những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -*** -
NGUYỄN LIÊN PHƯƠNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN CHỦ VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
luËn v¨n th¹c sü luËt häc
Người hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
1.1.1 Dân chủ là một sản phẩm tiến hoá của lịch sử 9
1.1.2 Dân chủ là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển của
xã hội
12
1.1.3 Điều kiện tồn tại của một nền dân chủ 15
1.1.4 Sự hình thành dân chủ XHCN là bước phát triển mới về
dân chủ
19
1.2 Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 22
1.2.1 Giá trị truyền thống tư tưởng, văn hoá của dân tộc 23
1.2.2 Tư tưởng, văn hoá nhân loại 25
1.2.3 Nguồn gốc lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh 28
1.2.4 Tài năng và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh 30
1.3 Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 32
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nền dân chủ XHCN 32
1.3.1.1 Dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân 32
1.3.1.2 Nhà nước XHCN là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ 34
1.3.1.3 Nhà nước XHCN là sự kết hợp hài hoà các lợi ích trong
1.3.2.1 Xây dựng một nhà nước hợp hiến 43
1.3.2.2 Lợi ích của nhân dân là nền tảng xã hội 48
Trang 31.3.2.4 Cải cách xã hội để nâng cao đời sống nhân dân và thực
1.3.2.6 Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật 62
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN
CHỦ TRONG CÔNG CUỘC ĐỐI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
65
2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ trong thời kỳ
đổi mới
65
2.1.1 Chủ trương, đường lối của Đảng 65
2.1.2 Hiến pháp năm 1992 – nền tảng chính trị - pháp lý cho việc
mở rộng và phát huy dân chủ
67
2.1.3 Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở đánh dấu mốc quan
trọng trong quá trình xây dựng các thể chế dân chủ ở nước ta
72
2.2 Tình hình thực hiện dân chủ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới 74
2.2.1 Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí 74
2.2.2 Công tác xây dựng pháp luật nước ta trong thời kỳ đổi mới 76
2.2.3 Hoạt động giám sát và phản biện xã hội 79
2.3 Phương hướng và một số giải pháp đảm bảo việc thực hiện dân
chủ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
83
2.3.1 Phương hướng tiếp tục mở rộng dân chủ trong thời gian tới 83
2.3.2 Một số giải pháp cơ bản 84
2.3.2.1 Cải cách và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
84
2.3.2.2.Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát huy
dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Việt Nam với hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành các giá trị truyền thống dân tộc đa dạng và vững chắc Đó là ý thức chủ quyền của quốc gia dân tộc, ý chí tự lập tự cường, kiên cường, yêu nước… đã trở thành động lực trường tồn của đất nước Trong nền tảng giá trị tinh thần truyền thống đó, tư tưởng yêu nước là cốt lõi, xuyên suốt các thời kỳ lịch sử dân tộc Sức mạnh truyền thống tư tưởng yêu nước của dân tộc đã thúc giục
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và đã tạo nên Hồ Chí Minh - nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất của thế kỷ XX, một nhà tư tưởng - triết học mang đậm tính dân tộc và hiện đại Người đã tiếp thu tinh hoa văn hoá của dân tộc, của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng cách mạng và văn hoá của Người Đó là những quan điểm, quan niệm về nhà nước, về dân chủ, về pháp luật và sự vận dụng sáng tạo hệ tư tưởng Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự tổng hoà và phát triển biện chứng Là sự tổng hoà tư tưởng văn hoá truyền thống của dân tộc, phát triển biện chứng tư tưởng văn hoá của phương Đông và phương Tây với Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng cùng với thực tiễn của dân tộc, của thời đại qua sự
tự duy sáng tạo, có biện chứng, có nhân cách, có phẩm chất cách mạng Việt Nam cao đẹp tạo nên
Trải qua hơn nửa thế kỷ, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy
lý luận của Đảng ta” Để thực hiện một cách triệt để và cụ thể, Nghị quyết Đại hội IX, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
Trang 623/CT-TW “Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”
Những văn kiện trên đã cho chúng ta thấy, đây là một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh Qua đó, cũng cho chúng
ta thấy rõ, đây là quyết định của Đảng có tính định hướng quan trọng cho các nghiên cứu khoa học tiếp tục đi sâu và tìm hiểu về tư tưởng của Hồ Chí Minh
tư tưởng Hồ Chí Minh đã là một bộ phận chính của chuyên ngành “Hồ Chí Minh học” thuộc ngành Khoa học Chính trị Việt Nam Trong những năm qua,
có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp, các ngành về tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng vẫn chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta”
Thực tiễn đã cho chúng ta thấy, trong việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn thiếu những tài liệu viết về vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ từ góc độ pháp lý Đây là một vấn
đề thiết thực mà mọi người dân Việt Nam rất quan tâm Hơn nữa, trong tác
phẩm Toàn tập, Người đã khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân
cử hoặc phế bỏ người đứng đầu nếu không thực thi đúng những quy định Đây là hình thức dân chủ sơ khai trong xã hội chưa có giai cấp, dân chủ được hiểu là quyền lực của nhân dân
Trang 7Sau hàng ngàn năm lịch sử, xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền của nhân dân được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước, pháp luật và dân chủ được thực hiện dưới hình thức mới được gọi tên là nền dân chủ Nền dân chủ là hình thái dân chủ gắn với bản chất, tính chất của nhà nước được xác định trong những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội có giai cấp Hiện nay, trên toàn thế giới có nhiều chuyển biến do khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng đã tác động đến cuộc sống của con người Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi nhà nước ở những thời kỳ nhất định tất yếu xuất hiện các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội cần được giải quyết một cách khoa học Để mở rộng sự hiểu biết về dân chủ và mở rộng dân chủ tới mức tối đa đối với mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân
Vì thế, việc nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng
vào công cuộc đổi mới ở nước ta” đang là một vấn đề cấp thiết
Xuất phát từ những định hướng trên của Đảng và những yêu cầu của thực tiễn, tác giả đã đặt ra vấn đề nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc thực hiện dân chủ của ở nước ta trong công cuộc đổi mới Nghiên cứu giúp nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn, thực hiện tốt các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước Chính vì thế, tác giả chọn đề tài nghiên
cứu khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công
cuộc đổi mới ở nước ta” để bảo vệ luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hơn hai mươi năm đất nước đi lên trong công cuộc đổi mới và hội nhập thế giới là một khoảng thời gian dài cho phép chúng ta nghiên cứu, nhìn nhận
về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi
mới ở nước ta” một cách khách quan Nhận định về giá trị tư tưởng Hồ Chí
Minh, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có đánh giá:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
Trang 8những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp…”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về vấn đề dân chủ trong việc xây dựng nhà nước và pháp luật, xây dựng chế độ kinh tế, nền văn hoá mới… là một vấn đề có giá trị khoa học đã được rất nhiều giới lý luận nghiên cứu Đã có rất nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu đề cập đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và những lĩnh vực cụ thể có liên quan đến dân chủ như nhà nước, pháp luật, kinh tế Trong đó đáng chú ý là các tác
phẩm: Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội; Phạm Thành, Nguyễn Khắc Mai (1991), Tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội; Bùi Ngọc Sơn (2005), Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật”, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1995; Hoàng
Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - Sự hình
thành và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc
(1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Tế (1999), Tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Phạm
Ngọc Anh (2003), Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội v.v
Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về Nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta, về xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần v.v kể trên là nguồn tài liệu chủ yếu để tác giả
sử dụng vào quá trình nghiên cứu Song, chưa có một đề tài nào nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ dưới góc độ lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật đặc biệt là vận dụng tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 93.1 Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và
việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta” tác giả muốn học tập và
nghiên cứu một cách có hệ thống về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc độ lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật
Qua nghiên cứu, đề tài sẽ có những kết luận khoa học để làm rõ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh; quan niệm về dân chủ, về xây dựng một nhà nước
có hiệu lực pháp lý, trong sáng, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả và mối liên hệ giữa dân chủ và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, đề tài nghiên cứu cũng sẽ cho thấy đánh giá về những thành tựu, những hạn chế của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước
đã được đặt trong một bối cảnh nhất định, thời kỳ có nhiều biến đổi nhanh chóng và phức tạp trước những thách thức và cơ hội của đất nước
3.2 Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về dân chủ, các quan điểm truyền thống và hiện đại Trên cơ sở đó, tác giả trình bày quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc xây dựng trong việc xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước, trong lĩnh vực lập pháp, hoạt động động của các cơ quan hành pháp và tư pháp, mối liên hệ giữa dân chủ và pháp luật
- Làm rõ một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ: xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực
- Đề cập đến một số thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua và việc Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và nhân dân, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quá trình thực hiện đổi mới đất nước Qua đó, đưa ra ra một số phương hướng, giải pháp có thể áp dụng thực tế trên cơ sở tiếp thu những luận điểm sáng tạo của
Hồ Chí Minh về dân chủ
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ một vấn đề rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Trong đề tài này tác giả không tham vọng nghiên cứu toàn bộ nội dung dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh trên mọi lĩnh vực kể trên Tác giả chỉ đề cập một số nét cơ bản trong tư tưởng
về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; về bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước trong thời gian tới hiệu quả
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ năm 1986 - 2008
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận:
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào
công cuộc đổi mới ở nước ta” là nghiên cứu thuộc loại hình cơ bản để tìm ra
những nhận thức mới, giải quyết một số vấn đề về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay
* Phương pháp riêng:
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi chọn phương pháp logic, là phương pháp nghiên cứu sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay, dưới
Trang 11hình thức lý luận và khái quát, nhằm nêu rõ bản chất quy luật sự hình thành, phát triển và vận dụng vào thực tiễn của vấn đề được nghiên cứu Trong phương pháp logic (phân tích, tổng hợp, so sánh và kết luận), tôi cố gắng lược bớt những gì mang tính ngẫu nhiên, không phải là bản chất, không điển hình
để giữ lấy những cái cơ bản, cái cốt lõi, cái tất yếu và những xu hướng phát
triển của vấn đề được nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta” đạt độ
chuẩn xác cao, khách quan khi đánh giá, tôi đề ra một số nhiệm vụ cụ thể của nghiên cứu như sau:
- Khảo sát, phân tích thực trạng việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay chủ yếu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội
- So sánh từng giai đoạn lịch sử, từng nhóm chủ đề để rút ra những nét đặc trưng của dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta
- Tổng kết kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu, nhà lý luận về tư tưởng
Hồ Chí Minh để khái quát toàn bộ vấn đề được nghiên cứu Đối chiếu, kiểm tra những đánh giá của mình để tìm ra những đánh giá chung nhất nhằm định hướng việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh sau này
6 Ý nghĩa và những đóng góp về khoa học của luận văn
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào
công cuộc đổi mới ở nước ta” là thực hiện một cách cụ thể Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Là nghiên cứu chuyển từ lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh sang việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta để hoàn thiện sự hiểu biết, nâng cao trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên, giúp họ
dễ dàng tiếp cận với tư tưởng của Người
Trang 12Công cuộc xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam cũng như của một
số nước khác trong khu vực đang đứng trước sự thử thách của hội nhập kinh
tế, chính trị và văn hoá, nghiên cứu này sẽ góp phần xác định rõ hơn hướng đi đúng đắn, nhân cách, tài năng, tư tưởng của Người
Nghiên cứu không chỉ đánh giá những thành tựu và hạn chế mà còn nêu lên những kiến nghị để tìm ra những giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh thực thi dân chủ theo quan điểm của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 13Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ
1.1 Một số vấn đề lý luận về dân chủ
1.1.1 Dân chủ là một sản phẩm tiến hoá của lịch sử
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại Ph Hérodote
(484-425 TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này khi xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử Theo ông, dân chủ là một thể chế mà quyền lực do nhân dân nắm giữ thông qua con đường phổ thông đầu phiếu
Trong ngôn ngữ của người Hy Lạp, dân chủ (Demokratos) được ghép bởi hai từ “nhân dân” (demos) và “chính quyền” (kratos) Theo ý nghĩa đó, dân chủ là chính quyền nhân dân, hay dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm dân chủ ngày càng được mở rộng với nhiều nội dung khác nhau Trong ngôn ngữ hiện đại, dân chủ có thể được hiểu là một hình thức tổ chức, quản lý xã hội; là tính chất của các mối quan hệ giữa các cộng đồng người; là một giá trị xã hội, một lý tưởng giải phóng con người hướng tới tự do và thực hiện quyền làm chủ xã hội, làm chủ nhà nước và làm chủ bản thân mình; dân chủ là sản phẩm của nền văn minh;
là điều kiện và tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội…
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Như trên đã nói, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Giống như các hình thái ý thức xã hội khác, dân chủ cũng do con người sáng tạo ra
Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã tồn tại một hình thức dân chủ với tư cách là hình thức sinh hoạt cộng đồng Một hình thức sinh hoạt, nhờ đó mà hoạt động của mọi thành viên trong xã hội được hướng vào tính tổ chức và trật tự nhằm đạt mục tiêu chung K Marx, F Elgel, V.I Lenin, trong các tác
Trang 14phẩm của mình gọi nền dân chủ quân sự là nền dân chủ nguyên thuỷ - dân chủ sơ khai; hình thức dân chủ đầu tiên của loài người
Khi chưa hình thành một thiết chế xã hội đặc biệt là nhà nước để cai quản các công việc chung thì do nhu cầu tồn tại của thị tộc, bộ lạc dân chủ quân sự đã được hình thành Qua đại hội nhân dân, nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự và quyết định mọi vấn đề quan trọng của thị tộc, bộ lạc Thủ lĩnh quân sự, hội đồng, đại hội nhân dân đó là những cơ quan của xã hội thị tộc đã phát triển thành một nền dân chủ quân sự
Dân chủ quân sự thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ là một thể chế xã hội tự quản dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, tư liệu sản xuất là của chung trong cộng đồng thị tộc, bộ lạc Nhận xét về hình thức dân chủ này, Ph Ăngghen đã viết: không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp, nền dân chủ quân sự của thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ tan rã
