóc lột nô lệ không phát triển bao nhiêu và chỉ dưới dạng chế
độ nô lệ gia trưởng (ta thường gọi là chế độ nô tỳ), lực lượng sản xuất chủ yếu làthành viên công xã nông thôn
Tiếp theo đó, lịch sử Việt Nam có trải qua chế độ phong kiến hay khôngcũng là một vấn đề gần đây được nêu lên như một vấn đề tranh luận mà một xuhướng đang phát triển ở phương Tây gần đây là hoài nghi hoặc phủ nhận sự tồntại của chế độ phong kiến ở Việt Nam và thậm chí cả phương Đông nói chung Chế độ phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển trên cơ sở một mặt là bảotồn và phong kiến hoá kết cấu kinh tế xã hội của công xã nông thôn, mặt khác là
sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất Chế độ sở hữu ruộng đất của công xãchuyển hoá thành chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, và do đó quan hệ giữavua và thần dân bao gồm cả quan hệ bóc lột địa tô của một địa chủ lớn (vua) đốivới nông dân tá điền (thành viên công xã) Cùng với sự ra đời và phát triển củachế độ tư hữu ruộng đất, trong xã hội lại xuất hiện một tầng lớp địa chủ tư hữu(bao gồm địa chủ, quý tộc và một số quan lại) phát canh thu tô bóc lột trực tiếpnông dân tá điền, và một tầng lớp nông dân tư hữu có ít nhiều ruộng đất tư Giaicấp nông dân Việt Nam như thế là bao gồm một số nông dân tự canh có ruộngđất tư hữu, số đông là nông dân tá điền không có hoặc không có bao nhiêu ruộngđất tư nên phải cày ruộng của nhà vua và địa chủ theo quan hệ địa chủ - tá điền,
và một số nông dân nghèo khổ phải đi làm thuê, đi ở, thân phận gần như nô tỳ
và thường dễ rơi xuống thân phận nô tỳ
Trang 8Như vậy là quần chúng lao động đông đảo trong xã hội Việt Nam cổtruyền là nông dân công xã và nông dân tá điền, có kinh tế riêng nhưng hầu nhưkhông có quyền sở hữu ruộng đất Đặc điểm kinh tế xã hội đó ảnh hưởng sâu sắcđến cuộc đấu tranh xã hội của nông dân và quá trình nẩy sinh, phát triển cũngnhư nội dung tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam Về mặt chính trị, tưtưởng dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế,lật đổ bọn bạo chúa.
Đến giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, trong cuộc chiến tranh nôngdân thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX tư tưởng dân chủ nông dân được pháttriển lên trình độ mới với khẩu hiệu "lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo", phảnánh yêu cầu bình đẳng tài sản và tâm lý bình quân chủ nghĩa của những ngườitiểu nông trong điều kiện kinh tế hàng hoá đã phát triển Như vậy là trong đấutranh xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu cầubình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩabình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo động về mặt chính trị Tư tưởng đógắn liền với tâm lý người nông dân công xã, người sản xuất nhỏ, nó có mặtchính đáng và tích cực của nó trong cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế,chống những bất công của xã hội phong kiến, nhưng cũng bộc lộ mặt khôngtưởng và bất lực của người nông dân trong sự nghiệp tự giải phóng mình Một đặc điểm quan trọng của xã hội Việt Nam cổ truyền là sự tồn tại và bảo lưulâu dài tàn dư của công xã nông thôn Đặc điểm cơ bản của nó là quyền sở hữucông xã về toàn bộ ruộng đất và công xã đem phân chia ruộng đất đó cho các giađình thành viên cày cấy Bộ máy quản lý công xã do các thành viên cử ra màđứng đầu là một Già làng