Thay thế chế độ cộng sản nguyên thuỷ bằng chế độ chiếm hữu nô lệ cũng đồng thời là quá trình thay thế nền dân chủ quân sự bằng nền dân chủ chủ nô Đó là một bước tiến dài trong lịch sử Từ khi xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp thì giai cấp chủ nô và nô lệ cũng xuất hiện Cuộc đấu tranh giai cấp bắt đầu từ đó và diễn ra ngày càng quyết liệt và giai cấp chủ nô đã thiết lập một bộ máy bạo lực đặc biệt, đó là nhà nước Từ đó, dân chủ được biểu hiện thông qua chế độ nhà nước Trong nền dân chủ của xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô nắm hết quyền lực nhà nước, các quyền tự do và bình đẳng của chủ nô và các công dân tự do được bảo đảm, còn giai cấp nô lệ không có quyền gì, kể cả quyền sống, quyền làm người, nô lệ chỉ là tài sản, là công cụ của chủ nô Nền dân chủ đó phục vụ cho giai cấp chủ nô Sự ra đời
Trang 15của xã hội chiếm hữu nô lệ là một bước phát triển của lịch sử so với xã hội cộng sản nguyên thuỷ nhưng nhân dân lao động không có một quyền lực gì
Xã hội phong kiến ra đời đã thay thế xã hội chiếm hữu nô lệ và là một bước tiến so với nền dân chủ chủ nô: người nông nô đã có quyền sống, quyền làm người nhưng không có quyền lực về chính trị Ở phương Tây, quyền lực
đó nằm trong tay chúa đất và nhà thờ Ở phương Đông, tất cả đều thuộc sở hữu của nhà vua Quyền lực trong xã hội đều do vua nắm giữ Với phương thức chuyển giao quyền lực là cha truyền con nối cho nên nhân dân lao động không bao giờ nắm được quyền lực nhà nước Nhiều thế lực trong các cuộc đấu tranh đã biết dựa vào dân, gần dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh nhưng khi họ đã giành được quyền lực thì trở nên xa rời dân, thống trị lại nhân dân, đàn áp đẫm máu các cuộc đấu tranh đòi dân chủ của nhân dân Triều đình phong kiến này sụp đổ, triều đình phong kiến khác lên thay, bao nhiêu triều đại kế tiếp nhau nắm giữ quyền lực còn nhân dân lao động vẫn không có quyền lực gì
Trong quá trình hoàn thiện và phát triển của chế độ quân chủ chuyên chế, những tư tưởng và phong trào đấu tranh cho quyền làm chủ của nhân dân vẫn tồn tại và phát triển Những tư tưởng dân chủ tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến đã chuẩn bị về mặt tư tưởng cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản
Trào lưu tư tưởng tư sản mang tính dân chủ tiêu biểu tiến công vào chế
độ chuyên chế phong kiến ở châu Âu, trước hết phải kể đến phong trào Văn hoá Phục hưng (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI) Trong phong trào này, những đại diện như Nicolas Copernic (1473 - 1543), William Shakespeare (1564 – 1616), Léonard de Vinci (1452 - 1519)… đã nêu cao yêu cầu tự do tư tưởng, dân chủ trong văn hoá và khoa học, chống chủ nghĩa kinh viện, chống chủ nghĩa thầy tu và thần học Những yêu cầu của họ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Đó là tư tưởng đấu tranh cho quyền sống của con người, phát triển xã hội
vì con người Tiếp theo phải kể đến triết học duy lý, đại biểu là R Descartes
Trang 16(1596 - 1650) và triết học Khai sáng với các đại biểu Volte (1694 - 1778), D Diderot (1713 - 1784) và J.J Rousseau (1712 - 1778) Các trào lưu triết học này đề cao vai trò của tư duy, của lý trí, yêu cầu xoá bỏ tình trạng tối tăm, ngu muội của chủ nghĩa kinh viện và thầy tu Với các nhà khai sáng, tư tưởng về một nhà nước cộng hoà dân chủ là một bước tiến mới của tư tưởng dân chủ
Đó là sự chuẩn bị đầy đủ về mặt tư tưởng cho cách mạng tư sản mà trực tiếp
là Cách mạng tư sản Pháp
Chủ nghĩa tư bản được xác lập với tính cách là một chế độ xã hội, đồng thời nhà nước của giai cấp tư sản được tổ chức theo hình thức chính thể cộng hoà, lịch sử của nền dân chủ có bước tiến đáng kể Các cuộc cách mạng tư sản thắng lợi đã thiết lập quyền lực chính trị của giai cấp tư sản Tiêu biểu là cuộc
cách mạng tư sản Pháp (năm 1789) với sự ra đời của Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền vĩ đại Đó là những cái mốc lịch sử của sự phát triển nền dân
chủ Dù vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ tư hữu, vẫn duy trì các quan hệ bóc lột của giai cấp tư sản, song chủ nghĩa tư bản đã làm một cuộc cách mạng phá bung cái trật tự chuyên chế thời Trung cổ, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, mở đường giải phóng cho xã hội Nó xác lập nên xã hội công dân thay thế cho xã hội thần dân và xây dựng nhà nước pháp quyền với hệ thống pháp luật tư sản thay thế cho nhà nước phong kiến đẳng cấp quan liêu, độc đoán Chế độ dân chủ tư sản ra đời đã tạo lập được phần nào đó
sự phù hợp giữa nó với chế độ nhà nước V.I Lenin đã đánh giá rất cao nền dân chủ tư sản, Người cho rằng, nền dân chủ tư sản đánh dấu một bước tiến
bộ to lớn về mặt lịch sử so với chế độ Nga hoàng, với chính thể chuyên chế, với chế độ quân chủ và với tất cả những tàn tích của chế độ phong kiến Dù vậy, nền dân chủ tư sản bị hạn chế bởi tính giai cấp của nó Đó là nền dân chủ cho người giàu, cho giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản, quyền lực nhà nước vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản
Tất cả các nền dân chủ nói trên, kể cả dân chủ tư sản, đều là nền dân chủ cho thiểu số, không phải là nền dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động
Trang 17Điều này đã được V.I Lenin phân tích rất rõ trong tác phẩm Nhà nước và
Cách mạng Để đạt được nền dân chủ đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất, nhân loại
đã và đang hướng tới một nền dân chủ mới, dân chủ “gấp triệu lần dân chủ tư sản” Đó là nền dân chủ XHCN
1.1.2 Dân chủ là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển của xã hội
Dân chủ là một trạng thái phản ánh trình độ phát triển của xã hội Dân chủ còn được xem như là một hệ giá trị Và hệ giá trị là một hệ thống các tiêu chuẩn để quy định, định hướng và tổ chức hành vi của con người trên phạm vi toàn cầu
Dân chủ là phạm trù có tính lịch sử, do đó có quá trình phát sinh và phát triển của nó Qua mỗi giai đoạn lịch sử, cùng với sự phát triển mọi mặt của xã hội và của con người những giá trị của dân chủ luôn được bổ sung thêm những nội dung mới, sắc thái mới Các giá trị của dân chủ không hoàn toàn bất biến, thậm chí hiện nay nội dung của nó cũng không còn y nguyên như đầu thế kỷ XX nữa
Dân chủ được hiểu là quyền lực của nhân dân Tuy nhiên, khái niệm dân chủ phức tạp, bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau Đó là một hình thức nhà nước, cũng như là một nguyên tắc tổ chức pháp lý, chính trị - xã hội của nhà nước
Như ở trên đã phân tích, về mặt lịch sử, dân chủ đã tồn tại từ rất sớm, là hình thức tổ chức chính trị trong điều kiện tan rã của chế độ công xã nguyên thủy Điều đó có nghĩa rằng, dân chủ có trước chuyên chính, lâu đời hơn chuyên chính Vì vậy, không thể nói một cách chung chung rằng dân chủ xuất hiện khi có nhà nước, chỉ là sản phẩm của quan hệ giai cấp và cũng không thể nói thực chất của dân chủ là một quá trình, tập trung quyền lực thực sự cho giai cấp nắm quyền Bản thân dân chủ có nghĩa là mọi quyền lực thuộc về nhân dân đã nói lên rằng dân chủ không thể là đặc quyền của một nhóm người, càng không thể là đặc quyền của một người
Trang 18Cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và với sự áp bức, độc quyền của giai cấp thống trị thì quyền lực vốn thuộc về nhân dân đã bị giai cấp thống trị tước đi mất Bởi vậy mà cuộc đấu tranh giành lại dân chủ đã không ngừng diễn ra trong lịch sử, trong xã hội có phân chia giai cấp và có đối kháng giai cấp Cũng vì vậy mà dân chủ được phát triển trong suốt tiến trình lịch sử của nhân loại, trong quá trình đấu tranh giai cấp Mặc dù dân chủ chủ yếu là kết quả của đấu tranh xã hội, của cuộc đấu tranh chống lại mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi ách nô lệ, mọi sự chuyên chế, song dân chủ cũng còn là kết quả của sự phát triển của tư duy, của sự nhận thức các giá trị Vì vậy, sự phát triển của dân chủ là một quá trình và loài người không thể có ngay một nền dân chủ hoàn thiện Nền dân chủ có quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh các quyền của con người, vì sự tiến bộ xã hội, đồng thời cũng không tách rời những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Chính
vì lẽ đó mà xã hội công bằng, văn minh, càng có nhiều phương tiện hiện đại thì không những nhu cầu dần chủ càng tăng lên mà còn có điều kiện để thực thi dân chủ trong thực tế
Bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân con người, “công nhận phẩm giá vốn có của mọi thành viên gia đình nhân loại, công nhận các quyền bình đẳng và bất khả phân của họ là cơ sở của tự
do, công bằng và hoà bình trên toàn thế giới ”, lời nói đầu của Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền đã viết như thế [58] Các giá trị của dân chủ (hệ giá trị)
bao gồm: Quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân, con người được nhà nước pháp quyền bảo vệ Những tiêu chuẩn chung đó chính là cơ sở hình thành hệ giá trị toàn cầu, hệ giá trị sẽ đóng vai trò chi phối, kiểm soát hoạt động của con người Một chế độ xã hội được coi là dân chủ hay phản dân chủ
là tuỳ thuộc vào mức độ giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, thoát khỏi tình cảnh nô lệ, vươn tới tự do và làm chủ chế độ xã hội đó
Trang 19Dân chủ còn thể hiện các mối quan hệ khác nhau giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và xã hội trong cả chính trị và kinh tế, trong cả quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân
Quá trình toàn cầu hóa làm lan truyền những giá trị phổ biến như nhân quyền, dân quyền, dân chủ, tự do đồng thời cũng làm thay đổi tính chất của các quan hệ xã hội Khi đó, các dân tộc, các cộng đồng giao lưu với nhau thông qua các hệ giá trị Trong quá trình đó, sự phổ biến các giá trị dân chủ là
xu thế tất yếu và toàn cầu hóa làm cho các dân tộc, các tôn giáo khác nhau phải ngồi lại cùng nhau tìm ra các tiêu chuẩn chung sống của toàn nhân loại
Vì thế, trong thời đại ngày nay, nhiệm vụ của các chính thể là nắm bắt sự hình thành của hệ giá trị và hướng sự phát triển của đất nước cho phù hợp với hệ giá trị đó
Có nhiều yếu tố tác động đến tiến trình dân chủ ở Việt Nam Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, sự hội nhập sâu, rộng trên phạm vi toàn cầu đóng góp một phần quan trọng vào tiến trình này Sự tương tác về mặt văn hóa, chính trị giữa Việt Nam với thế giới dẫn đến sự thay đổi về hệ giá trị
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” - Đây cũng là những mục tiêu phản ánh phương hướng và tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội Trong số những mục tiêu trên, dân chủ vừa là mục tiêu lại vừa là động lực Là mục tiêu bởi lẽ, chỉ với một trình độ phát triển cao của dân chủ thì con người mới có được sự phát triển toàn diện, có được sự tự do và hạnh phúc; chỉ với một trình độ phát triển cao của dân chủ thì mới có được xã hội tiến bộ, văn minh Dân chủ là động lực bởi vì, chỉ với việc đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội, con người mới có được sự tự nhận thức, sự tự do, sự tự chịu trách nhiệm Điều đó cũng đồng nghĩa với một nguồn lực khổng lồ những năng lượng sáng tạo của con người được giải phóng và định hướng, tổ chức thành những nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của con người, thúc đẩy tiến bộ xã hội
Trang 201.1.3 Điều kiện tồn tại của một nền dân chủ
Về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con người Do vậy, quyền con người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ Tự do là quyền căn bản của con người, từ quyền tự do sinh sống, tự
do đi lại, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do bầu cử Tất cả những quyền tự do căn bản này đã được ghi
nhận trong Bản tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền (năm 1948) Lời mở đầu của
Bản Tuyên ngôn ghi rõ:
Xét rằng việc công nhận nhân phẩm bẩm sinh của mọi người, thành viên của đại gia đình nhân loại, cùng sự công nhận quyền bình đẳng, bất khả nhượng, đó là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới Xét rằng những hành động sao nhãng, khinh miệt và chà đạp những quyền căn bản của con người là những hành động man dại, đi ngược lại lương tâm, lương tri của nhân loại; và một thế giới mà trong đó, mọi ngừơi đều được tự do ngôn luận,
tự do tín ngưỡng, và không bị đe dọa bởi nghèo đói, thế giới đó phải được coi
là ước vọng cao cả của nhân loại
Vậy, chúng ta phải thừa nhận tự do là quyền căn bản, bẩm sinh của con người, không phân biệt trai gái, không phân biệt chủng tộc Theo một số học giả tư sản, trong những quyền căn bản đó có hai quyền quan trọng, là hai trụ cột của chế độ dân chủ, đó là quyền tự do ngôn luận và tự do bầu cử
Nói như Voltaire: “Tự do ngôn luận là linh hồn của chế độ dân chủ”
Hồ Chí Minh cũng đã nêu thấu triệt tinh thần ấy trong một luận đề đầy sức thuyết phục: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Khi đã tìm thấy chân lý rồi thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý” [34, tr 216]
Theo tinh thần quyển Contrat Social (Khế ước xã hội) của J J Rousseau và Bản Tuyên ngôn Độc lập (Hoa Kỳ) mà người soạn thảo chính là
Trang 21Thomas Jefferson, thì quyền tự do bầu cử là hành động đầu tiên tạo dựng nên dân chủ
Qua phân tích ở trên, tiêu chuẩn về quyền con người trong đó có quyền bầu cử là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại của một nền dân chủ Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều ý kiến nhất trí cho rằng, một nền dân chủ muốn hình thành và hoàn thiện còn phải dựa vào một số điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội nhất định: Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, trình độ dân trí, văn hoá của người dân v.v
Về điều kiện kinh tế: Cần có một nền kinh tế ổn định và phát triển [20,
tr 140] Kinh tế và chính trị gắn bó mật thiết với nhau và mỗi chế độ chính trị chỉ có thể phù hợp với một số thể chế kinh tế và thể chế kinh tế ảnh hưởng đến quá trình phát triển của xã hội tự do Mặt khác, tự do kinh tế là phương tiện của tự do chính trị vì thể chế kinh tế có ảnh hưởng đến việc tập trung và phân tán quyền lực Nhiều nhà khoa học đã coi tự do kinh tế và sở hữu tư nhân là cơ sở của nền dân chủ [65]
Có thể nói rằng, sự phát triển kinh tế đảm bảo cho triển vọng của nền dân chủ, đến hành vi, quan điểm của công dân, tạo ra các khả năng để nâng cao trình độ văn hoá, chính trị của toàn xã hội Sự phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản và cần thiết cho việc kiến tạo một nền dân chủ Nhưng mặt khác cũng cần thấy rằng, việc xây dựng một nền dân chủ không phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế Kinh tế tạo điều kiện để xây dựng dân chủ, nhưng dân chủ cũng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Cũng cần thấy rằng, dân chủ đã tạo điều kiện phân phối công bằng hơn phúc lợi xã hội, nhờ vậy, kích thích sự phát triển kinh tế Mối quan hệ nhân - quả ở đây là tương đối và có thể chuyển đổi cho nhau Chúng ta đã biết, kinh tế có ý nghĩa quyết định cuối cùng đối với chính trị và chính trị có ý nghĩa quyết định trực tiếp cho phát triển kinh tế Nguyên lý ấy cũng đúng trong trường hợp thiết lập một chế độ dân chủ Nhận thức đúng vấn đề có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn Bởi không
ít người chưa thấy được tính tích cực của dân chủ trong phát triển kinh tế,
Trang 22muốn chờ đợi cho đến khi có điều kiện kinh tế phát triển cao mới xây dựng dân chủ
Bên cạnh điều kiện kinh tế, dân trí, văn hoá cũng là những tiền đề tạo
nên một môi trường để dân chủ phát triển Do vậy, để nâng cao dân trí và tăng
cường vốn văn hoá cho người dân thì giáo dục, tuyên truyền là một trong
những điều kiện quan trọng đối với dân chủ vì hiểu biết dân chủ và ứng xử dân chủ là kết quả của việc giáo dục nhận thức Từ kết quả của giáo dục và nhận thức về dân chủ, lý tưởng dân chủ phải trở thành những cam kết có tính chất nguyên tắc để thực hiện Sự dung thứ những tư tưởng, quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập cũng rất cần thiết cho sự tồn tại của dân chủ Việc nâng cao trình độ văn hoá, dân trí cho nhân dân là nhân tố cơ bản để thực hiện dân chủ bởi vì dân chủ là biểu hiện của trình độ văn hoá chính trị, có quan hệ mật thiết với trình độ dân trí, văn hoá nói chung Chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội, hoạt động với tư cách là công dân có tri thức, văn hoá thì mới thực sự có điều kiện thực hiện dân chủ “Mù chữ đứng ngoài chính trị” (V.I Lenin), ít hiểu biết cũng làm hạn chế sự tham gia vào đời sống chính trị Giáo dục đóng vai trò chính trong quá trình này vì giáo dục mang lại kiến thức để giúp cho việc tham gia của người dân một cách hiệu quả và có thể thực hiện được ngay từ đầu Dân trí gắn liền với ý thức của nhân dân và phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục Nếu không thừa nhận sự đa dạng về chính trị và sự đa dạng về nhận thức thì không thể giáo dục tự do, và nếu không giáo dục tự do thì không gian nhận thức của nhân dân sẽ bị hạn chế và điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trình độ dân trí
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ hoá phải được bắt đầu từ chủ trương diệt giặc dốt Do vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (năm 1945), chính phủ do Người đứng đầu đã chỉ đạo và có nhiều biện pháp
nhằm nâng cao dân trí Ngay sau khi hơn một tháng đọc Tuyên ngôn Ðộc lập,
Người đã nói: “Nay chúng ta giành quyền độc lập Một trong những công việc
Trang 23phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[31, tr 44] Nhờ chủ trương đúng đắn này, chỉ sau thời gian ngắn, dưới chế độ mới, đa số nhân dân