Về sau chế độ tư hữu ruộng đất phát triển thu hẹp dần chế độ ruộng đấtcông của làng xã và sự phân hoá xã hội bên trong cũng càng ngày càng nângcao Quá trình đó diễn ra cùng với quá trình phong kiến hoá công xã nông thôn Nhưng nói chung, tàn dư của công xã nông thôn ở những mức độ tồn tại khácnhau tùy từng lúc và từng nơi, vẫn được bảo lưu lâu dài trong xã hội Việt Nam
Trang 9cổ truyền Tất nhiên ở đây có sự khác biệt giữa làng xã miền Bắc và miền Nam
do nhiều hoàn cảnh và điều kiện lịch sử quy định
Trên cơ sở quan hệ cộng đồng công xã đó, hình thành và bảo tồn một loạtphong tục tập quán gọi chung là "lệ làng" ít nhiều phản ánh tính chất dân chủcông xã Nó được biểu thị trong mối quan hệ tương đối bình đẳng giữa các thànhviên trong việc chia ruộng đất công và trong các sinh hoạt cộng đồng, trong sựtôn trọng người già bất cứ thuộc đẳng cấp nào, trong việc thừa nhận vai trò tolớn của người mẹ và người phụ nữ trong đời sống gia đình và làng xã
Tư tưởng dân chủ công xã có mặt tích cực của nó trong đời sống xã hội lúc bấygiờ, nhưng cũng gắn liền với tính cục bộ, địa phương của công xã và những hẹphòi của các hình thức dân chủ công xã Công xã chỉ thừa nhận quyền bình đẳng
và dân chủ giữa các thành viên khi họ là thành viên của công xã, là bộ phận tạothành của cộng đồng, nhưng hoàn toàn không công nhận quyền của cá nhân, củacon người với tư cách là một thực thể độc lập Dân chủ công xã không dựa trên
sự giải phóng con người và tôn trọng quyền của con người, mà trói chặt conngười trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền lợi bình đẳng của conngười với tư cách là thành viên của cộng đồng
Việt Nam trước cách mạng chưa hề trải qua một hình thức tồn tại của nềncộng hoà dân chủ, mà chỉ có một chính thể duy nhất là chế độ quân chủ.Cho đến trước thế kỷ XV, nhất là trong thời Lý, Trần, chế độ quân chủ tậpquyền đã được xác lập vững vàng, nhưng chưa mang tính chất chuyên chế quanliêu nặng nề
Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, chế độ quân chủ chuyển sang mô hình Nhogiáo với tính chất chuyên chế quan liêu càng ngày càng nặng nề Và cũng từ đó,mối quan hệ giữa vua quan và dân càng ngày càng tách rời và đối lập, nhữngchủ trương và hình thức dân chủ của các vương triều trước không còn được kếtục nữa
Qua sự phân tích những cơ sở kinh tế, xã hội, chính trị đã từng làm nẩysinh và bảo tồn, phát triển trong mức độ nào đó những tư tưởng và hình thức dânchủ trong xã hội Việt Nam cổ truyền, chúng ta có thể rút ra mấy nhận xét:
Trang 10+ Không thể phủ nhận được sự tồn tại của một số tư tưởng và hình thứcdân chủ nào đó trong đời sống xã hội và trong truyền thống Việt Nam + Những tư tưởng và hình thức dân chủ đó thực chất là dân chủ nông dânnẩy sinh trong cuộc đấu tranh xã hội của những người sản xuất nhỏ mà đỉnh pháttriển cao nhất là chủ nghĩa bình quân, là dân chủ công xã dựa trên sự bảo tồnquan hệ cộng đồng công xã và một số biện pháp thân dân của các vương triềutiến bộ trong điều kiện phân hoá giai cấp chưa gay gắt và trước yêu cầu bức thiếtcủa nhiệm vụ giữ nước
+ Có thể coi đó là những yếu tố dân chủ và xã hội chủ nghĩa như cáchnói của V I Lênin, và cần trân trọng nó khi nghiên cứu và đánh giá di sản vănhoá truyền thống Nhưng từ đó khuếch đại lên thành một truyền thống dân chủmạnh mẽ của nhân dân ta thì không phản ánh đúng sự thật lịch sử và dễ đánhlừa, ru ngủ chúng ta một cách nguy hiểm trước thực tế chúng ta đang ra sứckhắc phục tình trạng mất dân chủ hiện nay và xây dựng nền dân chủ xã hội chủnghĩa