đã hiểu rõ quyền lợi và bổn phận của mình mà ra sức học tập Nhiều người nhờ học tập mà đã tự tay viết lá phiếu bầu những đại biểu của mình vào Quốc hội đầu tiên, góp phần thiết thực vào việc xây dựng một chế độ mới, xây dựng nền dân chủ mới
Như trên đã phân tích, về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con người và không thể thực hiện chức năng nếu không đảm bảo đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người Muốn vậy, phải
có những thiết chế quyền lực hữu hiệu để đảm bảo quyền con người được thực thi trên thực tế Từ ý nghĩa đó, lý thuyết về nhà nước pháp quyền ra đời
và được các quốc gia dần đưa nó trở thành hiện thực Về mặt lý thuyết, có nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền nhưng nhìn chung nó mang các đặc trưng cơ bản như: Thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của luật, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, dùng quyền lực để kiểm tra và giám sát quyền lực; Con người là mục tiêu và giá trị cao nhất; trong quan hệ quốc tế, nhà nước bảo đảm thực hiện một cách tận tâm các cam kết quốc tế
Nhìn lại tiến trình lịch sử nhân loại, toàn bộ tư tưởng, học thuyết và thiết chế nhà nước pháp quyền ra đời và phát triển là do yêu cầu của dân chủ Trong mối quan hệ với nhà nước pháp quyền thì dân chủ vừa là mục tiêu vừa
là điều kiện của nhà nước pháp quyền Ngược lại, nhà nước pháp quyền cũng
là điều kiện cho việc đảm bảo hệ thống thiết chế dân chủ và phương thức hoạt động của một nhà nước dân chủ Không phải nhà nước nào cũng là dân chủ, nhưng bất cứ nền dân chủ nào cũng phải được thiết lập qua nhà nước Nhà nước pháp quyền xác lập những cơ chế, thiết chế thực hiện các quyết định dân chủ dưới hình thức luật, duy trì trật tự và tự do công cộng như là những điều kiện các các biểu hiện của dân chủ Nhà nước pháp quyền – quyền lực thuộc
về nhân dân, quản lý xã hội và bản thân nó cũng hoạt động trên cơ sở pháp
Trang 24luật – đây là hình thức biểu hiện của dân chủ Dân chủ cần đến tính pháp lý và tính nhân văn của nhà nước pháp quyền Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không
có nhà nước pháp quyền thì không có dân chủ và dân chủ là hạt nhân lý luận của nhà nước pháp quyền [55, tr 73]
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy vấn đề đảm bảo quyền con người trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta chính là những cách thức, tiến trình thực hiện dân chủ hoá ở nước ta và đây cũng là những điều kiện trong quan trọng đảm bảo cho một nền dân chủ XHCN tại Việt Nam
1.1.4 Sự hình thành dân chủ XHCN là bước phát triển mới về dân chủ
Kế thừa tư tưởng dân chủ của nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân; Dân chủ là một hình thức tổ chức của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, một hình thái nhà nước; Với tính cách là một chế độ chính trị, một hình thái nhà nước, dân chủ luôn có sự thống nhất biện chứng của hai mặt: đảm bảo quyền làm chủ cho giai cấp mà
nó đại diện và thực hiện chuyên chính với các lực lượng chống đối
Ngày nay, trên thế giới có hai nền dân chủ đang tồn tại song song, đó là nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN
Cơ sở kinh tế của nền dân chủ tư sản là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản đối với tư liệu sản xuất Trong xã hội phong kiến, con người bị trói buộc vào ruộng đất của các vua chúa, thì trong nền dân chủ tư sản, cá nhân những người lao động với mức độ nhất định được phát huy do đã có quyền tư hữu, do đó đã được giải phóng một phần Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Xã hội tư bản phát triển trên cơ sở ai làm chủ tư liệu sản xuất thì sẽ làm chủ về chính trị Do đó, nền dân chủ tư sản ngày càng bộc lộ rõ là một nền dân chủ hạn chế, nền dân chủ của một số ít kẻ bóc lột Cơ sở tinh thần (tư tưởng) của nền dân chủ tư sản nhấn mạnh và
Trang 25tuyên truyền tinh thần dân chủ đa nguyên, nhưng trên thực tế giai cấp tư sản vẫn luôn tìm mọi biện pháp bảo đảm địa bị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn chặn mọi sự phát triển và truyền bá các tư tưởng cách mạng tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Dân chủ tư sản càng được củng cố thì những mâu thuẫn của nó càng bộc lộ gay gắt Trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quyền lực thực sự của nhân dân là không thể có được Trước áp lực đấu tranh đòi quyền dân chủ của nhân dân, đe doạ lợi ích của giai cấp tư sản và sự tồn tại của nền dân chủ tư sản, giai cấp tư sản đưa ra nhiều thủ đoạn xảo quyệt để hạn chế quyền tự do của nhân dân Như vậy, dưới nền dân chủ tư sản, cuộc đấu tranh đòi dân chủ và dân chủ hoá không ngừng tiếp diễn
Do những mâu thuẫn và hạn chế của nền dân chủ tư sản, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, tất yếu ra đời một nền dân chủ cao hơn, đó là
nền dân chủ XHCN Đây là nền dân chủ cho đại đa số người - dân chủ của
nhân dân lao động dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Nền dân chủ này giành được do kết quả thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài vì tiến bộ xã hội của nhân dân lao động Về chính trị, nền dân chủ XHCN thể hiện qua sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội, thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, mà trong đó có giai cấp công nhân Về kinh tế, nền dân chủ XHCN dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội, đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học công nghệ hiện đại, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động Về văn hóa tư tưởng, nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) làm nền tảng tinh thần trong xã hội Nền dân chủ XHCN được từng bước xây dựng trên cơ sở chế độ XHCN
về tư liệu sản xuất và thực hiện bình đẳng giữa mọi thành viên trong xã hội Trong nền dân chủ ấy, Nhà nước là của nhân dân lao động, quyền lực chính trị thực sự thuộc về nhân dân lao động, mọi người có quyền tham gia vào
Trang 26những quyết định quan trọng của quốc gia và tập thể Bên cạnh những giá trị dân chủ mới được sáng tạo ra, nền dân chủ XHCN còn kế thừa một cách có phê phán những giá trị của nền dân chủ tư sản; sự thống nhất giữa bản chất giai cấp và bản chất nhân loại có xu hướng ngày càng tăng theo quá trình phát triển biện chứng của nền dân chủ XHCN
Dân chủ XHCN là một hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực trong xã hội Chế
độ dân chủ bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ XHCN Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là điều kiện cơ bản để thực hiện dân chủ XHCN Nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước Sự sáng tạo của nhân dân, quyền lực của nhân dân và sự bình đẳng, tự do cá nhân là cơ sở lý luận và thực tiễn của nền dân chủ XHCN Nhà nước XHCN bảo đảm cho tất cả công dân được hưởng những quyền đó Nhà nước XHCN tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề của đời sống xã hội
Nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là nền dân chủ XHCN, được thực hiện bằng Nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị nước ta đã động viên sự tham gia của công dân vào công việc của Nhà nước ở cơ sở, trong các hoạt động đa dạng nhằm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Bài học lớn về dân chủ là phát huy tối đa nội lực và ý thức tự lực tự cường của nhân dân; vai trò quan trọng của nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước; dân chủ đi đôi với việc chấp hành pháp luật, kỷ cương
Việc xác lập nền dân chủ ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội Để có dân chủ XHCN trong điều kiện một đảng cầm quyền, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa dân chủ ở cấp
Trang 27Trung ương với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Trong đó, dân chủ ở cơ sở có tính chất nền tảng, dân chủ ở cấp Trung ương có tính chất quyết định
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đất nước đến nay, sinh hoạt dân chủ trong xã hội Việt Nam ngày càng được mở rộng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mỗi ngày một nâng cao Năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã, phường nhằm tiếp tục phát huy, mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân
Năm 2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hành Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã tạo nên một bước tiến dân chủ mới
trong xã hội Điều đó nói lên rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đang từng bước được thực hiện ngày càng tốt hơn theo đà phát triển của dân trí Việt Nam
1.2 Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Do đó, cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh không nằm ngoài các yếu tố đã hình thành nên hệ thống tư tưởng của Người