+ Những yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam còn quá thấp vàquá yếu so với yêu cầu xây dựng nền dân chủ hiện nay Hơn nữa trong truyềnthống Việt Nam, dân chủ nông dân với tư tưởng bình quân chủ nghĩa và dân chủcông xã lấy quan hệ cộng đồng để trói buộc con người còn có mặt di hại cho nềndân chủ hiện nay và là cội nguồn tư tưởng của một số mặt tiêu cực trong xã hộiđang diễn ra hàng ngày
Công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước hôm nay phải xuất phát từ disản lịch sử và văn hoá của quá khứ để lại, trong đó có những mặt mạnh và ưuviệt cần được kế thừa và phát huy, những mặt yếu và lỗi thời cần được khắcphục để vươn lên tiếp nhận những xu thế và thành tựu của thời đại Nền dân chủchúng ta đang xây dựng hiện nay có kế thừa một số yếu tố dân chủ của di sảntruyền thống, nhưng cũng phải khắc phục nhiều hạn chế và di hại của quá khứ.Quá trình dân chủ hoá là một quá trình mới mẻ trong lịch sử Việt Nam do đó đòihỏi chúng ta phải có những bước đi thích hợp và khẩn trương nhằm xây dựng
Trang 11một nền dân chủ Việt Nam vừa phù hợp với văn hoá và truyền thống Việt Nam,vừa bắt kịp sự tiến hoá của thời đại
III DÂN CHỦ TRONG CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Dân chủ thể hiện ở việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân Dânchủ trong xã hội Việt Nam được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội… Trong đó dân chủ thể hiện trên lĩnh vực chính trị lá quantrọng nhất, nổi bật nhất và được biểu hiện tập trung trong hoạt động của nhànước, bởi vì quyền lực của nhân dân được thể hiện trong hoât động của nhànước với tư cách nhân dân có quyềnlực tối cao Hồ Chí Minh khẳng định cả trênquan điểm lẫn trên thực tế việc khi có nhà nước mới – nhà Nước Việt nam DânChủ Cộng Hoà – nhân dân cử ra, tổ chức nên bộ máy nhà nước cũng như toàn
bộ hệ thống chính trị
Quan niệm dân chủ, theo Hồ Chí minh còn biểu hiện ở phương thức xãhội Khẳng định một chế độ dân chủ ở nước ta là “ bao nhiêu lợi ích cũng vìdân”, “ quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, đồng thời Người cũng chỉ raphương thức tổ chức, hoạt động của xã hội nước ta muốn khẳng định là mộtnước dân chủ thì phải có cấu tạo quyền lực xã hội mà ở đó người dân, cả trựctiếp, cả gián tiếp qua dân chủ đại diện, một hệ thống chính trị do “dân cử ra” và
“do dân tổ chức nên” Để hiểu rõ về vấn đề dân chủ trong các lĩnh vực trênchúng ta cùng tìm hiểu nội dung chi tiết
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về quyền làm chủ củanhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dântrong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng thân dân truyền thống ởphương Đông và quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng trong họcthuyết Mác- Lênin Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thựctiễn – Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa mangtính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc
Trang 12Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trêntất cả các lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyệnnhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựachọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước Người dân có quyền làm chủbản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ về thân thể, được tự do đi lại, tự dohành nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập… trong khuôn khổ luật pháp chophép Người dân có quyền làm chủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơquan nơi mình sống và làm việc Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các
tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và bãi miễn Đúng như Hồ Chí Minhnói: "Mọi quyền hạn đều của dân" Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các cấpcác ngành đều là "đầy tớ" của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn
Vì sao dân có quyền hạn to lớn như vậy? Người giải thích: dân là gốc củanước Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước.Nước không có dân thì không thành nước Nước do dân xây dựng nên, do dânđem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước
Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất Lực lượngcủa Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân Nhân dân là người xây dựng,đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng Dân như nước,cán bộ như cá Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước.Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực Dovậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì Đối vớiChính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy
Tóm lại, nhân dân là lực lượng dựng xây đất nước, là lực lượng hợpthành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có quyền làmchủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Làm thế nào để dân thực hiện được quyền làm chủ của mình? Đây là vấn
đề được Hồ Chí Minh hết sức quan tâm Theo Hồ Chí Minh, từ xưa đến nay,nhân dân bao giờ cũng là lực lượng chính trong tất cả các xã hội, trong côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhưng trước Cách mạng Tháng Mười Nga,
Trang 13trước học thuyết Mác- Lênin, chưa có cuộc cách mạng nào giải phóng triệt đểcho nhân dân, chưa có học thuyết nào đánh giá đúng đắn về nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, người dân chỉ thực sự trở thành người làm chủ khi họđược giáo dục, khi họ nhận thức được rõ ràng đâu là quyền lợi họ được hưởng,đâu là nghĩa vụ họ phải thực hiện Để thực hiện được điều này, một mặt, bảnthân người dân phải có ý chí vươn lên, mặt khác, các tổ chức đoàn thể phải giúp
đỡ họ, động viên khuyến khích họ "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và nếunhân dân không được giáo dục để thoát khỏi nạn dốt thì mãi mãi họ không thểthực hiện được vai trò làm chủ
Người dân chỉ có thể thực hiện được quyền làm chủ khi có một cơ chếbảo đảm quyền làm chủ của họ Đảng phải lãnh đạo xây dựng được một Nhànước của dân, do dân, vì dân; với hệ thống luật pháp, lấy việc bảo vệ quyền lợicủa dân làm mục tiêu hàng đầu, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên xứngđáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnh vực chính trị
Có lẽ, không cần nhiều bằng chứng để chứng minh dân chủ hóa là tấtyếu, một phần bởi dân chủ hóa đang ngày càng trở thành khuynh hướng chínhtrị chủ đạo của toàn thế giới Đây là quá trình không thể trì hoãn, bởi nếu mộtnhà nước không tự dân chủ hóa mình thì thế giới, hay nói đúng hơn là những đòihỏi chính trị toàn cầu, sẽ buộc nhà nước đó phải tiến hành dân chủ hoá Và nhưthế có nghĩa là thay đổi do sức ép từ bên ngoài chứ không phải tự thân Nếukhông làm như vậy, nhà nước đó sẽ trở thành một bộ phận biệt lập trong mọitiến trình quốc tế và không còn cơ hội tồn tại Mặt khác, chỉ có các thể chế dânchủ mới phát huy được quyền tự do của con người và chỉ khi nào có tự do thìcon người mới phát huy được năng lực sáng tạo Chính sáng tạo làm cho tất cảcác cộng đồng người có sức cạnh tranh và để mỗi con người tìm thấy sức mạnhcủa chính nó
Cùng với thời gian, dân chủ hóa không phải là đòi hỏi chính trị nữa mà làđòi hỏi phát triển Những đòi hỏi phát triển không phải là ý muốn chủ quan rằng
Trang 14phát triển hay không phát triển mà nếu không phát triển là không còn cơ h ội tồntại.