1.2.1 Giá trị truyền thống tư tưởng, văn hoá dân tộc
Nước Việt Nam ta ở vào vị trí địa - chính trị trọng yếu, là cửa ngõ của Đông - Nam châu Á, luôn phải chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài Vì vậy, trong hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, dựng nước và giữ nước đã trở thành quy luật nội sinh trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam Lịch
sử đấu tranh của đất nước đã hình thành các giá trị truyền thống dân tộc phong phú, bền vững Đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mà biểu hiện là ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất khuất tạo thành động lực mạnh mẽ của đất nước Lịch sử hàng ngàn năm sản xuất, chiến đấu với thiên tai, địch hoạ đã hình thành nên tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc Trong nguồn giá trị tinh thần truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi của tư
Trang 28tưởng văn hóa truyền thống Việt Nam với những giá trị dân chủ của cha ông
ta, xuyên suốt trường kỳ lịch sử, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc Chính sức mạnh truyền thống tư tưởng và văn hóa đó của dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm tòi, học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng cách mạng và văn hóa của Người
Ngày nay, khi đánh giá về truyền thống dân chủ trong xã hội Việt Nam
đa số các ý kiến đều cho rằng còn chưa toàn diện về nội dung và chưa đồng
bộ trong cơ cấu, chẳng hạn nặng về dân chủ chính trị mà nhẹ về dân chủ kinh
tế và dân chủ xã hội, hay dân chủ chính trị nhìn chung cũng chưa đồng bộ về trách nhiệm và quyền lợi Dù vậy, do đặc điểm kinh tế - xã hội, trong quá khứ, ở Việt Nam đã tồn tại những tư tưởng dân chủ mà biểu hiện ở những cuộc đấu tranh đòi độc lập, tự do cho dân tộc, các cuộc khởi nghĩa nông dân thời kỳ Lý, Trần Tuy nhiên, “Về mặt chính trị, tư tưởng dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng có vua sáng, tôi hiền” và
“nó chỉ dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng về tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo động về chính trị”[42, tr 27] Cũng vào thời kỳ Lý, Trần đã tồn tại các thiết chế trong quan hệ cộng đồng công xã Tại Việt Nam đã hình thành và lưu truyền một loạt phong tục tập quán gọi chung là “lệ làng” ít nhiều phản ánh tính chất dân chủ công xã Đó là sự bình đẳng giữa các thành viên trong việc chia ruộng đất công, trong sinh hoạt cộng đồng, bình đẳng trong việc thảo luận, bàn bạc xây dựng hương ước và bầu chọn những người đại diện cho họ
để quản lý việc làng cũng như việc phán xét các vi phạm lệ làng [21] Những biểu hiện của tinh thần dân chủ đã được phản ánh trong Bộ luật Hồng Đức, được xây dựng từ thế kỷ XV và được áp dụng lâu dài cho tới thế kỷ XVIII Một số phong tục, tập quán dưới dạng luật tục dân gian có hiệu lực lâu đời được ghi nhận và hợp pháp hoá thành những điều luật của nhà nước phong
Trang 29kiến mà tập trung nhất là việc thừa nhận quyền của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, trong việc thừa hưởng gia tài thừa kế, hương hoả và phân chia tài sản khi vợ chồng phải ly dị [60, tr 226, 243]
Trong quá trình đấu tranh bảo vệ nền độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm nhận thức được mối quan hệ gắn bó giữa lợi ích vương triều với lợi ích của dân tộc, hiểu rõ sức mạnh của nhân dân Hội nghị Diên Hồng quyết định kế sách giữ nước và động viên toàn dân tham gia đánh giặc
là một hình thức dân chủ trực tiếp điển hình, có một không hai trong lịch sử
cổ trung đại Việt Nam Trần Quốc Tuấn đã từng tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên là do vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận,
cả nước chung sức Nguyễn Trãi đã ví dân như nước, nước có thể chở thuyền
và lật thuyền Chính vì thế, các vương triều tiến bộ phải lo giữ lòng dân và phải áp dụng một số hình thức dân chủ với nhân dân, “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”
Thực tế lịch sử đó cho thấy, ở nước ta, một phong trào dân tộc rộng lớn hàm chứa những yếu tố dân chủ nhất định Trong tiến trình đi lên của dân tộc, vấn đề giải phóng dân tộc luôn phải gắn liền với vấn đề giải phóng con người theo sự phát triển của lịch sử dân tộc Đây chính là nguồn lực cơ bản, cực kỳ mạnh mẽ, mà nhờ đó, dân tộc ta luôn duy trì được sự sinh tồn, phục hưng và phát triển của mình trước áp lực khổng lồ và hung tàn của các thế lực xâm lăng
Như vậy, tác động tổng hợp của những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam trong lịch sử đã làm nảy sinh, bảo tồn và phát triển, ở một mức
độ nhất định, những giá trị dân chủ và có thể xem như đây là một trong những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam Đó là dân chủ nông dân nảy sinh trong cuộc đấu tranh xã hội, là dân chủ công xã dựa trên sự bảo tồn các quan hệ cộng đồng và một số biện pháp thân dân của các vương triều tiến bộ trong điều kiện phân hoá giai cấp và yêu cầu bức thiết của cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, bảo tồn và phát triển dân tộc [42]
Trang 30Những yếu tố dân chủ đó đã tác động không nhỏ tới văn hoá truyền thống Việt Nam Những biểu hiện dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam với các giá trị của nó, dù còn giản đơn, chưa trở thành một học thuyết, nhưng cũng chính là một cơ sở vững chắc, thuận lợi để Hồ Chí Minh có thể
so sánh, chọn lọc và tiếp thu những giá trị dân chủ của nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin
1.2.2 Tư tưởng, văn hoá nhân loại
Xuất thân trong một gia đình được ảnh hưởng rất nhiều từ Nho giáo, khi
ra đi tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã được giáo dục với một học vấn thấm đậm chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam Cũng vì vậy, những giá trị tinh tuý của văn hoá nhân loại đã được Hồ Chí Minh dễ dàng chọn lọc và tiếp nhận
Về tư tưởng và văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những
mặt tích cực của Nho giáo về triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một
xã hội bình trị, thế giới đại đồng, bình đẳng; về một triết lý nhân sinh, tu thân,
tề gia; đề cao tinh thần trung hiếu “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà Nho An Nam Những gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc gì Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là một tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” Người còn nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [32, tr 46] Sự lý giải của Hồ Chí Minh ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX về “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng hơn vào châu Á vì truyền thống kinh tế và tư tưởng của châu Á”[27, tr 35] đã chỉ rõ sự tác động của các giá trị có ý nghĩa dân chủ của phương Đông đến Hồ Chí Minh và sự hiểu biết sâu sắc của Người trước khi
tiếp nhận các giá trị dân chủ mới của nhân loại Sau này, trên báo Thanh niên,
sau khi phê phán chính phủ Trung Quốc xoá bỏ tràn lan các nghi lễ của nhân
Trang 31dân là trái dân chủ, Hồ Chí Minh viết: “Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”[28 tr.454]
Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm
lo điều thiện, v.v
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh tìm thấy những điều thích hợp với điều kiện nước ta, đó là dân tộc độc lập, dân quyền
tự do và dân sinh hạnh phúc Tiêu chí Độc lập, Tự do, Hạnh phúc của nước
Việt Nam mới do Người nêu lên là sự ảnh hưởng tinh thần dân chủ đó
Về tư tưởng và văn hóa phương Tây, trong cuộc hành trình gian khổ đi
khắp thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đã tới nước Mỹ, Anh và Pháp Cuộc đấu tranh giành độc lập và những giá trị về quyền con người mà nhân dân Hoa Kỳ viết lên bằng xương máu của mình qua cuộc đấu tranh anh dũng đó cũng như thực tế cuộc sống ở đây đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức của Người Trong khoảng từ năm 1913 đến 1917, sống trong điều kiện của nền dân chủ lập hiến ở nước Anh, lao động và tham gia vào các hoạt động đấu tranh của dân chủ công nhân ở thủ đô Luân Đôn, Hồ Chí Minh lại
trực tiếp hiểu biết thêm một hình thức dân chủ nữa của nhân loại Năm 1917,
Hồ Chí Minh đến hoạt động ở Pari, nơi được xem là trung tâm văn hoá của châu Âu, Người đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng: Voltaire, Rousseau, Moutesquieu Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng
tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (năm 1791) của
Đại cách mạng Pháp Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của
Tuyên ngôn độc lập (năm 1776), quyền của nhân dân kiểm soát chính phủ Hồ
Chí Minh nói rằng: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những
từ Pháp tự do - bình đẳng - bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng
Trang 32là người Pháp Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tối rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu sau những từ ấy” Như vậy, ngay từ đầu, khi đi ra nước ngoài tìm con đường mới cứu nước, cứu dân, trước cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận tiếp ba hình thức dân chủ tư sản hiện đại của nhân loại từ chính quê hương của nó Hơn thế nữa, Người đã không chỉ sống và chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản và các hình thức tồn tại của nó mà còn thực hành dân chủ ở chính quê hương của các hình thức này với những hoạt động chính trị
sử dụng ngay thành quả của nền dân chủ tư sản phương Tây Đứng trong hàng ngũ đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước, tham gia hội họp, làm báo, sinh hoạt trong các câu lạc bộ (Câu lạc bộ Faubour, Hội liên minh nhân quyền) và tham gia trong các tổ chức chính trị (Đảng Xã hội Pháp)… Hồ Chí Minh đã học tập, trải nghiệm qua các môi trường thực hành về dân chủ Hoạt động chính trị trong các chế độ dân chủ tư sản điển hình ở Mỹ, Anh, Pháp, tham gia và các sinh hoạt dân chủ trong các tổ chức chính trị và khoa học…
đã góp phần không nhỏ tới việc hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, tới
sự lựa chọn của Người về một mô hình dân chủ
Sau này, trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh còn nhiều lần tới các nước khác ở Tây Âu và điều đó lại bổ sung thêm những hiểu biết cho Người về sự đa dạng của các hình thức dân chủ tư sản mà loài người đã đạt tới cho đến lúc bấy giờ
Từ con đường đã trải nghiệm của mình, nên sau này, khi tổng kết, đánh giá về tinh thần của tầng lớp trí thức Việt Nam đi theo cách mạng, Hồ Chí Minh đã viết, vì trí thức Việt Nam “có đầu óc dân tộc và vì có học thức nên xem được sách, biết được dân chủ, biết được lịch sử cách mạng, nhất là cách mạng Pháp, nên dễ hấp thụ được tinh thần cách mạng Trí thức Việt Nam khác với trí thức bản đế quốc như vậy Cũng vì vậy lúc đã hiểu biết, trí thức ta
dễ theo cách mạng”[33, tr 34]
Trang 33Hiểu biết trình độ dân chủ của các nước, của nhân loại để so sánh, để lựa chọn và tiếp thu những giá trị dân chủ ngày càng cao hơn phù hợp với sự tiến hoá của nhân loại là con đường hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
1.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin - Nguồn gốc lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác- Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, chủ yếu, quyết định bản chất tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [36, tr 128]
Đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm vững cái cốt lõi của nó, đó là phương pháp biện chứng duy vật; học tập lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam
Các tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh phản ánh bản chất cách mạng
tư tưởng của Người theo thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã giải quyết được vấn đề cứu nước gắn liền với cứu dân, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người, làm cho toàn thể nhân dân được sống trong một xã hội dân chủ thực sự Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới đem lại những giá trị đích thực của lý tưởng dân chủ mà nhân loại đã từng mơ ước
Mác-Ngay từ khi vào Đảng Xã hội Pháp (đầu năm 1919), Hồ Chí Minh đã nói rõ nguyên nhân Người vào tổ chức này “chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái”[26, tr 15]
Trang 34Tháng 7-1920, sau khi đọc tác phẩm của V.I Lênin Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã lựa
chọn Quốc tế III Tháng 8-1920, Hồ Chí Minh viết thư gửi Quốc tế Cộng sản bày tỏ quan điểm của mình dứt khoát đi theo Quốc tế III
Ngày 29-12-1920, Người bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III và nói
rõ nguyên nhân là vì “Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa…
Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[26, tr 32]
Ngày 30-12-1920, Hồ Chí Minh tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đã chấm dứt giai đoạn Hồ Chí Minh lựa chọn con đường giải phóng và tìm tòi một mô hình cho dân tộc Người đã lựa chọn con đường của chủ nghĩa cộng sản để xây dựng một xã hội dân chủ cho đất nước mà trước hết là đem lại quyền làm chủ lớn nhất cho mọi người dân Việt Nam - quyền làm chủ Tổ quốc mình
Tháng 12-1921, phát biểu tại Đại hội thứ nhất Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản người ta mới thấy tình hữu ái thực sự và quyền bình đẳng, và cũng chỉ có nó chúng ta mới có thể thực hiện được sự hoà hợp và hạnh phúc ở chính quốc và ở thuộc địa”[26, tr 44]
Năm 1923, Người viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau…”[27, tr 461]
Rõ ràng, về tư tưởng, Hồ Chí Minh chú ý đến giá trị dân chủ cao nhất
và trước hết của mỗi con người trong những quốc gia nô lệ là sự giải phóng của Tổ quốc và cùng với sự giải phóng này là giải phóng triệt để con người
Trang 35Với Hồ Chí Minh, không có giải phóng dân tộc thì không thể nói tới bất kỳ một giá trị dân chủ nào cho con người, nhưng giải phóng dân tộc phải đi tới giải phóng con người một cách triệt để
1.2.4 Tài năng và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
Ngoài nguồn gốc tư tưởng, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh còn chịu sự tác động sâu sắc của thực tiễn dân tộc và thời đại
mà Người đã sống và hoạt động Chính quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh ở trong nước và khi còn bôn ba khắp thế giới để học tập, nghiên cứu và hoạt động đã làm cho Người có một hiểu biết sâu sắc về dân tộc và thời đại, nhất là thực tiễn phương Đông để xem xét, đánh giá và bổ sung cơ sở triết lý phương Đông cho học thuyết Mác - Lênin
Từ hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã khám phá quy luật vận động xã hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể của các quốc gia và thời đại mới để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, qua kiểm nghiệm của thực tiễn để hoàn thiện, làm cho lý luận có giá trị khách quan, tính cách mạng và khoa học
Nhân cách, phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh đã tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển tư tưởng của Người Đó là một con người sống có hoài bão, có lý tưởng, yêu nước, thương dân, có bản lĩnh kiên định,
có lòng tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, thông minh, có hiểu biết sâu rộng, có phương pháp biện chứng, có đầu
óc thực tiễn, v.v Chính nhờ vậy, Người đã khám phá sáng tạo về lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, xây dựng được một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về cách mạng Việt Nam, đã vượt qua mọi thử thách, sóng gió trong hoạt động thực tiễn, kiên trì chân lý, định ra các quyết sách đúng đắn và sáng tạo, biến tư tưởng thành hiện thực cách mạng
Sự vĩ đại và vượt trội về trí tuệ của Hồ Chí Minh so với các yêu nước quốc đương thời được thể hiện ở chỗ: cùng với sự tiếp nhận những giá trị mới của nhân loại là dân chủ, Người cũng phát hiện tư tưởng dân chủ tư sản và các
Trang 36mô hình xã hội của nó là những cái đã trở nên già cỗi, không còn mới đối với
sự phát triển của nhân loại nữa và bản chất của nền dân chủ tư sản không tương thích với văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam Điều đó giải thích tại sao các nhà yêu nước trước Hồ Chí Minh đã không thấy được vấn đề đó mà tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản và du nhập nó vào nước ta Điều đó chứng tỏ
tư tưởng dân chủ tư sản với mô hình của nó, dù còn mới với Việt Nam, nhưng vẫn không được chấp nhận bởi nó không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi căn bản của dân tộc Việt Nam
Không chỉ tiếp thu một học thuyết khoa học về giải phóng dân tộc và con người, Hồ Chí Minh còn đến nước Nga, nơi học thuyết đó đang được đưa vào cuộc sống, để chứng kiến cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nhằm xây dựng chế độ dân chủ vô sản - chế độ Xô Viết - một chế độ triệu lần dân chủ hơn chế độ dân chủ tư sản phương Tây Tại đây, Hồ Chí Minh lại được trải nghiệm một hình thức dân chủ mới của nhân loại - dân chủ vô sản - dân chủ của những người lao động
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu học thuyết cách mạng và khoa học đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng dân chủ theo quan điểm của giai cấp công nhân mà trước hết là tiến hành lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tạo ra điều kiện căn bản nhất cho việc thiết lập chế độ dân chủ mới ở nước ta