Trong thời đại của chúng ta, con người là một tài nguyên, thậm chí là loạitài nguyên đặc biệt Chính vì thế có thể nói, các nước đang phát triển với lợi thế
về nguồn nhân lực là những dân tộc có ưu thế Nếu không phát huy được nănglực của loại tài nguyên đặc biệt này thì các nước thế giới thứ ba không nhữngkhông phát triển mà thậm chí không tồn tại được Tuy nhiên, cũng đã đến lúccác nước này phải nhận ra rằng, sự đông dân, đồng thời, là một con dao hai lưỡi.Không có một chế độ lãnh đạo hợp lý thì sự đông dân là một gánh nặng NướcCHND Trung Hoa là một ví dụ Hơn một tỷ nhân dân Trung Quốc đã từng làgánh nặng của nhà nước và đến nay vẫn thế; nhưng sau hơn 20 năm đổi mới thì
sự đông dân ấy đang trở thành một lợi thế Chế độ chính trị giữ một vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc giải quyết bài toán nhân lực này Việt Nam cũng vậy
Do đó, nếu không xây dựng chế độ dân chủ để tự do trở thành cảm hứng cơ bảnkhích lệ con người tham gia một cách hiệu quả vào quá trình cạnh tranh toàn cầuthì không thể phát triển được
Trong thời đại ngày nay, chúng ta phải trở thành thị trường vì chỉ có nhưvậy mới có thể phát triển và làm tăng cả năng lực lẫn thu nhập của con người.Thu nhập không tăng lên thì sức mua của cộng đồng không tăng và sức muakhông tăng thì chúng ta sẽ không có thị trường nào khác ngoài thị trường laođộng đơn giản Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹthuật, những ngành sản xuất đòi hỏi lao động giản đơn ít đi và thị trường laođộng đơn giản sẽ mất dần giá trị Muốn nâng cao chất lượng của thị trường laođộng thì phải đầu tư vào giáo dục - đào tạo Mặt khác, không thể tiếp tục chỉ vaymượn hay sử dụng đầu tư nước ngoài để phát triển những nguồn nội lực Nhữngnhà nước phi dân chủ không thể trốn tránh quá trình dân chủ hóa xã hội Người
ta vẫn tưởng rằng, nhân dân đang ủng hộ nhà nước bằng lao động của mìnhnhưng đến một lúc nào đấy, các nhà nước phi dân chủ sẽ phải đối mặt với nhữngcuộc cách mạng hay sự cướp bóc dưới hình thức cách mạng Những năm cuốithế kỷ XX, chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của các chế độ độc tài như
Trang 15Mohamed Suharto, Joseph Estrada, Saddam Hussein Rõ ràng, những phươngpháp chuyên chính có thể kéo dài tuổi thọ các thể chế chính trị độc tài nhưngkhông thể nào giúp nó tránh khỏi sự sụp đổ.
3 Tư tưởng hồ chí minh về dân chủ trong lĩnh vực kinh tế
Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội theo nghị quyết đại hội của đảng bộ, chi bộ xã và của cấp trên; pháttriển nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo thêmviệc làm mới cho người lao động; không ngừng nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước;xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh
Thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nôngthôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, quản lý và sử dụng đất hợp lý,tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích; thực hiệnnhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm ) theo phươngchâm Nhà nước và nhân dân cùng làm; quản lý và sử dụng tốt các nguồn vốnvay, vốn nhân dân đóng góp và các nguồn vốn khác; phát triển sự nghiệp vănhoá, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, xoáđói, giảm nghèo
4 Tư tưởng hồ chí minh về dân chủ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội
cơ sở và tăng cường lãnh đạo sinh hoạt văn nghệ, văn hoá của quần chúng; đẩymạnh và lãnh đạo phong trào thể dục thể thao Đồng thời phải nâng cao chấtlượng của nền văn học, nghệ thuật; đào tạo bồi dưỡng thêm nhiều tài năng mới,
Trang 16chú trọng khai thác hơn nữa vốn cũ văn hoá dân tộc và tăng cường trao đổi vănhoá với các nước; học tập kinh nghiệm các nước tiên tiến.