Từ dân tộc và vì dân tộc ra đi, với hành trang của văn hoá truyền thống,
Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những giá trị tinh hoa về dân chủ của nhân loại Tuy nhiên, Người cũng nhận thức được vấn đề dân chủ không chỉ là vấn đề của dân tộc Việt Nam mà là vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục giải quyết đối với nhân loại và đã lựa chọn con đường phát triển dân chủ theo chủ nghĩa Mác - Lênin, theo xu thế phát triển của thời đại Vì vậy, có thể nói, tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh được hình thành có cội nguồn, có điểm xuất phát từ Dân tộc, được nâng lên tầm Nhân loại và phù hợp với sự tiến hoá của Thời đại Với các yếu tố Dân tộc - Thời đại - Nhân loại, tư tưởng dân chủ Hồ Chí
Trang 37Minh không chỉ được nhân dân Việt Nam chấp nhận mà còn phù hợp yêu cầu chung của nhân loại và thuận theo xu thế phát triển của loài người
Đây chính là những yếu tố cội nguồn căn bản nhất đảm bảo cho sự thắng lợi của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là sản phẩm của sự tổng hòa
tư tưởng văn hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa tư tưởng văn hóa của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự phát triển của Hồ Chí Minh - một con người có tư duy sáng tạo, có phương pháp biện chứng, có nhân cách, phẩm chất cách mạng cao đẹp tạo nên
1.3 Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nền dân chủ XHCN
1.3.1.1 Dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân
Hồ Chí Minh quan niệm về dân chủ như sau:
“Dân chủ nghĩa là dân là chủ Dân chủ là của báu vì đó không phải là thứ tự nhiên có sẵn mà đó là thành quả của cách mạng, nhân dân ta đã phải đấu tranh, hy sinh gian khổ mới giành được
Dân chủ là của báu vì đó là lý tưởng, là ước vọng của toàn thể nhân dân ta về một xã hội tốt đẹp trong tương lai
Dân chủ là của báu vì nó đem lại quyền làm chủ vận mệnh của mình cho nhân dân, tạo ra những điều kiện, những tiền đề để Toàn xã hội, cũng như mỗi cá nhân trong xã hội phát triển và hoàn thiện Con người nhớ có dân chủ và thông qua dân chủ mới có hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo đối với lịch sử”[34, tr 279 – 280]
Không chỉ là của quý của nhân dân mà đối với sự nghiệp cách mạng, theo chiều ngược lại, dân chủ cũng là của quý bởi phát huy dân chủ sẽ động viên được lực lượng của toàn dân hoàn hành những nhiệm vụ cách mạng “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”[35, tr 592]..
Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ
Trang 38điều này: “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”[32, tr 174]
Người khẳng định công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến, kiến quốc,
tổ chức xã hội là trách nhiệm, công việc của dân, do dân và quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân Thực hiện dân chủ tức là sử dụng tất cả quyền hành và lực lượng to lớn của nhân dân để hoàn thành các nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân Dân chủ là giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các thành phần kinh tế và các giai tầng trong xã hội Sự nhất trí đó tổng hợp thành sức mạnh của dân tộc, tạo nên nội lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua tất cả khó khăn, thử thách Do đó, Người cho rằng phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng Toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho”[31, tr 698]
Những quan điểm đó và sự chỉ đạo thực tiễn của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam cho thấy Người không chỉ phát huy tác dụng của thực hành dân chủ mà còn đưa nó trở thành các phong trào nhân dân, sử dụng quyền hành, lực lượng và phát huy trí tuệ của nhân dân để hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng khó khăn, để đạt tới mục tiêu ai cũng được hưởng quyền
tự do, dân chủ, vì lợi ích của nhân dân Nói về vai trò của dân chủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tổng kết rất xác đáng rằng: “Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”[38, tr 249]
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người dành trọn cả cuộc đời hy sinh tranh đấu cho nền độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho nhân dân, những giá trị
về độc lập dân chủ phải mất bao công sức xương máu mới giành được là vô cùng quý giá và phải được bảo vệ, giữ gìn Chúng ta không cho phép bất cứ
kẻ thù nào lợi dụng, phá hoại chế độ dân chủ cũng như những giá trị dân chủ
đã được xây dựng nên Người nói: “Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân”[35, tr 586-587] Do đó, đối
Trang 39với Hồ Chí Minh, dân chủ phải gắn liền với chuyên chính Chuyên chính
không phải là mục đích của dân chủ mà là phương tiện bảo vệ nền dân chủ
Chuyên chính là để bảo vệ những lợi ích của nhân dân, chống lại những kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân, đi ngược lại chế độ dân chủ của nhân dân Quyền làm chủ của một cá nhân không được đi ngược lại quyền làm chủ của các cá nhân khác và của cộng đồng Xã hội dân chủ là một xã hội có trật tự kỷ cương Dân chủ đối lập với sự độc đoán, chuyên quyền, đồng thời cũng đối lập với sự hỗn loạn, vô chính phủ Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chủ và chuyên chính đi đôi với nhau Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực
sự vì không chuyên chính thực sự, bọn thù địch sẽ làm hại dân chủ của nhân
dân Dân chủ và chuyên chính là quan hệ mật thiết với nhau”[35, tr 230]
Thành công của công cuộc đổi mới ngày nay cũng được khởi đầu bằng quá trình dân chủ hoá trong các lĩnh vực đã tạo nên động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội là một hiện thực sinh động nữa về sự vững bền của động lực dân chủ đối với sự phát triển xã hội Điều đó làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm dân chủ của Hồ Chí Minh khi Người coi nguồn gốc của quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân
Nền dân chủ chúng ta đã và đang phấn đấu xây dựng là nền dân chủ triệt để, trong đó nội dung cơ bản nhất là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân Mặt khác không thể tách rời là dân chủ phải đi liền với kỷ luật với kỷ cương, với pháp chế Trên nền dân chủ XHCN sẽ thực hiện trong thực tế sự kết hợp hài hoà giữa quyền và trách nhiệm, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của
sự phát triển xã hội
Khi giải quyết những vấn đề liên quan giữa dân chủ và chuyên chính trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu tìm hiểu để có được những lời giải đáp thoả đáng từ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là điều cần thiết
1.3.1.2 Nhà nước XHCN là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ
Dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện chủ yếu thông qua tổ chức và hoạt động của Nhà nước, được thể hiện trong mọi lĩnh vực của
Trang 40đời sống xã hội, đồng thời thể hiện nổi bật và tập trung trong việc nhân dân tham gia xây dựng nhà nước và quản lý xã hội
V.I Lênin chỉ ra rằng, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là chế độ chính quyền Giai cấp nào nắm giữ được chính quyền, giai cấp đó sẽ chi phối mọi mặt của đời sống xã hội Giai cấp công nhân, nhân dân lao động muốn thực hiện quyền dân chủ của mình, sau thắng lợi cách mạng lật đổ chính quyền của giai cấp hay của bọn phong kiến đế quốc phải thiết lập ngay nhà nước của giai cấp mình để điều hành mọi hoạt động của đất nước
Hồ Chí Minh cũng khẳng định, dân chủ cho nhân dân lao động phải được thực hiện bằng Nhà nước
Sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, mặc dù còn bộn bề công việc chống giặc đói, giặc dốt, Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương nhanh chóng tổ chức tổng tuyển cử thành lập ra Quốc hội, chuẩn bị thành lập ra các cơ quan trong bộ máy nhà nước để quản lý mọi hoạt động xã hội Việc tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 6-1-1946 đã thể hiện tinh thần dân chủ nhằm “lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều
có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái”[30, tr 133] Nhân dân có quyền lựa chọn những người có đức có tài để lo việc nước, song cũng “có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Như vậy, sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), những quyền dân chủ
cơ bản của người công dân Việt Nam đã được thực hiện trong trực tế Điều này ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa, sau cuộc cách mạng dân chủ tư sản, một
bộ phận khá lớn quần chúng nhân dân lao động vẫn không được hưởng mà phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh hy sinh đổ máu tiếp theo nữa mới giành