b) Về giáo dục:
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ, đặc biệt chú trọnggiậy văn hoá cho các cán bộ cơ sở, có kế hoạch mở rộng phong trào học tậptrong các cơ quan, xí nghiệp, quân đội
Đối với giáo dục phổ thông, chủ yếu là phát triển tuỳ theo khả năng, vànâng cao chất lượng cấp 2 và 3, chú ý đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăngcường số lượng và chất lượng các sách giáo khoa, ban hành chính sách cụ thểđối với các trường dân lập và tư thục, tăng cường lãnh đạo giáo dục miền núi,súc tiến việc nghiên cứu đặt chữ viết cho các dân tộc thiểu số, và có kế hoạchhướng dẫn các lớp vỡ lòng
Về đại học và chuyên nghiệp, cần củng cố những cơ sở đã có và phát triểntừng bước Tăng cường việc giáo dục chính trị và tư tưởng chủ nghĩa Mác -Lênin, ra sức bồi dưỡng và đào tạo giáo sư, chú ý rút kinh nghiệm cải tiếnchương trình Xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học Cải tiến việc bổ túc văn hoácho cán bộ công nông để đưa vào các trường đại học, chuyên nghiệp
c) Về y tế:
Mở rộng phong trào vệ sinh phòng bệnh, nâng cao chất lượng các cơ sởchữa bệnh, kiện toàn việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ các cấp, cải tiến và tăngcường việc sản xuất, nhập nội thuốc và sử dụng nguyên liệu trong nước Đặcbiệt chú ý công tác y tế và vệ sinh ở miền núi, công tác bảo vệ sản phụ và hàinhi Y tế công trường, nông trường, xí nghiệp, cơ quan cần chú trọng để làm tốthơn nữa nhiệm vụ bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho công nhân và cán bộ, nhất
là phụ nữ Việc nghiên cứu đông y và sử dụng hợp lý, theo khả năng lực lượngđông y cũng như học tập kinh nghiệm y học tiên tiến của các nước bạn và thếgiới, cần được tổ chức tích cực và chu đáo hơn, để xây dựng và phát triển nền y
tế nhân dân
d) Về công tác thương binh:
Trang 17Phổ biến sâu rộng trong nhân dân chính sách đối với thương binh, bệnhbinh và gia đình liệt sĩ, chú ý thương binh, bệnh binh về xã, nhất là thương binh,bệnh binh miền Nam tập kết.
e) Về cứu tế xã hội:
Nghiên cứu kế hoạch giải quyết lâu dài nạn thiếu ăn của nhân dân cácvùng úng thuỷ, đồng cao, dẻo cao, men bể; tích cực cải tạo các trẻ lưu manh, gáiđiếm; tìm hiểu tình hình các trẻ mồ côi do chiến tranh gây ra, để nghiên cứucách giải quyết
Để thúc đẩy công tác văn hoá xã hội tiến mạnh hơn nữa, Quốc hội nhậnthấy cần phổ biến cho nhân dân và cán bộ vai trò quan trọng của công tác vănhoá, xã hội, trong sự nghiệp kiết thiết quốc gia, cần thi hành những chủ trương,đảm bảo việc đoàn kết, giáo dục, sử dụng mọi khả năng của trí thức, đãi ngộ tríthức đúng với cống hiến và tài năng
Hiện nay công tác văn hoá xã hội đã đạt được một cơ sở tương đối vữngchắc Với sức sống mạnh mẽ của nhân dân ta, với việc hoàn thành khôi phụckinh tế năm 1957, với sự cố gắng của cán bộ, Quốc hội tin tưởng rằng: công tácvăn hoá xã hội sẽ góp phần đắc lực vào công cuộc củng cố miền Bắc và đấutranh thống nhất nước nhà
f) Về lĩnh vực tôn giáo
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trênquan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tínngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tưtưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dântộc Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ thốngchính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi mới thành lậpĐảng
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn có quanđiểm, thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo Báo cáo chính trị tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã khẳng định: "Tín ngưỡng, tôn
Trang 18giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bìnhđẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi,thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụngtôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xãhội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân" Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: "Tín ngưỡng, tôn giáo lànhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sáchtôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tínngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân".
Những quan điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minhrằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con người,
là một trong những quyền công dân, quyền chính đáng của con người Vì vậy,Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theo tín ngưỡng,tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo bất cứ tôn giáo nào cũng nhưquyền không theo tôn giáo nào, mong muốn cho người dân theo tôn giáo được
"phần hồn thong dong, phần xác ấm no"
Cả nước có 56.125 chức sắc, nhà tu hành, chưa kể hàng vạn người hoạtđộng bán chuyên nghiệp của các tổ chức tôn giáo, trong đó Phật giáo có 33.066tăng ni; Thiên chúa giáo có 42 giám mục, 2.700 linh mục và 11.282 tu sĩ, Tinlành có 492 mục sư, giảng sư và truyền đạo; Cao Đài có 8.340 chức sắc, chứcviệc; Phật giáo Hoà hảo có 982 chức việc và Hồi giáo có 699 chức sắc; 3 họcviện Phật giáo với trên 1.000 tăng ni sinh, 30 trường trung cấp Phật học, 4trường cao đẳng phật học với 3.940 tăng ni sinh theo học Giáo hội Thiên chúagiáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và 1.712 chủng sinh dự bị ViệnThánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miềnNam) đã chiêu sinh hai khoá với 150 học sinh Hiện có hàng trăm người của cáctôn giáo đang theo học thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước trên thế giới
Cả nước hiện có 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều cơ sở được xâydựng mới, xây dựng lại khang trang, đẹp đẽ Đó là bằng chứng sinh động về
Trang 19đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giaó là nguyên tắc hàng đầu và nhất quán củaĐảng và Nhà nước Việt Nam vì cuộc sống tinh thần của hàng triệu tín đồ các tôngiáo và cũng là những công dân của Việt Nam.
Đánh giá sự trưởng thành và những đóng góp của Ban Tôn giáo Chínhphủ, năm 2002, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và đểkhẳng định truyền thống của ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo và xác lập cơchế quản lý theo ngành - một ngành vốn có nhiều nét đặc thù, nhạy cảm, ngày27-5-2005, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 445/QĐ-TTg lấy ngày 2-8hằng năm là Ngày truyền thống của ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo Đây làphần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho các thế hệ làm công táctôn giáo trong cả nước
(Nguồn tư liệu: Ban Tôn giáo Chính phủ, TTXVN và Công báo)
IV THỰC HÀNH DÂN CHỦ
1 Xây dựng và hoàn thiện các chế độ dân chủ rộng rãi
Ngay từ năm 1941, trong chương trình của Mặt trận Việt Nam độc lậpđồng minh (Việt Minh), Hồ Chí Minh đã “thiết kế” một chế độ dân chủ cộnghoàcho nước ta sau khi cuộc cách mạng do nhân dân thực hiện thắng lợi đó làchương trình thực hiện mục tiêu dân chủ, xác định rõ quyền và trách nhiệm củanhân dân trước vận mệnh của nước nhà; gắn độc lập, tự do của tổ quốc vớiquyền lợi của từng người dân Chương trình Việt Minh đã khơi dậy sức mạnh vôbiên của nhân dân giành chính quyền về tay mình.Với thắng lợi của Cách mạngTháng Tám năm 1945, một tuyên bố về chế độ dân chủ ở Việt Nam đã được HồChí Minh nêu trong bảnTuyên ngôn độ lập khia sinh nước Việt Nam Dân ChủCộng Hoà ngày 2-9-1945, trong đó các giá trị về dân chủ được gắn liền với đấtnước độ lập, tự do, hạnh phúc
Dân chủ ở nuớc Việt Nam mới được thể hiện và mới được đảm bảo trongđạo luật cơ bản nhất là các Hiến pháp do Hồ Chí Monh chủ trì xây dựng và đượcQuốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, thể hiện rõ nhất và thấm đậm nhất tư tưởng dân